Hiện nay việc thựchiện dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình Công nghệ TV1-CGD thìviệc rèn cho học sinh có kĩ năng đọc tốt là một việc làm khiến cho nhiều giáo viênhết sức trăn
Trang 1em kỹ năng đọc đúng, viết đúng Ngoài ra còn làm giàu vốn từ, biết nói đúng cácmẫu câu ngắn và tạo cho các em sự ham thích thơ văn Đây là điều kiện chuẩn bị
để các em học tốt hơn môn tiếng Việt ở các lớp trên
Lớp Một là lớp nền tảng của cấp Tiểu học, “ lớp một được ví như cái móng
còn cấp Tiểu học là nền, móng có chắc thì nền mới vững” Chính vì vậy, việc dạy
đọc cho HS vô cùng quan trọng trong việc tạo nền tảng, tiền đề để các em tìm tòi,phát hiện kiến thức trước mắt cũng như trong tương lai Ở lớp 1, các em học tốt thìkhi chuyển sang học các lớp tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu caohơn của môn Tiếng Việt, thuận lợi cho việc học tập các môn khác Để HS lớp 1 đạtđược điều đó thì người thầy cần phải có cách tổ chức, hướng dẫn HS học tập theomột quy trình khoa học, tích cực hóa được các hoạt động của các em nhằm khơidậy sự tò mò, sáng tạo, chủ động của các em Từ đó giúp các em từng bước tự điềuchỉnh chính mình trong việc tự tìm tòi khám phá tri thức chứ không ai có thể làmthay được
II Cơ sở thực tiễn:
Sức hấp dẫn của việc học tùy thuộc vào Công nghệ học Công nghệ cao thì có sản phẩm chất lượng cao Người đưa ra khái niệm “Công nghệ Giáo dục”
và triển khai (ở dạng thực nghiệm) là Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Hồ Ngọc Đại.Quan trọng hơn cả là triết lý nền tảng của công nghệ giáo dục, đó là phải làm saokhi trẻ đi học, trẻ vừa chiếm lĩnh được tri thức vừa nhận thấy một cách tự nhiên: Đi
Trang 2học là hạnh phúc, chiếm lĩnh tri thức là hạnh phúc Vì sự trưởng thành và phát triểncủa trẻ, cho trẻ cảm thấy: Mỗi ngày đến trường là một ngày vui Hiện nay việc thựchiện dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo chương trình Công nghệ ( TV1-CGD) thìviệc rèn cho học sinh có kĩ năng đọc tốt là một việc làm khiến cho nhiều giáo viênhết sức trăn trở Bởi lẽ, bên cạnh những ưu điểm như phương pháp dạy học TV1-CGD giúp giáo viên nắm vững kĩ thuật dạy học theo hướng tích cực, tiến trình dạynhẹ nhàng, dễ thực hiện.
Kỹ năng đọc nếu được rèn luyện tốt, hình thành tốt sẽ giúp các em đọc tốtsuốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trongmỗi bài học, hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc,hiểu được các yêu cầu trong các môn học khác Các em được tập đọc thành thạo,đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốthơn Mặt khác, nếu kỹ năng đọc không được trau dồi, rèn luyện thường xuyên sẽlàm cho các em ngại đọc, đọc yếu và các môn học khác cũng sẽ bị ảnh hưởng dẫnđến kết quả học tập không tốt
Bản thân tôi là một người giáo viên tâm huyết với nghề, luôn tận tâm, tận lựcvới học sinh thân yêu.Trải qua hơn 15 năm trong nghề dạy học, trong đó 10 nămgiảng dạy lớp 1 tôi luôn trăn trở là làm sao để tìm ra những phương pháp, biệnpháp dạy học đạt hiệu quả nhất, đặc biệt là môn Tiếng Việt Chính vì những lý dotrên đã thôi thúc tôi nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp, phương pháp dạy học đạthiệu quả cao tôi đã nghiên cứu vận dụng vào thực tế giảng dạy môn Tiếng Việt lớpMột và tổng kết thành đề tài SKKN:
“Biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1 theo chương trình công nghệ giáo dục.”
B Giới hạn của sáng kiến:
I Mục đích nghiên cứu
Đề ra một số biện pháp áp dụng vào giảng dạy môn Tiếng Việt lớp Một, tạohứng thú trong giờ học, nâng cao chất lượng giảng dạy và nhằm làm hạn chế cácmặt sau :
- Hạn chế tối đa học sinh khi học xong lớp 1 mà đọc, viết chưa thành thạo
- Khắc phục tình trạng học vẹt, đọc thuộc theo kênh hình
Trang 3- Không còn học sinh lưu ban ở lại các lớp 1.
Góp phần trau dồi vốn tiếng Việt phong phú cho học sinh nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện
II.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy mônTiếng Việt lớp Một theo chương trình Công nghệ giáo dục thông qua việc học sinhđọc, viết các âm, vần trong năm học 2017 – 2018 tại trường Tiểu học Thị trấn TủaChùa – Điện Biên
III Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: HS lớp 1A2 trường Tiểu học Thị trấn Tủa Chùa
Phần II: NỘI DUNG
Lớp dạy 2 buổi /ngày Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng giảng dạy và học tậpcủa nhà trường tương đối đầy đủ, bàn ghế đúng kích cỡ, phòng học đủ ánh sáng,không gian thoáng mát
Đa số học sinh lớp 1 do tôi phụ trách nói riêng và của toàn khối 1 của nhàtrường nói chung đều đã được học qua mẫu giáo Sĩ số lớp vừa phải nên có thờigian kèm cặp giúp đỡ từng em, một số các em rất ham thích môn tiếng Việt
Trang 4Phần lớn phụ huynh học sinh luôn quan tâm đến việc học tập của con emmình, thường xuyên trao đổi hỏi thăm tình hình học tập ở trường và nhắc nhở, kèmcặp con em học và làm bài ở nhà trước khi đến lớp.
Nội bộ trường đoàn kết, luôn giúp đỡ lẫn nhau nên dễ dàng trao đổi vớinhững giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy nhằm giúp các em tiếp thu bàinhanh hơn, sâu rộng hơn
Bản thân giáo viên rất nhiệt tình trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ luôn gầngũi tìm hiểu hoàn cảnh từng em, thường xuyên liên hệ với phụ huynh học sinh traođổi về việc học tập của từng em, thích tìm hiểu, nghiên cứu để giảng dạy mônTiếng Việt - CGD
b Khó khăn, hạn chế
* Đối với giáo viên:
Tuy nhiên, cùng với những thuận lợi trên, bản thân tôi vẫn còn gặp một sốkhó khăn sau:
- Là năm đầu tiên GV được làm quen và giảng dạy lớp 1 chương trình Côngnghệ giáo dục
- Ba quyển sách thiết kế phục vụ cho giáo viên là ba quy trình khác nhau vìvậy rất mất thời gian cho giáo viên nghiên cứu đi đúng tiến trình
Khi tổ chức dạy học sinh ở phân môn này còn khô khan, lúng túng chưamang lại hiệu quả cao
Từ quá trình triển khai cũng thấy rằng có một số hạn chế của tài liệu CNGD, theo thiết kế thực hiện, tài liệu có 2 điểm chưa phù hợp: Thứ nhất, theohướng dẫn thì trong quá trình tổ chức giảng dạy, giáo viên không sử đụng đồ dùngdạy học Điều này làm hạn chế kết quả nhận thức của học sinh, đặc biệt là học sinhdân tộc Thứ hai, chưa có nhiều thời gian cho học sinh rèn kỹ năng nói, đọc nhiều
TV1-* Đối với học sinh và phụ huynh
Trong năm học 2017 – 2018 tôi được phân công phụ trách giảng dạy lớp1A2 gồm 26 em học sinh Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều Bên cạnhnhững em phát triển, học tốt, tiếp thu nhanh vẫn còn một số em yếu về thể chất, bé
Trang 5nhỏ hơn so với các bạn bình thường, kèm theo phát triển chậm về trí nhớ, họctrước quên sau, chậm tiến.
Các em từ trường Mầm non lên nên chưa thuộc hết bảng chữ cái, chưa bắtnhịp được môi trường học tập mới Các em còn rụt rè, chưa đọc thông viết thạo
Do đổi mới chương trình môn tiếng việt 1 công nghệ giáo dục nên các emcòn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu chương trình mới, các em chưa nắm bắtđược ngữ âm và vần chưa định hình phân tích được đâu là nguyên âm, đâu là phụ
âm, không phân biệt được đâu là âm đệm, đâu là âm chính, đâu là âm cuối, chươngtrình này còn quá sức đối với các em là người dân tộc thiểu số, ngoài ra các emkhông nắm được luật chính tả nên rất khó khăn trong việc dạy
Một số phụ huynh gia đình còn gặp nhiều khó khăn nên chưa quan tâm đúngmức đến việc học tập của con em mình, chưa tạo điều kiện tốt để kèm cặp con emmình học bài, đọc bài ở nhà Chương trình GDCN là chương trình học khá mới lạ
cả về SGK và cách phát âm các âm, vần…dẫn đến phụ huynh lung túng trong việcdạy các con học ở nhà
3 Những yêu cầu cần đặt ra, cần đạt được.
Để dạy tốt môn Tiếng Việt lớp 1 và đặc biệt để giúp học sinh lớp 1- CGDđọc tốt điều đầu tiên giáo viên cần hiểu rõ bản chất của CGD và nắm thật chắcchương trình Tiếng Việt- CGD lớp 1
Tìm hiểu tình hình thực trạng, những nguyên nhân và nêu ra các giải phápgiúp học sinh lớp 1 đọc tốt, tạo môi trường học tập vui tươi, lành mạnh
Giáo viên cần ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, nhất là ứng dụng
để hướng dẫn, định hướng đích thực cho học sinh nắm được nội dung kiến thứctheo chuẩn kiến thức kỹ năng do Bộ GD&ĐT quy định
II Những giải pháp thực hiện.
1 Khảo sát phân loại đối tượng học sinh.
Trong quá trình dạy học vào đầu năm học tôi sơ bộ điều tra, lập danh sáchtừng đối tượng học sinh đã qua mẫu giáo, những học sinh chưa qua mẫu giáo,những học sinh học yếu thông qua giáo viên chủ nhiệm lớp mẫu giáo và phân loại
Trang 6từng đối tượng học sinh Giỏi, khá, trung bình, yếu để có kế hoạch kèm cặp, giúp
Nhận biêt hếtbảng chữ cái
Chưa nhậnbiết được hếtbảng chữ cái
Học sinhkhông biếtchữ cái nào
Phân công một em giỏi làm tổ trưởng, tổ trưởng có nhiệm vụ nhắc nhở và tổchức cho các bạn thi đua đọc, viết âm chữ đã học
Qua quá trình đánh giá sơ bộ từng đối tượng học sinh như vậy tạo tiền đềcho tôi thực hiện tốt các giải pháp tiếp theo
2 Nội dung thực hiện:
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc dạy Tiếng ViệtCDG là nhận thấy nếu dạy như đại trà hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêucầu dạy Tiếng Việt - CDG ở Tiểu học Do vậy dể khắc phục những hạn chế, pháthuy những ưu điểm hiện có ở thực tế Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháphướng dẫn học sinh lớp Một học tốt môn Tiếng Việt để nâng cao hiệu quả của giờhọc Tiếng Việt ở lớp Đó là:
a Tìm hiểu về chương trình Tiếng Việt Công nghệ giáo dục 1.
Là một giáo viên đứng lớp, truyền thụ nội dung, kiến thức trong chươngtrình của lớp đầu cấp ở bậc tiểu học bản thân tôi luôn mong muốn và tìm giải pháp
Trang 7để giúp học sinh mình học tốt, đạt kết quả Ngay từ khi nhận nhiệm vụ tôi thực sựbăn khoăn và hoang mang không biết phải bắt đầu từ đâu Bởi hiểu biết của tôi vềchương trình CNGD rất hạn chế, chưa được tham gia tập huấn chuyên sâu vềchương trình Với những lí do đó giải pháp đầu tiên mà tôi tiến hành đó là tìm hiểu,nghiên cứu về chương trình CNGD bằng nhiều hình thức: Dự giờ đồng nghiệp,xem băng mẫu, đọc sách báo tổng quan về chương trình Qua đó tôi đã có nhữnghiểu biết ban đầu về CNGD và áp dụng vào giảng dạy:
Công nghệ giáo dục là công trình nghiên cứu của Giáo sư Tiến sĩ Hồ NgọcĐại Bản chất của công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát quá trình dạy họcbằng một quy trình kỹ thuật được xử lý bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sưphạm Học sinh chiếm lĩnh được ngữ âm ngay từ đầu, biết cách phân tích ngữ âm,đọc thông viết thạo, nắm chắc các quy tắc chính tả
Bài học của môn Tiếng Việt được thể hiện qua 2 tiết và 4 việc: Việc 1:Chiếm lĩnh ngữ âm, Việc 2: Viết chữ ghi âm, Việc 3: Đọc, Việc 4: Viết chính tả.Mục tiêu dạy học của môn TV1- CGD là dạy cho học sinh về cấu trúc ngữ âm, dạycho các em bản chất của tiếng Việt (để chiếm lĩnh ngữ âm một cách dễ dàng, họcsinh được phân tích ngữ âm trong môi trường thuần khiết/ tách nghĩa khỏi âm);giúp các em sử dụng tiếng Việt hiện đại như một công cụ ngôn ngữ để chiếm lĩnhnội dung các môn học khác và để các em thực hiện các hoạt động giao tiếp trongcuộc sống cũng như trong học tập
Nội dung dạy học của chương trình TV1-CGD là dạy các em nắm chắc cấutrúc ngữ âm tiếng Việt (tiếng, âm, vần); nắm chắc luật chính tả để đọc đúng, viếtđúng và phát âm một cách chính xác ngôn ngữ tiếng Việt văn hóa hiện đại Nộidung dạy học của chương trình TV1-CGD là những thành tựu ngôn ngữ học hiệnđại nhất
Điểm mới của chương trình là học sinh được học kiến thức từ âm đến chữ
và khắc sâu hoạt động ngữ âm, cách phân tích cấu trúc ngữ âm, phương pháp họcnày giúp học sinh khá giỏi xác định được vị trí các âm trong một tiếng, như: âm
Trang 8đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối Kết quả, các em có thể đọc thông viết thạo, khiviết chính tả không nhìn chép và ít viết sai vì khi dạy đều có đưa luật chính tả
Ví dụ: + Âm "cờ" đứng trước âm e, ê, i phải viết bằng con chữ "ca" (k) còn
đứng trước các âm khác viết bằng con chữ “cờ” ( c);
+ Âm "ngờ" đứng trước âm e, ê, i phải viết bằng con chữ "ngh" còn đứng trước các âm khác viết bằng con chữ “ng”;
+ Khi dạy bài: Nguyên âm đôi “iê” thì có luật chính tả "khi vần không
có âm cuối thì viết là "ia", khi vần có âm cuối thì viết là "iê" (ở chương trình hiện
hành - lớp 4 học sinh mới học)
b Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh
Đầu năm học tiến hành họp phụ huynh:
Đề nghị và yêu cầu thống nhất trang bị đầy đủ sách vở, đồ dùng cần thiếtphục vụ cho môn học
Giáo viên hướng dẫn cho phụ huynh biết một số cách đọc bài ở SGK, cáchđánh vần, cách đọc một số chữ ghi âm như: c, k, q đều đọc là cờ, d, gi đọc là dờ,… Yêu cầu phụ huynh thường xuyên nhắc nhở việc học bài, đọc bài ở nhà củacon em mình
Xây dựng đôi bạn cùng tiến, bạn đọc được giúp bạn đọc còn chậm
Giáo viên nên dành nhiều thời gian để phụ đạo cho những em chưa thuộcbảng chữ cái vào giờ dò bài, ra chơi, các tiết học ôn luyện buổi chiều…
c Một số biện pháp rèn đọc cho học sinh lớp 1 qua phân môn Tiếng Việt 1 CGD
-Giải pháp 1: Giúp học sinh nắm chắc các nét cơ bản:
Giáo viên nên dạy thật kỹ, thật tỷ mỉ tên gọi và cách viết các nét cơ bản Đểcho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ này tôi phân theo cấu tạo các nét cótên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và sosánh Dựa vào các nét cơ bản này mà học sinh phân biệt được chữ cái, kể cả nhữngchữ cái có hình dáng cấu tạo giống nhau Gắn các nét với những vật thật trong thực
tế cuộc sống giúp học sinh dễ dàng nhận diện và ghi nhớ
Ví dụ :
Trang 9Nét sổ (| ) giống như cây thước để đứng hay cạnh thẳng đứng của khung cửa lớp ra vào, nét cong kín (O) giống như chiếc vòng đeo tay…
Hình ảnh bài viết của học sinh lớp 1A2 về các nét cơ bản
Trang 10
Giải pháp 2: Rèn cho học sinh kỹ năng phát âm:
Giai đoạn này vô cùng quan trọng Các em nắm chắc từng âm thì mới có thểghép các được các âm với nhau để tạo thành vần, thành tiếng, ghép các tiếng đơnlại với nhau tạo thành từ, thành câu
Rèn luyện cho các em khi phát âm các em phải kiên trì luyện phát âm chuẩntừng âm ngay từ đầu và nhận biết khi phát âm một âm nào đó thì các em nhận biếtđược luồng hơi đi ra tự do hay bị cản từ đó các em có thể biết âm đó là nguyên âmhay phụ âm Nếu các em chưa nhận ra vị trí và tên gọi các âm thì giáo viên cho các
em phát âm lại nhiều lần, hoặc viết nhiều lần ở bảng con để giúp các em nhớ têncác âm đã học
Ví dụ: Khi dạy bài âm / d/
Bằng phát âm các em nhận ra bản chất âm của âm vị / d/: Luồng hơi đi ra bịcản nên âm / d / là phụ âm
Giáo viên cho các em nắm được những âm là phụ âm: b, c, ch, d, đ, g, gi, h,
k, l, m, n, ng, nh, p, ph, r, s, t, th, tr, v, x; những âm là nguyên âm: a, e, ê, o, ô, ơ…
Các em nắm được cách đọc một số âm như c, k, q đều đọc là cờ, d, gi đọc là
dờ Các em nắm được luật chính tả: Âm cờ, gờ, ngờ đứng trước i, e, ê ta ghi bằngcon chữ k, gh, ngh Âm cờ đứng trước âm đệm ta ghi bằng con chữ q (cu) âm đệmviết chữ u
Những nguyên âm tròn môi: o, ô, u; những nguyên âm không tròn môi: a, e,
ê, i, ơ Nguyên âm đôi /iê/ có 4 cách ghi: iê, yê, ia, ya đều đọc là ia Nguyên âm đôi/ua/ có 2 cách ghi: uô, ua đều đọc đọc là ua; /ươ/ có 2 cách ghi: ươ, ưa
Trang 11Học sinh lớp 1A2 trong giờ Tiếng Việt
Trang 12Giải pháp 3: Rèn cho học sinh kỹ năng phân tích, đánh vần, ghép vần
Sang giai đoạn học vần học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làmquen với các kiểu chữ hoa: chữ viết hoa, chữ in hoa nên tôi tập cho học sinh nhậnbiết các kiểu chữ hoa một cách chính xác để các em đọc đúng
Để giúp các em học tốt phần vần, tôi tập cho học sinh thói quen phát âmchuẩn xác, HS nắm được đó là nguyên âm tròn môi hay không tròn môi
Muốn làm tròn môi ta thêm âm đệm o hoặc u vào trước âm chính Để làmtròn môi âm /i/ ta phải thêm âm đệm vào trước /u/ để có uy
Ví dụ: Tiếng thanh ngang có vần uy: huy, luy, tuy, xuy, khuy, chuy …
+ Các em đọc trơn sau đó phân tích huy: hờ - uy - huy,…
+Thay thanh để có tiếng mới như: huy, hùy, húy, hủy, hũy, hụy và HS nắmđược vần uy có thể kết hợp được 6 dấu thanh Dấu thanh viết ở âm chính y
Âm i đứng sau âm đệm ta viết y
Đọc chữ ghi tiếng các thanh khác là một cách sử dụng để kiểm tra, củng cốsản phẩm tiếng thanh ngang tiếng đó
Đánh vần theo cơ chế phân đôi
Ví dụ: Tiếng túy
Cách đọc : túy / tuy / - sắc – túy
+ Nếu các em không thể đọc trơn /túy / được buộc phải đánh vần, thì lùi mộtbước đánh vần mấp máy môi: túy - / tuy/ - sắc - túy
+ Nếu không đọc trơn được túy thì lùi thêm một bước nữa: tuy- /tờ/ -
/uy/-/tuy/