MỤC LỤC MỞ ĐẦU 2 1. Tính cấp thiết của đề tài 2 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2 3. Mục địch nghiên cứu 2 4. Bố cục bài tiểu luận 3 CHƯƠNG I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUI ĐỊNH HỢP ĐỒNG 4 1.1. Khái niệm và nội dung qui định hợp đồng 4 1.1.1. Khái niệm hợp đồng 4 1.1.2. Nội dung qui định hợp đồng 5 CHƯƠNG II. HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUI ĐỊNH HỢP ĐỒNG 7 2.1. Hình thức 7 2.2. Nội dung các điều khoản 9 2.3. Phân loại 10 2.4. Thời điểm có hiệu lực 13 2.5. Giao kết hợp đồng 14 2.5.1. Nguyên tắc giao kết 14 2.5.2. Trình tự giao kết 14 2.5.3. Đề nghị giao kết 15 2.5.4. Chấp nhận đề nghị 16 2.6. Thực hiện giao kết 17 2.6.1. Thực hiên hợp đồng 18 2.6.2. Nội dung thực hiện 19 2.6.3. Sửa đổi hợp đồng 19 2.6.4. Chấm dứt hợp đồng 20 KẾT LUẬN 21 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong pháp luật của các nước phát triển phương Tây (còn gọi là các nước tư sản), chế định hợp đồng được coi là một chế định hoàn thiện và ít mang dấu ấn chính trị nhất. Trong chế định này, tự do hợp đồng được khẳng định như một nguyên tắc chủ yếu trong các giao dịch dân sự, thương mại, toàn bộ chế định hợp đồng được xây dựng trên nền tảng của tự do, bình đẳng. Có thể nói đó là chế định pháp luật có tính nhất thể hóa cao trong pháp luật tư sản. Trong hệ thống pháp luật của các nước Xã hội chủ nghĩa, chế định hợp đồng cũng là một chế định cơ bản bên cạnh các chế định quyền sở hữu, quyền thừa kế…. Ở Việt Nam, các bộ cổ luật đã từng tồn tại trước đây như Luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long không có quy định riêng về hợp đồng dân sự mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau. Qua quá trình phát triển, cùng với sự phát triển của pháp luật dân sự nói chung, chế định về hợp đồng dân sự ngày càng được xem là một chế định có vai trò trung tâm, cơ bản trong pháp luật dân sự. Trong Bộ luật dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chế định về hợp đồng dân sự đã được khẳng định với 205 điều trên tổng số 777 điều luật (từ Điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất (từ điều 693 đến điều 732). Điều đó chứng tỏ chế định hợp đồng dân sự đóng vai trò rất quan trọng. Chế định này tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự, các hợp đồng dân sự thông dụng. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các nội dung của hợp đồng thuê tài sản được quy định trong BLDS hiện hành BLDS. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu được phân tích từ BLDS 2005 và 2015. 3. Mục địch nghiên cứu Nghiên cứu lý luận chung về nội dung hợp đồng, lịch sử hình thành chế định hợp đồng, trình tự giao kết hợp đồng. So sánh quy định giữa Bộ luật dân sự 2005 với Bộ luật dân sự 2015 về nội dung hợp đồng. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về quy định hợp đồng. 4. Bố cục bài tiểu luận Ngoài 2 phần mở bài, kết luận, em chia thành 2 phần chính như sau: + Chương 1: Khái quát chung về qui định hợp đồng. + Chương 2: Hình thức và nội dung cơ bản của qui định hợp đồng.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Tính cấp thiết của đề tài 2
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục địch nghiên cứu 2
4 Bố cục bài tiểu luận 3
CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUI ĐỊNH HỢP ĐỒNG 4
1.1 Khái niệm và nội dung qui định hợp đồng 4
1.1.1 Khái niệm hợp đồng 4 1.1.2 Nội dung qui định hợp đồng5 CHƯƠNG II HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUI ĐỊNH HỢP ĐỒNG 7
2.1 Hình thức 7
2.2 Nội dung các điều khoản 9
2.3 Phân loại 10
2.4 Thời điểm có hiệu lực 13
2.5 Giao kết hợp đồng 14
2.5.1 Nguyên tắc giao kết 14 2.5.2 Trình tự giao kết 14 2.5.3 Đề nghị giao kết 15 2.5.4 Chấp nhận đề nghị 16 2.6 Thực hiện giao kết 17
2.6.1 Thực hiên hợp đồng 18 2.6.2 Nội dung thực hiện 19 2.6.3 Sửa đổi hợp đồng 19 2.6.4 Chấm dứt hợp đồng 20 KẾT LUẬN 21
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong pháp luật của các nước phát triển phương Tây (còn gọi là các nước tưsản), chế định hợp đồng được coi là một chế định hoàn thiện và ít mang dấu ấn chínhtrị nhất Trong chế định này, tự do hợp đồng được khẳng định như một nguyên tắc chủyếu trong các giao dịch dân sự, thương mại, toàn bộ chế định hợp đồng được xây dựngtrên nền tảng của tự do, bình đẳng Có thể nói đó là chế định pháp luật có tính nhất thểhóa cao trong pháp luật tư sản Trong hệ thống pháp luật của các nước Xã hội chủnghĩa, chế định hợp đồng cũng là một chế định cơ bản bên cạnh các chế định quyền sởhữu, quyền thừa kế…
Ở Việt Nam, các bộ cổ luật đã từng tồn tại trước đây như Luật Hồng Đức, Bộluật Gia Long không có quy định riêng về hợp đồng dân sự mặc dù trong thực tế hìnhthành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau Qua quá trình phát triển,cùng với sự phát triển của pháp luật dân sự nói chung, chế định về hợp đồng dân sựngày càng được xem là một chế định có vai trò trung tâm, cơ bản trong pháp luật dânsự
Trong Bộ luật dân sự năm 2005 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,chế định về hợp đồng dân sự đã được khẳng định với 205 điều trên tổng số 777 điềuluật (từ Điều 388 đến điều 593) đó là chưa kể đến 45 điều quy định về các hợp đồngliên quan đến quyền sử dụng đất (từ điều 693 đến điều 732) Điều đó chứng tỏ chế địnhhợp đồng dân sự đóng vai trò rất quan trọng Chế định này tập trung làm rõ các vấn đềliên quan đến việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự, các hợp đồng dân sự thôngdụng
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các nội dung của hợp đồng thuê tàisản được quy định trong BLDS hiện hành BLDS
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu được phân tích từ BLDS 2005 và 2015
3 Mục địch nghiên cứu
Trang 3- Nghiên cứu lý luận chung về nội dung hợp đồng, lịch sử hình thành chế địnhhợp đồng, trình tự giao kết hợp đồng.
- So sánh quy định giữa Bộ luật dân sự 2005 với Bộ luật dân sự 2015 về nộidung hợp đồng
- Kiến nghị hoàn thiện các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về quy định hợpđồng
4 Bố cục bài tiểu luận
Ngoài 2 phần mở bài, kết luận, em chia thành 2 phần chính như sau:
+ Chương 1: Khái quát chung về qui định hợp đồng.
+ Chương 2: Hình thức và nội dung cơ bản của qui định hợp đồng.
Trang 4CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUI ĐỊNH HỢP ĐỒNG
1.1 Khái niệm và nội dung qui định hợp đồng
1.1.1 Khái niệm hợp đồng
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập,thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể Dù đượchình thành trong lĩnh vực quan hệ xã hội nào thì hợp đồng luôn có những điểm chungsau đây:
Yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự ưngthuận giữa các bên với nhau Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý.Nguyên tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bênđược tự do quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ củacác bên Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối Nhà nước buộccác bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng
Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhànước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kếthợp đồng Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luậtquy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, vi phạm quyền tự do hợp đồng Trong nềnkinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng được đề cao Tất
cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận Tuy nhiên không thể suy luận ngược lại: Mọi sựthỏa thuận của các bên đều là hợp đồng Chỉ được coi là hợp đồng những thỏa thuậnthực sự phù hợp với ý chí của các bên, tức là có sự ưng thuận đích thực giữa các bên.Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự ưng thuậnhợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức Các hợp đồng được giao kết dưới tácđộng của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích thực.Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũngkhông được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng Như vậy, một sự thỏathuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các quyền và nghĩa vụpháp lý của các bên
Trang 51.1.2 Nội dung qui định hợp đồng
Tính thỏa thuận: Hợp đồng dân sự trước hết phải là một thỏa thuận có nghĩa là
hợp đồng phải chứa đựng yếu tố tự nguyện khi giao kết nó phải có sự trùng hợp ý chícủa các bên Việc giao kết hợp đồng dân sự phải tuân theo các nguyên tắc tự nguyện,bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng, tự do giao kết hợp đồng, nhưngkhông được trái pháp luật và đạo đức xã hội Yếu tố thỏa thuận đã bao hàm trong nóyếu tố tự nguyện, tự định đoạt và sự t hống nhất về mặt ý chí Đây là yếu tố quantrọng nhất tạo nên sự đặc trưng của hợp đồng so với các giao dịch dân sự khác, đây
cũng là yếu tố làm nên bản chất của Luật dân sự so với các ngành luật khác.
Thỏa thuận theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là: Đi tới sự đồng ý sau khi cânnhắc, thảo luận được thể hiện ở chỗ không có một ý kiến đối lập của bất cứ một bộphận nào trong số các bên liên quan đối với những vấn đề quan trọng và thể hiện thôngqua một quá trình mà mọi quan điểm của các bên liên quan đều phải được xem xét vàdung hoà được tất cả các tranh chấp; là việc các bên (cá nhân hay tổ chức) có ý địnhchung tự nguyện cùng nhau thực hiện những nghĩa vụ mà họ đã cùng nhau chấp nhận
vì lợi ích của các bên Sự đồng tình tự nguyện này có thể chỉ được tuyên bố miệng vàđược gọi là thoả thuận quân tử (hợp đồng quân tử) hay được viết thành văn bản gọi làhợp đồng viết hay hợp đồng thành văn Tuỳ theo từng trường hợp được gọi là hợp đồnghay hiệp định; vd hiệp định mua bán, hợp đồng đại lí
Về chủ thể tham gia hợp đồng dân sự: Chủ thể giao kết, thực hiện hợp đồng dân
sự phải có ít nhất từ hai bên trở lên, vì hợp đồng dân sự là một giao dịch pháp lý songphương hay đa phương Các chủ thể khi giao kết, thực hiện hợp đồng đều phải có tưcách chủ thể tức là phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với mộtchủ thể của quan hệ dân sự (ví dụ: nếu chủ thể là cá nhân thì phải đáp ứng được cácyêu cầu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự…);
Mục đích hướng tới : Của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Quyền và nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng cóphạm vi rất rộng, trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự ngày 29-4-1991 (Điều 1)quy định hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hay
Trang 6chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, chotài sản, làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong
đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền vànghĩa vụ dân sự cụ thể đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ mà các bênhướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những quyền và nghĩa vụ để đáp ứng,thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng, đó cũng chính là một trong những đặcđiểm cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng dân sự và các hợp đồng kinh tế, thương mại.Yếu tố này giúp phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế:
Mục đích của hợp đồng kinh tế khi các bên chủ thể tham gia là mục đích kinhdoanh (nhằm phát sinh lợi nhuận) trong khi đó hợp đồng dân sự các bên tham gia nhằmthỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.Chủ thể tham gia hợp đồng kinh tế phải là cácthương nhân, các công ty, đơn vị kinh doanh (nếu chủ thể là cá nhân thì phải có đăng
ký kinh doanh)
Qua đó khái quát được khái niệm nội dung cơ bản của hợp đồng.ý nghĩa hợpđồng vô cũng quan trọng trong các hoạt động kinh doanh Hướng tới các giao kết chấpthuận giữa hai bên chủ thể.mang tính chất thương mại, xác lập mối quan hệ với các bênliên quan trong hợp đồng với các nội dung qui định chung trong bộ luật dân sự đề ra
Trang 7CHƯƠNG II HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUI ĐỊNH HỢP
ĐỒNG 2.1 Hình thức
Hình thức của hợp đồng dân sự là cách thức biểu hiện ra bên ngoài của nhữngnội dung của nó dưới một dạng vật chất hữu hình nhất định Theo đó, những điềukhoản mà các bên đã cam kết thỏa thuận phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hìnhthức nhất định, hay nói cách khác hình thức của hợp đồng là phương tiện để ghi nhậnnội dung mà các chủ thể đã xác định Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợpđồng cũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọnmột hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng tùy từng trường hợp cụ thể
Điều 401 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định về hình thức hợp đồngdân sự như sau: " Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bảnhoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải đượcgiao kết bằng một hình thức nhất định
Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng vănbản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo cácquy định đó.Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừtrường hợp pháp luật có quy định khác".Từ quy định trên có thể thấy hình thức của hợpđồng dân sự rất đa dạng, phong phú, tựu trung lại thì hình thức của hợp đồng dân sự cómấy dạng sau đây:
Hình thức miệng (bằng lời nói): Thông qua hình thức này các bên chỉ cần thỏa
thuận miệng với nhau về những nội dung cơ bản của hợp đồng Hình thức này thườngđược áp dụng đối với những trường hợp các bên đã có độ tin tưởng lẫn nhau hoặc cácđối tác lâu năm hoặc là những hợp đồng mà sau khi giao kết, thực hiện sẽ chấm dứt Ví
dụ bạn thân cho mượn tiền, hay đi mua đồ ở chợ…
Hình thức viết (bằng văn bản): Các cam kết của các bên trong hợp đồng sẽ đượcghi nhận lại bằng một văn bản Trong văn bản đó các bên phải ghi đầy đủ những nội
Trang 8dung cơ bản của hợp đồng và cùng kí tên xác nhận vào văn bản, thông thường hợpđồng được lập thành nhiều bản và mỗi bên giữ một bản.
Căn cứ vào văn bản hợp đồng các bên dễ dàng thực hiện quyền của mình vàthực hiện quyền yêu cầu của mình đối với bên kia vì vậy bản hợp đồng đó coi như làmột bằng chứng, chứng minh quyền dân sự của mình Khi có tranh chấp, hợp đồngđược giao kết bằng hình thức văn bản tạo ra chứng cứ pháp lý vững chắc hơn so vớihình thức miệng vì vậy trong thực tế những giao dịch quan trọng, có giá trị lớn hoặcnhững giao dịch có tính "nhạy cảm" đối với những đối tượng và người giao kết "nhạycảm" thì nên thực hiện bằng hình thức văn bản và tốt nhất là nên có công chứng nếu cóđiều kiện
Hình thức có công chứng, chứng thực: Hình thức này áp dụng cho những hợpđồng có tính chất phức tạp, dễ xảy ra tranh chấp và đối tượng của hợp đồng là nhữngtài sản mà nhà nước quản lý, kiểm soát thì khi giao kết các bên phải lập thành văn bản
có Công chứng hoặc chứng thực của Cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền tronglĩnh vực này Hợp đồng được lập ra theo hình thức này có giá trị chứng cứ (để chứngminh) cao nhất Hợp đồng loại này có giá trị chứng cứ cao nhất chứ không phải có giátrị cao nhất vì các hợp đồng được lập ra một cách hợp pháp thì đều có giá trị pháp lýnhư nhau
Ví dụ: Hợp đồng tặng cho bất động sản (Điều 467 Bộ luật dân sự Việt Nam năm2005) quy định: "Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng,chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng
ký quyền sở hữu Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký;nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực
kể từ thời điểm chuyển giao tài sản"
Hình thức khác: Ngoài những hình thức nói trên, hợp đồng có thể thực hiện
bằng các hình thức khác như bằng các hành vi (ra hiệu, ra giấu bằng cử chỉ cơ thể…)miễn là những hành vi đó phải chứa đựng thông tin cho bên kia hiểu và thoả thuận giaokết trên thực tế.Cần lưu ý là đối với những hợp đồng dân sự mà pháp luật bắt buộc phảigiao kết theo một hình thức nhất định (thông thường là hình thức văn bản có Công
Trang 9chứng, chứng thực) thì các bên phải tuân theo những hình thức đó, ngoài ra thì các bên
có thể tự do lựa chọn một trong các hình thức nói trên để giao kết, tuy nhiên đối vớinhững hợp đồng mà pháp luật không yêu cầu phải lập theo hình thức văn bản có côngchứng nhưng để quyền lợi của mình được bảo đảm thì các bên vẫn có thể chọn hìnhthức này để giao kết hợp đồng
2.2 Nội dung các điều khoản
Nội dung cơ bản của hợp đồng dân sự là tổng hợp những điều khoản mà các chủthể tham gia hợp đồng đã thỏa thuận Các điều khoản đó xác định những quyền vànghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên trong hợp đồng Đây cũng chính là điều khoản cầnphải có trong một hợp đồng
Ví dụ: Điều 402 Bộ luật dân sự 2005 quy định về nội dung của hợp đồng dân
sự như sau: "Tuỳ theo từng loại hợp đồng, các bên có thể thoả thuận về những nội dungsau đây:
Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc khôngđược làm: Số lượng, chất lượng; Giá, phương thức thanh toán; Thời hạn, địa điểm,phương thức thực hiện hợp đồng; Quyền, nghĩa vụ của các bên; Trách nhiệm do viphạm hợp đồng; Phạt vi phạm hợp đồng;Các nội dung khác"
Trong tất cả các điều khoản nói trên, có những điều khoản mà trong hợp đồngnày các bên không cần phải thỏa thuận nhưng trong một hợp đồng khác các bên buộcphải thỏa thuận thì hợp đồng mới được coi là giao kết Mặt khác, ngoài những nội dung
cụ thể này các bên còn có thể thỏa thuận xác định với nhau thêm một số nội dung khác
Vì vậy có thể phân chia các điều khoản trong nội dung của hợp đồng thành ba loại sauđây:
Những điều khoản cơ bản: Là những điều khoản xác định nội dung chủ yếu
của hợp đồng, là những điều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng.Nếu không thể thỏa thuận được về những điều khoản đó thì xem như hợp đồng khôngthể giao kết được Ví dụ: điều khoản về đối tượng của hợp đồng, giá cả, địa điểm, cáchthức thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ… Ngoài ra có những điều khoản vốn dĩ khôngphải là điều khoản cơ bản nhưng các bên thấy cần phải thỏa thuận được những điều
Trang 10khoản đó mới giao kết hợp đồng thì những điều khoản này cũng là những điều khoản
cơ bản của hợp đồng sẽ giao kết
Những điều khoản thông thường (phổ thông): Là những điều khoản được
pháp luật quy định trước Nếu khi giao kết hợp đồng, các bên không thỏa thuận trướcnhững điều khoản này thì vẫn coi như hai bên đã mặc nhiên thỏa thuận và được thựchiện như pháp luật đã quy định Ví dụ: địa điểm giao tài sản là động sản trong hợpđồng mua bán tài sản là tại nơi cư trú của người mua nếu trong hợp đồng các bênkhông thỏa thuận về địa điểm giao tài sản nếu như trong hợp đồng có thỏa thuận thìthực hiện theo thỏa thuận)
Những điều khoản tùy nghi: Là những điều khoản mà các bên tham gia giao
kết hợp đồng tự ý lựa chọn và thỏa thuận với nhau để xác định quyền và nghĩa vụ dân
Các loại điều khoản trong hợp đồng có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy từng trườnghợp và một điều khoản trong hợp đồng có thể là điều khoản cơ bản, có thể là điềukhoản thông thường nhưng cũng có thể là điều khoản tùy nghi Ví dụ: điều khoản vềđịa điểm giao hàng sẽ là điều khoản cơ bản của hợp đồng nếu khi giao kết các bên cóthỏa thuận cụ thể về nơi giao hàng nhưng nó sẽ là điều khoản thông thường nếu cácbên không có thỏa thuận (vì điều khoản đó sẽ mặc nhiên được thừa nhận và thực hiệntheo quy định của pháp luật), mặt khác địa điểm giao hàng sẽ là điều khoản tùy nghinếu các bên có thỏa thuận cho phép bên có nghĩa vụ được lựa chọn một trong nhiều nơi
để thực hiện nghĩa vụ giao hàng
2.3 Phân loại