Hơn nữa, quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, ch
Trang 1Lời mở đầu ……… 1
I Sơ lược lịch sử vấn đề………1
II Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền lập di chúc chung của vợ chồng……….……….……….2 III Những bất cập trong quy định của pháp luật về di chúc chung của
vợ chồng……… ……… 3 III.1 Về quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung
của vợ chồng.……….…….… 4
III.2 Về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng … ………6
III.2.1 Xét về thời điểm có hiệu lực của di chúc……… 7 III.2.2 Về di sản thừa kế chưa chia……….………9 III.2.3 Quy định tại điều 668 BLDS được điều chỉnh nhằm bình ổn quan
hệ xã hội, nhưng lại không lường hết mọi vấn đề, để lại nhiều vướng mắc ……… ……10
III.2.3.1 Việc xác định di chúc chung có hiệu lực vào thời điểm bên sau cùng chết sẽ làm ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản của người chết trước ……… ………… 10 III.2.3.2 Gây khó khăn cho việc xác định phạm vi những người thừa kế và
tư cách của người được thừa hưởng di sản……….11
III.2.3.3 Ảnh hưởng đến sự bảo toàn giá trị của khối di sản là tài sản chung……… 12 III.2.3.4 Quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung như luật hiện hành sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay chồng chết trước……… 12 III.2.3.5 Lợi ích của các chủ nợ sẽ bị xâm phạm……… ………13 III.2.3.6 Việc phải chia thừa kế nhiều lần đối với di sản của người vợ hay chồng chết trước cho cả các cơ quan tiến hành tố tụng……… 14
IV Những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền lập di chúc chung của vợ chồng………14
IV.1 Về quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của
……….14
IV.2 Về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng…….…… 15
Trang 2Kết luận……… 16
Trang 3Lời mở đầu
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, tài sản của vợ chồng
là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất Dựa trên cơ sở quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, theo đó nếu tài sản là tài sản chung của
vợ chồng thì "vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung" (khoản 1 điều 28 BLDS 2005) Một trong số những quy định của pháp luật cho phép vợ chồng thực hiện quyền
và nghĩa vụ ngang nhau là quyền lập di chúc chung Tuy nhiên, dưới góc độ
lý luận và thực tiễn, pháp luật Việt Nam hiện hành còn khá nhiều điểm bất cập cần phải xem xét
I Sơ lược lịch sử vấn đề.
Xem xét trong Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì không thấy có quy định về vấn đề này Đối chiếu với Luật La Mã cũng như Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp thì thấy họ cũng không thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ - chồng
Tuy vậy, việc lập di chúc chung của vợ - chồng lại được thừa nhận trong tục lệ của ta từ lâu Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là hình thức di chúc thông dụng và việc vợ - chồng cùng nhau lập di chúc chung, là hiện tượng phổ biến thời bấy giờ Hơn nữa, quan niệm truyền thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến khích việc vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung, và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương giữa vợ - chồng
Luật thực định thời cận đại cũng đã bắt đầu ủng hộ giải pháp mang tính luân lý đó Nghiên cứu các Bộ Dân luật của các chế độ trước, thì thấy các Bộ Dân luật Bắc và Dân luật Trung đều thừa nhận quyền lập di chúc
Trang 4chung của vợ - chồng Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 cũng cho phép vợ - chồng cùng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung
chúc chung của vợ chồng
Pháp luật hiện hành của Nhà nước ta cũng thừa nhận vợ, chồng có quyền lập di chúc chung Thông tư 81-TANDTC ngày 24/71981 đã từng nhắc đến di chúc chung của vợ, chồng Pháp lệnh Thừa kế 1990 tuy không trực tiếp qui định về di chúc chung của vợ, chồng, nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung5 Vấn đề di chúc chung của vợ, chồng được qui định khá rõ trong BLDS 1995 và BLDS 2005 6 Các qui định này trong BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi so với qui định của BLDS 1995 7 Mặc dù vậy, việc qui định về di chúc chung trong BLDS 2005 vẫn còn nhiều điểm thiếu sót, bất cập và chưa phù hợp với thực tế
Có thể nói, pháp luật cận đại và luật hiện hành Việt Nam thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ - chồng là thể hiện nguyên tắc củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình
Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005 quy định vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung Theo đó, Điều 663
BLDS 2005 quy định: "vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung"
Thông thường, di chúc do một cá nhân lập để định đoạt tài sản của bản thân mình sau khi chết Đây là hành vi pháp lí đơn phương được thực hiện theo quyết định của từng cá nhân Tuy nhiên, bộ luật dân sự 2005 quy định một trường hợp ngoại lệ: vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định tại điều 14 luật Hôn nhân và giai đình năm 1986: "tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề
Trang 5nghiệp và những thu nhập thực tế khác của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân, hoặc tài sản được tặng cho chung hoặc được thừa kế chung"
Quy định này lại một lần nữa được khẳng định trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Trên cơ sở xác định tài sản chung của vợ, chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất ( Điều 219 và 221) việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung phải dựa trên sự nhất trí của vợ, chồng, do đó,
vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đaọt tài sản chung Tuy nhiên, việc lập di chúc chung cũng phải dựa trên cơ sở tự nguyện , thống nhất ý chí của cả vợ, chồng Nếu vợ chồng không thống nhất được ý chí chung thì họ vẫn có thể lập di chúc riêng Mỗi người được quyền lập di chúc để định đoạt một nửa khối tài sản chung hợp nhất của vợ, chồng và những tài sản thuộc
sở hữu riêng của người đó
Quy định tại điều 663 BLDS 2005 xét về hình thức và nội dung hoàn toàn không có điều gì khác biệt so với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các đồng chủ sở hữu đối với tài sản chung được BLDS quy định Và đồng chủ sở hữu đối với tài sản, vợ và chồng có quyền tự định đoạt tài sản chung bằng cách lập di chúc chung
Đây là điểm rất tiến bộ của pháp luật Việt Nam hiện hành so với giai đoạn trước Trước đây, Pháp luật thừa kế (30/8/1990) có đề cập đến di chúc chungnhưng không đề cập đến di chúc chung của vợ chồng
" trong trường hợp di chuc sdo nhiều người lập chung, mà có người chết trước thì chỉ phần di chúc có liên quan đến tài sản của người chết trước có hiệu lực " (khoản 1 điều 23 pháp luật thừa kế 1990) Đồng thời nó cũng là một điẻm rất tiến bộ của pháp luật, phù hợp với sự phát triển của các quan
hệ trong xã hội
III Những bất cập trong quy định của pháp luật về di chúc chung của
vợ chồng
Trang 6III.1 Về quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của
vợ chồng
Điều 664 BLDS 2005 quy định:
" 1 Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất
cứ lúc nào.
2 Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình."
Cũng như việc lập di chúc của một cá nhân, vợ chồng khi đã thống nhất ý chí lập di chúc để định đoạt tài sản chung thì thì họ cũng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào Một bên vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của bên kia Nếu một người đã chết thì người vợ hoặc người chồng còn sống chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình trong khối tài sản chung hợp nhất của vợ - chồng Khi đó di chúc đã có giá trị được thực hiện đối với phần tài sản của người vợ hoặc người chồng đã chết trước trong khối tài sản chung của vợ chồng Người còn sống chỉ có thể sửa đổi, bổ sung phần di chúc liên quan đến tài sản của người đó
Nếu cả hai vợ chồng đều đồng ý thì việc sửa đổi, bổ sung thay thế di chúc chung của vợ chồng được thực hiện đơn giản Tuy nhiên khoản 2 điều
644 BLDS 2005 chỉ điều chỉnh trường hợp người vợ hoặc người chồng sửa đổi, bổ sung di chúc sau khi một người đã chết
Theo khoản 1 Điều 664 BLDS thì vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đó bất cứ lúc nào Tuy nhiên, khoản 2 Điều 664 quy
Trang 7định việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người chết trước thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung, di chúc liên quan đến phần tài sản của mình Như vậy, trong trường hợp này, ý chí của người lập di chúc chung không thể độc lập trong việc định đoạt tài sản – kể cả phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng khi vợ hoặc chồng không đồng ý Điều này sẽ là một bất lợi lớn cho chủ sở hữu tài sản, vì bản chất của việc lập di chúc là nhằm thể hiện
ý chí của người có tài sản Quãng thời gian kể từ lúc di chúc được lập cho đến khi di chúc có hiệu lực tương đối dài, và trong thời gian đó sẽ có nhiều
sự kiện xảy ra tác động đến ý chí của người lập di chúc dẫn tới ý định thay đổi, bổ sung thậm chí hủy bỏ bản di chúc đó Trường hợp đạt được đồng thuận của vợ chồng để cùng thống nhất thì ý nguyện của họ sẽ đạt được Nhưng nếu không có sự đồng thuận thì sao? Điều đó sẽ cản trở ý chí của một bên đồng thời gây nên xung đột về quyền lợi giữa hai người, dẫn tới mâu thuẫn và căng thẳng trong quan hệ vợ chồng, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình
Về vấn đề này có một số quan điểm đưa ra để giải quyết như sau:
Thứ nhất, vì nội dung của điều luật quy định việc sửa đổi, bổ sung di
chúc chung của vợ chồng phải được sự đồng ý của cả hai vợ chồng nên nếu không có sự đồng thuận của cả hai vợ chồng thì không được sủa đổi bổ sung, thay thế di chúc chung Áp dụng quy định như vậy không bảo đảm quyền tự do định đoạt tài sản của chủ sở hữu
Thứ hai, cần áp dụng kết hợp điều 662 và điều 664 BLDS 2005 Nếu
có sự mâu thuẫn giữa phần định đoạt tài sản của người vợ, hoặc người chồng trong di chúc lập riêng thì sau di chúc chung với một phần của di chúc chung thì di chúc riêng của người vợ hoặc người chồng và phần định đoạt tài sản
Trang 8trong di chúc chung không bị sửa đổi sẽ có giá trị Nếu người vợ hoặc người chồng lập di chúc khác để định đoạt cho một nửa phần tài sản thuộc tài sản chung của vợ chồng (phần tài sản thuộc sở hữu của mình) thì di chúc riêng được lập sau này sẽ có giá trị Nếu người vợ hoặc người chồng còn lại không lập di chúc khác cho phần tài sản của mình thì di chúc riêng chỉ còn thể hiện
ý chí của một người, sẽ được coi là di chúc của người đó
Thứ ba, khi người vợ hoặc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc
chung của vợ chồng mà không được sự đồng ý của người kia, họ vẫn có quyền lập di chúc riêng định đoạt phần tài sản thuộc sở hữu của mình Di chúc chung sẽ mất giá trị pháp lí Nếu người chồng hoặc người vợ còn lại không lập di chúc khác định đoạt tài sản của mình thì phần tài sản của họ được chia thừa kế theo pháp luật
Đây là điểm không thuần nhất, chưa tìm được tiếng nói chung của pháp luật thừa kế Việt Nam hiện hành gây ra khá nhiều rắc rối cho quá trình phân chia di sản cũng như quá trình xét xử tranh chấp thừa kế của tòa Nguyên nhân là do đối với quan hệ xã hội về tài sản thì quy định khá phù hợp và có tính hiện đại nhưng lại chưa dự liệu hết các tình huống sảy ra trong muôn hình vạn trạng của cuộc sống Quy định này cần phải được cụ thể hóa hơn nữa trong luật trách gây phiền toái cho thực tiễn
III.2 Về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng
Theo điều 668 BLDS: "Di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực pháp luật từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết"
Ví dụ: Năm 2004, ông Nguyễn Văn A và bà Lê Thị C lập di chúc
chung của vợ chồng định đoạt số tài sản gồm nhà và đất Trong di chúc thể hiện đất chia thành 3 phần gắn với tài sản tọa lạc trên đất cho 3 người con trai là Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H (trong đó anh D và
Trang 9anh H ở xa, còn gia đình anh T sinh sống trên diện tích đất đó cùng với ông
A và bà C) năm 2005 ông A mất Năm 2006 anh D về yêu cầu chia tài sản thừa kế của ông A lúc này bà C nối đã có di chúc nên khi bà mất thì tài sản
đó mới được chia, còn hiện tại bà được quyền quản lí, sử dụng nhưng anh D không đồng ý và yêu cầu được về làm nhà ở như nội dung di chúc Quá trình hòa giải cơ sở không thành, anh D làm đơn khởi kiện chia tài sản thừa
kế tại Tòa án Tòa án xử lí đơn kiện theo hướng: trả lại đơn kiện theo điểm
d khoản 1 Điều 168 của bộ luật tố tụng dân sự với lí do chưa đủ điều kiện khởi kiện Bởi nếu chia tài sản thừa kế theo di chúc thì di chúc chưa có hiệu lực.
Trước đây, theo quy định tại điều 671 BLDS 1995, thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng được xác định theo phần Theo đó khi người vợ hoặc người chồng chết trước thì phần di chúc liên quan đến di sản bằng ½ khối tài sản chung và phần tài sản riêng của người đó có hiệu lực thi hành Còn lại phần di chúc liên quan đến tài sản riêng của người còn sống và
½ khối tài sản chung của vợ chồng vẫn thuộc sở hữu của người chồng hoặc người vợ còn sống, chưa có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên nếu vợ chồng cùng nhất trí thỏa thuận trong di chúc chung thời điểm di chúc chnug có hiệu lực thi hành là thời điểm người sau cùng chết thì di chúc có hiệu lực thi hành đối với di sản của người vợ hoặc người chồng đã chết trước là thời điểm vợ hoặc người chồng tạ thế sau này
Xác định hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng như vậy là khá phức tạp và sẽ mất đi ý nghĩa của việc lập di chúc chung của vợ chồng là lám bình ổn mối quan hệ gia đình
Tuy nhiên, quy định như bộ luật hiện hành cũng không phải là sự hoàn hảo, thậm trí còn mang theo nhiều bất cập
III.2.1 Xét về thời điểm có hiệu lực của di chúc
Trang 10Di chúc chỉ thi hành được từ thời điểm mở thừa kế, đó là thời điểm người để lại di sản chết hoặc được xác định là đã chết theo một bản án tuyên
bố người đó chết có hiệu lực pháp luật Theo quy định tại điều 668 BLDS, dường như các nhà làm luật chỉ chú tâm vào thời điểm có hiệu lực của di chúc chung đó mà không quan tâm đến tính hiện thực và nguyên tắc pháp luật thừa kế, đồng thời không có sự cá biệt hóa từng chủ thể là vợ hoặc chồng đã cùng lập di chúc chung
Theo quy định tại điều 668 BLDS thì di chúc do vợ chồng lập chung chỉ có hiệu lực thi hành tại thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm
vợ hoạc chồng cùng chết Trên thực tế một sự kiện phổ biến, thường xuyên xảy ra là đối với một cặp vợ chồng cụ thể nào đó lập di chúc chung nhưng sau đó hoặc người vợ chết trước hoặc người chồng chết trước thì việc chia di sản của người chết trước đó là do những người có quyền thừa kế yêu cầu, khi họ đã không thỏa thuận được và về mặt tâm lí những người thừa kế theo
di chúc cũng không thể chờ đợi lâu hơn, do việc hưởng di sản thôi thúc họ Hơn nữa người vợ hoặc người chồng của người chết trước tuổi có thể còn trẻ, theo quy luật của sự sống người này có thể còn sống tới 5 năm, 10 năm,
20 năm Với thời gian lâu như vậy, những người thừa kế theo di chúc liệu
có thể kiên trì chờ đợi được chăng? Hơn nữa, di sản thừa kế chưa được chia
do người sau cùng là vợ hoặc chồng chưa chết và do di chúc chung của vợ chồng chưa có hiệu lực thi hành, tài sản do người còn sống quản lí, có thể dẫn đến hậu quả gây lãng phí và có thể giảm giá trị bởi nhiều lí do không lường trước được Quan hệ thừa kế di sản là quan hệ tài sản mang tính ý chí, người thừa kế mong muốn được chia di sản nhưng lại bị ngăn chặn bởi quy định của pháp luật Quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng là quy định không phù hợp với thực tế đồng thời còn là quy định vi phạm nguyên tắc chung của luật thừa kế Với quy định