1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2017

89 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc: Căn cứ vào DMT thiết yếu, DMT chủ yếu và các quy định về sử dụng DMT do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật MHBT và kinh phí của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LƯU THỊ HUYÊN

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

LƯU THỊ HUYÊN

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC

CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC

MÃ SỐ: 8720212

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Thu Hương

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành

nhất đến TS Đỗ Xuân Thắng, TS Vũ Thị Thu Hương, ThS.DSCKII Trần Thị

Thanh Hà Thầy, Cô đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá

trình thực hiện đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong Ban Giám hiêu, Phòng đào tạo Sau đại học, Bộ môn Quản lý kinh tế Dược – Trường Đại học Dược Hà Nội đã tạo điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Bệnh viện, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ sinh sản, cùng các anh chị em Trung tâm hỗ trợ sinh sản và khoa Dược Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã hỗ trợ, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình công tác, học tập và nghiên cứu

Cuối cùng xin được bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên cạnh giúp

đỡ, động viên để tôi yên tâm học tập và hoàn thành đề tài

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Danh mục thuốc dùng trong bệnh viện. 3

1.1.1 Định nghĩa danh mục thuốc bệnh viện 3

1.1.2 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc: 3

1.1.3 Tiêu chí lựa chọn thuốc 4

1.1.4 Vai trò của Hướng dẫn điều trị trong việc xây dựng DMT 4

1.2.Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. 5

1.3 Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc. 7

1.3.1 Phương pháp phân tích ABC 8

1.3.2 Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị 10

1.3.3 Phương pháp phân tích VEN 10

1.3.4 Phương pháp kết hợp ABC/VEN 12

1.4 Thực trạng áp dụng các phương pháp phân tích sử dụng thuốc 13

1.4.1 Trên thế giới 13

1.4.2 Tại Việt Nam 13

1.5 Thực trạng về tình hình sử dụng thuốc trong các cơ sở điều trị tại Việt Nam. 15

1.5.1 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng 15

1.5.2 Tình hình sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 15

1.5.3 Tình hình sử dụng các thuốc nhập khẩu, thuốc SX trong nước 17

1.5.4.Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic 18

1.5.5 Tình hình sử dụng các thuốc theo dạng bào chế 19

1.5.6 Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích ABC 20

1.5.7 Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích VEN 21

1.6 Tổng quan về Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương 21

1.6.1.Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện Phụ sản Trung ương 21

1.6.2.Cơ cấu và sơ đồ tổ chức của Bệnh viện Phụ sản TW 22

1.6.3.Cơ cấu tổ chức và hoạt động của khoa Dược Bệnh viện Phụ sản Trung Ương 23

1.6.4.Mô hình bệnh tật 24

Trang 5

1.7.Tính cấp thiết của đề tài. 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 27

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu. 27

2.2.1 Biến số nghiên cứu 27

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu 30

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 30

2.2.3.1.Kỹ thuật thu thập số liệu 30

2.2.3.2 Biểu mẫu thu thập số liệu 30

2.2.4 Mẫu nghiên cứu: 31

2.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 31

2 2.5.1 Xử lý số liệu 31

2.2.5.2 Phân tích số liệu 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại BV Phụ sản TW năm 2017 36

3.1.1 Cơ cấu DMT được sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 36

3.1.1.1 Cơ cấu các thuốc không thuộc TT40 được sử dụng tại bệnh viện 38

3.1.1.2 Cơ cấu thuốc nhóm kháng sinh được sử dụng tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2017 40

3.1.2 Cơ cấu DMT được sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 41

3.1.3 Cơ cấu thuốc biệt dược gốc, thuốc Generic 41

3.1.4 Cơ cấu DMT được sử dụng theo thành phần 42

3.1.5 Cơ cấu DMT được sử dụng theo đường dùng 43

3.1.6 Cơ cấu DMT sử dụng theo Thông Tư 01/2012/TTLT-BYT-BTC 43

3.1.7 Cơ cấu DMT được sử dụng theo quy chế thuốc thường/thuốc GN - HTT 44 3.1.8 Cơ cấu DMT được sử dụng theo phân tích A, B, C 44

3.1.9 Cơ cấu DMT theo phân tích VEN: 47

3.1.10 Cơ cấu DMT theo phân tích kết hợp ABC /VEN 48

3.2 Phân tích một số vấn đề trong DMT sử dụng tại bệnh viện Phụ sản Trung

Trang 6

3.2.1 Vấn đề trong sử dụng thuốc hạng A 49

3.2.1.1 Cơ cấu các thuốc hạng A theo nhóm TDDL 49

3.2.1.2 Vấn đề các thuốc hạng A không thuộc Thông tư 40 51

3.2.1.3 Thuốc AN 52

3.2.2 Vấn đề sử dụng thuốc chống nhiễm khuẩn đường tiêm 53

3.2.3 Vấn đề DMT sử dụng so với DMT trúng thầu 53

3.2.4.1 Các thuốc có số lượng trúng thầu nhưng không có nhu cầu sử dụng 54 3.2.4.2 Các thuốc trúng thầu được sử dụng dưới 80% 55

Chương 4 BÀN LUẬN 58

4.1 Cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ Sản TW năm 2017. 58

4.1.1 Cơ cấu DMT sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý 58

4.1.2 Cơ cấu DMT sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 59

4.1.3 Cơ cấu thuốc theo nhóm thuốc biệt dược gốc và nhóm thuốc genegic 60

4.1.4.Cơ cấu DMT sử dụng theo đường dùng 61

4.1.5 Cơ cấu DMT sử dụng theo thuốc đơn thành phần / phối hợp thành phần 62

4.1.6 Cơ cấu DMT sử dụng theo quy chế chuyên môn (thuốc thường / thuốc GN-HTT) 63

4.1.7 Cơ cấu danh mục thuốc theo phân tích ABC 64

4.1.8 Phân tích DMT theo phương pháp phân tích VEN 66

4.1.9 Cơ cấu DMT theo ma trận ABC/VEN 66

4.2 Một số vấn đề trong DMT sử dụng tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017 67

4.2.1 Vấn đề trong sử dụng thuốc hạng A 67

4.2.2 Vấn đề sử dụng thuốc chống nhiễm khuẩn đường tiêm 69

4.2.3 Vấn đề trong DMT sử dụng so với DMT trúng thầu 70

4.3 Ưu điểm và hạn chế trong nghiên cứu: 71

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

Kết Luận: 72

Kiến nghị 74

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị

ICH International Conference on

Harmonization

Hội nghị quốc tế về hài hòa hóa các thủ tục đăng ký dược phẩm sử dụng cho con người

INN International Nonproprietary

Name Tên chung quốc tế

ISO International Organisation

for Standardisation Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế

Trang 8

SLTT Số lượng trúng thầu SXTN Sản xuất trong nước TDDL Tác dụng dược lý TĐĐT Tương đương điều trị TĐSH Tương đương sinh học

VEN

V-Vital Thuốc tối cần E-Essential Thuốc thiết yếu N-Non-Essential Thuốc không thiết yếu VNĐ Việt Nam đồng

WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các phương pháp phân tích sử dụng thuốc 8

Bảng 1.2 Ma trận ABC/VEN 12

Bảng 1.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm TDDL tại 1 số bệnh viện 16

Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu 17

Bảng 1.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo BDG và Generic tại 1 số bệnh viện 19

Bảng 1.6 Cơ cấu danh mục thuốc theo đường dùng của 1 số bệnh viện 20

Bảng 1.7 Cơ cấu DMT theo phân tích ABC tại 1 số bệnh viện 20

Bảng 1.8 Cơ cấu DMT sử dụng theo phân tích VEN tại 1 số bệnh viện 21

Bảng 1.9 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương 24

Bảng 2.10 Các biến số nghiên cứu mục tiêu 1 27

Bảng 2.11 Các biến số nghiên cứu mục tiêu 2 29

Bảng 3.12 Cơ cấu DMT sử dụng năm 2017 theo nhóm TDDL 36

Bảng 3.13 Cơ cấu các thuốc không thuộc TT 40 38

Bảng 3.14 Danh mục thuốc Hormon và các thuốc tác động lên hệ thống nội tiết không thuộc TT 40 được sử dụng 39

Bảng 3.15.Cơ cấu nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn 40

Bảng 3.16 Tỉ lệ thuốc được sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ 41

Bảng 3.17 Tỉ lệ thuốc Biệt dược gốc/ Generic 42

Bảng 3.18 Tỉ lệ thuốc sử dụng theo thành phần 42

Bảng 3.19 Tỉ lệ thuốc sử dụng theo đường dùng 43

Bảng 3.20 Cơ cấu DMT sử dụng theo TT 01/2012/TTLT-BYT-BTC 43

Bảng 3.21 Cơ cấu DMT sử dụng theo quy chế TGN – HTT 44

Bảng 3.22 Tỉ lệ thuốc hạng A, B, C 45

Bảng 3.23 Danh mục 10 thuốc hạng A có GTSD cao nhất được sử dụng 46

Bảng 3.24 Tỉ lệ DMT theo phân tích VEN 47

Bảng 3.25 Ma trận ABC / VEN 48

Bảng 3.26 Cơ cấu thuốc hạng A theo nhóm TDDL 50

Bảng 3.27 Danh mục các thuốc hạng A không thuộc TT 40 sử dụng năm 2017 51

Bảng 3.28 Danh mục thuốc AN 52

Bảng 3.29 Cơ cấu thuốc chống nhiễm khuẩn đường tiêm 53

Trang 10

Bảng 3.30 Tỷ lệ % các thuốc được sử dụng so với trúng thầu 54 Bảng 3.31 Các thuốc trúng thầu không được sử dụng theo nhóm TDDL 54 Bảng 3.32 các thuốc trúng thầu sử dụng < 80% theo nhóm TDDL 56

DANH MỤC HÌNH

Hình 1-1 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Phụ sản TW 23

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả là một trong những yêu cầu cấp thiết trong hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, trong đó hoạt động cung ứng thuốc đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, thực tế cho thấy hoạt động này đang

là vấn đề bất cập của nhiều Bệnh viện Nguyên nhân có thể xảy ra ngay tại các giai đoạn của chu trình cung ứng thuốc mà hoạt động lựa chọn danh mục thuốc, là hoạt động đầu tiên trong chu trình có ý nghĩa quyết định Vì vậy, xây dựng danh mục thuốc

là một bước then chốt và có vai trò quan trọng, không chỉ tiết kiệm chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính mà còn cải thiện chất lượng chăm sóc y tế trong bệnh viện Theo một số nghiên cứu, kinh phí mua thuốc chiếm khoảng 30-40% ngân sách ngành y tế của nhiều nước và phần lớn số tiền đó bị lãng phí do sử dụng thuốc không hợp lý và các hoạt động cung ứng thuốc không hiệu quả [28] Tại Việt Nam, theo thống

kê nhiều năm cho thấy tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện thường chiếm 60% ngân sách của bệnh viện [12] Bên cạnh đó, thị trường thuốc ngày càng phong phú cả về số lượng

và chủng loại, theo số liệu của Cục Quản lý Dược, hiện có khoảng 22615 số đăng ký thuốc lưu hành còn hiệu lực, trong đó có khoảng 11923 số đăng ký thuốc nước ngoài và

10692 số đăng ký thuốc sản xuất trong nước [13] với tỉ lệ hoạt chất trên số đăng ký của thuốc có nguồn gốc trong nước và nhập khẩu lần lượt là 3,95%; 6,24% [2], vấn đề đặt

ra cho các cơ sở khám chữa bệnh là xây dựng một danh mục thuốc phù hợp với nhu cầu điều trị đảm bảo chất lượng, an toàn, hiệu quả

Với vai trò là Bệnh viện tuyến chuyên khoa đầu ngành về khám bệnh, cấp cứu, chữa bệnh trong chuyên ngành phụ khoa- sản khoa, yêu cầu về chất lượng điều trị cũng như kết quả điều trị của Bệnh viện Phụ Sản TW được đặt lên hàng đầu Do đó, cần đòi hỏi một DMT đáp ứng được nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả Tuy nhiên, việc xây dựng một DMT hợp lý gặp rất nhiều khó khăn và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, việc xác định những bất cập này là cần thiết nhằm đưa ra những phương thức điều chỉnh hợp lý và là cơ sở để HĐT&ĐT xây dựng DMT năm tiếp theo, đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn và đạt chi phí-hiệu quả Hàng năm bệnh viện sử dụng một lượng thuốc lớn phục vụ công tác khám chữa bệnh.Vấn đề đặt ra là: Thực trạng Danh

Trang 12

mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện hiện nay như thế nào? Có vấn đề gì tồn tại trong Danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện hay không?

Để trả lời các câu hỏi trên, đề tài “Phân tích Danh mục thuốc được sử dụng tại

Bệnh viện Phụ sản TW năm 2017” được thực hiện với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả cơ cấu Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ Sản TW năm 2017

2 Phân tích một số vấn đề trong Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ sản TW năm 2017

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở cho HĐT&ĐT xây dựng, lựa chọn DMT cho những năm tiếp theo đáp ứng cho nhu cầu sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Danh mục thuốc dùng trong bệnh viện

1.1.1 Định nghĩa danh mục thuốc bệnh viện

Lựa chọn thuốc là công việc quan trọng trong chu trình cung ứng thuốc,

là việc xác định chủng loại thuốc cho bệnh viện Mỗi bệnh viện sẽ xây dựng một danh mục thuốc (DMT) đặc thù riêng cho mình, Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện [7]

Theo WHO định nghĩa: “DMT bệnh viện là một danh sách các thuốc đã được lựa chọn

và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện” [29]

Danh mục thuốc bệnh viện là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả Danh mục thuốc bệnh viện được xây dựng hàng năm và có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong danh mục thuốc bệnh viện trong các kỳ họp của HĐT&ĐT

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT Quy định về tổ chức

và hoạt động của HĐT&ĐT [7] giúp hỗ trợ cho hoạt động này

1.1.2 Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc:

Căn cứ vào DMT thiết yếu, DMT chủ yếu và các quy định về sử dụng DMT do Bộ

Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật (MHBT) và kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, nguồn quỹ BHYT, nguồn thu từ các dịch vụ khám chữa bệnh

và các nguồn thu hợp pháp khác) HĐT&ĐT có nhiệm vụ giúp Giám đốc bệnh viện lựa chọn, xây dựng DMT bệnh viện theo nguyên tắc sau [7]:

- Bảo đảm phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện

- Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện, dựa trên các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp dụng tại bệnh viện hoặc cơ sở khám chữa bệnh

- Đáp ứng với các phương pháp, kỹ thuật mới trong điều trị, phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện

Trang 14

- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước

- Thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do Bộ

Y tế ban hành

-Căn cứ vào hướng dẫn, phác đồ điều trị

-Phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện

1.1.3 Tiêu chí lựa chọn thuốc

Việc lựa chọn thuốc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mô hình bệnh tật, trang thiết bị

điều trị, kinh nghiệm và trình độ của đội ngũ cán bộ, các nguồn lực tài chính, các yếu tố môi trường, địa lý và di truyền Theo Bộ Y Tế, có 7 tiêu chí để lựa chọn thuốc đưa vào DMT Bệnh viện như sau :

-Chỉ chọn các thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, độ an toàn thông qua các thử nghiệm lâm sàng và trên thực tế sử dụng rộng rãi tại các cơ sở khám chữa bệnh

- Thuốc được lựa chọn phải có sẵn ở dạng bào chế đảm bảo sinh khả dụng, cũng như sự ổn định về chất lượng trong điều kiện bảo quản và sử dụng nhất định

- Khi có hai hay nhiều hơn hai thuốc tương đương nhau về hai tiêu chí trên thì cần phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố như hiệu quả điều trị, độ an toàn, giá cả và khả năng cung ứng

- Phân tích chi phí hiệu quả

- Ưu tiên thuốc dạng đơn chất

- Ưu tiên thuốc Generic hoặc tên chung quốc tế

- Trong một số trường hợp, sự lựa chọn còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc cân nhắc những dặc điểm tại địa phương như trang thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng

1.1.4 Vai trò của Hướng dẫn điều trị trong việc xây dựng DMT

Hướng dẫn điều trị là văn bản chuyên môn có tính pháp lý, nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như một khuôn mẫu, trong điều trị mỗi loại bệnh Một hướng dẫn điều trị có thể có một hoặc nhiều công thức khác nhau [11]

Theo WHO, việc lựa chọn liệu pháp điều trị thích hợp, lựa chọn thuốc đạt chi phí – hiệu quả sẽ mang lại kết quả tốt trong chăm sóc sức khỏe Cần có sự thống nhất giữa

Trang 15

DMT và HDĐT, việc chỉ tuân thủ DMT một cách nghiêm ngặt sẽ không cải thiện được thực hành điều trị nếu lựa chọn thuốc không dựa trên HDĐT Do vậy, DMTBV nên được xây dựng dựa trên HDĐT, có thể dựa trên HDĐT tại các nước có nền y học phát triển với mô hình HDĐT quốc gia và các phác đồ điều trị chuẩn khác Thuốc có mặt trong HDĐT thường là thuốc thiết yếu, thuốc không thiết yếu hoặc thuốc bị hạn chế về

số lượng chỉ dành cho những bệnh nhân có yêu cầu điều trị đặc biệt [28]

Để có được HDĐT, HĐT&ĐT có thể xây dựng hướng dẫn điều trị mới ngay từ ban đầu, tuy nhiên đây là một công việc khó khăn và tốn nhiều thời gian, chỉ thích hợp với nhiều Bệnh viện lớn Thay vào đó, HĐT&ĐT có thể ứng dụng các HDĐT sẵn có của quốc gia hoặc HDĐT của các tổ chức khác điều chỉnh cho phù hợp với Bệnh viện, hoặc đơn giản là sử dụng HDĐT của tổ chức khác Do đó việc áp dụng HDĐT nào phụ thuộc vào từng Bệnh viện và phải phù hợp với nhu cầu điều trị của Bệnh viện đó HDĐT có vai trò rất quan trọng trong xây dựng và sử dụng DMT hợp lý, đảm bảo hiệu quả điều trị

Tuy nhiên, việc có một DMT lý tưởng thì vấn đề sử dụng DMT không hợp lý vẫn

có thể xảy ra HDĐT chuẩn là một bằng chứng và chiến lược hiệu quả giúp kê đơn thuốc phù hợp với tình trạng lâm sàng

Tại Việt Nam việc xây dựng DMTBV chủ yếu dựa vào DMT đã sử dụng năm trước, DMT chủ yếu của Bộ Y tế và kinh nghiệm của bác sĩ nhưng chưa có đánh giá cụ thể Căn cứ đơn thuần dựa trên con số cơ học chưa chú ý đến chất lượng danh mục, phác

đồ điều trị và HDĐT nên còn thiếu căn cứ khoa học Kết quả là, với số lượng hoạt chất quá đa dạng với nhiều biệt dược được sử dụng gây khó khăn cho việc lựa chọn đúng thuốc đảm bảo chi phí - hiệu quả [26] Theo nghiên cứu của Hoàng Hồng Hải (2008), Vũ Thị Bích Hạnh (2010) cho thấy các Bệnh viện vẫn chưa xây dựng phác đồ điều trị chuẩn, các bác sĩ chủ yếu điều trị theo kiến thức và kinh nghiệm của mình [19]

1.2.Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài

 Luật Dược 105/2016/QH13 – Ban hành ngày 06/04/2016 [21] Qui định sử dụng thuốc SXTT thay thế thuốc nhập khẩu

Điều 7 quy định một số chính sách nhà nước về dược bao gồm: đối với việc đấu thầu thuốc: không chào thuốc nhập khẩu thuộc danh mục do BYT ban hành trên cơ sở

Trang 16

nhóm tiêu chí kỹ thuật khi thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp, ưu tiên mua thuốc generic

 Thông tư 22/2011/TT-BYT ban hành ngày 10/06/2011 [10] Quy định về tổ chức

và hoạt động của khoa Dược bệnh viện

Tại Điều 2 của Thông tư có quy định rõ chức năng của Khoa dược như sau: “Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và

tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý” Như vậy Khoa dược có vai trò chủ đạo, đầu mối trong việc quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện

 Thông tư 21/2013/TT-BYT ( Bộ Y Tế ban hành ngày 08/08/2013) [7] Quy định

về tổ chức và hoạt động của HĐT&ĐT

Tại Điều 3 của Thông tư có quy định rõ chức năng của HĐT&ĐT: “Hội đồng có chức năng tư vấn cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị

bằng thuốc của bệnh viện, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện”

Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể các phương pháp phân tích được áp dụng để phát hiện các vấn đề về sử dụng thuốc, Nguyên tắc xây dựng danh mục trong đó chỉ rõ ưu tiên thuốc sản xuất trong nước; Tiêu chí lựa chọn thuốc: ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất, ưu tiên lựa chọn thuốc generic

Tại Điểm đ Khoản 2, Điều 5 Thông tư 21/2013/TT-BYT một trong những tiêu chuẩn

để lựa chọn thuốc xây dựng DMT bệnh viện đó là: Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn

chất Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất

 Thông tư 10/2016/TT-BYT- Bộ Y Tế ban hành ngày 05/05/2016 quy định sử dụng thuốc SXTT thay thế thuốc nhập khẩu [5]

Ban hành danh mục thuốc sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc

và khả năng cung ứng

Trang 17

 Thông tư 11/2016/TT - BYT – Bộ Y Tế ban hành ngày 11/05/2016 [3] Quy định

sử dụng 80-120% số lượng các thuốc trúng thầu

Quy định sử dụng 80-120% số lượng của các thuốc trúng thầu, Cơ sở y tế không được mua vượt số lượng thuốc của một nhóm thuốc trong kết quả lựa chọn nhà thầu

 Một số trường hợp được phép mua vượt nhưng số lượng không được vượt quá 20%

so với số lượng của nhóm thuốc đó trong hợp đồng đã ký

 Thông tư 40/2014/TT-BYT-Bộ Y Tế ban hành ngày 17/11/2014 [5]

Các thuốc hay hoạt chất được sắp xếp theo 27 nhóm lớn, theo mã ATC Danh mục này cũng là cơ sở để quỹ BHYT thanh toán chi phí thuốc sử dụng cho người bệnh có thẻ BHYT tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Tại Điều 3 của Thông tư có quy định về việc xây dựng DMT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT sử dụng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải căn cứ DMT và phân hạng bệnh viện sử dụng; căn cứ hạng bệnh viện được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; nhu cầu điều trị và khả năng chi trả của quỹ BHYT, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng DMT sử dụng tại đơn vị để mua sắm theo quy định của pháp luật về đấu thầu và việc lựa chọn thuốc thành phẩm để mua sắm,

sử dụng cho người bệnh theo nguyên tắc: ưu tiên lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước

 Công văn 2451/BHXH-DVT Ban hành ngày 02/07/2018 [1] Quy định sử dụng

80 – 120% số lượng của các thuốc trúng thầu

Quy định sử dụng 80-120% số lượng của các thuốc trúng thầu, “Hướng dẫn xây dựng, tổng hợp nhu cầu mua thuốc tập trung quốc gia đối với thuốc sử dụng trong lĩnh vực BHYT

1.3 Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc

Các thống kê nhiều năm cho thấy tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện thường chiếm khoảng 60% ngân sách của bệnh viện [12] Để công tác sử dụng thuốc tránh những bất cập, nhà quản lý cần có những biện pháp cải thiện Một số công cụ để đánh giá thực trạng vấn đề sử dụng thuốc trong bệnh viện hiện nay là phương pháp phân tích

sử dụng thuốc theo điều trị, phân tích ABC, phân tích VEN Từ đó HĐT&ĐT xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc và lựa chọn các giải pháp can

Trang 18

thiệp phù hợp [7] Có 4 phương pháp chính để điều tra nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc, HĐT&ĐT nên áp dụng thường xuyên cả 4 phương pháp này

Bảng 1.1 Các phương pháp phân tích sử dụng thuốc

PHƯƠNG PHÁP

ĐỊNH TÍNH

Thảo luận nhóm có trọng tâm, phỏng vấn sâu, quan sát và đặt câu hỏi có chọn lọc thường được sử dụng để nhận định nguyên nhân của vấn đề

1.3.1 Phương pháp phân tích ABC

Trên thực tế, 75-80% chi phí dành cho thuốc của Bệnh viện chỉ dành để mua 10

- 20% sản phẩm thuốc có giá trị cao nhất Phân tích ABC là công cụ để xác định các thuốc chiếm phần lớn chi phí về thuốc của Bệnh viện

Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ

Trang 19

hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỉ lệ lớn chi phí về thuốc của Bệnh viện

Phân tích ABC được tiến hành theo các bước sau :

- Bước 1: Liệt kê các sản phẩm thuốc

- Bước 2: Điền các thông tin vào sau mỗi sản phẩm thuốc: Đơn giá, số lượng

- Bước 3: Tính tổng tiền cho mỗi sản phẩm

- Bước 4: Tính phần trăm giá trị của mỗi sản phẩm

- Bước 5: Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự phần trăm các sản phẩm giảm dần

- Bước 6: Tính giá trị phần trăm tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm, bắt đầu từ sản phẩm thứ nhất, sau đó cộng với sản phẩm tiếp theo trong danh sách

- Bước 7: Phân hạng như sau:

 Thuốc hạng A chiếm 75 - 80% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 10 - 20% tổng số sản phẩm thuốc

 Thuốc hạng B (với tỉ lệ sử dụng trung bình), chiếm 15 - 20% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 10 - 20% tổng số sản phẩm thuốc

 Thuốc hạng C (gồm đại đa số các thuốc có cách sử dụng riêng lẻ ở mức thấp), chiếm 5 - 10% tổng giá trị tiền tương ứng với khoảng 60 - 80% tổng sản phẩm thuốc

Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua và cấp phát và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về sử dụng ngân sách thuốc Phân tích ABC có nhiều lợi ích: trong lựa chọn thuốc, phân tích được thuốc nhóm

A có chi phí cao, các thuốc này có thể được thay thế bởi các thuốc rẻ hơn; trong mua hàng, dùng để xác định tần suất mua hàng: mua thuốc nhóm A nên thường xuyên hơn, với số lượng nhỏ hơn, dẫn đến hàng tồn kho thấp hơn, bất kỳ giảm giá của các loại thuốc nhóm A có thể dẫn đến tiết kiệm đáng kể ngân sách Do nhóm A chiếm tỉ trọng ngân sách lớn nên việc tìm kiếm nguồn chi phí thấp hơn cho nhóm A như tìm ra dạng liều hoặc nhà cung ứng rẻ hơn là rất quan trọng Theo dõi đơn hàng nhóm A có tầm quan trọng đặc biệt, vì sự thiếu hụt thuốc không lường trước có thể dẫn đến mua khẩn cấp thuốc với giá cao Phân tích ABC có thể theo dõi mô hình mua tương tự như quyền ưu tiên trong hệ thống y tế [13]

Trang 20

1.3.2 Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị

Phân tích nhóm điều trị kết hợp với việc tính chi phí sử dụng thuốc giúp xác định những nhóm điều trị có mức sử dụng thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này sẽ gợi ý những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý Ngoài ra phương pháp này sẽ chỉ ra những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể Qua đây, HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế Từ

đó tiến hành phân tích cụ thể hơn cho mỗi nhóm điều trị chi phí cao để xác định những thuốc đắt tiền và liệu pháp điều trị thay thế có chi phí hiệu quả cao [7]

 Dựa trên phân tích ABC phân tích nhóm điều trị giúp:

 Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất với chi phí nhiều nhất

 Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý

 Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể ví dụ sốt rét và sốt xuất huyết

 HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị

và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế

Qui trình phân tích nhóm điều trị cũng giống như phân tích ABC

1.3.3 Phương pháp phân tích VEN

Đôi khi nguồn kinh phí không đủ để mua tất cả các loại thuốc như mong muốn Phân tích VEN là phương pháp phổ biến giúp cho việc lựa chọn những thuốc cần ưu tiên để mua và dự trữ trong bệnh viện Các thuốc được phân chia tùy theo tác dụng thành các hạng mục sống còn, thiết yếu và không thiết yếu Phân tích VEN cho phép so sánh

Trang 21

những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau, khác với phân tích ABC và phân tích nhóm điều trị chỉ có thể so sánh những thuốc có cùng chung hiệu lực điều trị [24]

- Phân tích VEN dựa trên mức độ quan trọng của các nhóm thuốc [7]: + Nhóm V (Vital) là nhóm thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện + Nhóm E (Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện

+ Nhóm N (Non-Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể

tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc

- Phương pháp phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập quyền ưu tiên cho việc lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng, hướng dẫn hoạt động quản lý tồn trữ và quyết định giá thuốc phù hợp Phân tích VEN được sử dụng trong lựa chọn thuốc như sau: thuốc tối cần và thuốc thiết yếu nên ưu tiên lựa chọn, nhất là khi ngân sách thuốc hạn hẹp

 Ưu điểm:

Phân tích VEN cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau, khác với phân tích ABC và phân tích nhóm điều trị chỉ có thể so sánh những nhóm thuốc có cùng chung hiệu lực điều trị

 Nhược điểm:

Hầu hết mọi người đều thấy dễ dàng khi xếp loại các thuốc thuộc nhóm N nhưng lại khó khăn khi phân biệt giữa các thuốc nhóm V và E Mặt khác, do sự phân loại các thuốc nhóm V, E, N đối với các cá nhân là khác nhau dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất xếp nhóm Đối với các Bệnh viện chuyên khoa nhận được sự đồng thuận cao hơn Bệnh viện đa khoa

 Ứng dụng:

Ứng dụng chính của phân tích VEN là xác định các chính sách ưu tiên khi tiến hành lựa chọn, mua sắm và sử dụng thuốc, quản lý tồn kho:

Trang 22

 Các thuốc V, E nên được ưu tiên trong lựa chọn, mua sắm, sử dụng và quản lý tồn kho, đặc biệt khi ngân sách bị thiếu hụt

 Các thuốc nhóm N nên được quản lý việc sử dụng, tránh lạm dụng [31]

Các bước phân tích VEN:

• Từng thành viên Hội đồng sắp xếp các nhóm thuốc theo 3 loại V, E và N

• Kết quả phân loại của các thành viên được tập hợp và thống nhất

• Lựa chọn và loại bỏ những phương án điều trị trùng lặp

• Xem xét những thuốc thuộc nhóm N và hạn chế mua hoặc loại bỏ những thuốc này trong trường hợp không còn nhu cầu điều trị

• Xem lại số lượng mua dự kiến, mua các thuốc nhóm V và E trước nhóm N và bảo đảm thuốc nhóm V và E có một lượng dự trữ an toàn

• Giám sát đơn đặt hàng và lượng tồn kho của nhóm V và E chặt chẽ hơn nhóm N

1.3.4 Phương pháp kết hợp ABC/VEN

Sau khi hoàn thành phân tích VEN, cần phải so sánh giữa phân tích ABC và VEN

để xác định xem có mối liên hệ giữa các thuốc có chi phí cao và các thuốc không ưu tiên hay không Cụ thể cần phải loại bỏ những thuốc N trong danh sách nhóm thuốc A có chi phí cao/lượng tiêu thụ lớn trong phân tích ABC

Các nhóm được yêu cầu giám sát với mức độ khác nhau, nhóm I giám sát với mức

độ cao hơn, thuốc nhóm II mức độ giám sát thấp hơn Đặc biệt đối với thuốc không thiết yếu nhưng có chi phí cao (AN) thì cần hạn chế hoặc xóa bỏ khỏi DMT [31]

Trang 23

1.4 Thực trạng áp dụng các phương pháp phân tích sử dụng thuốc

1.4.1 Trên thế giới

Một nghiên cứu tại Ấn Độ sử dụng phân tích ABC để phân tích một DMTBV nhằm xác định các nhóm cần kiểm soát nghiêm ngặt trong số 421 thuốc trong danh mục Kết quả thu được các thuốc theo nhóm A, B, C chiếm 13,8%; 21,9%; 64,4% về số khoản mục trong toàn bộ ngân sách thuốc từ đó chỉ ra các thuốc thuộc nhóm A cần kiểm soát, hoặc thay thế [30]

Năm 2012, tại Indonesia, một nghiên cứu sử dụng phân tích ABC đối với các thuốc được mua năm 2010, đã cho thấy rằng: chi phí cho thuốc mê là cao nhất, sau đó

đã đưa ra được đề xuất lựa chọn thuốc gây mê đảm bảo hiệu quả nhưng tiết kiệm chi phí [32]

Năm 2003, ở Nga một nghiên cứu áp dụng phân tích ma trận ABC/VEN đã được thực hiện ở Nga Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nếu chỉ xem xét phân tích ABC, thì có thể kiểm soát hiệu quả trên 23 thuốc nhóm A nhưng những thuốc sống còn (V) ở trong nhóm B và C không được xem xét đến Nhưng nếu thực hiện phân tích VEN thì đây được xem là công cụ kiểm soát lý tưởng để có thể xác định nhóm thuốc V và E Từ

đó khuyến cáo, các thuốc này có thể được mua 1 năm/lần, đảm bảo tính sẵn có trong năm và tránh hết hàng, chi phí dự trữ thấp Nhóm AN chỉ có 7 thuốc nhưng chiếm tới 11% ngân sách, do đó việc đặt đơn hàng các thuốc này có thể điều chỉnh và đảm bảo hợp lý với các thuốc khác [33]

1.4.2 Tại Việt Nam

Phân tích danh mục thuốc bằng phương pháp ABC/VEN được đưa vào Thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 08 tháng 08 năm 2013 là bước đầu trong quy trình xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện và cũng là phương pháp phân tích nhằm phát hiện những vấn đề bất cập về sử dụng thuốc tại bệnh viện [7]

Tác giả Vũ Thị Thu Hương sử dụng phương pháp ABC là một trong các tiêu chí đánh giá hoạt động của HĐT&ĐT trong xây dựng và thực hiện DMT tại một số bệnh viện đa khoa và nhận thấy các bệnh viện đã mua sắm tương đối tập trung vào các thuốc được sử dụng nhiều nhất trong điều trị (sử dụng 70% tổng kinh phí để mua sắm 11.2%-13.1% số khoản mục thuốc) Đây là các thuốc có giá trị và số lượng sử dụng lớn trong

Trang 24

bệnh viện Chính vì thế cần ưu tiên trong mua sắm đồng thời quản lý chặt chẽ các thuốc thuộc nhóm A này [17]

Ở Việt Nam hiện đang mở rộng việc áp dụng phân tích ABC/VEN ở các bệnh viện Tác giả Hà Quang Đang đã phân tích ABC/VEN tại bệnh viện 87 cục hậu cần So với năm 2007 thì năm 2008 tỉ lệ số lượng thuốc tiêu thụ và giá trị tiêu thụ các thuốc thuộc DMT- VE đã tăng lên, thuốc không thuộc DMT-AN tuy đã giảm về số lượng mặt hàng và tỉ lệ số lượng tiêu thụ không thay đổi nhưng giá tỉ lệ giá trị tiêu thụ thuốc lại giảm đi rất nhiều trong cơ cấu các thuốc thuộc nhóm A cũng như trong cơ cấu thuốc sử dụng trong năm, điều này cho thấy sự giảm về số lượng mặt hàng và ưu tiên lựa chọn các thuốc không thuộc DMT- AN với giá thấp hơn so với năm 2007 [14]

Năm 2006, 2008 một nghiên cứu tại bệnh viện 115 đã sử dụng phương pháp phân tích ABC/VEN là tiêu chí để đánh giá sử cải thiện chất lượng danh mục thuốc tại bệnh viện Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng thuốc nhóm I (AV, AE, AN, BV, CV) đã giảm từ 14,9% năm 2006 xuống còn 9,1% năm 2008 sau khi can thiệp, nhóm II (BE,BN, CE) chiếm ngân sách tương đối và cần thiết trong điều trị đã giảm từ 57,3% năm 2006 xuống còn 41,6% năm 2008 sau can thiệp, nhóm III (CN) ít quan trọng giảm từ 27,9%

về số lượng xuống còn 11,5% và có 82 hoạt chất đã được loại khỏi danh mục thuốc [26] Năm 2016 nghiên cứu của Chu Thị Nguyệt Giao tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An

đã phân tích danh mục thuốc theo ma trận ABC/VEN cho thấy nhóm I (AV, AE, AN,

BV, CV) là những nhóm cần được quan tâm nhất vì là nhóm cần thiết cho điều trị hoặc

sử dụng nhiều ngân sách nhất Nhóm I chỉ chiếm 23,2% số lượng thuốc nhưng lại chiếm tới 82,1% tổng nguồn ngân sách về thuốc của bệnh viện trong năm 2016 Trong đó nhóm

AE chiếm gần 2/3 tổng chi phí về thuốc điều trị mặc dù chỉ chiếm 6,6% số khoản mục thuốc [15]

Kết quả phân tích ma trận ABC/VEN tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2014 cho thấy nhóm thuốc chiếm tỉ trọng tiền thuốc cao nhất là nhóm AE chiếm 63,3% tương ứng với 15,2% số khoản mục, trong nhóm AE, thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ lớn nhất

cả về số lượng và giá trị ( 40% khoản mục và 39,1% giá trị), đứng thứ 2 là thuốc thúc

đẻ, cầm máu và chống đẻ non với tỉ lệ 17,1% về khoản mục và 17,8% về giá trị sử dụng [19]

Trang 25

Năm 2014 Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hà tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương qua phân tích ABC cho thấy nhóm A chiếm 9,12% về số khoản mục nhưng chiếm tới 75% về giá trị, các thuốc nhóm A đa phần là thuốc điều trị trong lĩnh vực Hỗ trợ sinh sản [16] Tuy nhiên nghiên cứu chưa phân tích sâu về cơ cấu của các thuốc hạng A đó

1.5 Thực trạng về tình hình sử dụng thuốc trong các cơ sở điều trị tại Việt Nam

1.5.1 Cơ cấu và giá trị tiền thuốc sử dụng

Theo các kết quả nghiên cứu giá trị tiền thuốc sử dụng chiếm tỉ trọng lớn trong tổng

số kinh phí bệnh viện

Các báo cáo của Bộ Y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc cho các bệnh viện tăng cả về số lượng và tỉ trọng so với tổng kinh phí các bệnh viện, chiếm khoảng hơn 50% tổng giá trị tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [2]

Theo Chu Thị Nguyệt Giao nghiên cứu năm 2016, bệnh viện Sản Nhi Nghệ An đã chi cho kinh phí về thuốc chiếm 20,1% tổng kinh phí của viện [15]

Trong nghiên cứu về Thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm

2014 của Nguyễn Anh Phương chỉ ra rằng tiền thuốc đã sử dụng trong năm 2014 chiếm

tỉ lệ 30,5% trong tổng kinh phí của bệnh viện [19]

1.5.2 Tình hình sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý

Có sự mất cân bằng giữa các nhóm TDDL đặc biệt nhóm điều trị ký sinh trùng và

chống nhiễm khuẩn thường chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu DMT của các bệnh viện

Theo báo cáo của Bộ Y Tế, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã

sử dụng chiếm 37,7% năm 2010, năm 2009 tỷ lệ này là 38,4% và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền sử dụng thuốc

Phân tích sử dụng thuốc tại 38 Bệnh viện, nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn được

sử dụng nhiều nhất cụ thể BV Trung ương 25,7%; tuyến tỉnh 32%; tuyến huyện 43,1%

về giá trị

Trang 26

Bảng 1.3 Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm TDDL tại 1 số bệnh viện

Số nhóm TDDL

Số

KM

Nhóm điều trị KST và chống nhiễm khuẩn

Nhóm hormon

và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết

Nhóm chiếm

tỷ trọng lớn nhất về giá trị

%KM

%GT %KM

%GT

13,06

10,42

47,40

Thuốc tác động vào hệ thống nội tiết

15

231

24,2

31,7

5,2

1,6

Điều trị KST

và chống nhiễm khuẩn

15

366

22,1

60,2

4,1

2,9

Điều trị KST

và chống nhiễm khuẩn

24

345

27,25

51,16

5,22

2,41

Điều trị KST

và chống nhiễm khuẩn

Theo Trần Thị Thanh Hà nghiên cứu tại bệnh viện phụ sản Trung Ương năm 2014 Nhóm Hormon và các thuốc tác dụng lên hệ thống nội tiết chỉ chiếm 10,42% về số khoản mục nhưng lại chiếm đến 47,40% tổng kinh phí về thuốc [16], điều này thể hiện mô hình bệnh tật đặc trưng của Bệnh viện Nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn chiếm 19,22% số khoản mục nhưng chỉ chiếm 13,06% giá trị [16]

Phân tích danh mục các thuốc tân dược mà bệnh viện Sản Nhi Nghệ An sử dụng trong năm 2016 theo Thông tư 40/2014 của Bộ y tế cho thấy nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn vừa chiếm số lượng lớn nhất về số khoản mục với 22,1% vừa chiếm kinh phí nhiều nhất với hơn 60% tổng kinh phí về thuốc của bệnh viện [15] Cũng tại nghiên cứu này của Chu Thị Nguyệt Giao thì nhóm Hormon và các thuốc tác động vào hệ thống nội tiết chiếm

tỉ lệ không cao chỉ 4,1% về số khoản mục tương ứng với 2,9% về giá trị sử dụng [15] Trong nghiên cứu của Nguyễn Anh Phương tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm

2014, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ cao nhất trong tổng số kinh phí sử dụng thuốc (chiếm khoảng 31,7%) đồng thời cũng là nhóm thuốc có

Trang 27

số lượng thuốc nhiều nhất chiếm 24,2%.Trong nhóm này chủ yếu là thuốc kháng sinh Trong khi đó nhóm hormon và các thuốc tác động lên hệ thống nội tiết chỉ chiếm 5,2%

số khoản mục tương ứng với 1,6% theo giá trị sử dụng [19]

Các viện chuyên khoa Sản đều sử dụng nhóm thuốc chống nhiễm khuẩn tương đương nhau về số lượng nhưng về tỉ trọng có sự chênh lệch nhau đáng kể Việc sử dụng kháng sinh ở mức độ cao như vậy là điều mà các bệnh viện cần phải quan tâm và cần hạn chế sử dụng khi không cần thiết trước tình hình đã có rất nhiều ca kháng kháng sinh hiện nay

1.5.3 Tình hình sử dụng các thuốc nhập khẩu, thuốc SX trong nước

Thuốc nhập khẩu đóng vai trò lớn trong công tác khám, điều trị bệnh với tỷ trọng thuốc nhập khẩu chiếm hơn 60% so với tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam [25] Giá thuốc nhập khẩu cao là hàng rào lớn cho bệnh nhân trong việc tiếp cận thuốc để điều trị và nâng cao sức khỏe Trong khi đó thuốc sản xuất trong nước đã ngày càng đáp ứng tốt hơn với nhu cầu điều trị Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam còn rất thấp Tỷ lệ

sử dụng tiền thuốc sản xuất tại Việt Nam tại các bệnh viện tuyến Trung ương chỉ đạt 11,9%, tuyến tỉnh 33,9%, tuyến huyện 61,5% trong tổng số tiền thuốc điều trị [9]

Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng thuốc sản xuất trong nước, thuốc nhập khẩu

STT Bệnh

viện/năm

nghiên cứu

Số nhóm điều trị

Trang 28

Theo nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hà tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm

2014 kết quả phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện theo nguồn gốc xuất xứ, theo đó tỉ lệ số khoản thuốc trong nước chỉ chiếm 24,1% tổng số khoản và tỉ lệ kinh phí chiếm 3,64% tổng chi phí, thấp hơn nhiều so với thuốc nhập khẩu [16] Nghiên cứu của

Vũ Đình Phóng tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012 cũng có sự tương đồng, thuốc sản xuất trong nước chiếm 23,3% số khoản mục nhưng chỉ chiếm 4,2% tổng chi phí cho thuốc, thấp hơn nhiều so với thuốc nhập khẩu [18]

Theo Chu Thị Nguyệt Giao nghiên cứu tại bệnh viện sản Nhi Nghệ An năm 2016 không có sự chênh lệch đáng kể giữa số khoản mục thuốc sản xuất trong nước và số khoản mục thuốc nhập khẩu, tương ứng với các tỉ lệ 48,9% và 51,1% Tuy nhiên do giá thuốc nhập khẩu cao dẫn đến tổng chi tiêu tiền thuốc trong năm của bệnh viện dành cho các thuốc nhập khẩu lại chiếm đến gần 3/4 tổng kinh phí về thuốc trong năm bệnh viện [15] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Anh Phương tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm

2014 cho thấy thuốc sản xuất trong nước chiếm tỉ lệ 23,8% về khoản mục thuốc nhưng giá trị sử dụng thuốc chỉ chiếm 12,5% tổng kinh phí sử dụng thuốc các thuốc nhập khẩu chiếm 76,2% số khoản mục tương ứng với 87,5% tổng kinh phí sử dụng thuốc [19] Các kết quả nghiên cứu trên đều chỉ ra sự mất cân đối nghiêng về thuốc nhập khẩu trong danh mục thuốc sử dụng tại các bệnh viện Theo khuyến cáo của Bộ Y Tế,

tỷ lệ thuốc sản xuất trong nước trong danh mục thuốc bệnh viện nên chiếm khoảng 70%

để tiết kiệm chi phí đồng thời khuyến khích sản xuất trong nước phát triển Tuy nhiên, chất lượng thuốc, tương đương sinh học giữa các loại biệt dược và sự cân bằng giữa chi phí – hiệu quả là điều mà các bệnh viện cần quan tâm khi lựa chọn bất kỳ thuốc nào vào danh mục thuốc của mình

1.5.4.Tình hình sử dụng thuốc biệt dược gốc, thuốc generic

Thuốc biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở đã có đầy

đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn và hiệu quả

Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [3]

Tuy nhiên các thuốc BDG tham gia đấu thầu theo gói BDG hoặc TĐĐT, do đó không

có các thuốc cạnh tranh trong đấu thầu nên hầu hết đều trúng thầu với giá cao Một số

Trang 29

thuốc BDG đã hết hạn bảo hộ độc quyền sáng chế có giá chênh lệch khá lớn so với các thuốc generic nhóm 1 cùng hoạt chất, nồng độ, hàm lượng trên thị trường Theo BHXH Việt Nam, tỉ lệ sử dụng BDG trên cả nước năm 2016 ước tính chiếm khoảng 20-30% trên tổng chi phí thuốc Tỉ lệ này tại một số bệnh viện tuyến trung ương chiếm 68,8%

đến 78,9%, cao nhất là bệnh viện Chợ Rẫy 78,9%

Bảng 1.5 Cơ cấu thuốc sử dụng theo BDG và Generic tại 1 số bệnh viện

Theo nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện phụ sản Trung ương năm

2014 của Trần Thị Thanh Hà thuốc BDG chỉ chiếm 15,64% số khoản mục [16]

Theo Chu Thị Nguyệt Giao nghiên cứu tại bệnh viện Sản Nhi Nghệ An năm 2016 xét về giá trị sử dụng, chi phí dành cho thuốc generic chiếm tới 85,1% tổng kinh phí về thuốc trong năm 2016 của bệnh viện tương đương với gần 94% tổng số khoản mục thuốc, trong khi tổng kinh phí cho nhóm biệt dược gốc thấp hơn rất nhiều chỉ chiếm 14,9% [15]

Nhìn chung một số viện đã ưu tiên sử dụng nhiều thuốc generic hơn các biệt dược gốc trong những năm gần đây Tuy nhiên, với mỗi hoạt chất lại có vô vàn loại thuốc generic khác nhau, lựa chọn loại thuốc generic nào để đưa vào danh mục thuốc cũng là điều cần được bệnh viện quan tâm

1.5.5 Tình hình sử dụng các thuốc theo dạng bào chế

Theo thông tư 23/2011/TT-BYT quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y

tế có giường bệnh thì bệnh viện căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để lựa chọn đường dùng thích hợp Bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được

Trang 30

hoặc khi sử dụng đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị Tuy nhiên ở hầu hết các bệnh viện thuốc tiêm truyền chiếm tỷ lệ cao nhất về cả số khoản mục và giá trị sử dụng

Bảng 1.6 Cơ cấu danh mục thuốc theo đường dùng của 1 số bệnh viện

STT

Bệnh viện/năm nghiên

cứu

Đường dùng Đường tiêm

truyền Đường uống

Đường dùng khác

1.5.6 Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích ABC

Phương pháp phân tích ABC cũng là một trong những công cụ hữu ích để xác định những vấn dề tồn tại trong sử dụng thuốc cũng như phân bố ngân sách mua thuốc Thông thường theo phân tích ABC, các thuốc hạng A chiếm 10-20% tổng sản phẩm, hạng B chiếm 10-20% và hạng C chiếm 60-80%

Bảng 1.7 Cơ cấu DMT theo phân tích ABC tại 1 số bệnh viện

STT Bệnh viện/ năm nghiên

Trang 31

1.5.7 Tình hình sử dụng thuốc theo phân tích VEN

Về phương pháp phân tích VEN, các tiêu chí được sử dụng để phân loại các thuốc thành V, E và N ở nghiên cứu của chúng tôi nhằm mục đích hợp lý và tối ưu hóa vấn

đề sử dụng thuốc tại bệnh viện Tiêu chí đầu tiên để phân loại thuốc dựa trên phác đồ điều trị các bệnh phổ biến từ đó xác định được các thuốc có hiệu quả điều trị phù hợp với mô hình bệnh tật tại bệnh viện, trong đó có ý kiến đánh giá của chuyên gia để tăng

tính phù hợp với thực tế điều trị trên lâm sàng

Bảng 1.8 Cơ cấu DMT sử dụng theo phân tích VEN tại 1 số bệnh viện

1.6 Tổng quan về Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

1.6.1.Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện Phụ sản Trung ương

Bệnh viện Phụ sản Trung ương có trụ sở tại số 43 Tràng Thi, Hàng Bông, Hoàn Kiếm, Hà Nội tiền thân là Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ sơ sinh, được đổi tên thành bệnh viện phụ sản trung ương theo quyết định số 2212/QĐ-BYT ngày 18/6/2003, với chức năng và nhiệm vụ sau:

 Chức năng: khám, cấp cứu, điều trị, phòng bệnh về chuyên ngành phụ sản cho người bệnh tuyến cao nhất; nghiên cứu khoa học; đào tạo cán bộ chuyên ngành phụ sản; chỉ đạo tuyến và hợp tác quốc tế

 Nhiệm vụ:

- Khám, cấp cứu, điều trị chuyên khoa phụ sản cho người bệnh ở tuyến cao nhất

- Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

- Chỉ đạo tuyến

Trang 32

- Đào tạo

- Quản lý đơn vị

- Hợp tác quốc tế

1.6.2.Cơ cấu và sơ đồ tổ chức của Bệnh viện Phụ sản TW

Bệnh viện Phụ sản Trung ương là bệnh viện đầu ngành về sản phụ khoa, chăm sóc và điều trị trẻ sơ sinh, hỗ trợ sinh sản… Bệnh viện có quy mô 1000 giường bệnh nội trú; 08 phòng chức năng; 14 khoa lâm sàng; 09 khoa cận lâm sàng; 07 trung tâm [1]

Kế hoạch tổng hợp Khoa hồi sức cấp

cứu

Khoa Chẩn đoán hình ảnh

Trung tâm Chăm sóc và điều trị sơ sinh

Phòng điều dưỡng Khoa khám bệnh Khoa Dinh Dưỡng Trung tâm Chẩn

đoán trước sinh Phòng tài chính kế

toán

Khoa khám bệnh theo yêu cầu

Khoa Dược Trung tâm hỗ trợ

sinh sản Quốc gia Phòng tổ chức cán

Phòng vật tư thiết

bị y tế

Khoa Phụ ngoại Khoa Huyết học Trung tâm Tế bào

gốc máu cuống rốn Phòng kế hoạch

tổng hợp

Khoa Phụ nội tiết Khoa Sinh hóa Trung tâm Tư vấn

SKSS & Kế hoạch hóa gia đình

Phòng chức năng

Giám đốc

Khối lâm sàng Các phó giám đốc Hội đồng thuốc và điều trị

Khối cận lâm sàng Các trung tâm

Trang 33

thông tin

Khoa Sản bệnh lý Khoa Vi sinh

Khoa Sản nhiễm khuẩn

Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn Khoa Sản thường

Khoa Đẻ Khoa Điều trị theo yêu cầu

Đơn vị chăm sóc sức khỏe tại nhà

Hình 1-1 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Phụ sản TW 1.6.3.Cơ cấu tổ chức và hoạt động của khoa Dược Bệnh viện Phụ sản Trung Ương

Khoa Dược có các bộ phận như quy định tại Thông tư 22 của Bộ Y tế [10]: Dược chính - Pha chế, Dược lâm sàng – Thông tin thuốc, Cấp phát, Hệ thống nhà thuốc Bệnh viện đạt chuẩn GPP

Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của giám đốc bệnh viện, có chức năng quản lý và tham mưu cho giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý

Nhiệm vụ của khoa dược:

- Lập kế hoạch, cung cấp và bảo đảm số lượng, chất lượng thuốc thông thường và thuốc chuyên khoa, hóa chất đáp ứng yêu cầu điều trị hợp lý

- Pha chế một số thuốc dùng trong bệnh viện.uy

- Kiểm tra, theo dõi việc sử dụng an toàn, hợp lý trong toàn bệnh viện

- Tham gia quản lý kinh phí thuốc, thực hiện tiết kiệm đạt hiệu quả cao trong phục

vụ người bệnh

- Tham gia công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, thông tin về thuốc

Trang 34

1.6.4.Mô hình bệnh tật

Mô hình bệnh tật ICD là hệ thống phân loại bệnh tật quốc tế nhằm hỗ trợ ngành y tế thu thập số liệu bệnh tật và tử vong một cách thống nhất, phục vụ yêu cầu thống kê, phân tích dịch tễ, nghiên cứu khoa học và đề ra các chiến lược nhằm khống chế sự phát triển của dịch bệnh [4]

Bảng 1.9 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương

(ca)

1 O82 Mổ lấy thai cho một thai 12.304

2 O83 Đẻ một thai nhờ các thủ thuật khác (Đẻ chỉ huy) 6.786

3 O80 Đẻ thường một thai 5.345

4 O00 Chửa ngoài tử cung 2.205

Đây là cơ sở quan trọng cho HĐT&ĐT xây dựng phác đồ điều trị, qua đó tham vấn,

hỗ trợ cùng Khoa Dược lựa chọn và xây dựng DMT bệnh viện Mô hình bệnh tật tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương có đặc trưng của bệnh viện chuyên khoa, không giống các bệnh viện đa khoa Vì vậy việc sử dụng thuốc có những nét riêng so với các bệnh viện đa khoa

Trang 35

1.7.Tính cấp thiết của đề tài

Bệnh viện Phụ sản TW là một bệnh viện đầu ngành chuyên khoa về sản, là bệnh viện thuộc tuyến thăm khám, chăm sóc và điều trị cuối cùng cho bệnh nhân với những đặc trưng riêng biệt về đối tượng điều trị, các loại bệnh tật so với các bệnh viện đa khoa hoặc bệnh viện chuyên khoa khác Đa phần bệnh nhân đến điều trị thường ở giai đoạn nặng, khó điều trị, diễn tiến phức tạp và thường mang nhiều bệnh mắc kèm Đồng thời, việc điều trị không chỉ ảnh hưởng riêng cho chính sản phụ mà còn có những tác động nhất định đến thai nhi Do đó, các hoạt động điều trị phải luôn sẵn sàng, hiệu quả, hợp lý và đạt chất lượng cao Để có thể đạt được những yêu cầu trên, công tác cung ứng thuốc kịp thời, đầy đủ và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, mang tính chất sống còn, quyết định quá trình điều trị của bệnh viện Nhiệm vụ đó đòi hỏi tổ chức và hoạt động công tác dược bệnh viện phải được đổi mới, tăng cường và được cập nhật thường xuyên Một trong những bước tiền đề để đạt được cung ứng thuốc hiệu quả là phải có một DMT thuốc hợp lý,

an toàn và hiệu quá nhất là đối với bệnh viện tuyến TW chuyên khoa đầu ngành về sản như Bệnh viện Phụ sản TW

Việc xây dựng DMT thực trạng hiện nay chủ yếu dựa vào DMT các năm trước,

từ đó bổ sung điều chỉnh thêm mà chưa dựa vào dữ liệu thông tin về thực tế sử dụng thuốc tại bệnh viện do thiếu dữ liệu đầy đủ về những thông tin này Từ đó dễ dẫn đến thiếu thuốc trong quá trình mua sắm do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau Hiện tại, đã có những nghiên cứu về thực trạng sử dụng thuốc và cung ứng thuốc tại Bệnh viện phụ sản Trung Ương những năm trước đó như:

1.Phân tích thực trạng sử dụng thuốc tại Bệnh viện Phụ sản TW năm 2014 của Trần Thị Thanh Hà

2.Phân tích hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Phụ sản TW năm 2012 của Vũ Đình Phóng

Tuy nhiên, chưa có đề tài nào phân tích DMT được sử dụng đi sâu phân tích sự thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện DMT trong giai đoạn Bộ Y tế đã ban hành Thông

tư mới quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập Do đó, việc áp dụng DMT các năm trước Thông tư làm cơ sở xây dựng DMT cho năm sau là không phù hợp

Trang 36

Ngoài ra, việc áp dụng kết quả phân tích của các đề tài được thực hiện trước đây vào việc xây dựng DMT là không bám sát thực tế, từ đó dễ dẫn đến việc cung ứng thuốc không hợp lý và hiệu quả, ảnh hưởng đến việc điều trị và uy tín của Bệnh viện Từ

thực tế trên, việc thực hiện đề tài : “Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại

Bệnh viện Phụ sản TW năm 2017” là cần thiết với mục tiêu xác định được cơ cấu

DMT hiện tại từ đó phân tích và chỉ ra được những vấn đề còn tồn tại, bất cập, góp phần xây dựng quá trình cung ứng thuốc hợp lý và sử dụng thuốc hiệu quả

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2017 tính

từ 21/11/2016 đến 20/11/2017 sau khi loại bỏ các dữ liệu:

+ Thuốc nghiên cứu

+ Thuốc cho tặng, viện trợ

- Danh mục thuốc trúng thầu tại bệnh viện năm 2017 ( bao gồm các Quyết định trúng thầu từ thời điểm 21/11/2016 đến 20/11/2017)

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu: từ 21/11/2016 đến 20/11/2017

- Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu: từ tháng 09/2018 đến tháng 03/2019

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Biến số nghiên cứu

Mục tiêu 1 Mô tả cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện Phụ sản

TW năm 2017

Bảng 2.10 Các biến số nghiên cứu mục tiêu 1

TT Tên biến Khái niệm/ Định nghĩa Phân loại

biến

Phương pháp thu thập

1 Nhóm tác

dụng dược lý

SKM và GT tiền thuốc sử dụng của

27 nhóm TDDL theo phân loại của TT40

Biến phân loại: 27 nhóm TDDL

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

TT 40

1.Các thuốc thuộc TT40 2.Các thuốc không thuộc TT40

Biến phân loại:

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

3 Thuốc chống

nhiễm khuẩn

SKM và GT các phân nhóm kháng sinh căn cứ TT40

Biến phân loại

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

Trang 38

1.Thuốc nhóm Beta-lactam

10.Thuốc khác

số liệu từ DMTĐSD

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

1.Thuốc biệt dược 2.Thuốc generic

Biến phân loại

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

7 Thuốc theo

đường dùng

SKM và GT tiền thuốc sử dụng theo đường dùng của thuốc:

1 Đường tiêm

2 Đường dùng khác

Biến phân loại

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

1.Thuốc generic 1.1= Nhóm 1 1.2= Nhóm 2 1.3= Nhóm 3 1.4= Nhóm 4 1.5= Nhóm 5

Biến phân loại

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

Trang 39

2.Thuốc BDG hoặc tương đương điều trị

Biến phân loại

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMTĐSD

Mục tiêu 2: Phân tích một số vấn đề trong DMT sử dụng tại BV Phụ Sản Trung Ương năm 2017

Bảng 2.11 Các biến số nghiên cứu mục tiêu 2

TT Tên biến Khái niệm/ Định nghĩa Phân loại

biến

Cách thức thu thập

1 Thuốc trúng thầu

được sử dụng

Là SKM thuốc trúng thầu được sử dụng: < 80% ; từ 80%-120%; ≥120% số lượng trúng thầu

Biến phân loại

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu số liệu

từ DMT trúng thầu;

DMTĐSD

2 Số lượng trúng

thầu

Là số lượng trúng thầu của một thuốc trúng thầu

Biến dạng số

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMT trúng thầu

Biến dạng số

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMT sử dụng

Trang 40

4 Tổng số lượng

sử dụng

Là tổng số lượng sử dụng của một thuốc trúng thầu bao gồm cả số lượng sử dụng theo kết quả trúng thầu và số lượng mua bổ sung

Biến dạng số

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu

số liệu từ DMT sử dụng

5 Thuốc NK theo

TT 10

1.Thuốc NK trong TT 10 2.Thuốc NK ngoài TT 10

Biến phân loại

Tài liệu sẵn có: Hồi cứu số liệu

từ DMTĐSD

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu

- Phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.2.3.1.Kỹ thuật thu thập số liệu

Sử dụng phương pháp thu thập số liệu từ nguồn tài liệu sẵn có để thu thập các

dữ liệu liên quan đến DMT đã sử dụng trong bệnh viện năm 2017

+ DMT được xuất từ phần mềm quản lý bệnh viện từ ngày 21/11/2016 đến ngày 20/11/2017 sang file excel

+ Số liệu từ phần mềm quản lý xuất nhập thuốc tại bộ phận thống kê – khoa Dược Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

+ Số liệu phần mềm DMT sử dụng thuốc tại bệnh viện năm 2017

Danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2017 (là danh mục thuốc xuất tại kho chính tính từ ngày 21/11/2016 đến 20/11/2017) theo biểu mẫu Nhập Xuất Tồn

+ DMT trúng thầu của bệnh viện năm 2017 : DMT trúng thầu tập trung tại SYT

Hà Nội, đấu thầu TTQG và DMT trúng thầu của bệnh viện tự tổ chức đấu thầu

2.2.3.2 Biểu mẫu thu thập số liệu

Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện biểu mẫu thu thập số liệu gồm các thông

tin: Tên thuốc, tên hoạt chất, nồng độ, hàm lượng, đơn vị tính, đơn giá, số lượng sử dụng, giá trị sử dụng, nguồn gốc, nhóm TDDL, đường dùng

Ngày đăng: 12/02/2020, 08:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w