Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả các số liệu thu thập được tại khoa Dược dựa trên danh mục thuốc ngoại trú và báo cáo sử dụng thuốc ngoại trú của Bệnh viện
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGUYỄN TẤT THÀNH
BÙI THỊ THU NGÂN
PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC THEO MÃ ATC TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản lý và cung ứng thuốc
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ ĐẠI HỌC
Hướng dẫn khoa học: ThS DS Phạm Hồng Thắm
TP Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3Khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ Đại học - Năm học: 2017 – 2018 PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC THEO MÃ ATC TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH
BÙI THỊ THU NGÂN Hướng dẫn khoa học: ThS DS Phạm Hồng Thắm
Mở đầu: Lựa chọn danh mục thuốc hợp lý là yếu tố quyết định việc sử dụng thuốc hiệu quả,
và an toàn Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy danh mục thuốc bệnh viện không được đánh giá thường xuyên và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngân sách thuốc Phân tích sử dụng thuốc theo phương pháp ABC vàVEN, đặc biệt theo mã ATC để góp phần quản lý danh mục thuốc hiệu quả và hợp lý hơn
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả các số liệu thu thập được
tại khoa Dược dựa trên danh mục thuốc ngoại trú và báo cáo sử dụng thuốc ngoại trú của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017
Kết quả: Năm 2017 bệnh viện thực tế chỉ sử dụng 450/752 thuốc có trong danh mục thuốc
ngoại trú ban hành Phân tích theo mã ATC, nhóm thuốc tim mạch (mã C) có số lượng sử dụng nhiều nhất với 103 thuốc chiếm tỷ lệ 22,89% Danh mục thuốc ATC gồm 558 thuốc được phân loại cao nhất đến bậc 4 và có 108 thuốc được sử dụng ngoài danh mục ban hành
Tổng chi phí sử dụng thuốc là 164.065.278.912 đồng, trong đó 79,83% chi phí phân bổ cho 21,24% tổng số thuốc (nhóm A), 15,11% chi phí phân bổ cho 21,07% tổng số thuốc (nhóm B), 5,06% chi phí phân bổ cho 57,69% tổng số thuốc (nhóm C) Phân tích VEN, nhóm V chiếm 3,11% về chủng loại và 3,00% về chi phí, nhóm E chiếm tỷ lệ cao nhất về chủng loại
và chi phí lần lượt là 87,22% và 88,41%, nhóm N chiếm 9,67% về chủng loại và 8,60% về chi phí Phân nhóm AN gồm 02 nhóm thuốc theo mã A và M Các thuốc đông y không được phân loại ATC nhưng về số lượng lẫn chi phí tiêu thụ đều chiếm tỷ lệ rất cao Thuốc NSAIDs với hoạt chất glucosamin có số lượng tiêu thụ lớn và thuốc mã A có hoạt chất là các muối calci đều chiếm chi phí khá lớn
Kết luận: Tình hình sử dụng thuốc của bệnh viện tương đối phù hợp với mô hình bệnh tật ngoại trú năm 2017, tuy nhiên cần kiểm soát thuốc ngoài danh mục và khuyến khích sử dụng
danh mục thuốc ATC, nhất là giảm thiểu những thuốc đắt tiền nhưng không cần thiết để thúc đẩy kê đơn hợp lý, góp phần đem lại hiệu quả điều trị an toàn và giảm gánh nặng kinh tế cho người bệnh
Từ khóa: Danh mục thuốc; Ngoại trú; Tiêu thụ thuốc; Mã ATC; Phân tích ABC và VEN
Trang 4Final assay for the degree of BS Pharm - Academic year: 2017 – 2018
THE ANALYSIS OF DRUG LIST BASED ON ATC CODE
AT GIA DINH PEOPLE’S HOSPITAL
BUI THI THU NGAN Supervisor: MS PharmD Pham Hong Tham Introduction: Choosing the rational drug list is the key to the safe and effective use of drugs
However, studies show that hospital drug list is not frequently evaluated and able to seriously affect the drug budget Analysing the use of drugs based on ABC and VEN analysis, especially based on ATC code that is to contribute to the more reasonable and effective management of drug list
Materials and methods: The descriptive retrospective study of data collected at the
department of pharmacy that is based on the outpatient drug list and the report of using the outpatient drugs of Gia Dinh People's Hospital in Ho Chi Minh city in 2017
Results: In 2017, the hospital actually used 450/752 drug items in the outpatient drug list The
analysis based on ATC code shows that the group of cardiovascular drugs (code C) was used most with 103 drug items (22.89%) The ATC drug list included 558 drug items that were classified highest to 4th level and it also had 108 items that were used outside the standard drug list The total cost of drug consumption was 164,065,278,912 VND, of which 79.83% of cost was allocated to 21.24% of items (group A), 15.11% of cost was allocated to 21.07% of items (group B), 5.06% of cost allocated to 57.69% of items (group C) VEN analysis shows group V accounted for 3.11% of items and 3.00% of cost, group E accounted for the highest percentage of items and cost (87.22% and 88.41%), group N accounted for 9.67% of items and 8.60% of cost Subgroup AN consists of two groups of drugs by code A and M Traditional medicines are not classified by ATC code, but the quantity and cost of consumption were very high Two active substances are glucosamine (NSAIDs) and calcium salts (the drugs by code A) that both had the high consumption
Conclusion: The use of drugs at the hospital was relatively consistent with the outpatient
model for human diseases in 2017, but it is necessary to control the drugs outside the list and
to encourage the use of the ATC drug list, especially in reducing the cost of expensive drugs but not necessary to promote the reasonable prescription, contributing to the effectiveness of safe treatment and reducing the economic burden on patients
Keywords: Drug list; Outpatient; Consumption; ATC code; ABC and VEN ananlysis.
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Phân tích danh mục thuốc theo mã ATC tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định” là do bản thân tôi tự nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS DS Phạm Hồng Thắm
Tôi xin cam đoan các số liệu sử dụng phân tích trong khóa luận có nguồn gốc
rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của toàn bộ khóa luận này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 10 năm 2018
Sinh viên
Bùi Thị Thu Ngân
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Với tất cả lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn ThS
DS Phạm Hồng Thắm, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình, truyền đạt kinh nghiệm, giải đáp những thắc mắc và quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, các Thầy, Cô giáo Khoa Dược trường Đại học Nguyễn Tất Thành đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể nhân viên, đặc biệt nhân viên khoa Dược đang công tác tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ nhiệt tình, phối hợp trong quá trình thu thập số liệu cho khóa luận
Lời cuối cùng, tôi xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân – những người
đã ủng hộ, chia sẻ, động viên tôi những lúc khó khăn và giúp tôi hoàn thành khóa luận này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 11 tháng 10 năm 2018
Sinh viên
Bùi Thị Thu Ngân
Trang 7MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về danh mục thuốc bệnh viện 3
1.1.1 Xây dựng danh mục thuốc bệnh viện 3
1.1.2 Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc bệnh viện 4
1.1.3 Thực trạng về danh mục thuốc sử dụng tại các bệnh viện Việt Nam 7
1.2 Tổng quan về hệ thống phân loại ATC 9
1.2.1 Lịch sử hình thành của hệ thống phân loại ATC 9
1.2.2 Cấu trúc hệ thống phân loại ATC 11
1.2.3 Nguyên tắc phân loại của hệ thống phân loại ATC 13
1.2.4 Các quy tắc về những thay đổi trong hệ thống phân loại ATC 14
1.2.5 Ứng dụng hệ thống phân loại ATC trên thế giới và Việt Nam 15
1.3 Tổng quan về các hệ thống phân loại khác trên thế giới và Việt Nam 16
1.3.1 Các hệ thống phân loại khác trên thế giới 16
1.3.2 Các hệ thống phân loại khác tại Việt Nam 18
1.4 Tổng quan về Bệnh viện Nhân dân Gia định Thành phố Hồ Chí Minh 20
1.4.1 Giới thiệu về Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh 20
1.4.2 Vài nét về khoa Dược Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh 21
1.4.3 Hội đồng thuốc và Điều trị của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh 23
1.4.4 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh 24
Trang 8CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Vật liệu nghiên cứu 26
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2 Các biến số nghiên cứu 26
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 30
2.2.5 Phương pháp xử lý và trình bày số liệu 35
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 36
3.1 Kết quả nghiên cứu 36
3.1.1 Phân tích danh mục thuốc ngoại trú theo mã ATC 36
3.1.2 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp ABC và VEN, theo mã ATC 38
3.1.2.1 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo mã ATC 38
3.1.2.2 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp ABC
41
3.1.2.3 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp VEN
44
3.1.2.4 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp ABC/VEN 48
3.1.2.5 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú của các phân nhóm AV, AE, AN theo mã ATC 50
3.2 Bàn luận 55
3.2.1 Phân tích danh mục thuốc ngoại trú theo mã ATC 55
3.2.2 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp ABC và VEN, theo mã ATC 56
3.2.2.1 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo mã ATC 56
Trang 93.2.2.2 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp ABC
57
3.2.2.3 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp VEN
58
3.2.2.4 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp ABC/VEN 59
3.2.2.5 Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú của các phân nhóm AV, AE, AN theo mã ATC 60
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 62
4.1 Kết luận 62
4.2 Kiến nghị 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADMET
Absorption Distribution Metabolism Excretion Toxicity
Hấp thu Phân bố Chuyển hóa Thải trừ Độc tính
AHFS American Hospital Formulary
Service
Hiệp hội Dƣợc thƣ Bệnh viện Hoa
Kỳ
ATC Anatomical – Therapeutic –
ICD International Classification
for Diseases Phân loại Quốc tế về Bệnh tật
INN International Nonproprietary
Trang 11QSAR Quantitative Structure –
Activity Relationships
trúc và tác dụng sinh học hay tác dụng dược lý
VEN
V: Vital E: Essential N: Non-Essential
V: Tối cần E: Thiết yếu N: Không thiết yếu
WCCDSM
WHO Collaborating Centre for Drug Statistics Methodology
Trung tâm phối hợp về phương pháp thống kê thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Trang Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức khoa Dƣợc BV Nhân Dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 21
Trang 13DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 So sánh ưu, nhược điểm của các phương pháp phân tích 6
Bảng 1.2 Cấu trúc hệ thống phân loại ATC 11
Bảng 1.3 Mã phân loại thuốc theo nhóm giải phẫu của ATC 12
Bảng 1.4 Phân loại Phenothiazine trong hệ thống phân loại Dược lý – Điều trị 17
Bảng 1.5 Mười chương bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất với đối tượng bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định TP.HCM năm 2017 24
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 27
Bảng 2.2 Ma trận ABC/VEN 32
Bảng 2.3 Các chỉ số nghiên cứu 32
Bảng 3.1 Kết quả phân tích danh mục thuốc ngoại trú theo mã ATC năm 2017 36
Bảng 3.2 Kết quả phân tích sử dụng thuốc ngoại trú ở mỗi bậc ATC năm 2017 38
Bảng 3.3 Kết quả phân tích sử dụng thuốc ngoại trú theo mã ATC năm 2017 39
Bảng 3.4 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo phân tích ABC năm 2017 41
Bảng 3.5 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm A năm 2017 42
Bảng 3.6 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm B năm 2017 43
Bảng 3.7 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm C năm 2017 44
Bảng 3.8 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo phân tích VEN năm 2017 45
Bảng 3.9 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm V năm 2017 46
Bảng 3.10 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm E năm 2017 46
Bảng 3.11 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong nhóm N năm 2017 47
Bảng 3.12 Cơ cấu tiêu thụ thuốc theo phân tích ABC/VEN năm 2017 48
Bảng 3.13 Cơ cấu tiêu thụ thuốc nhóm A theo phân tích VEN năm 2017 49
Bảng 3.14 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc trong phân nhóm AV theo mã ATC năm 2017 50
Bảng 3.15 Thuốc cụ thể trong phân nhóm AV theo mã ATC năm 2017 50
Bảng 3.16 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc trong phân nhóm AE theo mã ATC năm 2017 51
Trang 14Bảng 3.17 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong phân nhóm AE theo mã ATC năm 2017 52 Bảng 3.18 Cơ cấu tiêu thụ các thuốc trong phân nhóm AN theo mã ATC năm 2017 54 Bảng 3.19 Các thuốc có giá trị sử dụng cao nhất trong phân nhóm AN theo mã ATC năm 2017 54
Trang 15Theo một số nghiên cứu, chi phí mua thuốc chiếm khoảng 30 – 40% ngân sách ngành Y tế của nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [41] Các nghiên cứu đã cho thấy tình trạng sử dụng thuốc bất hợp lý xảy ra tại nhiều nước trên thế giới Tại các nước đang phát triển, 30% – 60% bệnh nhân sử dụng thuốc kháng sinh gấp hai lần so với tình trạng cần thiết [38] và hơn một nửa số ca viêm đường hô hấp trên được điều trị kháng sinh không hợp lý Cũng theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2010 của Cục Quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc
sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm [5] Vì vậy, cung ứng thuốc kịp thời, đầy đủ với giá cả hợp lý, an toàn là nhiệm vụ trọng tâm của khoa Dược các bệnh viện, trong đó Hội đồng thuốc và Điều trị đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng danh mục thuốc thiết yếu phù hợp về hiệu quả sử dụng và chi phí
Tại bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh, danh mục thuốc ATC bắt đầu được quản lý và cài đặt phần mềm sử dụng vào năm 2009 Năm 2018 danh mục thuốc này đang dần được hoàn thiện nhưng cho đến nay vẫn chưa được đánh giá thật sự trong quá trình sử dụng Mục đích của hệ thống phân loại ATC là cải thiện chất lượng của việc sử dụng thuốc Trong đó, mục tiêu chính là duy trì sự
ổn định của mã ATC nhằm giảm thiểu những phức tạp do sự thay đổi thường xuyên của hệ thống phân loại này trong nghiên cứu xu hướng tiêu dùng thuốc Sự phân loại một chất trong hệ thống ATC không phải là khuyến cáo sử dụng thuốc, cũng
Trang 16không nhằm đánh giá về chất lượng của một thuốc hay một nhóm thuốc mà là công
cụ cho nghiên cứu sử dụng thuốc [20]
Với mong muốn đưa hệ thống phân loại ATC trở nên phổ biến và được áp dụng tốt hơn tại Việt Nam, cũng như tiếp nối một số công trình nghiên cứu khoa học được thực hiện thành công trước đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Phân tích danh mục thuốc theo mã ATC tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định” với hai mục tiêu sau:
- Phân tích danh mục thuốc ngoại trú theo mã ATC
- Phân tích tình hình sử dụng thuốc ngoại trú theo phương pháp ABC và VEN, theo mã ATC
Từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện danh mục thuốc ngoại trú và góp phần quản lý danh mục thuốc ATC theo kết quả phân tích ABC, VEN hiệu quả và hợp lý hơn cho Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh những năm tiếp theo
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về danh mục thuốc bệnh viện
Danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả Danh mục thuốc bệnh viện (DMTBV) được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong các kỳ họp của Hội đồng thuốc và Điều trị (HĐT&ĐT) Danh mục thuốc đóng vai trò quan trọng trong chu trình mua sắm, dự trữ, quản lý và sử dụng thuốc tại bệnh viện
1.1.1 Xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Việc xây dựng một danh mục thuốc phù hợp sẽ mang lại rất nhiều lợi ích, đảm bảo thuốc có hiệu quả điều trị, với chất lượng tốt và chi phí hợp lý, đồng thời loại
bỏ các thuốc không an toàn và hiệu quả không cao, làm giảm những nguy cơ về sức khỏe và lãng phí trong quá trình sử dụng thuốc
Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc:
Căn cứ vào danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ Y tế (BYT) ban hành [4],[8],[9] đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện, HĐT&ĐT sẽ xây dựng danh mục thuốc bệnh viện theo nguyên tắc:
- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện
- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện
- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do BYT ban hành
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước [7]
Trang 18 Các bước xây dựng danh mục thuốc:
- Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị
sử dụng, phân tích ABC – VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng
có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy;
- Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan;
- Xây dựng danh mục thuốc và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và theo phân loại VEN;
- Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như: thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần,…)
- Tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ y tế sử dụng danh mục thuốc
- Định kỳ hàng năm đánh giá, sửa đổi, bổ sung danh mục thuốc [7]
1.1.2 Một số phương pháp phân tích danh mục thuốc bệnh viện
Phương pháp phân tích ABC:
Khái niệm: Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng
thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách sử dụng cho thuốc của bệnh viện
Phân hạng sản phẩm như sau:
- Hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm 75 - 80% tổng giá trị tiền;
- Hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm 15 - 20% tổng giá trị tiền;
- Hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm 5 - 10% tổng giá trị tiền
Thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10 – 20% tổng sản phẩm, hạng B chiếm 10 – 20% và 60 – 80% còn lại là hạng C [7]
Mục đích: Phân tích ABC được dùng để kiểm soát các thuốc thuộc nhóm A
được sử dụng có hợp lý, hiệu quả hay không; đây là nhóm ưu tiên để xem xét đưa ra các quyết định lựa chọn và mua thuốc
Đối với nhóm A:
+ Số lượng mặt hàng ít, giá trị tồn kho cao, cần có chính sách quản lý hàng tồn kho chặt chẽ
Trang 19+ Thời gian đặt hàng cần thường xuyên (mỗi tuần thậm chí mỗi ngày) + Tránh tồn trữ hàng với số lượng lớn
+ Lựa chọn nhà cung ứng tốt để tiết kiệm chi phí
+ Cần thiết phải xác định nhu cầu và dự báo doanh thu để tiết kiệm chi phí tồn kho
Đối với nhóm B:
+ Số lượng mặt hàng dự trữ vừa phải, giá trị tồn kho vừa phải
+ Thời gian đặt hàng lại ít thường xuyên hơn (mỗi tháng)
+ Cần theo dõi sự thay đổi chuyển sang nhóm A hoặc C
Đối với nhóm C:
+ Số lượng mặt hàng dự trữ lớn, giá trị tồn kho ít
+ Thời gian đặt hàng ít thường xuyên nhất [22]
Phương pháp phân tích VEN:
Khái niệm: Phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt
động mua và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau:
- Nhóm V (Vital – Tối cần) là nhóm thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện
- Nhóm E (Essential – Thiết yếu) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện
- Nhóm N (Non-Essential – Không thiết yếu) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc [7]
Sau khi hoàn thành phân tích VEN, cần phải so sánh giữa phân tích ABC và VEN để xác định xem có mối liên hệ giữa các thuốc có chi phí cao và các thuốc
Trang 20không ưu tiên hay không Cụ thể là cần phải loại bỏ những thuốc “N” trong danh sách nhóm thuốc A có chi phí cao/ lượng tiêu thụ lớn trong phân tích ABC [29]
Phương pháp phân tích nhóm điều trị:
Khái niệm: Phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích thuốc dựa theo
nhóm điều trị được sắp xếp theo danh mục thuốc thiết yếu của WHO hoặc các tài liệu tham khảo khác như hệ thống phân loại Dược lý – Điều trị của hiệp hội Dược thư bệnh viện của Mỹ (AHFS) hoặc hệ thống phân loại Giải phẫu – Điều trị – Hóa học (ATC) của WHO [7]
So sánh ưu, nhược điểm của các phương pháp [22]:
Bảng 1.1 So sánh ưu, nhược điểm của các phương pháp phân tích
Phân tích ABC - Xác định xem phần lớn ngân
sách chi trả cho thuốc nào
- Không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau
Phân tích VEN
- Lựa chọn những thuốc ưu tiên
để mua và dự trữ trong bệnh viện
- Cho phép so sánh những thuốc
có hiệu lực điều trị và khả năng
- Cần phải tiến hành cùng với phân tích ABC để xác định xem
có mối liên hệ nào giữa các thuốc ưu tiên không
- Tìm điểm chưa hợp lý trong
Trang 21sử dụng khác nhau cung ứng, sử dụng thuốc nhóm
AN
Phân tích
nhóm điều trị
- Xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật
- Xác định được những thuốc bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể
- Chỉ so sánh được những thuốc
có cùng chung hiệu lực điều trị
1.1.3 Thực trạng về danh mục thuốc sử dụng tại các bệnh viện Việt Nam
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vấn đề cung ứng thuốc trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng, có tác động trực tiếp đến hiệu quả điều trị đối với người bệnh Một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cung ứng thuốc trong bệnh viện là vấn đề sử dụng kinh phí thuốc Theo các báo cáo, kinh phí sử dụng thuốc trong bệnh viện thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng ngân sách của một bệnh viện, nó có thể chiếm tỷ trọng tới 40 – 60% đối với các nước đang phát triển
và 15 – 20% đối với các nước phát triển [37],[40] Tại Việt Nam, theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2010 của Cục quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện chiếm tỷ trọng 58,7% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [5]
Năm 2013, nghiên cứu tại bệnh viện A tỉnh Thái Nguyên nhóm thuốc ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 39,5% tổng kinh phí sử dụng thuốc [19] Năm
2014, nhóm ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện đa khoa huyện Nga Sơn chiếm tỷ lệ 11,62% [28], bệnh viện Quận 5 Thành Phố Hồ Chí Minh chiếm 15,73% [13], bệnh viện đa khoa Bà Rịa – Vũng Tàu chiếm 22,07% tổng kinh phí sử dụng thuốc [18] Bên cạnh đó, năm 2014, nhóm thuốc vitamin và khoáng chất chiếm tỷ lệ cao về số lượt bệnh nhân được chỉ định sử dụng như bệnh viện đa khoa
Trang 22huyện Nga Sơn chiếm tỷ lệ 4,59% [28], bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn chiếm tỷ lệ 4,01% [14] Như vậy rõ ràng việc sử dụng thuốc tại các cơ sở khám chữa bệnh tại nước ta đang còn tồn đọng nhiều bất cập, cần sự thay đổi cho phù hợp
Bên cạnh đó, phân tích danh mục thuốc bằng phương pháp ABC, VEN được đưa vào Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 08 tháng 08 năm
2013 là bước đầu trong quy trình xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện và cũng
là phương pháp phân tích nhằm phát hiện những vấn đề bất cập về sử dụng thuốc tại bệnh viện
Năm 2012, Huỳnh Hiền Trung đã dùng phân tích ABC, VEN là một tiêu chí
để đánh giá sự cải thiện trong can thiệp cải thiện chất lượng danh mục thuốc tại bệnh viện nhân dân 115 TP.HCM Theo số lượng thuốc, nhóm I (gồm: AV, AE,
AN, BV, CV) là nhóm cần đặc biệt quan tâm vì sử dụng nhiều ngân sách hoặc cần cho điều trị, đã thay đổi từ 14,8% trước can thiệp xuống còn 9,1% sau can thiệp Nhóm II (gồm: BE, BN, CE) tuy mức độ quan trọng ít hơn nhóm I nhưng cũng là nhóm thuốc cần giám sát kỹ vì sử dụng ngân sách tương đối lớn và cần thiết cho điều trị Từ tỷ lệ 57,3% trước can thiệp giảm xuống còn 41,6%, 71 hoạt chất đã được HĐT&ĐT loại khỏi danh mục thuốc sau can thiệp Nhóm III (CN) ít quan trọng nhưng chiếm tỷ lệ 27,9% theo số lượng, sau can thiệp còn 11,5%, có 82 hoạt chất được loại khỏi danh mục thuốc [33]
Cũng trong năm 2012, nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương dùng phương pháp phân tích ABC/VEN là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng và thực hiện danh mục thuốc tại một số bệnh viện đa khoa và nhận thấy các bệnh viện đã mua sắm tương đối tập trung vào các thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị (sử dụng 70% tổng kinh phí để mua sắm 11,2% – 13,1% số chủng loại thuốc) Đây là các thuốc có giá trị và số lượng sử dụng lớn trong bệnh viện Chính vì thế cần ưu tiên trong mua sắm đồng thời quản lý chặt chẽ các thuốc
thuộc nhóm A này [21]
Tại Việt Nam, với tác động can thiệp của HĐT&ĐT, chất lượng danh mục thuốc đã được cải thiện dù là chưa đạt được yêu cầu cần thiết của một DMTBV
Trang 23Hiện nay, các bệnh viện đang bắt đầu áp dụng rộng rãi phương pháp phân tích ABV/VEN để làm căn cứ lựa chọn trong mua sắm, tồn trữ thuốc một cách hợp lý, khoa học
1.2 Tổng quan về hệ thống phân loại ATC
1.2.1 Lịch sử hình thành của hệ thống phân loại ATC
Từ những năm 60, lĩnh vực nghiên cứu sử dụng thuốc đã thu hút được sự quan tâm của cộng đồng thế giới Kết quả nghiên cứu trong thời gian 1966 – 1967 của WHO tại châu Âu cho thấy có sự khác biệt rất lớn về vấn đề sử dụng thuốc giữa các nhóm dân cư ở sáu nước châu Âu
Năm 1969, hội nghị chuyên đề về “Sự tiêu dùng thuốc” được tổ chức tại Oslo Hội nghị thống nhất cần phải có một hệ thống phân loại thuốc sử dụng cho các nghiên cứu về tiêu dùng thuốc và để áp dụng trên toàn thế giới Cũng tại Hội nghị này, nhóm nghiên cứu sử dụng thuốc được thành lập với nhiệm vụ xây dựng, phát triển và ứng dụng các phương pháp nghiên cứu sử dụng thuốc
Song để đánh giá việc sử dụng thuốc, điều quan trọng là phải có đồng thời hệ thống phân loại và một đơn vị đo lường Trung tâm lưu trữ thuốc Na Uy (NMD) đã đưa ra một đơn vị đo lường để sử dụng cho nghiên cứu sử dụng thuốc được gọi là liều xác định theo ngày DDD Hệ thống ATC/DDD này đã được sử dụng ở Na Uy
từ đầu những năm 70 khi đưa ra những dữ liệu về vấn đề tiêu dùng thuốc
Năm 1975, Hội đồng Y học Bắc Âu được thành lập phối hợp với NMD để phát triển hệ thống phân loại ATC/DDD Năm 1976, Hội đồng đã sử dụng phương pháp phân loại ATC/DDD để đưa ra những số liệu thống kê về sử dụng thuốc ở Bắc
Âu Kể từ đó, hệ thống phân loại ATC/DDD được sử dụng rộng rãi cho hầu hết các loại thuốc trên thị trường Bắc Âu Cùng thời gian này, thông qua hoạt động của nhóm nghiên cứu, hệ thống phân loại ATC/DDD ngày càng thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế
Năm 1981, Trụ sở WHO tại Châu Âu đã giới thiệu hệ thống phân loại ATC/DDD trước cộng đồng quốc tế cho nghiên cứu sử dụng thuốc Để phổ biến và
áp dụng hệ thống phân loại ATC/DDD trên toàn thế giới, Trung tâm phối hợp về
Trang 24phương pháp thống kê thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới (WCCDSM) đã được thành lập vào năm 1982 với nhiệm vụ phối hợp sử dụng phương pháp phân loại này Năm 1996, WHO thấy cần thiết phải phổ biến việc sử dụng hệ thống phân loại ATC như một tiêu chuẩn quốc tế để nghiên cứu sử dụng thuốc Vì thế, trung tâm nghiên cứu về vấn đề này đã được chuyển từ Copenhagen, Đan Mạch tới trụ sở chính của WHO ở Geneva Điểm này rất quan trọng vì khởi động cho sự hợp tác chặt chẽ trong công tác nghiên cứu sử dụng thuốc trên thế giới Đồng thời, qua đó giúp cho các chuyên gia của WHO tiếp cận được nhiều loại thuốc và mức độ sử dụng chúng trên qui mô toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
WHO và NMD thống nhất nhiệm vụ chính của WCQDSM là duy trì và phát triển hệ thống phân loại ATC/DDD, gồm các công việc sau:
- Phân loại thuốc theo hệ thống ATC/DDD Ưu tiên phân loại những đơn chất
- Xây dựng DDD cho các loại thuốc đã có mã ATC
- Phối hợp với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực sử dụng thuốc để phổ biến
hệ thống ATC
- Xem xét, duyệt lại hệ thống phân loại ATC/DDD trong trường hợp cần thiết Năm 1996, Cơ quan quản lý và chính sách về thuốc của WHO đã thành lập nhóm hoạt động về phương pháp thống kê thuốc gồm 13 chuyên gia của WHO về các lĩnh vực: dược lý, dược lâm sàng, sử dụng thuốc, qui chế thuốc, đánh giá thuốc, Các thành viên của nhóm có quốc tịch khác nhau, đại diện cho những người sử dụng hệ thống ATC/DDD ở sáu khu vực khác nhau trên thế giới Nhiệm
vụ chính của nhóm như sau:
- Tiếp tục phát triển hệ thống phân loại ATC/DDD
- Thảo luận và đưa ra những thay đổi cũng như quyết định về DDD và mã ATC mới thay cho những liều DDD và mã ATC cũ khi cần thiết
- Phát triển hơn nữa việc sử dụng hệ thống ATC/DDD như một tiêu chuẩn quốc tế cho các nghiên cứu sử dụng thuốc
- Duyệt, xem xét lại các thủ tục áp dụng những qui định và thay đổi về mã ATC và DDD trong trường hợp cần thiết để đảm bảo sự nhất quán và rõ ràng
Trang 25- Tiếp cận những nguồn dữ liệu thống kê về việc sử dụng thuốc trên thế giới, khuyến khích việc thu thập thông tin thống kê có hệ thống, toàn diện về sử dụng thuốc ở tất cả các khu vực và các nước có sử dụng hệ thống ATC/DDD như một tiêu chuẩn quốc tế
- Phát triển các phương pháp, sách và những hướng dẫn để có thể ứng dụng thực tiễn, hợp lý hệ thống phân loại ATC/DDD trong lĩnh vực nghiên cứu và sử dụng thuốc ở nhiều khu vực, đặc biệt những vấn đề có thể áp dụng được cho những nước đang phát triển [1],[20]
1.2.2 Cấu trúc hệ thống phân loại ATC
Tên hoạt chất dùng trong hệ thống phân loại ATC được ghi theo tên chung quốc tế (INN) Nếu không có tên quốc tế thì chọn theo tên được chấp nhận ở Mỹ hoặc Anh Hệ thống phân loại thuốc ATC được xây dựng dựa trên cơ sở ba yếu tố:
- Bộ phận cơ thể mà thuốc tác động vào (Anatomical)
- Tác dụng điều trị của thuốc (Therapeutic)
- Các đặc trưng hoá học của thuốc (Chemical)
Trong hệ thống phân loại này, mỗi thuốc sẽ có ít nhất một mã bao gồm năm bậc phân loại được ký hiệu dưới dạng những nhóm chữ và số khác nhau [1],[20]
Bảng 1.2 Cấu trúc hệ thống phân loại ATC [1],[20]
1 01 chữ cái Chỉ bộ phận giải phẫu của cơ thể là nơi mà thuốc tác động vào
Bậc 1 được chia thành 14 nhóm nhỏ tương ứng với 14 chữ cái
2 02 ký tự số Chỉ tác dụng điều trị chính có liên quan đến bộ phận giải phẫu
của cơ thể mà thuốc tác động vào
3 01 chữ cái Chỉ tác dụng dược lý cụ thể
4 01 chữ cái Chỉ nhóm hoá học có liên quan đến tác dụng dược lý
5 02 ký tự số Chỉ nhóm chức hoá học cụ thể của thuốc
Trang 26Bảng 1.3 Mã phân loại thuốc theo nhóm giải phẫu của ATC [3]
A Alimentary tract and metabolism Đường tiêu hóa và chuyển hóa
B Blood and blood forming organs Máu và cơ quan tạo máu
H Systemic hormonal preparations,
excluding sex hormones and insulins
Các chế phẩm hormon tác dụng toàn thân ngoại trừ hormon sinh dục và insulin
J Antiinfectives for systemic use Kháng khuẩn tác dụng toàn thân
L Antineoplastic and
immunomodulating agents
Chống ung thư và tác nhân điều hoà miễn dịch
P Antiparasitic products, insecticides
and repellents
Chống ký sinh trùng, côn trùng và ghẻ
Trang 27Ví dụ:
+ Bậc 1: A – Đường tiêu hóa và chuyển hóa
+ Bậc 2: A10 – Các thuốc sử dụng trong bệnh đái tháo đường
+ Bậc 3: A10B – Các thuốc làm giảm glucose máu theo đường uống (trừ Insulin)
+ Bậc 4: A10BF – Các thuốc ức chế men Alpha-glucosidase
- Mã đề nghị cho một thuốc mới phải do hội đồng của WHO thông qua và ban hành Thay đổi một mã thuốc cũng phải theo trình tự như vậy
- Tên thuốc trong phân loại ATC phải theo danh pháp INN
- Một thuốc có thể có nhiều chỉ định điều trị chủ yếu và tác dụng điều trị chính của một thuốc cũng có thể khác nhau giữa nước này với nước khác
- Một thuốc mới không thuộc bất kỳ nhóm các chất có liên quan đến nhau theo
hệ thống phân loại ATC ở bậc bốn thì sẽ được đặt vào một nhóm gọi là nhóm các thuốc khác và được ký hiệu là X [20]
Phân loại các chế phẩm đơn:
Chế phẩm đơn thành phần là chế phẩm chỉ chứa một hoạt chất chính, có thể có thêm thành phần khác có tác dụng phụ trợ
Ví dụ:
- Kháng sinh và chất gây tê nơi tiêm
- Aspirin và NaHCO3 giảm kích ứng niêm mạc đường tiêu hoá
- Hoạt chất chính và tác nhân ổn định chế phẩm
- Hoạt chất chính + vitamin và tác nhân ổn định chế phẩm khác [1],[20]
Trang 28 Phân loại các dạng phối hợp:
Các chế phẩm có chứa từ hai hay nhiều hoạt chất chính với nguyên tắc sau:
- Hai hay nhiều thành phần hoạt chất thuộc cùng nhóm tác dụng điều trị thì hỗn hợp được xếp thứ 20 hoặc 30 ở bậc thứ 5 Ví dụ:
+ N01BB02 Lidocaine
+ N01BB04 Prilocaine
+ N01BB20 là dạng phối hợp Lidocaine và Prilocaine
- Hai hay nhiều thành phần hoạt chất không cùng nhóm, nhưng tác dụng điều trị như nhau thì xếp cùng một mã nhưng xếp sau số 50 Ví dụ: Chế phẩm Acetyl salicilic acid có thêm một thành phần khác là codein hoặc caffein nhưng có cùng tác dụng giảm đau thì đều được xếp vào mã N02BA51
- Các dạng phối hợp có chứa chất hướng tâm thần mà không phân loại theo
mã N05 hoặc N06 (hướng tâm thần) thì phân loại theo bậc 5 có mã từ 70 trở lên Ví dụ: N02BA71 acetylsalycylic acid kết hợp với các chất hướng thần
Để xác định xếp mã ATC cho một thuốc dạng phối hợp là rất khó Trong trường hợp này người ta thường dựa vào tác dụng điều trị chính của thuốc [20]
1.2.4 Các quy tắc về những thay đổi trong hệ thống phân loại ATC
Vì các thuốc hiện có và tác dụng của chúng liên tục thay đổi nên việc kiểm tra thường xuyên hệ thống phân loại ATC là cần thiết Khi quyết định sửa đổi hệ thống phân loại ATC cần tuân theo qui tắc sau:
- Dành một khoảng trống trong một nhóm phân loại ATC cho những thuốc mới có thể xuất hiện trong tương lai
- Những mã ATC cho các thuốc phối hợp cần phải phù hợp với việc phân loại các đơn chất
- Những mã ATC đã được dùng cho những chế phẩm không được sử dụng nữa thì không được áp dụng lại cho các thuốc mới
- Những thuốc quá cũ không còn được sử dụng hoặc những thuốc đã thu hồi trên thị trường vẫn được giữ trong hệ thống phân loại ATC bởi vì sự loại bỏ thuốc
Trang 29ra khỏi hệ thống có thể gây nhiều khó khăn cho người sử dụng khi xem xét các dữ liệu trong lịch sử
- Các thay đổi về mã hiện thời nên giữ ở mức tối thiểu, việc để một khoảng trống trong mã phân loại thích hợp hơn so với việc thay đổi mã
Khi thay đổi một mã phân loại ATC, DDD cũng cần được xem xét lại Bởi vì cùng một thuốc có thể có nhiều tác dụng điều trị nhưng liều sử dụng cho mỗi tác dụng điều trị thường khác khau [20]
1.2.5 Ứng dụng hệ thống phân loại ATC trên thế giới và Việt Nam
Phát huy đúng chức năng của hệ thống phân loại ATC, hiện nay trên thế giới
đã có nhiều nước tiên tiến sử dụng hệ thống này trong lĩnh vực quản lý và nghiên cứu sử dụng thuốc
Theo đánh giá, tại các nước Bắc Âu và nhiều nước khác thuộc Đông Âu, hệ thống ATC đã được coi như một chuẩn quốc gia, được sử dụng rộng rãi bởi các nhà sản xuất, nhà phân phối sản phẩm, nhà thuốc, và là một chuẩn để nhận biết mỗi một hoạt chất
Tại Pháp, một trong những nước có ngành Dược phát triển hàng đầu thế giới,
đã áp dụng hệ thống phân loại ATC như một phương pháp chính thức để tìm kiếm, phân loại thuốc, đồng thời cũng phân tích đánh giá tình hình tiêu thụ thuốc tại các bệnh viện và nhà thuốc Cụ thể để khảo sát đánh giá tình hình tiêu thụ thuốc từ năm
1998 đến năm 2000, người ta đã tiến hành đánh giá những loại thuốc nào có xu hướng bán chạy, loại thuốc nào có sức bán giảm, phân tích tìm hiểu nguyên nhân nó
để từ đó có phương án tác động quản lý phù hợp
Tại Việt Nam, hệ thống phân loại ATC đã được biết đến từ lâu trong các công tác nghiên cứu, quản lý Dược và đặc biệt là trong lĩnh vực y tế cộng đồng Tuy nhiên nắm được vai trò quan trọng của hệ thống này, cũng như việc áp dụng nó ra sao cho đến nay vẫn còn khá mới mẻ với hầu hết các cán bộ công tác trong lĩnh vực Dược, các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà thuốc Với mong muốn đưa hệ thống ATC trở nên phổ biến và được áp dụng tốt hơn tại Việt Nam, trước đó đã có một số công trình nghiên cứu khoa học và ứng dụng được thực hiện thành công như việc
Trang 30đưa hệ thống phân loại ATC vào hệ thống bài giảng cho sinh viên của bộ môn Quản
lý và kinh tế dược, trường đại học Dược Hà Nội (2002), đề tài khoa học của nhóm dược sĩ Phạm Vũ Khiêm (tháng 3/2002) [1]
Cụ thể hơn là đề tài nghiên cứu chi phí điều trị nội trú tại bệnh viện Nhân dân
115 dựa vào phân loại ATC/DDD do nhóm nghiên cứu của tác giả Huỳnh Hiền Trung và các cộng sự Với mục đích cung ứng đủ thuốc phục vụ cho điều trị nhưng vẫn đảm bảo trong ngân sách sử dụng, sử dụng phân loại ATC/DDD để xác định khoản chi phí tiết kiệm được khi thực hiện giải pháp điều trị thay thế Từ đó giúp HĐT&ĐT có những giải pháp hợp lý để tiết kiệm kinh phí hạn hẹp, sử dụng thuốc hợp lý, an toàn cho người bệnh Kết quả nghiên cứu như sau: nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn – phân nhóm cephalosporin thế hệ thứ 3 tiết kiệm 109.764.766 VNĐ, tiết kiệm cho mỗi bệnh nhân 92.942 VNĐ mỗi ngày và 464.711 VNĐ cho một đợt điều trị kéo dài 05 ngày; nhóm thuốc tim mạch – phân nhóm gốc dihydropiridin tiết kiệm 52.744.935 VNĐ, tiết kiệm cho bệnh nhân 3.904 VNĐ mỗi ngày và 39.044 VNĐ cho một đợt điều trị kéo dài 10 ngày; nhóm đường tiêu hóa và chuyển hóa – phân nhóm thuốc ức chế bơm proton tiết kiệm 229.204.604 VNĐ, tiết kiệm cho mỗi bệnh nhân 30.134 VNĐ mỗi ngày và 301.347 VNĐ cho một đợt điều trị kéo dài 10 ngày; nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn – phân nhóm beta-lactamase tiết kiệm 24.092.584 VNĐ, tiết kiệm 49.831 VNĐ mỗi ngày và 249.158 VNĐ cho một đợt điều trị kéo dài 05 ngày [31]
1.3 Tổng quan về các hệ thống phân loại khác trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Các hệ thống phân loại khác trên thế giới
Hệ thống phân loại theo Dược lý – Điều trị:
Phân loại theo Dược lý – Điều trị (Pharmacologic – Therapeutic Classification) được Hiệp hội Dược sĩ Bệnh viện Hoa Kỳ thiết lập từ năm 1959 Thông tin được trình bày trong các ấn phẩm của Hiệp hội Dược thư Bệnh viện Hoa
Kỳ (American Hospital Formulary Service – AHFS)
Sự sắp xếp theo phân loại dược lý trị liệu dễ dàng cho phép xem xét thông tin
về một nhóm thuốc cũng như cách sử dụng để xác định điểm tương đồng của các
Trang 31loại trong một nhóm thuốc Hệ thống phân loại các nhóm thuốc có tính chất dƣợc
lý, đặc tính điều trị, hóa học của hoạt chất thành 04 phân bậc:
mã phân loại của Phenothiazine theo hệ thống Dƣợc lý – Điều trị là 28: 16.08.32
Bảng 1.4 Phân loại Phenothiazine trong hệ thống phân loại Dược lý – Điều trị
1 28: 00.00.00 Thuốc cho hệ thống thần kinh trung ƣơng
2 28: 16.00.00 Thuốc trị liệu tâm lý
Hệ thống phân loại Dƣợc lý – Điều trị đã đƣợc sử dụng trong các bệnh viện và
hệ thống y tế trong hơn 50 năm qua giúp việc phân loại các nhóm cũng nhƣ tổng hợp báo cáo về thuốc để sử dụng và thanh toán một cách dễ dàng [36]
Hệ thống phân loại của Viện Nghiên cứu Y tế Canada:
Cơ sở dữ liệu DrugBank là cơ sở dữ liệu trực tuyến toàn diện, tự do tiếp cận
có chứa thông tin về thuốc và chỉ định của thuốc, cơ sở dữ liệu sinh học chi tiết về hóa học, dƣợc lý, dữ liệu về protein Đƣợc sử dụng để phục vụ cho công nghiệp hoá học, dƣợc phẩm, dƣợc sĩ, bác sĩ, sinh viên
Trang 32Phiên bản đầu tiên được phát hành vào năm 2006 với thông tin của 2133 thuốc bao gồm các thuốc phân tử nhỏ và thuốc công nghệ sinh học được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration) chấp thuận
Cơ sở dữ liệu DrugBank luôn không ngừng phát triển và mở rộng để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và thay đổi của cơ sở người dùng Năm 2010, hệ thống thêm vào dữ liệu về tương tác thuốc và dược phẩm – thực phẩm, các enzym chuyển hóa và vận chuyển cũng như thông tin dược động học và dược phẩm Năm 2014, DrugBank được mở rộng hơn để chứa dữ liệu về chuyển hóa thuốc, hấp thu, phân
bố, chuyển hóa, thải trừ và độc tính (ADMET) và các loại thông tin về quan hệ định lượng giữa cấu trúc và tác dụng sinh học hay tác dụng dược lý (QSAR) khác
Phiên bản mới nhất hiện nay là 5.0.11, phát hành 20/12/2017 chứa 10.917 thuốc bao gồm 2.349 thuốc đã được phê duyệt, 926 thuốc được công nhận về công nghệ sinh học (protein/peptide), 108 thuốc bổ sung, hơn 5.069 thuốc thử nghiệm và 4.786 chuỗi protein hoàn chỉnh về cấu trúc [36],[39]
Ngoài ra, DrugBank 5.0.11 đã có thêm dữ liệu về tương tác thuốc – thuốc Số lượng tương tác thuốc – thuốc trong DrugBank 5.0 đã tăng từ 14.150 lên 365.984 Thông tin tương tác thuốc – thuốc là cực kỳ quan trọng cho bệnh nhân, bác sĩ và dược sĩ, đặc biệt là người già và bệnh nhân cao tuổi
1.3.2 Các hệ thống phân loại khác tại Việt Nam
Để đáp ứng tốt công tác thông tin thuốc và tạo được sự thống nhất chung trong việc quản lý, hệ thống phân loại ATC đã được BYT đề cập đến trong nhiều thông tư
và trở thành hệ thống phân loại quan trọng tại các bệnh viện
Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 08 năm 2013 Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT trong bệnh viện Tại Phụ lục 3 quy định về Phân tích nhóm điều trị cũng đề cập đến hệ thống phân loại ATC [7]
Thông tư số 40/2014/TT-BYT ngày 17 tháng 11 năm 2014 Ban hành và hướng dẫn thực hiện danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế Trong đó danh mục thuốc tân dược bao gồm các thuốc hay hoạt chất cũng được sắp xếp theo mã ATC [9]
Trang 33Ngoài ra, hiện nay các bệnh viện còn sắp xếp thuốc theo Danh mục thuốc kê đơn, không kê đơn, Danh mục thuốc chủ yếu, Danh mục thuốc thiết yếu hay theo ký
tự A,B,C của tên thuốc
Danh mục thuốc thiết yếu:
Danh mục thuốc thiết yếu là danh mục thuốc có đủ chủng loại đáp ứng nhu cầu điều trị các bệnh thông thường Tên thuốc trong danh mục là tên gốc dễ nhớ, dễ biết, dễ sử dụng, dễ bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và dễ quản lý
Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Chỉ cần 1 USD/người/năm thuốc thiết yếu là có thể đảm bảo chữa khỏi 80% các bệnh thông thường của người dân tại cộng đồng nhằm thực hiện mục tiêu chăm sóc sức khỏe ban đầu”
Hiện nay trên thế giới có hơn 150 nước áp dụng và có danh mục thuốc thiết yếu (chủ yếu là các nước đang phát triển) Số lượng tên thuốc trong Danh mục thuốc thiết yếu của các nước trung bình khoảng 300 thuốc [8]
Danh mục thuốc chủ yếu:
Sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh là cơ sở pháp lý để các cơ sở khám chữa bệnh lựa chọn, xây dựng DMT cụ thể cho đơn vị mình
Căn cứ vào danh mục này, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện để lựa chọn cụ thể tên thành phẩm các thuốc có trong danh mục, phục
vụ cho công tác khám chữa bệnh
Đối với thuốc tân dược, bệnh viện được phép sử dụng các thuốc phối hợp nếu các thành phần đơn chất của thuốc đó đều có trong danh mục Khuyến khích sử dụng thuốc của các doanh nghiệp trong nước đạt tiêu chuẩn GMP [4],[9]
Danh mục thuốc kê đơn:
Bộ Y tế đã ban hành nhiều quy định để quản lý chặt chẽ việc kê đơn thuốc cũng như thực hiện danh mục thuốc kê đơn như:
- Thông tư 05/2016/TT-BYT ngày 29 tháng 02 năm 2016 Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
Trang 34- Thông tư 52/2017/TT-BYT ngày 29 tháng 12 năm 2017 Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú
Bộ Y tế yêu cầu tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú cho toàn bộ các cơ sở khám, chữa bệnh và các nhà thuốc Danh mục thuốc phải kê đơn và bán theo đơn tạm thời quy định gồm
30 nhóm thuốc [4],[9]
Danh mục thuốc không kê đơn:
Danh mục thuốc không kê đơn là cơ sở để phân loại thuốc không kê đơn và thuốc kê đơn Các thuốc không thuộc danh mục thuốc không kê đơn được phân loại
là thuốc kê đơn
Danh mục thuốc không kê đơn là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước xây dựng
và ban hành các quy định, hướng dẫn đối với thuốc không kê đơn trong đăng ký thuốc, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu thông phân phối thuốc, thông tin quảng cáo thuốc, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và các hoạt động khác có liên quan Hiện tại, danh mục thuốc không kê đơn ban hành kèm theo Thông tư số 07/2017/TT-BYT ngày 03 tháng 05 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế đối với thuốc hóa dược có 250 thành phần hoạt chất được chia theo đường dùng, dạng bào chế, giới hạn hàm lượng, nồng độ và các quy định cụ thể khác [10],[11],[12]
1.4 Tổng quan về Bệnh viện Nhân dân Gia định Thành phố Hồ Chí Minh 1.4.1 Giới thiệu về Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh
Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại địa chỉ số 1
Nơ Trang Long, Phường 7, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Đây là một trong những Bệnh viện Đa khoa loại I trực thuộc Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh Với đội ngũ Y, Bác sĩ chuyên môn cao, dày dạn kinh nghiệm, bệnh viện có đủ các chuyên khoa lớn, nhiều phân khoa sâu, trang bị đầy đủ trang thiết bị y tế nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và chăm sóc bệnh nhân, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân Với quy mô lớn 1.500 giường, hàng ngày bệnh viện phục vụ khoảng 1.500 bệnh nhân nội trú, hơn 4.000 lượt bệnh nhân đến khám bệnh và hơn 300 lượt bệnh nhân cấp cứu
Trang 35Bên cạnh công tác khám chữa bệnh, bệnh viện còn mang trọng trách đào tạo Trung bình mỗi năm, bệnh viện tiếp nhận khoảng 1500 học viên đến thực tập thuộc
hệ trung học, hệ đại học và sau đại học
1.4.2 Vài nét về khoa Dƣợc Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh
Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức khoa Dược BV Nhân Dân Gia Định Thành phố Hồ Chí
Tổ cấp phát ngoại trú (V)
Nhà thuốc (VI)
Kho
lẻ nhà thuốc (XII)
Kho chẵn nhà thuốc (XII)
Cấp phát
lẻ nội trú (XI)
Kho chẵn thuốc (X)
Pha chế (IX)
Thống
kê (VIII)
Thông
tin
thuốc
(VII)
Trang 36Nhiệm vụ:
- Lập kế hoạch, cung ứng thuốc bảo đảm đủ số lượng, chất lượng cho nhu cầu điều trị và thử nghiệm lâm sàng nhằm đáp ứng yêu cầu chẩn đoán, điều trị và các yêu cầu chữa bệnh khác (phòng chống dịch bệnh, thiên tai, thảm họa)
- Quản lý, theo dõi việc nhập thuốc, cấp phát thuốc cho nhu cầu điều trị và các nhu cầu đột xuất khi có yêu cầu
- Đầu mối tổ chức, triển khai hoạt động của Hội đồng thuốc và Điều trị
- Bảo quản thuốc theo đúng nguyên tắc “Thực hành tốt bảo quản thuốc”
- Tổ chức pha chế thuốc, hóa chất sát khuẩn, bào chế thuốc đông y, sản xuất thuốc từ dược liệu sử dụng trong bệnh viện
- Thực hiện công tác dược lâm sàng, thông tin, tư vấn về sử dụng thuốc, tham gia công tác cảnh giác dược, theo dõi, báo cáo thông tin liên quan đến tác dụng không mong muốn của thuốc
- Quản lý, theo dõi việc thực hiện các quy định chuyên môn về dược tại các khoa trong bệnh viện
- Nghiên cứu khoa học và đào tạo, là cơ sở thực hành của các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học về dược
- Phối hợp với khoa cận lâm sàng và lâm sàng theo dõi, kiểm tra, đánh giá, giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý đặc biệt là sử dụng kháng sinh và theo dõi tình hình kháng kháng sinh trong bệnh viện
Trang 37- Tham gia chỉ đạo tuyến
- Tham gia hội chẩn khi được yêu cầu
- Tham gia theo dõi, quản lý kinh phí sử dụng thuốc
- Quản lý hoạt động của Nhà thuốc bệnh viện theo đúng quy định
- Thực hiện nhiệm vụ cung ứng, theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra, báo cáo
về vật tư y tế tiêu hao (bông, băng, cồn, gạc), khí y tế đối với các cơ sở y tế chưa có phòng vật tư – trang thiết bị y tế, được người đứng đầu các cơ sở đó giao nhiệm vụ [6]
1.4.3 Hội đồng thuốc và Điều trị của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh
Do số lượng bệnh nhân ngày càng tăng nhất là bệnh nhân BHYT làm cho hệ thống y tế không đủ khả năng cung cấp thuốc cho điều trị, cho nên ở mỗi bệnh viện cần phải có một hội đồng tham mưu về điều trị và vấn đề kinh tế được mang ra bàn bạc, thảo luận và giải quyết Vì vậy mà cần thiết phải có một hội đồng có chức năng
tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện
Bộ Y tế đã ban hành thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 08 năm
2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và Điều trị trong bệnh viện Bao gồm các chức năng như sau:
- Xây dựng các quy định quản lý và sử dụng thuốc
- Đánh giá và lựa chọn danh mục thuốc
- Xây dựng hướng dẫn và thực hiện các điều trị chuẩn
- Phân tích sử dụng thuốc để xác định vấn đề liên quan
- Can thiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc
- Theo dõi, giám sát, đánh giá ADR, các sai sót trong điều trị
- Thông báo – Kiểm soát thông tin về thuốc [7]
HĐT&ĐT chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong bệnh viện, bao gồm xây dựng và duy trì danh mục thuốc, biên soạn, liên tục cập nhật các thuốc trong danh mục Danh mục thuốc được xem như một công cụ để
Trang 38điều tiết chi phí Ngành Y và công nghệ sinh học phát triển, các thuốc mới ngày càng hiệu quả hơn và chi phí ngày càng cao
1.4.4 Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh
Mô hình bệnh tật của bệnh viện được sắp xếp theo Phân loại Quốc tế về Bệnh tật (ICD) lần thứ 10 Đây là cơ sở quan trọng cho HĐT&ĐT xây dựng phác đồ điều trị, lựa chọn và xây dựng danh mục thuốc bệnh viện
Bảng 1.5 Mười chương bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất với đối tượng bệnh nhân điều trị
ngoại trú tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định TP.HCM năm 2017
bệnh nhân
Tỷ lệ (%)
2 Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa E00-E90 20.216 19,08
3 Bệnh của hệ cơ - xương khớp và mô liên
Các triệu chứng, dấu hiệu và những biển
hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường,
chưa được phân loại ở phần khác
9 Vết thương ngộ độc và hậu quả của một
10 Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng A00-B99 1.348 1,27
Trang 39Nhận xét:
Mười chương bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất với đối tượng bệnh nhân điều trị ngoại trú chiếm 96,48% tổng số bệnh nhân, các bệnh khác chỉ chiếm 3,52% Mô hình bệnh tật của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017 mang đặc trưng của một bệnh viện đa khoa nên khá phong phú, chủ yếu tập trung vào chương bệnh hệ tuần hoàn (41,64%), sau là các chương bệnh như nội tiết, cơ – xương khớp, hệ tiêu hóa, hệ thần kinh, hệ hô hấp đều chiếm tỷ lệ tương đối cao Vì vậy MHBT sẽ ảnh hưởng quyết định đến danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện
Trang 40CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Danh mục thuốc ngoại trú của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017
- Báo cáo sử dụng thuốc ngoại trú của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017
2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Dược – Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian nghiên cứu: Xét trên khoảng thời gian mà các số liệu được tổng hợp đầy đủ phù hợp với đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng là danh mục thuốc ngoại trú năm 2017: Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017
+ Đối tượng là báo cáo sử dụng thuốc ngoại trú năm 2017: Từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/12/2017
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài tiến hành phương pháp nghiên cứu hồi cứu mô tả các số liệu thu thập được tại khoa Dược của Bệnh viện Nhân dân Gia Định Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2017
2.2.2 Các biến số nghiên cứu