1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hà giang một số vấn đề lý luận và thực tiễn

115 575 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hành quyền công tố THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự là chức năng của Viện kiểm sát VKS, bảo đảm hoạt động khởi tố - điều tra đúng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ MINH

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG - MỘT SỐ

VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ THỊ MINH

THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG - MỘT SỐ

VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số : 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM MẠNH HÙNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Địa điểm nghiên cứu 6

7 Tính mới và những đóng góp của đề tài 7

8 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN 9

1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 9

1.1.1 Khái niệm quyền công tố 9

1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố 16

1.2 Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án hình sự 19

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG 24

Trang 5

2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công

tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ

án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân 24 2.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 39 2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang 48 2.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Hà Giang 48 2.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội, các đặc điểm của bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang 49 2.3.3 Thực tiễn thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang 57

2.3.3.1 Đánh giá chung về những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang (2010 - 2014) 57 2.3.3.2 Thuận lợi, khó khăn khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang 70

Chương 3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC

HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG 78 3.1 Dự báo tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong thời gian tới 78 3.2 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 80

Trang 6

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của BLTTHS theo hướng tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc quản lý, giải quyết tố giác,

tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 81

3.2.2 Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về vấn đề khởi tố vụ án 82 3.2.3 Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về vấn đề khởi tố bị can 86 3.2.4 Cần tăng cường, quyền hạn trách nhiệm tố tụng cho Kiểm sát viên 87

3.2.5 Quy định cụ thể về người phiên dịch 88

3.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức cho Kiểm sát viên 91

3.4 Các giải pháp khác 95

KẾT LUẬN 101

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự:

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

ở giai đoạn điều tra 61

Bảng 2.2 Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ở giai đoạn truy tố 63

Bảng 2.3 Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung cho CQĐT 65

Bảng 2.4 Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát 66

Bảng 2.5 Kiểm sát khởi tố, yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án của VKS 67

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng như Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã xác định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật”

Thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự là chức năng của Viện kiểm sát (VKS), bảo đảm hoạt động khởi tố - điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Đảng ta đã chủ trương đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Đây là một chủ trương lớn và đúng đắn của Đảng với mục tiêu là "xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ” [12, tr.2]

Thực tiễn những năm qua cho thấy, VKS đã thực hiện tốt chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp góp phần đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động của VKS vẫn còn những hạn chế trong việc thực hiện chức năng của mình như: vẫn để xảy ra tình trạng hồ sơ vụ án phải trả để điều bổ sung, vẫn còn tình trạng bắt, khởi tố, điều tra oan, sai…

Ở VKSND tỉnh Hà Giang cho thấy chất lượng THQCT và kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự ngày càng được nâng cao, chất lượng công

tố được đảm bảo, đặc biệt là các vụ án có bị can là người dân tộc thiểu số

Trang 10

gần đây (giai đoạn 2010 - 2014) tình hình vi phạm pháp luật, tình hình tội phạm vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp và đối tượng phạm tội là NDTTS chiếm tỷ lệ cao (trên 80%) chủ yếu phạm vào các tội như: Giết người, cố ý gây thương tích, hiếp dâm, mua bán người, mua bán trẻ em, mua bán trái phép chất ma tuý, vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, trộm cắp tài sản…

Bên cạnh những kết quả đạt được hoạt động THQCT và KSĐT của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang đối với các vụ án mà người phạm tội là đồng bào dân tộc thiểu số còn bộc lộ những hạn chế, thiếu sót chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp Công tác kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm chưa được thường xuyên, chất lượng công tác THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra còn hạn chế; hoạt động KSĐT từ đầu, kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án còn chưa chủ động, những

vi phạm trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra (CQĐT) chưa được phát hiện kịp thời; các yêu cầu điều tra, định hướng hoạt động điều tra còn hạn chế; nhiều vụ án phải kéo dài do trả hồ sơ để điều tra bổ sung…

Mặc dù, Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) đã có những quy định việc bảo vệ quyền của NDTTS, song thực tế hiện nay vấn đề này cũng đã nảy sinh nhiều vướng mắc Đã xảy ra những vụ án vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng như: bị can là NDTTS không biết tiếng phổ thông nhưng không có người tham gia phiên dịch trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung bị can; bị can là người chưa thành niên phạm tội không có người đại diện hợp pháp, không có luật sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, tạm giam, quá trình điều tra không thu thập được tài liệu chứng minh ngày, tháng, năm sinh của bị can cũng như bị hại là NDTTS ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Trang 11

Những hạn chế, tồn tại, thiếu sót trên do nhiều nguyên nhân khác nhau Trong đó có những hạn chế, bất cập của pháp luật; về trách nhiệm, năng lực của đội ngũ cán bộ THQCT và KSĐT án hình sự

Để góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS cần có sự nghiên cứu để đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả để công tác THQCT và KSĐT các vụ án hình sự của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang đạt kết quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu

cải cách tư pháp hiện nay Với lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp là các chức năng Hiến định của VKSND Đã có một số công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ khác nhau về vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt động của VKS theo yêu cầu cải cách

tư pháp trong đó có đề tài ở cấp bộ "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay", Viện khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002); đề tài khoa học cấp bộ "Vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị", Viện khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005); đề tài “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của Lê Hữu Thể (chủ biên), nhà xuất bản Tư pháp năm 2005; đề tài "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta" của Lương Thúy Hà, luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012; đề tài "Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên

Trang 12

địa bàn thành phố Hải Phòng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", của Phạm

Hồng Quân, luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

năm 2012; đề tài "Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân (trên cơ sở số liệu địa bàn thành phố Hồ Chí Minh)" của

Hồ Thị Thanh Hương, luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013; đề tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân" của Cao Việt Cường, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học

Quốc gia Hà Nội năm 2013;

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Kiểm sát , tạp chí Tòa án, tạp chí Công an nhân dân , tạp chí Luật học

và các chuyên đề nghiệp vụ như : “Tổng hợp kinh nghiê ̣m thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra , kiểm sát xét xử các vụ án hình s ự lớn” của Vụ 2 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) năm 2004; “Tổng hợp kinh nghiê ̣m trong công tác thực hành quyền công tố , kiểm sát điều tra , kiểm sát xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự” năm 2007; “Kinh nghiê ̣m thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về tội phạm” do Ta ̣p chí Kiểm sát phối

hợp với vu ̣ 1C VKSNDTC thực hiê ̣n tháng 10/2011

Các công trình nghiên cứu và bài viết nêu trên đã nghiên cứu về mặt lý luận, thực tiễn và đề xuất những giải pháp khoa học ở những cấp độ khác nhau nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Kế thừa các kết quả nghiên cứu nêu trên tác giả mạnh dạn tiếp cận và nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trong quá trình THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS của VKSND trên địa bàn tỉnh

Hà Giang Tác giả mong muốn tìm ra giải pháp để nâng cao chất lượng trong

Trang 13

THQCT và KSĐT vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự có bị can là NDTTS nói riêng trên địa bàn tỉnh Hà Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự, làm rõ thực trạng hoạt động của VKSND trong quá trình THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang Những kết quả, hạn chế, nguyên nhân tồn tại và những vướng mắc, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng THQCT và KSĐT vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Giang nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới

sự có bị can là NDTTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang;

- Trên cơ sở đó đánh giá chất lượng của công tác này, những kết quả đạt được, những vấn đề thiếu sót, yếu kém tồn tại và làm rõ nguyên nhân đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục để nâng cao hiệu quả của công tác trên tại địa bàn tỉnh Hà Giang trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Về đối tượng nghiên cứu: là hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án

hình sự có bị can là NDTTS của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Trang 14

- Giới hạn về không gian và thời gian: Luận văn nghiên cứu hoạt động

THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang từ năm 2010 đến năm 2014

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề

lý luận và thực tiễn THQCT và KSĐT các vụ án hình sự trong giai đoạn điều tra các vụ án có bị can là NDTTS trên địa bàn tỉnh Hà Giang

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác điều tra,

xử lý tội phạm, về vấn đề cải cách tư pháp

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra

xã hội học, thảo luận, trực tiếp khảo sát, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

6 Địa điểm nghiên cứu

Hà Giang là một tỉnh miền núi cao, nằm ở cực Bắc của Tổ quốc, phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam và Quảng Tây - Trung Quốc Đường biên giới dài 274km, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp Yên Bái và Lào Cai Diện tích tự nhiên là 7.884,37 km2 Địa hình đồi núi phức tạp, đường xá giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, dân cư thưa thớt, có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Giấy, Mông, Dao, Hoa Trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế nhất là đồng bào dân tộc thiểu số Vì vậy, tội phạm có những diễn biến phức tạp

Trang 15

Việc nghiên cứu đề tài “Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” là nhu cầu cấp thiết

7 Tính mới và những đóng góp của đề tài

Là một công trình nghiên cứu chuyên khảo Đề tài nghiên cứu về lý luận đầy đủ và toàn diện, rõ ràng về công tác THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Luận văn có những điểm mới như sau:

- Phân tích làm sáng tỏ hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự

có bị can là NDTTS phạm tội trên địa bàn tỉnh Hà Giang

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng và những điều kiện đảm bảo hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS phạm tội của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang

- Đánh giá thực trạng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự

có bị can là NDTTS phạm tội của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang Từ đó rút ra những hạn chế và nguyên nhân, tồn tại trong quá trình thực hiện

- Đề xuất các quan điểm, cũng như giải pháp bảo đảm hoạt động THQCT

và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS phạm tội của VKSND trên địa bàn tỉnh Hà Giang Nâng cao hiệu quả hoạt động này trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn có giá trị tham khảo cho cán bộ

cơ quan nhà nước có thẩm quyền nói chung cũng như ngành Kiểm sát nói riêng trong việc đảm bảo chất lượng hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự có bị can là NDTTS và các chính sách, cơ chế thực hiện Đồng thời, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành

Trang 16

Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật, trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các CQĐT, VKS, Tòa án và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan,

có căn cứ và đúng pháp luật

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về thực hành quyền công tố và kiểm

sát tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân

Chương 2: Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về thực

hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự Thực tiễn áp dụng các quy định này đối với các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hành quyền

công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Hà Giang

Trang 17

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì VKSND có hai chức năng

là THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp Mặc dù vậy, cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung, trong thực tiễn hoạt động của VKSND vẫn chưa đạt được sự thống nhất cao về các vấn đề này cả trên phương diện khái niệm, nội dung, đối tượng và phạm vi của THQCT, kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng như mối quan hệ giữa chúng Để từng bước nâng cao hiệu quả và dần đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của công tác kiểm sát, điều không thể thiếu được là cần phải làm rõ từ trong nhận thức về các vấn đề cơ bản có liên quan đến các hoạt động chức năng này: Khái niệm thế nào là Q

CT, THQCT, thế nào là kiểm sát hoạt động điều tra, đối tượng, nội dung, phạm vi cũng như mối quan hệ giữa chúng

1.1.1 Khái niệm quyền công tố

Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta đưa

ra thuật ngữ “thực hành quyền công tố” khi đề cập đến chức năng của

VKSND (Điều 138) Thuật ngữ này được nhắc lại ở Điều 1 và Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981 Như vậy, trong các hoạt động của VKSND, bên

cạnh khái niệm truyền thống “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” đã xuất hiện khái niệm “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố”

Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt thì "công tố" có nghĩa là "điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước tòa án" [ 49, tr.204]

Trang 18

Từ điển Luật học lại ghi: Công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội" [50, tr 188]

Từ năm 1960 đến nay, ở nước ta tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau

về QCT nhưng khái quát lại có một số quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất, đồng nhất khái niệm QCT với hoạt động kiểm sát

việc tuân theo pháp luật của VKSND (trước khi có Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001) Có thể thấy quan điểm này xuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét QCT Quan điểm này cho rằng tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều là THQCT Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi VKS kiến nghị yêu cầu các cơ quan Nhà nước sửa chữa những vi phạm pháp luật của mình trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (một thời chúng ta gọi là kiểm sát chung) cũng là THQCT Bởi vậy có nhiều nước gọi VKS là Viện công tố

Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của VKS, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Có thể nói đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt

là trong ngành kiểm sát từ năm 1960 cho đến khi Luật tổ chức VKSND năm

2002 được ban hành

Theo chúng tôi, hiểu khái niệm QCT theo quan điểm trên là chưa chính xác, đã đánh đồng QCT với quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật và cũng không phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các luật Theo quy định của pháp luật nước ta thời kỳ trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi thì VKS có hai chức năng rất cụ thể: chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

và chức năng THQCT Trong quá trình thực hiện, cho dù giữa hai chức năng này có một số nội dung đan xen, liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau nhưng không vì thế mà phủ nhận được thế mà phủ nhận tính độc lập của

Trang 19

chúng cả về nội dung lẫn phạm vi áp dụng Bởi lẽ đó không thể đồng nhất hai chức năng này của VKS với nhau

Quan điểm thứ hai, QCT là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy tố

kẻ phạm tội ra Tòa án (TA), thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hiện quyền công tố) Quan điểm này đã nhấn mạnh vai trò duy nhất của VKS trong việc thực hiện QCT và chỉ thực hiện duy nhất là tố tụng hình sự (TTHS) và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của TTHS là giai đoạn xét xử sơ thẩm (tức chỉ là việc truy tố và buộc tội tại phiên tòa)

Theo chúng tôi, quan điểm này đã thu hẹp khái niệm, nội dung, phạm

vi QCT và không phản ánh được đầy đủ bản chất quyền này Trên thực tế, hoạt động truy tố và buộc tội của VKS sát tại phiên tòa chỉ là một nội dung của hoạt động THQCT, hay nói chính xác hơn, đó chỉ là một số trong các quyền hạn của VKS khi thực hiện quyền công tố [45, tr.22 - 24]

Quan điểm thứ ba, QCT là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ

việc vi phạm trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật; ở Việt Nam, quyền này được giao cho VKSND [16, tr.19]

Những người theo quan điểm này cho rằng, QCT được thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, TTHS, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố được mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự

và ngày nay tiếp tục mở rộng sang lĩnh vực tố tụng tư pháp khác

Theo chúng tôi, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, nội dung và phạm vi của QCT, đã đồng nhất QCT với những quyền năng khác của VKS trong quá trình kiểm sát các hoạt động tư pháp (giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động )

Quan điểm thứ tư, QCT là quyền Nhà nước giao cho các cơ quan tiến

hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng các chế tài

Trang 20

hình sự đối với người phạm tội Nói cách khác, QCT do các cơ quan tiến hành

tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình

sự Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV) và những người khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội

Theo chúng tôi, quan điểm trên đã đồng nhất khái niệm QCT với nguyên tắc tố tụng hình sự đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới: mọi tội phạm xảy ra đều xâm phạm đến lợi ích chung của toàn xã hội, do đó

kẻ phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, cơ quan công tố, Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án) Hiểu khái niệm công tố theo quan điểm trên đã dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các hoạt động buộc tội, xét xử và bào chữa trong TTHS Mỗi hoạt động trên được thực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định, tùy thuộc vào từng giải đoạn cụ thể của quá trình TTHS Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ CQĐT và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án đều là chủ thể THQCT [45, tr.26 - 27]

Quan điểm thứ năm, QCT là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá

nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự Và, QCT là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [20, tr.82 - 88]

Theo quan điểm này, QCT chỉ thuộc về Nhà nước, Nhà nước không thể không thực hiện QCT khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người

có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời Nhà nước là chủ thể tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau Với tư cách là một quyền năng của

Trang 21

Nhà nước, QCT được thực hiện trong tất cả các quá trình giải quyết các vi phạm pháp luật, bao gồm TTHS, tố tụng dân sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính Sự tồn tại QCT trong các hoạt động tố tụng nêu trên

là do nhu cầu khách quan, bởi vì, Nhà nước không thể không thể hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật; và sự hiện diện công tố như một điều kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài phán Theo quan điểm trên, QCT trong các hoạt động tố tụng được biểu hiện cụ thể ở các quyền của VKS như quyền khởi tố vụ án (dân sự, hành chính, hình sự, lao động), quyền tham gia tố tụng

từ bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế ), quyền yêu cầu TA hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án QCT trong các hoạt động tố tụng khác nhau không giống nhau

về nội dung cũng như hình thức thực hiện Trong TTHS, thực hiện QCT có nghĩa là Nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với con người phạm tội cụ thể, còn trong các hoạt động tố tụng khác, THQCT được hiểu là việc Nhà nước trực tiếp hay gián tiếp (bằng văn bản) quy lỗi cho một người hay một pháp nhân nào đó trong việc thực hiện một hay nhiều hành vi vi phạm pháp luật tương ứng Như vậy, sự buộc tội (quy lỗi hình sự) còn là việc quy lỗi cho người khác

Quan điểm thứ sáu, QCT là quyền của Nhà nước đưa các việc làm

phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra TA để xét xử, vì Nhà nước nhân danh xã hội duy trì trật tự chung bằng pháp luật Sự can thiệp của Nhà nước vào các việc phạm pháp nói trên là do nhu cầu duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của Nhà nước là phải đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực công Quyền lực công được Nhà nước giao cho cơ quan nào phụ thuộc vào từng kiểu Nhà nước Theo quan điểm này, QCT là quyền lực công, quyền đó thuộc Nhà nước được bắt nguồn từ nhu cầu

Trang 22

phải duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và những lợi ích chung có liên quan mà bất kỳ Nhà nước nào cũng đều cần phải can thiệp duy trì đó là môi trường tồn tại của Nhà nước, là trách nhiệm

xã hội của Nhà nước vì Nhà nước nhân danh xã hội để duy trì các xung đột trong vòng trật tự QCT là quyền lực công, đòi hỏi phải xử lý các vụ việc xâm phạm lợi ích chung một cách công khai bằng con đường TA Vì thế, QCT thường gắn với quyền tài phán của TA [17, tr.138 - 140]

Từ những phân tích nêu trên, những người theo quan điểm này đưa ra kết luận: QCT là quyền Nhà nước nhân danh xã hội truy cứu trách nhiệm pháp lý đến cùng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật, mọi hành động xâm phạm đến lợi ích chung, nhằm mục đích duy trì trật tự cộng đồng, trật tự pháp luật mà Nhà nước đặt ra để duy trì, củng

cố và phát triển các quan hệ xã hội Và như vậy, QCT không chỉ có trong lĩnh vực hình sự mà còn có trong các lĩnh vực khác như: dân sự, hành chính, kinh

tế, lao động

Quan điểm thứ bảy, QCT là quyền của Nhà nước giao cho VKS truy

cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm

và người phạm tội, trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước TA và bảo

vệ sự buộc tội đó trước phiên Tòa [3, tr.40]

Theo quan điểm này thì QCT là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự coi là tội phạm; QCT chỉ có trong lĩnh vực duy nhất là trong TTHS, ở nước

ta, QCT được Nhà nước giao cho duy nhất là VKSND, không có bất cứ cơ

quan nào có thể thay thế được

Như vậy, có thể thấy về khái niệm QCT có rất nhiều quan điểm khác nhau Mỗi quan điểm trong số đó đều có những hạt nhân hợp lý của nó nhưng

Trang 23

cũng đều bộ lộ những bất cập: hoặc là đánh đồng QCT với kiểm sát tuân theo pháp luật, coi QCT chỉ là quyền năng của VKS trong kiểm sát tuân theo pháp luật nên đã mở rộng phạm vi của QCT sang các lĩnh vực khác ngoài TTHS; hoặc là quá thu hẹp phạm vi của QCT, cho rằng QCT chỉ có trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; hoặc xác định không đúng chủ thể của QCT

Với nhận thức của mình, chúng tôi ủng hộ quan điểm thứ bảy nêu trên

về khái niệm QCT bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất, quan điểm này phù hợp với quan điểm truyền thống nghiên

cứu lịch sử nhà nước - pháp luật về QCT: “Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh Nhà nước buộc tội đối với người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự xem xét là tội phạm xâm hại trật tự chung của toàn xã hội”

Thứ hai, quan điểm này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật

của Nhà nước ta qua các thời kỳ khác nhau về QCT, cụ thể:

- Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước ta qua các thời kỳ đều khẳng định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ” Cụ thể, tại Điều

107, Hiến pháp năm 2013; Điều 2, 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014; Điều

23 BLTTHS năm 2003 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp

Như vậy, có thể thấy THQCT là việc truy cứu người có hành vi phạm tội ra trước TA; QCT ở nước ta được giao cho chủ thể duy nhất là VKS; QCT chỉ có trong lĩnh vực hình sự và có ở tất cả các giai đoạn từ khi khởi tố, điều tra đến truy tố và xét xử hình sự; các công tác khác như giải quyết án dân sự, giam giữ cải tạo, giải quyết án hành chính, kinh tế, lao động, thi hành án của VKSND là hoạt động thuộc lĩnh vực kiểm sát các hoạt động tư pháp khác

Từ sự phân tích như trên, có thể rút ra khái niệm QCT: Quyền công tố ở Việt Nam là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát quyết định việc truy

tố và buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội tại phiên Tòa

Trang 24

Về nội dung của QCT, hiện nay cũng đang có nhiều ý kiến khác nhau

Có thể nói, có bao nhêu quan điểm về QCT, về đối tượng, phạm vi QCT thì cũng có bấy nhiêu quan niệm về nội dung của QCT Trên cơ sở quan niệm

của mình về QCT nêu ở trên, theo ý kiến của chúng tôi: "Nội dung của quyền

công tố là sự buộc tội của VKS đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội"

Trong lĩnh vực TTHS, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi tiếp nhận tin báo tố giác về tội phạm và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật Để thực hiện quyền công tố, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền được áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Cơ quan được giao thẩm quyền đưa vụ án ra Tòa án được gọi là cơ quan THQCT

và cơ quan này ở mỗi nước là khác nhau tùy thuộc vào bản chất chế độ chính trị, điều kiện và hoàn cảnh của từng nước

1.1.2 Khái niệm thực hành quyền công tố

Cũng như khái niệm về "Quyền công tố", khái niệm "Thực hành quyền công tố" cũng như nội dung, đối tượng tác động và phạm vi của nó còn ít

được đề cập đến và chưa rõ ràng Các công trình nghiên cứu trong và ngoài ngành KSND thời gian qua cho thấy, khi đề cập đến THQCT mới chỉ đưa ra biện pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như: kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, kiểm sát thi hành án…hoặc gắn việc THQCT với việc thực hiện những nhiệm vụ khác nhau của KSV trong TTHS; hoặc lại mở rộng phạm vi QCT được thực hiện trong mọi giai đoạn TTHS bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; hoặc chỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý như: lập cáo trạng và luận tội trước phiên tòa sơ thẩm hình sự và coi đó là THQCT, thậm chí còn cho rằng, THQCT chỉ là sự buộc tội trước phiên tòa

Trang 25

Xuất phát từ quan niệm QCT là nhân danh Nhà nước để phát hiện tội phạm, truy tố bị can ra trước TA và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa, nên THQCT là chức năng mà không cơ quan nào có thể làm thay VKS Chức năng này được quy định cụ thể tại Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014:

Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự [43]

Trên cơ sở khái niệm này cũng như những quy định tại Mục 2, Chương

II của Luật tổ chức VKSND năm 2014 về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi THQCT và kiểm sát điều tra VAHS, luận văn đưa ra định nghĩa về THQCT trong giai đoạn điều tra như sau:

Thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án hình sự là chức năng tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân để thực hiện quyền của nhà nước trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi phạm tội, được thực hiện từ khi khởi tố và trong suốt quá trình điều tra vụ án hình sự cho đến khi kết thúc điều tra

Với những phân tích và định nghĩa nêu trên, có thể xác định đối tượng, nội dung, chủ thể, phạm vi của THQCT trong điều tra VAHS như sau:

- Đối tượng của THQCT chính là tội phạm và người phạm tội

- Nội dung của THQCT là thực hiện truy cứu trách nhiệm hình sự và việc buộc tội đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm

- Chủ thể THQCT là Viện kiểm sát nhân dân

- Phạm vi THQCT bắt đầu từ khi khởi tố VAHS đến khi kết thúc điều tra

- Trình tự thủ tục THQCT phải tiến hành theo quy định của Bộ luật TTHS Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra có các đặc điểm như sau:

Trang 26

Một là, trong khi các hoạt động điều tra có nhiệm vụ chứng minh toàn

bộ sự việc phạm tội một cách khách quan, toàn diện, cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội thì hoạt động công tố nhằm thực thi quyền truy cứu trách nhiệm hình sự, quyết định việc buộc tội, việc gỡ tội; quyết định hạn chế các quyền công dân như: bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định việc truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật

Hai là, THQCT bao gồm các quyết định tố tụng mang tính công khai

theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tung do pháp luật quy định Các quyết định công tố thể hiện dưới dạng văn bản của người có thẩm quyền như: Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định khởi tố bị án Các quyết định tố tụng của VKS đều được gửi cho người có liên quan theo quy định của pháp luật

Ba là, hoạt động công tố nhân danh quyền buộc tội của Nhà nước, chịu

sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng VKSND tối cao VKS cấp trên có quyền rút, hủy bỏ các quyết định công tố không có căn cứ và trái pháp luật của VKS cấp dưới và yêu cầu ra quyết định đúng pháp luật Điều này khác với tổ chức hoạt động điều tra, CQĐT cấp trên không có quyền rút, hủy

bỏ các quyết định tố tụng của CQĐT cấp dưới

Bốn là, THQCT có đặc điểm khác với hoạt động kiểm sát điều tra Tuy

cùng một chủ thể tiến hành là VKS nhưng THQCT nhằm vào việc buộc tội,

gỡ tội; yêu cầu bắt, giam giữ và áp dụng các biện pháp cưỡng chế khác đối với người phạm tội, còn hoạt động kiểm sát điều tra hướng đến sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra, nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, VKS có quyền kiến nghị, yêu cầu các chủ thể chấm dứt vi phạm, khôi

phục lại trật tự pháp luật bị vi phạm

Trang 27

Năm là, mục đích của hoạt động THQCT tuy vẫn phải thực hiện việc

xem xét, đánh giá nhằm gỡ tội đối với người phạm tội nhưng THQCT là chủ yếu [5]

1.2 Khái niệm kiểm sát điều tra các vụ án hình sự

Theo từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng của Trung tâm từ điển học thì

"kiểm sát" có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà

nước [49, tr 523]

Thuật ngữ “kiểm sát các hoạt động tư pháp” được xuất hiện trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 9, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2002 và gần đây nhất là Luật tổ chức VKSND năm 2014 Trước khi có Luật tổ chức VKSND năm 2014 các nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất về khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp” dẫn đến nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về khái niệm này, tựu chung lại

có ba nhóm quan điểm: (1) quan điểm giới hạn kiểm sát hoạt động tư pháp trong phạm vi tố tụng hình sự; (2) quan điểm kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (tất cả các vụ

án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần tư pháp trong thi hành án; (3) quan điểm kiểm sát tư pháp được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Mặc dù mỗi nhóm quan điểm có lập luận riêng nhưng các quan điểm này đều không phủ nhận kiểm sát các hoạt động tư pháp luôn bao gồm việc kiểm sát các hoạt động tố tụng hình sự trong đó có hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự

Như vậy cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám

Trang 28

sát Nhà nước về tư pháp và đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Quan điểm này đã được thể chế hóa trong các bản Hiến pháp từ năm 1959 đến

năm 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp” [42]

Chúng tôi đồng ý với khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp được

quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014: Kiểm sát hoạt

động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; Trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại,

tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [43]

Khái niệm này thể hiện đầy đủ bản chất, phạm vi của chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung của VKSND Trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự thì kiểm sát các hoạt động điều tra là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết vụ án Bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể điều tra và các chủ thể tham gia quá trình TTHS

Như vậy, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là quyền năng tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm tra, giám sát tính hợp pháp của các hành

vi, quyết định tố tụng hình sự của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền điều tra, của những người tham gia tố tụng hình sự kể từ khi khởi tố vụ án hình sự

Trang 29

nhằm bảo đảm các hành vi, quyết định đó được chấp hành đúng pháp luật và giải quyết đúng đắn vụ án hình sự, loại trừ oan sai, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động điều tra

Từ định nghĩa trên có thể thấy hoạt động này có một số đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các

vụ án hình sự là quyền năng hiến định của VKSND được quy định và thực hiện trên cơ sở Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan

Thứ hai, đối tượng của các hoạt động kiểm sát của VKSND trong giai

đoạn điều tra các vụ án hình sự là các hành vi, quyết định TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình điều tra các vụ án hình sự

Thứ ba, phạm vi của hoạt động KSĐT các vụ án hình sự được xác định

bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho VKS đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án

Thứ tư, nội dung của KSĐT các vụ án hình sự của VKS là giám sát trực

tiếp và điều chỉnh mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các chủ thể khác có liên quan trong quá trình điều tra các vụ

Trang 30

các cơ quan tư pháp khác khắc phục các vi phạm trong hoạt động tư pháp thì được hiểu là nội dung của hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp và trong giai đoạn điều tra thì thuộc nội dung của kiểm sát điều tra Mặt khác, qua những quy định của pháp luật nêu trên cũng thấy rõ hai chức năng độc lập song thực tế QCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp có mối quan hệ mật thiết với nhau, chỉ có một số hoạt động mang tính độc lập tương đối, còn lại phần

đa chúng đều đan xen nhau và hỗ trợ, tác động qua lại với nhau Tuy ở từng giai đoạn tố tụng, các chức năng này thể hiện ở những mức độ và phạm vi khác nhau với các nội dung khác nhau nhưng dù ở giai đoạn nào thì chúng cũng thể hiện mối quan hệ hữu cơ, đan xen nhau, tác động qua lại và bổ sung một cách tích cực cho nhau Mối quan hệ giữa chúng bắt đầu từ thời điểm có tội phạm xảy ra và song song tồn tại cho đến khi kết thúc việc điều tra (CQĐT

ra quyết định đình chỉ điều tra, VKS quyết định truy tố bị can ra trước TA bằng một bản cáo trạng hoặc quyết định đình chỉ điều tra) Mục đích của THQCT là nhằm chứng minh tội phạm và xác định người phạm tội còn mục đích của công tác kiểm sát điều tra là nhằm đảm bảo cho các hoạt động điều tra được đúng đắn, khách quan theo quy định của pháp luật Công tác kiểm sát điều tra có hiệu quả sẽ là điều kiện giúp cho việc THQCT được đúng đắn; kết quả hoạt động kiểm sát điều tra sẽ làm cơ sở cho việc thực hiện chức năng công tố và THQCT trong giai đoạn điều tra một cách có hiệu quả và ngược lại công tác THQCT có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kiểm sát điều tra xác định kịp thời được các vi phạm pháp luật trong điều tra, đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những

vi phạm trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử

lý nghiêm minh Chỉ thực hiện tốt đồng thời hoạt động THQCT và KSĐT thì VKS mới có thể hoàn thành được tốt và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra:

Trang 31

Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tôi; không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái pháp luật [43, tr.7]

Do vậy, trong hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của VKS, không thể tách rời công tác THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp Nguyên tắc đó cũng hoàn toàn phù hợp khi đặt trong mối quan hệ giữa THQCT và KSĐT

Trang 32

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ

ÁN HÌNH SỰ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CÓ BỊ CAN LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG 2.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các

vụ án hình sự

THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng hiến định của VKSND được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét

xử VAHS Nhưng trong giai đoạn điều tra các VAHS, hai chức năng này chỉ được thực hiện từ khi khởi tố đến khi kết thúc điều tra thông qua những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể quy định tại Điều 14, 15 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 23, 112, 113 Bộ luật TTHS Do đó, THQCT và KSĐT các

vụ án hình sự được thể hiện qua các nội dung sau:

2.1.1 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố

Theo quy định tại Điều 112 BLTTHS 2003 khi THQCT trong giai đoạn

điều tra, VKS có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này;

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này;

Trang 33

- Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của Bộ luật này; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

- Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn; quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do;

- Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

- Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ

vụ án

Về thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc khởi tố

vụ án hình sự

"Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình TTHS, có nhiệm

vụ xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở cho các hoạt động

tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự [6, tr.294]

Khởi tố vụ án hình sự là hoạt động mở đầu của quá trình TTHS, được thực hiện kể từ khi CQĐT tiếp nhận và kiểm tra, xác minh nguồn tin (tố giác, tin báo về tội phạm do cơ quan, tổ chức, công dân cung cấp hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng ) để ra quyết định khởi

tố hoặc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp chưa

có quyết định khởi tố vụ án thì các biện pháp điều tra chưa được tiến hành, trừ những biện pháp khẩn cấp không thể trì hoãn như: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên cơ thể

Trang 34

Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 của BLTTHS hiện hành, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự thuộc về CQĐT, Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, Cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS và Hội đồng xét xử

So với các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự, trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự, VKS có vai trò đặc biệt Theo quy định tại Điều

109 của BLTTHS, nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có căn cứ thì VKS có trách nhiệm ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố đó Nếu quyết định không khởi tố vụ án hình

sự của các cơ quan đó không có căn cứ, thì VKS hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án

Toàn bộ những thủ tục, thẩm quyền liên quan đến khởi tố vụ án hình sự được quy định từ Điều 100 đến Điều 109 của BLTTHS năm 2003

Để thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc khởi tố vụ án hình sự, VKS phải nắm vững các tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan,

tổ chức chuyển đến; đồng thời kiểm sát chặt chẽ việc xác minh, giải quyết của cơ quan điều tra theo quy định của BLTTHS Không nắm đầy đủ và buông lỏng trách nhiệm của VKS trong việc giải quyết của CQĐT đối với các tố giác, tin báo về tội phạm, tất yếu VKS sẽ thụ động, phụ thuộc vào CQĐT, thiếu cơ sở vững chăc để THQCT ngay từ khi khởi tố vụ án, tiềm

ẩn nguy cơ bỏ lọt tội phạm và người phạm tội

VKS phải nắm vững pháp luật hình sự, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm, nắm vững thủ tục, thẩm quyền, thủ tục của việc khởi tố, bảo đảm việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự có căn cứ pháp luật

Trang 35

Đối với các tội phạm được quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105,

106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự, ngoài dấu hiệu tội phạm là căn cứ quyết định khởi tố vụ án hình sự, còn phải có yêu cầu khởi tố của người bị hại Trong quá trình điều tra, nếu người bị hại rút yêu cầu khởi tố thì đương nhiên không đủ căn cứ tiếp tục tiến hành

tố tụng đối với vụ án, có nghĩa vụ án phải được đình chỉ chấm dứt mọi hoạt động tố tụng, trừ trường hợp quy định tại Điều 105 BLTTHS

Về thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc khởi tố

vi phạm tội để tiến hành điều tra, nhằm sáng tỏ lỗi của người đó trong việc thực hiện tội phạm và các tình tiết theo quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự

Toàn bộ những thủ tục liên quan đến khởi tố bị can quy định tại các Điều 126 và Điều 127 BLTTHS năm 2003

Theo quy định tại Điều 126 của BLTTHS thì thẩm quyền khởi tố bị can chủ yếu thuộc về CQĐT VKS có trách nhiệm xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của CQĐT Trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện tội phạm mà CQĐT chưa khởi tố thì VKS phải yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can Sau khi CQĐT đã có kết luận điều tra chuyển hồ sơ sang VKS mà phát hiện được có người khác thực hiện tội phạm chưa được khởi tố thì VKS ra quyết định khởi tố bị can và gửi quyết định đó cho CQĐT để tiến hành điều tra

Trang 36

- Như vậy, trách nhiệm công tố của VKS trong hoạt động khởi tố bị can, tức là xác minh tính có căn cứ và hợp pháp của các tài liệu, chứng cứ để thực hiện tốt việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; hủy bỏ quyết định khởi

tố bị can của CQĐT; yêu cầu CQĐT khởi tố bị can hoặc tự mình quyết định khởi tố bị can chuyển cho CQĐT tiến hành điều tra nhằm bảo đảm bất cứ người thực hiện hành vi phạm tội nào, nếu không có những căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự, đều phải bị khởi tố bị can để tiến hành điều tra, xử lý trước pháp luật; đồng thời, bảo đảm các quyết định khởi tố bị can đều có căn

cứ và hợp pháp

Về nguyên tắc, CQĐT chỉ được ra quyết định khởi tố bị can sau khi đã

ra quyết định khởi tố vụ án hình sự Trong trường hợp phạm tội quả tang mà người phạm tội có đầy đủ các điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự thì ngay sau khi khởi tố vụ án có thể ra ngay quyết định khởi tố bị can Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc bị can còn có hành vi phạm tội khác thì CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can

Theo quy định tại khoản 4 Điều 126 của BLTTHS năm 2003 thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, CQĐT phải gửi các quyết định này kèm theo các tài liệu có liên quan cho VKS cùng cấp để xét phê chuẩn Sau khi nhận được quyết định khởi tố bị can của CQĐT hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS phải khẩn trương kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can trên cơ sở nghiên cứu, kiểm tra các văn bản, tài liệu có trong hồ sơ vụ án

Sau khi tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố bị can, nếu thấy quyết định khởi tố bị can của CQĐT có căn cứ và hợp pháp thì VKS ra quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và gửi quyết định đó cho cơ quan đã khởi tố Nếu thấy chưa rõ căn cứ xác định bị can

Trang 37

phạm tội thì VKS phải yêu cầu cơ quan đã khởi tố bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ căn cứ khởi tố

Trong trường hợp cần thiết, để xác minh, làm rõ căn cứ và tính hợp pháp của việc khởi tố bị can, VKS có thể hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại trước khi quyết định việc phê chuẩn hay hủy bỏ quyết định khởi tố bị can

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và qua kiểm tra, xác minh, nếu thấy ngoài

bị can đã bị khởi tố còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ

án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó; trong trường hợp sau khi nhận hồ

sơ và kết luận điều tra mà phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án mà chưa bị khởi tố thì VKS quyết định khởi tố bị can và chuyển cho CQĐT để tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 5 Điều 126 của BLTTHS

Trong trường hợp bị can đã bị tạm giữ nhưng hết thời hạn tạm giữ vẫn không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với người đang bị tạm giữ thì VKS phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can và yêu cầu cơ quan đã khởi tố bị can trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trong quá trình xem xét, giải quyết vụ án, nếu thấy hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố mà phạm vào tội khác hoặc còn

có hành vi phạm tội khác với tội danh đã khởi tố thì VKS phải yêu cầu CQĐT

ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can hoặc VKS trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tại khoản 2 Điều

127 của BLTTHS

Trang 38

Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc

bổ sung quyết định khởi tố bị can của CQĐT, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can

và gửi cho CQĐT Trường hợp CQĐT thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi

tố bị can thì VKS phải yêu cầu CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự [48, tr.43]

Như vậy, có thể khẳng định rằng việc thực hiện tốt việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can có ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện tốt hoạt động điều tra để kịp thời đưa ra đường lối xử lý tội phạm nhằm bảo đảm mọi tội phạm

đã phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và hợp pháp; đồng thời, cũng bảo đảm tránh được những sai sót, có thể dẫn đến làm oan người vô tội

Về thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc đề ra yêu cầu điều tra

Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng quan trọng trong THQCT của VKS, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 112 của BLTTHS 2003

Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng do KSV tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm xác định sự thật khách quan của vụ án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, bảo đảm việc điều tra vụ án tuân thủ các quy định của pháp luật

Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do KSV THQCT trong giai đoạn điều tra ban hành, nêu rõ những vấn đề cần phải điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật

Trang 39

Yêu cầu điều tra có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản được thực hiện ngay từ khi CQĐT tiến hành các biện pháp điều tra công khai theo quy định của BLTTHS, trong suốt quá trình kiểm sát điều tra, trả hồ sơ để điều tra bổ sung Người đề ra yêu cầu điều tra có thể là KSV hoặc lãnh đạo VKS (Viện trưởng, Phó viện trưởng) KSV chủ động trao đổi với ĐTV về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi kiểm sát việc khởi tố vụ án, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trong quá trình điều tra Yêu cầu điều tra bằng văn bản được thực hiện có thể ngay lần đầu tiên, trong giai đoạn kiểm sát tố giác, tin báo về tội phạm; hoặc trong trường hợp VKS đã trao đổi nhiều lần nhưng không được CQĐT thực hiện hoặc trong trường hợp VKS trả hồ sơ điều tra bổ sung Yêu cầu điều tra bằng văn bản phải do lãnh đạo đơn vị kiểm sát xem xét, quyết định trên cơ sở báo cáo đề xuất của KSV

CQĐT, ĐTV có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu điều tra của VKS, của KSV; nếu không thực hiện được thì trong yêu cầu điều tra tiếp theo cần nêu rõ những tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án để lý giải về căn cứ, luận điểm vì sao phải điều tra Nếu cơ quan điều tra không thực hiện những yêu cầu điều tra thì VKS yêu cầu CQĐT nêu rõ lý do trong bản kết luận điều tra

Về thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra khi cần thiết

Theo quy định của BLTTHS năm 2003 Viện kiểm sát có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra như: hỏi người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, lời khai bị hại cũng nhằm mục đích chứng minh tội phạm, nhưng chủ yếu là để kiểm tra, thẩm định và củng cố tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xem có đủ căn cứ cho việc ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát (như phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, ra quyết định truy tố ) Do đó, khi tiến hành một số hoạt động điều tra mà phát hiện có

Trang 40

tội phạm mới, người phạm tội chưa được khởi tố và điều tra (khi hỏi cung

bị can khai ra đồng phạm chưa được khởi tố)

VKS có thể tiến hành một số hoạt động điều tra bất kỳ thời điểm nào của giai đoạn điều tra hoặc sau khi nghiên cứu hồ sơ do CQĐT chuyển sang

đề nghị truy tố; cụ thể thường được thực hiện trong các trường hợp sau:

- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: qua nghiên cứu, kiểm tra tài liệu, chứng cứ sau khi kết thúc điều tra còn thấy thiếu căn cứ để ra các quyết định

tố tụng thuộc thẩm quyền;

- Khi xét phê chuẩn các quyết định của CQĐT, như phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, phê chuẩn lệnh tạm giam ;

- Khi có đề nghị của CQĐT hoặc qua kiểm sát việc hỏi cung bị can thấy có dấu hiệu oan, những người tham gia tố tụng khiếu nại về việc điều tra không khách quan;

- Có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực trong lời khai của bị can, người bị hại, người làm chứng, hoặc có sự mâu thuẫn giữa các lời khai đó, cần thiết đối chất giữa các bị can, giữa bị can với bị hại, giữa người làm chứng về cùng một tình tiết quan trọng của vụ án;

- Sau khi kết thúc điều tra, thấy có mâu thuẫn giữa các lời khai với thực

tế khách quan, cần thiết phải thực nghiệm điều tra lại đối với những hành vi, tình huống đơn giản mà qua thực nghiệm tại chỗ, có thể kết luận được để kiểm tra chứng cứ

Trường hợp phức tạp thì phải chuyển hồ sơ cho CQĐT thực nghiệm điều tra và VKS phải kiểm sát hoạt này của CQĐT

Về thẩm quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc yêu cầu Thủ trưởng điều tra thay đổi Điều tra viên

ĐTV là người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra, là nhân vật

Ngày đăng: 15/06/2016, 13:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Mai Bộ (2007), "Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về những biện pháp ngăn chặn", Kiểm sát, (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về những biện pháp ngăn chặn
Tác giả: Mai Bộ
Năm: 2007
3. Lê Cảm (2001)“Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố"”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay
4. Lê Cảm (2001), "Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố (nhìn từ góc độ nhà nước pháp quyền", Khoa học pháp lý, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố (nhìn từ góc độ nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
5. Cao Việt Cường (2013) "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân", Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
6. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2013), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
7. Đào Hữu Dân (2005), “Những đặc trưng cơ bản của mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự”, Công an nhân dân, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng cơ bản của mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự”, "Công an nhân dân
Tác giả: Đào Hữu Dân
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị (khỏa IX) về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị (khỏa IX) về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 79/KL-TW ngày 28/7 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
16. Trần Văn Độ (1999), "Một số về quyền công tố", Kỷ yếu đề tài cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số về quyền công tố
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 1999
17. Đỗ Văn Đương (năm 1999), “ Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đế lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm, đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: "Những vấn đế lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
18. Vương Ngọc Hà (2011), "Những yếu tố trong phong tục, tập quán của các dân tộc ít người chi phối đến hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm ở Hà Giang", Kiểm sát, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố trong phong tục, tập quán của các dân tộc ít người chi phối đến hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm ở Hà Giang
Tác giả: Vương Ngọc Hà
Năm: 2011
19. Lương Thúy Hà (2012), "Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta", Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong cải cách tư pháp ở nước ta
Tác giả: Lương Thúy Hà
Năm: 2012
20. Phạm Hồng Hải (1999), “Bàn về quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt nam từ 1945 đến nay, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố”, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ: "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt nam từ 1945 đến nay
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 1999
22. Phạm Mạnh Hùng (2002), "Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra, hạn chế việc đình chỉ vì bị can không phạm tội, khắc phục việc đình chỉ sai", Kiểm sát, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra, hạn chế việc đình chỉ vì bị can không phạm tội, khắc phục việc đình chỉ sai
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra - Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hà giang   một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 2.1. Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự ở giai đoạn điều tra (Trang 67)
Bảng 2.2. Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ở giai đoạn truy tố - Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hà giang   một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 2.2. Kết quả thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự ở giai đoạn truy tố (Trang 69)
Bảng 2.3. Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung cho CQĐT - Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hà giang   một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 2.3. Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung cho CQĐT (Trang 71)
Bảng 2.4. Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát - Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự có bị can là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh hà giang   một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 2.4. Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w