1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tim hieu cac vu viec phap luat ve dan su, thuong mai (vu an dien hinh)85

265 305 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 265
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do di chúc của cụ P không có hiệu lực pháp luật nên theo quy định tại Điều 678 BLDS năm 1995 phần di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P để lại sẽ được chia theo pháp luật cho những người thừa

Trang 1

1 2

BỘ TƯ PHÁP

VỤ PHỐ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

TÌM HIỂU CÁC VỤ VIỆC PHÁP LUẬT

VỀ DÂN SỰ, THƯƠNG MẠI

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

3 4

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN:

Nguyễn Thúy Hiền, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Trưởng Ban

chỉ đạo Đề án

TỔ CHỨC BIÊN SOẠN:

Nguyễn Duy Lãm, Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp

Phạm Thị Hòa, Phó Vụ trưởng Vụ PBGDPL, Bộ Tư pháp

THAM GIA BIÊN SOẠN:

1 ThS Nguyễn Thị Hạnh, Học viện Tư pháp

2 ThS Nguyễn Thị Hằng Nga, Học viện Tư pháp

Trang 3

5 6

LỜI GIỚI THIỆU

Ngày 27/02/2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết

định số 270/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án: “Củng cố, kiện

toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác

phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát

triển của đất nước” thuộc Chương trình phổ biến, giáo dục

pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm 2012 Một

trong các hoạt động của Đề án là cung cấp, hỗ trợ tài liệu

nghiệp vụ, tài liệu pháp luật cho các đối tượng của Đề án, góp

phần nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ

thực hiện công tác này trong thời kỳ mới

Nhằm đáp ứng nhu cầu về bồi dưỡng kiến thức pháp luật,

kỹ năng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật đối với những

người trực tiếp thực hiện công tác này, đặc biệt là đội ngũ báo

cáo viên pháp luật, Ban chỉ đạo Đề án tổ chức biên soạn và

phối hợp với Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản cuốn: “Tìm hiểu

các vụ việc pháp luật về dân sự, thương mại” Cuốn sách

cung cấp cho báo cáo viên các vụ việc pháp luật trong lĩnh

vực dân sự, kinh doanh thương mại đã và đang diễn ra phổ

biến trên thực tế như thừa kế, ly hôn, các hợp đồng thuê, hợp

Xin trân trọng giới thiệu và mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc về nội dung cuốn sách

Tháng 12/2012

Trang 4

7 8

CÁC VỤ VIỆC PHÁP LUẬT VỀ DÂN SỰ

Trang 5

Sinh thời các cụ sinh được 04 người con là ông Bùi Văn

T, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn Th, bà Bùi Thị M Ngoài ra,

các cụ không có người con riêng, con nuôi nào khác

Tài sản thuộc sở hữu chung của hai cụ khi còn sống gồm:

Diện tích nhà, đất 57m2 tại số 8 HĐ, quận HK, thành phố H và

diện tích 1396m2

đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H

Đối với ngôi nhà tại số 8 HĐ thì năm 1954 do có người

thuê nên hai cụ P và cụ C đã uỷ quyền cho anh Bùi Văn H

tiến hành các thủ tục tại các cấp Toà án để đòi nhà Theo

Bản án số 02/DSST ngày 26/02/1993 của Toà án nhân dân

quận HK đã tuyên “Xử chấp nhận yêu cầu đòi nhà cho thuê

của ông Bùi Văn P do anh Bùi Văn H đại diện…” Tại Bản

án số 79/DSPT ngày 29/5/1993 của Toà án nhân dân thành

phố H đã giữ nguyên bản án sơ thẩm nói trên của Toà án nhân dân quận HK

Sau khi anh Bùi Văn H tiến hành việc đòi nhà theo sự ủy quyền và đã được cơ quan thi hành án tiến hành thi hành án bàn giao trả nhà số 8 HĐ thì hai cụ P và cụ C đã cùng anh H

về sinh sống tại ngôi nhà này Quá trình ở tại đây, anh H đã xây dựng, sửa chữa như làm toàn bộ trần bằng toocxi, lát lại toàn bộ nền nhà, xây mới khu phụ, làm lại gác xép, cầu thang… Đến năm 2002, anh Bùi Văn H đã làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà

số 8 HĐ Trên cơ sở đó, theo Quyết định số 1730/QĐ-UB

ngày 19/3/2002 của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố H, nhà số 8 HĐ đứng tên chủ sở hữu nhà,

sử dụng đất là anh Bùi Văn H (Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 5019.2002 ngày 19/3/2002 của UBND thành phố H)

Còn đối với diện tích nhà, đất 1396m2 tại tổ 18 phường

NT, quận LB, thành phố H cũng là di sản của hai cụ P và cụ

C Sinh thời hai cụ cũng có sinh sống tại nhà cấp 4 diện tích 52m2 được xây dựng trên thửa đất này cùng với vợ chồng anh Bùi Văn T Sau này, nhà cấp 4 của các cụ được vợ chồng anh

T sửa chữa, tôn tạo để sử dụng Đến ngày 11/7/1999, cụ Bùi Văn P lập di chúc cho anh Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng phần diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT

Trang 6

11 12

Ông Bùi Văn T chết ngày 20/5/2001, có vợ là Lương

Thị AH và 02 người con là anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X

Ngoài ra, vợ chồng ông T không có người con riêng, con

nuôi nào khác

Cụ Hoàng Thị C chết năm 1995 không để lại di chúc Cụ

Bùi Văn P chết năm 2002, có để lại di chúc định đoạt cho anh

Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng phần tài sản của cụ tại tổ

18 phường NT, quận LB, thành phố H

Ngày 24/2/2010, bà Bùi Thị M có đơn khởi kiện ông Bùi

Văn H, bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H về việc chia thừa

kế di sản của hai cụ P và cụ C gồm ngôi nhà số 8 HĐ, quận

HK, thành phố H và nhà, đất tại tổ 18 phường NT, quận LB,

thành phố H Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 26/8/2010, bà

Bùi Thị M đề nghị Toà án chia thừa kế nhà số 8 HĐ theo pháp

luật Còn đối với nhà đất ở phường NT thì công nhận di chúc

của cụ P, còn lại 1/2 là phần của cụ C do thừa kế hết thời hiệu

nên đề nghị Toà án chia tài sản thuộc sở hữu chung Nhưng

sau đó, bà M lại thay đổi yêu cầu của mình đối với phần di

sản nhà và đất tại tổ 18 phường NT hiện bà Lương Thị AH,

anh Bùi Duy H đang quản lý, bà yêu cầu chia theo pháp luật

vì di chúc của cụ P không có hiệu lực

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn

Th đề nghị Toà án chia theo hiện vật và chia chung

Phía bị đơn ông Bùi Văn H trình bày:

Sau khi được bố, mẹ ủy quyền đòi lại nhà số 8 HĐ, ông

đã tiến hành các thủ tục để đòi lại nhà Và sau khi đòi được thì hai cụ P và cụ C ở với ông và đã cho ông toàn bộ diện tích nhà này Ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà

và quyền sử dụng đất ngày 19/3/2002

Quá trình sử dụng, ông đã xây dựng, sửa chữa như lát lại toàn bộ nền, xây mới khu phụ, làm mái cầu thang, gác xép, lợp mái… Nay trước yêu cầu chia thừa kế của phía nguyên đơn thì ông H không đồng ý chia, vì bố, mẹ ông đã cho ông ngôi nhà này Còn đối với phần di sản tại tổ 18 phường NT, ông yêu cầu chia theo pháp luật

Anh Bùi Duy H trình bày:

Về huyết thống gia đình, bố anh là Bùi Văn T là một trong 04 người con của cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C

Bố anh mất năm 2001 Sinh thời, cụ P có di chúc để lại toàn bộ nhà, đất phần của cụ ở tổ 18 phường NT cho bố anh Sau khi bố anh chết thì mẹ anh là Lương Thị AH và các con là Bùi Duy H, Bùi Thị X, vẫn quản lý, sử dụng Nay trước yêu cầu của phía nguyên đơn, quan điểm của anh là không đồng ý chia thừa kế vì ông nội anh (Bùi Văn P) đã cho bố anh (Bùi Văn T) phần di sản của hai cụ Đối với phần di sản của bà nội anh (Hoàng Thị C) anh cũng không đồng ý chia tài sản chung

Trang 7

13 14

Bà Lương Thị AH và những người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan, Bùi Thị X trình bày thống nhất với quan điểm với

anh Bùi Duy H

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Theo Công văn số 1941/TNMT và NĐ-CS ngày

30/3/2011 của Sở Tài nguyên, môi trường và nhà đất thì:

Nhà số 8 HĐ, thành phố H trên thửa đất số 827 tờ bản đồ

số 15, khu A nay bằng khoán điền thổ số 720, ĐX tên chủ

sở hữu là ông Bùi Văn P và bà Hoàng Thị C, trước bạ và

đăng ký tại thành phố H ngày 29/5/1956 Văn bản uỷ

quyền được lập ngày 12/6/1992 của cụ P và cụ C ủy quyền

cho ông H có nội dung: “Ông Bùi Văn P, bà Hoàng Thị C

uỷ quyền cho con trai là Bùi Văn H thay mặt tiến hành

việc đòi nhà số 8 HĐ, thành phố H… và đứng tên trước bạ

cho con trai tôi”

Bản di chúc ngày 11/7/1999 cụ Bùi Văn P có nội dung:

“Tôi là Bùi Văn P, vợ là Hoàng Thị C có một thửa đất thổ

cư diện tích 1396m 2 trên thửa đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4,

nhà bếp, nhà tắm (theo bản đồ địa chính số 154 tờ số 4 của

xã) Tôi thấy tuổi đã cao, các con đều đã trưởng thành… Để

tạo điều kiện cho con trai tôi là Bùi Văn T được toàn quyền sử

dụng phần tài sản của tôi trên thửa đất tại là tổ 18, phường

NT, quận LB, thành phố H và sau này có trách nhiệm thờ

cúng tổ tiên Nay trong tình trạng thể chất tinh thần minh

mẫn, tôi làm di chúc này giao toàn quyền tài sản của tôi cho con trai là Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng”

Về hình thức của bản di chúc có chữ ký của cụ Bùi Văn P là người lập di chúc, có xác nhận của 2 người làm chứng, có xác nhận của UBND xã NT, huyện GL (nay là phường NT, quận LB)

Bình luận:

* Về người để lại thừa kế, người thừa kế, thời điểm mở thừa kế, thời hiệu khởi kiện về thừa kế

Cụ Hoàng Thị C chết ngày 03/01/1995 để lại tài sản thừa kế,

cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002 Sinh thời các cụ sinh được

04 người con là ông Bùi Văn T, ông Bùi Văn H, ông Bùi Văn Th,

bà Bùi Thị M Thời điểm ông T, cụ P chết là thời điểm BLDS năm 1995 đang có hiệu lực nên áp dụng các quy định về thừa kế của BLDS năm 1995 để giải quyết vụ án Ngoài 04 người con đẻ

cụ C và cụ P không có người con riêng, con nuôi nào khác Ông Bùi Văn T chết năm 2001, sinh được 02 người con là anh Bùi Duy H, Bùi Thị X Căn cứ Điều 634 BLDS năm 1995 xác định cụ

C, cụ P là người để lại thừa kế Theo Điều 638 BLDS năm 1995 thì ông T, ông H, ông Th, bà M là người thừa kế di sản của cụ C Tuy nhiên theo tình tiết trong vụ án, ông T chết trước cụ P nên không được thừa kế tài sản của cụ P, vì vậy theo Điều 680 BLDS năm 1995 thì anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là người thừa kế thế

vị hưởng di sản của cụ P để lại Vì vậy, ông H, ông Th, bà M; anh

H, chị X là người thừa kế di sản của cụ P

Trang 8

15 16

Theo Điều 636 Bộ luật Dân sự (sau đây viết tắt là BLDS) năm

1995 thời điểm mở thừa kế lần 1 - cụ C chết ngày 03/01/1995;

thời điểm mở thừa kế lần 2 - cụ P chết ngày 29/12/2002 Ngày

24/02/2010, bà M làm đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế

của bố mẹ để lại nên theo Điều 648 BLDS sự năm 1995 thời hiệu

khởi kiện yêu cầu phân chia di sản của cụ C đã hết Do đó, không

chia phần di sản của cụ C để lại cho những người thừa kế

Điều 634 BLDS năm 1995 quy định:

Quyền thừa kế của cá nhân

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của

mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo

pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật

Điều 635 BLDS năm 1995 quy định:

Quyền bình đẳng về thừa kế của cá nhân

Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của

mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di

chúc hoặc theo pháp luật

Điều 636 BLDS năm 1995 quy định:

Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản

chết Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là

đã chết, thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này

2 Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng, thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn

bộ hoặc phần lớn di sản

Điều 648 BLDS năm 1995 quy định:

Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể

từ thời điểm mở thừa kế

Điều 680 BLDS năm 1995 quy định:

mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống

* Về tính hợp pháp của bản di chúc cụ P lập ngày 11/7/1999

Cụ Bùi Văn P chết ngày 29/12/2002 Khi còn sống, ngày 11/7/1999 cụ Bùi Văn P đã lập 01 bản di chúc với nội dung: Chuyển

Trang 9

17 18

quyền sử dụng nhà đất cho con trai của cụ là ông Bùi Văn T ở tại

thôn GT, xã NT, huyện GL, thành phố H (từ năm 2004 là tổ 18,

phường NT, quận LB, thành phố H) Bản di chúc này có nội dung:

“Tôi là Bùi Văn P, vợ là Hoàng Thị C có một thửa đất thổ

cư diện tích 1396m 2

trên thửa đất có 01 ngôi nhà xây cấp 4, nhà bếp, nhà tắm (theo bản đồ địa chính số 154 tờ số 4 của

xã) Tôi thấy tuổi đã cao, các con đều đã trưởng thành… Để

tạo điều kiện cho con trai tôi là Bùi Văn T được toàn quyền sử

dụng phần tài sản của tôi trên thửa đất và sau này có trách

nhiệm thờ cúng tổ tiên Nay trong tình trạng thể chất tinh thần

minh mẫn, tôi làm di chúc này giao toàn quyền tài sản của tôi

cho con trai là Bùi Văn T được toàn quyền sử dụng”

Về hình thức của bản di chúc này, có chữ ký của cụ Bùi

Văn P là người lập di chúc, có xác nhận của 02 người làm

chứng, có xác nhận của UBND xã NT, huyện GL Tuy nhiên,

ông Bùi Văn T là người được hưởng phần tài sản của cụ Bùi

Văn P theo di chúc trong số tài sản chung với cụ Hoàng Thị C

là 1396m2 đất trên có nhà xây cấp 4 và một số công trình xây

dựng khác, song ông Bùi Văn T lại chết vào ngày 20/5/2001,

cụ P chết vào ngày 29/12/2002 Thời điểm mở thừa kế của

ông T là ngày 20/5/2001, thời điểm mở thừa kế của cụ P là

ngày 29/12/2002 Như vậy, người được hưởng di sản thừa kế

theo di chúc chết trước người để lại di sản nên theo quy định

tại Điều 638 BLDS năm 1995 ông T không phải là người thừa

kế theo di chúc của cụ P Và vì vậy, di chúc của cụ Bùi Văn P lập ngày 11/7/1999 không có giá trị pháp lý Do di chúc của

cụ P không có hiệu lực pháp luật nên theo quy định tại Điều

678 BLDS năm 1995 phần di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P để lại sẽ được chia theo pháp luật cho những người thừa kế

Điều 638 BLDS năm 1995 quy định:

Người thừa kế

1 Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết

2 Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức, thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

Điều 678 BLDS năm 1995 quy định:

Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước

Trang 10

19 20

hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ

quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc

không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo

di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối

quyền hưởng di sản

2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với

các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc

không có hiệu lực;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế

theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản,

từ chối quyền hưởng di sản, chết trước hoặc chết

cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ

quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng

không còn vào thời điểm mở thừa kế

Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Bùi Văn P bao gồm 4 người

con đẻ của cụ P còn sống tại thời điểm viết di chúc: Ông Bùi

Văn T, Bà Bùi Thị M , ông Bùi Văn Th, ông Bùi Văn H (ông

Bùi Văn T chết năm 2001) Hai người con của ông T - anh

Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là thừa kế thế vị được hưởng tài sản

- Đối với nhà số 8 phố HĐ, quận HK, thành phố H: Theo

Công văn số 1941/TNMT và NĐ-CS ngày 30/3/2011 của Sở Tài nguyên, môi trường và nhà đất thì: Nhà số 8 HĐ, thành phố H trên thửa đất số 827 tờ bản đồ số 15, khu A nay bằng khoán điền thổ số 720, ĐX tên chủ sở hữu là ông Bùi Văn P và bà Hoàng Thị C trước bạ và đăng ký tại thành phố H ngày 29/5/1956

Do nhà số 8 phố HĐ, thành phố H cho hộ gia đình khác ở thuê từ trước, vào năm 1992, cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C

đã uỷ quyền cho ông Bùi Văn H thay mặt 2 cụ để tiến hành các thủ tục pháp lý: Đòi nhà cho thuê Theo Quyết định của bản án

sơ thẩm số 02/DSST ngày 26/02/1993 của Toà án nhân dân quận HK và Bản án phúc thẩm số 79/DSPT ngày 29/5/1993 của Toà án nhân dân thành phố H đều xác định cụ Hoàng Thị C và

cụ Bùi Văn P là đồng sở hữu nhà số 8 phố HĐ, thành phố H Đồng thời, án tuyên buộc hộ gia đình đang ở thuê tại số nhà số 8 phố HĐ, thành phố H trả lại toàn bộ diện tích nhà đang thuê cho

cụ P, cụ C do ông Bùi Văn H là đại diện Bản án phúc thẩm đã được thi hành án xong và từ sau khi lấy lại nhà cụ P, cụ C, gia đình ông Bùi Văn H về sống tại số 8 HĐ, thành phố H Cho đến năm 1998, thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc đăng ký

Trang 11

21 22

kê khai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà

Ngày 28/3/1998, ông Bùi Văn H đã làm đơn xin cấp Giấy chứng

nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà số 8

HĐ, quận HK, thành phố H và ngày 19/3/2002, UBND thành

phố H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử

dụng đất ở số 1010519018 cho ông Bùi Văn H tại số 8 phố HĐ,

thành phố H theo Quyết định số 1730/QĐ-UB ngày 19/3/2002

Cơ sở để UBND thành phố H ban hành Quyết định số

1730/QĐ-UB ngày 19/3/2002 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu

nhà và quyền sử dụng đất đối với nhà số 8 phố HĐ, quận HK,

thành phố H cho ông Bùi Văn H là dựa trên nội dung của văn

bản uỷ quyền được lập ngày 12/6/1992 có nội dung: Ông Bùi

Văn P, bà Hoàng Thị C uỷ quyền cho con trai là Bùi Văn H thay

mặt tiến hành việc đòi nhà số 8 HĐ, thành phố H… và đứng tên

trước bạ cho con trai tôi

Như vậy, xét về phạm vi của việc cụ P, cụ C uỷ quyền

cho ông Bùi Văn H là thực hiện hành vi tiến hành các thủ tục

đòi nhà số 8 HĐ, thành phố H đồng thời chỉ là người đứng tên

trong trước bạ nhà số 8 HĐ, thành phố H chứ giấy uỷ quyền

này không thể hiện nội dung cụ P, cụ C cho (tặng) định đoạt

nhà số 8 HĐ, thành phố H cho ông Bùi Văn H Việc ông H

đứng tên sở hữu nhà là không đúng vì thực chất là nhà số 8

phố HĐ, thành phố H vẫn thuộc quyền sở hữu của cụ P, cụ C

Do đó, xác định nhà số 8 phố HĐ là di sản của cụ C, cụ P để

lại theo Điều 637 BLDS năm 1995

Điều 637 BLDS năm 1995 quy định:

- Đối với diện tích nhà đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H: Quá trình giải quyết vụ kiện tại Toà án các bên

đương sự đều có lời khai xác nhận nguồn gốc diện tích 1396m2 đất, trên có nhà cấp 4 và nhà tắm, nhà vệ sinh là do cụ

P, cụ C mua Sau đó, cho vợ chồng ông T, bà Lương Thị AH

về ở tại đây, hiện toàn bộ thửa đất này mang số thửa 87, tờ bản đồ số 4 đo vẽ năm 1993 Hiện bà Lương Thị AH và anh Bùi Duy H đang quản lý sử dụng Bà AH, anh H cho rằng, phần di sản của cụ P thì cụ P đã lập di chúc cho ông Bùi Văn

T nên đề nghị Toà án chia theo di chúc Vấn đề này như phần trên đây đã nhận định, phân tích về di chúc của cụ Bùi Văn P

là di chúc không có hiệu lực nên di sản thừa kế của cụ P được chia theo pháp luật

Xác định di sản thừa kế của cụ P, cụ C là 2 khối tài sản: Nhà số 8 phố HĐ, thành phố H và diện tích 1396m2 nhà và đất tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H Nay phía nguyên

Trang 12

23 24

đơn yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với 2 khối di sản

trên của cụ P, cụ C

Nhà số 8 phố HĐ mà ông H đang quản lý sử dụng theo

biên bản định giá thì tổng cộng giá trị quyền sử dụng đất và

giá trị xây dựng còn lại của nhà số 8 HĐ là di sản thừa kế của

cụ P, cụ C tính thành tiền là: 12.150.000.000 đồng (giá trị

quyền sử dụng đất) + 32.815.000 đồng (giá trị xây dựng còn

lại) = 12.182.815.000 đồng

Thời điểm mở thừa kế để chia di sản thừa kế của cụ C là

năm 1995 Di sản thừa kế của cụ C để lại tại số 8 HĐ là 1/2 giá

trị nhà số 8 phố HĐ - thành phố H thành tiền là: 12.182.815.000

đồng : 2 = 6.091.407.500 đồng Tính đến thời điểm bà Bùi Thị

M khởi kiện vụ án dân sự - Chia thừa kế là ngày 01/7/2010 thì

thời hiệu để chia phần di sản thừa kế của cụ Hoàng Thị C đã hết

thời hiệu Bà M có yêu cầu: Đối với phần di sản của cụ C đề

nghị Toà án chia tài sản chung theo quy định của Nghị quyết số

02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán

Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc

giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình Về yêu cầu

này của bà M nhận thấy:

Theo quy định tại tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết

số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm

phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật

trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

hướng dẫn: “… Sau khi kết thúc thời hạn 10 năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản thừa kế do người chết để lại chưa chia thì di sản

đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế…”

Trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án: Ông H trình bày nhà số 8 phố HĐ, thành phố H đã được bố mẹ cho ông và ông không đồng ý chia, do vậy viện dẫn và áp dụng mục 2.4 điểm a của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn

áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình thì yêu cầu chia tài sản chung đối với phần di sản thừa kế của cụ C của bà M không được thoả mãn với quy định của pháp luật

Tiểu mục 2.4 Mục 1 Phần I Nghị quyết số HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình:

02/2004/NQ-2.4 Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế a) Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận

là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về

Trang 13

25 26

hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết

để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản

chung của các thừa kế Khi có tranh chấp và yêu cầu

Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi

kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của

pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần

phân biệt như sau:

a.1) Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế

không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ

được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài

sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện

theo di chúc

a.2) Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa

kế thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có

nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó

được thực hiện theo thoả thuận của họ

a.3) Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa

kế không có thoả thuận về phần mỗi người được

hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản

chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật

về chia tài sản chung

b) Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa

kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử

dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất

hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản

Đối với phần di sản thừa kế của cụ P tại số 8 phố HĐ, thành phố H là 1/2 nhà tính thành tiền có giá trị là: 6.091.407.500 đồng Thời điểm mở thừa kế để chia di sản của

cụ P là năm 2002 và di sản thừa kế được chia theo pháp luật Tuy nhiên, khi chia thừa kế đối với phần di sản thừa kế của cụ

P, cũng cần xem xét đến công sức duy trì và bảo quản di sản cũng như quá trình vào năm 1992 ông H đã thay mặt cụ P, cụ

C tiến hành các thủ tục đòi nhà cho thuê và từ sau khi cụ P, cụ

C mất đi, ông đã quản lý di sản trong nhiều năm; vì vậy trích

01 kỷ phần thừa kế cho ông H về công sức đi đòi nhà và bảo quản di sản thừa kế là phù hợp Theo quy định tại Điều 679 BLDS năm 1995 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: 03 người con đẻ còn sống tại thời điểm mở thừa kế và 02 người cháu là thừa kế thế vị: ông Bùi Văn H, ông Bùi văn Th, Bà Bùi Thị M và anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X (01 kỷ phần thừa

kế thế vị của ông T)

Xác định di sản thừa kế của cụ P có tổng giá trị thành tiền

là 6.091.407.500 đồng và chia 4 kỷ phần + 01 kỷ phần trích trừ công sức cho ông H, chia toàn bộ hiện vật nhà số 8 phố

HĐ cho ông H sở hữu Tổng di sản 6.091.407.500 đồng : 5 Như vậy, mỗi kỷ phần thừa kế của cụ P được hưởng di sản

Trang 14

27 28

thừa kế tính thành tiền là 6.091.407.500 đồng : 5 Riêng ông

Bùi Văn H được nhận một kỷ phần thừa kế và một suất công

sức quản lý, bảo quản di sản

Chia toàn bộ bằng hiện vật phần di sản thừa kế của cụ P

cho ông Bùi Văn H được hưởng và ông Bùi Văn H, có nghĩa

vụ thanh toán lại giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế khác

Phần di sản hết thời hiệu chia thừa kế của cụ C Tòa án không

chia cho những người thừa kế

Điều 679 BLDS năm 1995 quy định:

Người thừa kế theo pháp luật

1 Những người thừa kế theo pháp luật được quy định

theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ,

cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại,

bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của

người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

của người chết; cháu ruột của người chết mà người

chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

2 Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần

di sản bằng nhau

3 Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng thừa kế hoặc từ chối nhận di sản

Đối với di sản thừa kế tại tổ 18 NT, quận LB, thành phố

H do bà Lương Thị AH, anh Bùi Duy H đang quản lý Theo biên bản định giá 1396 m2

đất cùng các công trình xây dựng trên đất thì tổng di sản tính thành tiền gồm giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng còn lại thuộc di sản thừa kế là 6.994.368.000 đồng

Thời điểm mở thừa kế để phân chia di sản thừa kế của cụ

C là năm 1995 di sản của cụ C gồm 1/2 quyền sử dụng đất là 698m2 đất, tính di sản thành tiền là: 3.497.184.000 đồng (gồm

cả giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng) Như trên đã nhận định, thời hiệu để phân chia di sản thừa kế của cụ C đã hết thời hiệu chia thừa kế, phía nguyên đơn yêu cầu phân chia tài sản chung thì cũng không thoả mãn những quy định tại mục 2.4 điểm a của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình

Đối với phần di sản thừa kế của cụ P tại tổ 18 phường

NT, quận LB là 1/2 diện tích quyền sử dụng đất và 1/2 giá trị xây dựng, cụ thể là 698m2 quyền sử dụng đất tính thành tiền

Trang 15

29 30

có giá trị là: 3.497.184.000 đồng (bao gồm cả giá trị quyền sử

dụng đất và giá trị xây dựng) Cụ P chết năm 2002, đây là thời

điểm mở thừa kế để chia di sản thừa kế của cụ P, di sản được

chia theo pháp luật Theo quy định tại Điều 679 BLDS năm

1995 thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ P gồm: 03 người con đẻ

của cụ và 02 cháu nội (con ông T là thừa kế thế vị) Tuy

nhiên, khi chia thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ P, cũng

cần xem xét đến công sức duy trì, quản lý khối di sản của bà

Lương Thị AH, anh Bùi Duy H, chị Bùi Thị X là những người

đã trực tiếp duy trì, bảo quản di sản và có công sức tôn tạo tại

đây nên trích chia tương đương với 01 kỷ phần cho những

người này Như vậy, di sản thừa kế của cụ P sẽ được chia làm

5 suất (riêng anh H, chị X, bà AH được thêm 01 suất) chia cụ

thể: mỗi kỷ phần thừa kế được nhận di sản tính thành tiền là:

3.497.184.000 đồng : 04 kỷ phần + 1 kỷ phần tính công sức

Ông Th, ông H, bà M mỗi người được nhận 01 kỷ phần Chị

X, anh H được nhận 01 kỷ phần thừa kế Chị X, anh H, bà AH

được nhận 01 kỷ phần tính công sức

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể giải quyết

như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của bà Bùi Thị M đối

với di sản thừa kế tại số 8 HĐ, thành phố H và tổ 18 phường

NT, quận LB, thành phố H (do bà Lương Thị AH, anh Bùi

Duy H đang quản lý)

2 Xác nhận nhà số 8 HĐ, thành phố H và diện tích 1396m2

đất trên có nhà cấp 4 tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H

là di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P và cụ Hoàng Thị C để lại

3 Xác định di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P gồm: 1/2 giá

trị đất và giá trị xây dựng còn lại của nhà số 8 HĐ, thành phố H

và diện tích 1396m2 đất trên có nhà cấp 4 tại tổ 18 phường NT, quận LB, thành phố H được chia cho các thừa kế của cụ P

4 Xác định di chúc của cụ Bùi Văn P lập ngày 11/7/1991

không có hiệu lực pháp luật Toàn bộ di sản thừa kế của cụ Bùi Văn P được chia theo pháp luật

VỤ VIỆC SỐ 2

Nội dung vụ án:

Chị Nguyễn Thị X trình bày:

Năm 1992, chị X kết hôn hợp pháp với anh Vương Văn V

là con trai thứ sáu của ông Vương Văn Tr và bà Nguyễn Thị

D Bà D chết năm 1996 Năm 2006, anh V mất do tai nạn lao động, không để lại di chúc Vợ chồng chị có 03 con chung là: cháu Vương Thị H - sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th - sinh năm 1996, cháu Vương Văn A - sinh năm 1998 Khi anh

V còn sống, vợ chồng chị có tạo lập được một khối tài sản, trong đó có diện tích đất nông nghiệp là 2.472m2

tại các xứ đồng thuộc thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H Diện tích đất

Trang 16

31 32

trên đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất năm 1998 mang tên anh Vương Văn V, số sổ là

863/QSDĐ Năm 2006, anh V chết, ông Vương Văn Tr là bố

anh V đã lấy 1.080m2 tại xứ đồng bờ Tuỳ để canh tác, không

trả cho chị Sau nhiều lần yêu cầu ông Tr trả đất của vợ chồng

chị, chị X đã yêu cầu UBND xã XG hòa giải nhưng không

thành Vì vậy ngày 20/8/2008, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu

Toà án buộc ông Tr phải trả cho chị diện tích đất trên Ngày

26/10/2008, chị có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, đề nghị

Toà án chia thừa kế theo pháp luật diện tích đất 1.080m2 tại

xứ đồng bờ Tuỳ do ông Tr đang chiếm giữ Chị X yêu cầu

chia phần của chị và 03 con chung vào một khối

Tại bản tự khai ngày 05/10/2007, ông Vương Văn Tr

trình bày:

Năm 1992, con trai ông là Vương Văn V lấy chị Nguyễn Thị

X về làm vợ và sinh được 03 người con là Vương Thị H, Vương

Văn Th và Vương Văn A Năm 2006, con trai là anh Vương Văn

V mất do tai nạn lao động Nay chị X kiện ông yêu cầu chia diện

tích đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ là 1.080m2

, ông không chấp nhận vì diện tích đất trên là do ông đổi cho các hộ khác (ông

K, ông C, ông H, ông M là người cùng làng), về gần nhà để tiện

canh tác, còn sổ đỏ cấp cho anh V là không đúng vì ông Nguyễn

Xuân H lúc đó là chủ nhiệm hợp tác xã đã tự ghi tên anh V vào

trong đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông

nghiệp (2.472m2) Hiện tại, ông Tr đang canh tác diện tích đất này, do vậy ông không đồng ý với yêu cầu của chị X

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Lời khai của ông Nguyễn Xuân H - nguyên chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp LC, nguyên Trưởng tiểu ban cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, tại biên bản lấy lời khai ngày 12/02/2009 có nội dung: Ông là họ hàng của cả ông Tr và chị X Thực hiện Nghị định số 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành bản Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, ông H đến nhà anh V - chị X, lúc đó ông Tr đang ở cùng để làm thủ tục kê khai Họ đã thống nhất và nhờ ông ký tên

hộ Khi có Giấy chứng nhận ông H đã giao cả 02 bản cho chính ông Tr Đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình hiện đang lưu giữ tại UBND huyện S, cũng như Công văn số 242/UBND-TNMT ngày 17/3/2009 của UBND huyện S có nội dung đối tượng được cấp Giấy chứng nhận 2.472m2 đất là hộ gia đình ông Vương Văn V Hộ gia đình anh V tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất tranh chấp hộ gia đình anh Vương Văn V gồm ông Tr, anh V, chị X

Bình luận:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Tranh chấp giữa chị X và ông Tr là tranh chấp về thừa kế

Trang 17

33 34

quyền sử dụng đất nông nghiệp vì diện tích đất nông nghiệp là

2.472m2 tại các xứ đồng thuộc thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh

H đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất năm 1998 mang tên anh Vương Văn V, số sổ là

863/QSDĐ Năm 2006, anh V chết, ông Vương Văn Tr đã

chiếm giữ, sử dụng diện tích 1.080 m2 đất tại xứ đồng bờ Tùy,

chị X đòi nhiều lần nhưng ông Tr không trả Chị X khởi kiện

ông Tr yêu cầu Toà án chia thừa kế theo pháp luật diện tích

đất 1.080m2

tại xứ đồng bờ Tuỳ

* Về người thừa kế, di sản thừa kế:

Anh Vương Văn V chết có tài sản để lại vì vậy anh V là

người để lại thừa kế, anh V chết không để lại di chúc vì vậy di

sản của anh V được chia theo pháp luật Bên nguyên đơn

không yêu cầu chia toàn bộ di sản của anh V để lại mà chỉ yêu

cầu chia thừa kế theo pháp luật diện tích đất 1.080m2

tại xứ đồng bờ Tuỳ nên Tòa án chỉ giải quyết trong phạm vi yêu cầu

của nguyên đơn Người thừa kế theo pháp luật thuộc hàng thứ

nhất của anh V theo quy định tại Điều 676 BLDS năm 2005

gồm 05 người: ông Vương Văn Tr, chị Nguyễn Thị X, cháu

Vương Thị H, cháu Vương Văn Th, cháu Vương Văn A Cháu

Vương Thị H - sinh năm 1994; cháu Vương Văn Th - sinh

năm 1996, cháu Vương Văn A - sinh năm 1998 Chị X khởi

kiện ngày 20/8/2008 khi đó các cháu chưa thành niên nên chị

X là người đại diện hợp pháp của 03 con chị

sử dụng đất đứng tên hộ anh Vương Văn V

Theo nội dung lời khai của ông Nguyễn Xuân H - nguyên chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp LC, nguyên Trưởng tiểu ban cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp thực hiện Nghị định số 64-CP, thì ông là người trực tiếp đến nhà anh V - chị X, lúc đó ông Tr đang ở cùng để làm thủ tục kê khai (ông H là họ hàng của cả ông Tr và chị X), ông Tr, anh

V, chị X đã thống nhất và nhờ ông ký tên hộ Khi có Giấy chứng nhận ông đã giao cả 02 bản cho chính ông Tr

Căn cứ vào các đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình hiện đang lưu giữ tại UBND huyện S, cũng như căn cứ vào Công văn số 242/UBND-TNMT ngày 17/3/2009 của UBND huyện S đã

Trang 18

35 36

khẳng định đối tượng được cấp Giấy chứng nhận 2.472m2

đất

là hộ gia đình anh Vương Văn V (gồm ông Tr, anh V, chị X)

Từ những căn cứ trên, xác định diện tích đất tranh chấp là tài

sản của hộ gia đình anh Vương Văn V theo quy định tại Điều

106, 107, 108, 688 BLDS năm 2005 Do vậy, anh V, ông Tr,

chị X có quyền ngang nhau đối với diện tích họ đang có tranh

chấp là 1.080 m2 Do xác định diện tích đất tranh chấp là tài

sản chung của ông Tr, anh V chị X nên chia ba sau khi anh V

chết Ông Tr, anh V, chị X mỗi người được chia bằng nhau

Ðiều 106 BLDS năm 2005 quy định:

Hộ gia đình

Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng

đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản

xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản

xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi

tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này

Ðiều 107 BLDS năm 2005 quy định:

Ðại diện của hộ gia đình

1 Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao

dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một

thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ

Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành

niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự

2 Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình

Ðiều 108 BLDS năm 2005 quy định:

Tài sản chung của hộ gia đình

Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ

Ðiều 109 BLDS năm 2005 quy định:

Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

1 Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thỏa thuận

2 Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý

Trang 19

2 Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia

đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao

đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất

3 Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp nhân, hộ gia

đình, chủ thể khác cũng được xác lập do được người

khác chuyển quyền sử dụng đất phù hợp với quy định

của Bộ luật này và pháp luật về đất đai

Phần đất của anh V được chia có diện tích 360 m2 là tài

sản chung của vợ chồng anh V, chị X theo quy định tại

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 Anh V chết,

thanh toán chia tài sản chung của vợ chồng nên xác định

quyền sử dụng đất là di sản của anh V để lại là 360 m2 : 2

còn 180m2 chia đều cho 05 người thừa kế theo quy định tại

các điều 676, 689, 735 BLDS: 180 m2 : 5 = 36 m2 (gồm ông

Tr = chị X = cháu H = cháu Th = cháu A) Như vậy, ông Tr,

chị X, cháu H, cháu Th, cháu A được chia mỗi người 36 m2

từ 180 m2

đất di sản thừa kế của anh V

Ðiều 689 BLDS năm 2005 quy định:

Hình thức chuyển quyền sử dụng đất

1 Việc chuyển quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Ðiều này

2 Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật

3 Việc thừa kế quyền sử dụng đất được thực hiện theo quy định tại các điều từ Ðiều 733 đến Ðiều 735 của Bộ luật này

Ðiều 733 BLDS năm 2005 quy định:

Thừa kế quyền sử dụng đất

Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển quyền sử dụng đất của người chết sang cho người thừa kế theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai

Ðiều 734 BLDS năm 2005 quy định:

Cá nhân để thừa kế quyền sử dụng đất

Cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền

sử dụng đất theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai

Trang 20

39 40

Ðiều 735 BLDS năm 2005 quy định:

Thừa kế quyền sử dụng đất được Nhà nước giao cho

hộ gia đình

Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nếu trong hộ có

thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó

được để lại cho những người thừa kế theo quy định tại

Phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai

Như vậy, phần ông Tr được thừa kế là 180 m2

: 5 = 36

m2, nhập vào chung với phần ông Tr được chia trước đó 360

m2 = 396 m2

Phần của chị X và 03 con là cháu A, H, Th được hưởng

thừa kế của anh V là: 36 m2 x 4 = 144 m2 Diện tích đất chị X

được chia tài sản chung khi chia tài sản của hộ gia đình là 360

m2, chia tài sản chung của vợ chồng là 180 m2 Cộng gộp lại

là chị X và 03 con được chia diện tích 684 m2

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể giải quyết

như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng

1.080 m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG,

huyện S, tỉnh H của Nguyễn Thị X đối với ông Vương Văn Tr

2 Xác định quyền sử dụng 1.080 m2 đất nông nghiệp đo thực

tế tại xứ đồng bờ Tuỳ thuộc thôn LC (bản đồ địa chính lập năm

1992) được cấp cho hộ gia đình anh Vương Văn V gồm: anh

Vương Văn V, chị Nguyễn Thị X, ông Vương Văn Tr Chia đều mỗi người được quyền sử dụng 360 m2 đất

3 Xác định thời điểm mở thừa kế di sản của anh Vương Văn V là ngày 28/3/2006

Hàng thừa kế thứ nhất của anh V là ông Vương Văn Tr, chị Nguyễn Thị X, các cháu Vương Thị H, Vương Văn Th, Vương Văn A Mỗi thừa kế được chia 36m2

4 Ghi nhận sự tự nguyện của chị X và 03 con xin chia chung vào một khối Chia cho chị Nguyễn Thị X và 03 con là Vương Thị H, Vương Văn Th, Vương Văn A quyền sử dụng

684 m2 đất nông nghiệp còn lại tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC,

xã XG, huyện S, tỉnh H

5 Chia cho ông Vương Văn Tr quyền sử dụng 396 m2 đất nông nghiệp tại xứ đồng bờ Tuỳ, thôn LC, xã XG, huyện S, tỉnh H (trong 1.080 m2 đất nông nghiệp đang có tranh chấp) Các bên không phải thanh toán cho nhau khoản tiền nào

và có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền kê khai xin cấp Giấy chứng nhận theo quyết định của Toà án

VỤ VIỆC SỐ 3

Nội dung vụ án:

Ông Nguyễn Th mất ngày 09/5/2007, có vợ là bà Hồng Bảo A Ông Th, bà A có 03 con chung là Nguyễn Hồng C;

Trang 21

41 42

Nguyễn Hồng S và Nguyễn Hồng Q, ngoài ra ông Th không

có người con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác

Nguồn gốc căn hộ tại phòng 116 (cũ phòng 16) - C1 - tập

thể KL - quận Đ - thành phố H do Bộ kiến trúc phân cho bà

Hồng Bảo A ngày 14/7/1967 Năm 1987, ông Th được phân

thêm 01 căn hộ tại phòng 103 (cũ phòng 3) - C5 - tập thể KL -

quận Đ - thành phố H Năm 1991, ông bà ly hôn đã tự phân

chia tài sản cụ thể: Ông Th được chia 1/2 căn hộ tại phòng

116 (cũ phòng 16) - C1 - tập thể KL và căn hộ tại phòng 103

(cũ phòng 3) - C5 - tập thể KL Ngày 06/12/2000, ông

Nguyễn Th được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận

quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với diện tích

đất ông được chia Sau khi ông Th ly hôn thì 02 căn hộ này do

ông Th cùng gia đình anh C ở quản lý và sử dụng

Ngày 18/4/2006, ông Th lập chúc thư, di chúc do ông Th viết

tay, không có người làm chứng Di chúc gồm có 02 trang, mỗi

trang đều có chữ ký của ông Th, nội dung để lại tài sản cho các

con của ông Th cụ thể: Anh C được hưởng toàn bộ diện tích nhà

đất tại phòng 103 (cũ phòng 3) - C5 - tập thể KL - quận Đ - thành

phố H gồm có phần đất tự tạo (lưu không) và 10m2

kiốt tại phòng

116 - C1 Anh S được hưởng 2/3 diện tích phòng 116 nhà C1 tập

thể KL; chị Q được hưởng 1/3 diện tích phòng 116 nhà C1 tập thể

KL bao gồm cả phần đất tự tạo (lưu không: có phần nhà xây trên

đất lưu không liền kề phần nhà chính có diện tích 22,75m2) Ngày

15/01/2008, chị Q khởi kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của ông

Th theo di chúc

Anh Nguyễn Hồng C cũng nhất trí với lời khai của chị Q nhưng theo anh toàn bộ diện tích lấn chiếm là do anh tự lấn chiếm, tự xây nhà Nay anh chỉ đồng ý phần di chúc của ông

Th đối với diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Phần lấn chiếm bố anh định đoạt cả là không đúng nên anh chỉ đồng ý trả phần nhà 20,2m2 đã được cấp Giấy chứng nhận, phần anh lấn chiếm anh không đồng ý trả

Anh Nguyễn Hồng S thống nhất với lời khai của chị Q yêu cầu Tòa công nhận di chúc

Chị Trần Thị Kim T (vợ anh C) nhất trí với lời khai của anh C

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/4/2008, anh C khai có nội dung vào cuối năm 2006 anh đã dùng tiền của bố để sửa nhà Tại phiên hòa giải ngày 24/6/2008, chị Q, anh Sơn cũng

đã tự nguyện thanh toán khoản tiền 24.944.160 đồng là tiền sửa chữa xây dựng cho anh C

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa

án trưng cầu giám định chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư lập ngày 18/4/2006 Tại Kết luận giám định số 920/C21 (P6) ngày 06/5/2009 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát

Trang 22

43 44

đã kết luận: “Chữ ký đứng tên “Nguyễn Th” dưới mục “người

viết chúc thư” trên 20trang tài liệu cần giám định đề “chúc thư”

ngày 18/4/2006 (ký hiệu A1-2) với chữ ký của ông Nguyễn Th

trên các trang tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1; M2; M3; M4;

M5-2; M6-2; M7-2 là do cùng một người ký ra”

Diện tích 10m2 kiốt, các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình

các đương sự đã tự giải quyết không yêu cầu Tòa án xem xét,

giải quyết

Bình luận:

* Về người để lại thừa kế, người thừa kế:

Ông Nguyễn Th mất ngày 09/5/2007, có vợ là bà Hồng

Bảo A Ông bà có 03 con chung là anh C, anh S, chị Q Năm

1991, ông bà ly hôn đã tự chia nhau tài sản xong Ngoài ba

người con đẻ, ông Th không còn con đẻ, con nuôi, con riêng

nào khác Căn cứ BLDS năm 2005, xác định ông Th là người

để lại thừa kế Theo quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005,

anh C, anh S, chị Q được ông Th chỉ định trong di chúc hưởng

di sản thừa kế của ông và còn sống vào thời điểm mở thừa kế

nên là người thừa kế theo di chúc của ông Th

* Về di sản thừa kế:

Anh C, anh S và chị Q đều xác định ông Th mất đi có để

lại 02 khối tài sản gồm căn hộ P116 (cũ P16) - C1 diện tích

20,2m2 và căn hộ P103 (cũ P3) - C5 diện tích 18,5m2 tại khu

tập thể KL hiện đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Th Ngoài ra, còn xây dựng nhà trên phần đất lưu không liền kề với 02 căn hộ trên Theo chị Q, anh

S thì phần xây dựng nhà là tiền của, công sức của ông Th bỏ ra Theo anh C, chị T thì toàn bộ tiền của, công sức xây dựng nhà trên phần đất lưu không là của vợ chồng anh chị bỏ ra Tuy nhiên, anh C, chị T không đưa ra được các chứng cứ chứng minh cho việc sửa chữa của mình Hơn nữa, anh C còn xác nhận vào cuối năm 2006 anh đã dùng tiền của bố để sửa nhà

Về thực tế, ông Th là chủ sở hữu 02 căn hộ nêu trên Trong quá trình ở và quản lý nhà này, ông Th mới là người được quyền lấn chiếm xây dựng phần đất lưu không phía trước hoặc phía sau căn hộ Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Q, anh S cũng

đã tự nguyện thanh toán khoản tiền 24.944.160 đồng là tiền sửa chữa xây dựng cho anh C

Tuy nhiên, phần đất lưu không nói trên thuộc quyền quản

lý của nhà nước nên diện tích đất này không phải là di sản thừa kế của ông Th Do đó, xác định di sản của ông Th để lại bao gồm: Nhà tại P116 - C1 theo biên bản định giá có giá trị là: 353.663.136 đồng (giá trị của căn hộ P116) + 24.944.160 đồng (giá trị vật liệu xây dựng trên phần đất lưu không) = 378.607.296 đồng Nhà tại P103 - C5 theo biên bản định giá

có giá trị là: 259.000.000 đồng (giá trị của căn hộ P103) + 28.574.000 đồng (giá trị vật liệu xây dựng trên phần đất lưu không) = 287.574.000 đồng

Trang 23

45 46

Đối với diện tích 10m2

kiốt, các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình các đương sự đã tự giải quyết không yêu cầu Tòa án

xem xét nên không phải xét

* Về tính hợp pháp của di chúc:

- Về hình thức của di chúc:

Bản di chúc do ông Th viết tay, không có người làm

chứng Di chúc gồm có 02 trang, mỗi trang đều có chữ ký của

ông Th Như vậy, đây là di chúc bằng văn bản không có người

làm chứng, căn cứ theo quy định tại Điều 653, 655 BLDS

năm 2005 hình thức của bản chúc thư ông Th lập ngày

18/4/2006 là đúng quy định của pháp luật

- Về nội dung của di chúc:

Ngày 18/4/2006, ông Th có lập chúc thư để lại tài sản cụ

thể: Phần cho con trai cả Nguyễn Hồng C trước đây tôi đã cho

C sử dụng để ở phần nhà bên C5, nay tôi vẫn để cho C ở như

cũ Sau khi tôi mất đi, tôi sẽ cho thêm C một kiốt gần 10m2 ở

đầu hồi nhà C1, ngoài C ra sau này là của cháu nội tôi là

Nguyễn Thanh L mới được hưởng, còn những người khác

không có phần Phần nhà đất liền kề tự tạo ở P116 - C1 tập thể

KL (kể cả sân) bằng 50,2m2 tôi sẽ cho S 2/3 và cho Q 1/3

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C có đơn yêu cầu Tòa

án trưng cầu giám định chữ ký của ông Nguyễn Th tại chúc thư

lập ngày 18/4/2006 Tại Kết luận giám định số 920/C21 (P6)

ngày 06/5/2009 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát

đã kết luận: “Chữ ký đứng tên “Nguyễn Th” dưới mục “người viết chúc thư” trên trang 2 tài liệu cần giám định đề “chúc thư” ngày 18/4/2006 (ký hiệu A1-2) với chữ ký của ông Nguyễn Th trên các trang tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1; M2; M3; M4; M5-2; M6-2; M7-2 là do cùng một người ký ra”

Như vậy, ông Th lập di chúc là hoàn toàn tự nguyện, thể hiện ý chí đích thực của ông Di chúc có nội dung định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của ông cho 03 người con Vì vậy, nội dung của bản di chúc này là hợp pháp

Di chúc ngày 18/4/2006 có nội dung và hình thức phù hợp với pháp luật nên được công nhận

Từ những phân tích trên, xác định phần diện tích nhà đất

đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng sở hữu hợp pháp mang tên ông Nguyễn Th là di sản thừa kế của ông Nguyễn

Th và công nhận di chúc của ông Th về phần nhà đất này là có căn cứ và đúng pháp luật

Ðiều 652 BLDS năm 2005 quy định:

Trang 24

47 48

di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật

2 Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ

mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải

được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý

3 Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của

người không biết chữ phải được người làm chứng lập

thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực

4 Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng

thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều

kiện được quy định tại khoản 1 Ðiều này

5 Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di

chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước

mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó

những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc

điểm chỉ Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người

di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải

được công chứng hoặc chứng thực

Ðiều 653 BLDS năm 2005 quy định:

Nội dung của di chúc bằng văn bản

1 Di chúc phải ghi rõ:

a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;

b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;

c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;

Ðiều 655 BLDS năm 2005 quy định:

Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng

Người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc

Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Ðiều 653 của Bộ luật này

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải quyết như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu chia thừa kế theo di chúc của chị

Trang 25

49 50

Nguyễn Hồng Q đối với anh Nguyễn Hồng C về việc chia

thừa kế di sản của ông Nguyễn Th

2 Xác định khối tài sản của ông Nguyễn Th để lại gồm có

căn hộ tại P116 - C1 và căn hộ P103 - C5 khu tập thể KL,

quận Đ, thành phố H có tổng diện tích là 38,7m2

được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày

26/12/2000 mang tên ông Nguyễn Th cộng với giá trị phần

nguyên vật liệu xây dựng trên phần đất lưu không tại 02 căn

hộ nêu trên là di sản thừa kế của ông Nguyễn Th

3 Xác định thời điểm mở thừa kế di sản của ông Nguyễn

Th là ngày 09/5/2007

4 Hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Th gồm: Anh

Nguyễn Hồng C; chị Nguyễn Hồng Q; anh Nguyễn Hồng S

5 Xác định di chúc do ông Nguyễn Th lập ngày

18/4/2006 là hợp pháp đối với di sản là căn hộ P116 - C1 và

căn hộ P103 - C5 khu tập thể KL, quận Đ, thành phố H cộng

với giá trị phần nguyên vật liệu xây dựng trên phần đất lưu

không tại 02 căn hộ nêu trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp

của ông Nguyễn Th

- Giao cho anh Nguyễn Hồng S, chị Nguyễn Hồng Q sở

hữu, sử dụng chung căn hộ P116 - C1 tập thể KL, phường KL,

quận Đ, thành phố H diện tích 20,2m2 đã được UBND thành

phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông

Nguyễn Th ngày 06/12/2000 và toàn bộ giá trị vật liệu xây dựng đã được xây dựng tại phần đất lưu không (bao gồm 01 gian nhà + sân) liền kề với căn hộ P116 nêu trên

- Giao cho anh Nguyễn Hồng C sở hữu, sử dụng căn hộ P103 (cũ phòng 3) - C5 tập thể KL, quận Đ, thành phố H diện tích 18,5m2 đã được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Th ngày 06/12/2000 và toàn bộ giá trị vật liệu xây dựng tại phần đất lưu không liền kề với căn hộ P103 nêu trên

- Các đương sự phải chấp hành các quy định của các cơ quan có thẩm quyền về quản lý, sử dụng đất

6 Ghi nhận sự tự nguyện của anh S và chị Q thanh toán

cho anh C, chị T 24.944.160 đồng tiền nguyên vật liệu xây dựng trên đất lưu không

Trang 26

51 52

II TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

VỤ VIỆC SỐ 1

Nội dung vụ án:

Nguyên đơn anh Nguyễn Duy Ch trình bày:

Ngày 22/5/1997, vợ chồng anh Ch mua đất của vợ chồng

ông bà Đ - M, đã được UBND xã KS xác nhận Sau đó, vợ

chồng anh Ch làm nhà ở khoảng hơn 60 m2 xây dựng Ngày

09/01/2007, vợ chồng anh Ch được UBND thành phố ST cấp

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 485463, thửa số

54, tờ bản đồ số 09 với diện tích 397,5 m2

(trong đó đất ở 50

m2, đất trồng cây lâu năm 347,5 m2) Thửa đất có kích thước

như sau: điểm 1-2 là 10,07m, điểm 2-3 là 39,20m, điểm 3 - 4

là 8,37m, điểm 4-5 là 1,71m, điểm 5-1 là 39,78m

Tháng 3/2007, anh Nguyễn Văn K là hộ liền kề có cho vợ

chồng em trai là anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị G đất để

làm nhà Khi xây dựng, vợ chồng anh C đã xây lấn sang phần

đất của gia đình anh Ch, bản thân anh đã gặp anh K và anh C

để trao đổi và đề nghị phía gia đình anh C phải tôn trọng mốc

giới đất đai khi xây dựng, nhưng anh C vẫn tiếp tục xây dựng Anh Ch đã có đơn gửi UBND xã KS yêu cầu giải quyết UBND xã đã tổ chức đo đạc và tiến hành hòa giải giữa hai gia đình nhưng không có kết quả Vợ chồng anh C vẫn tiếp tục xây dựng hoàn thiện ngôi nhà ba tầng Cụ thể phần tường nhà xây lấn sang phần đất nhà anh chỗ sâu nhất khoảng 40cm, phần máng chảy lấn sang 30cm chạy dọc theo nhà dài khoảng 20cm, phía sau nhà xây 01 rãnh thoát nước rộng khoảng 30cm Tổng diện tích đất xây lấn chiếm khoảng 08 m2, trên diện tích đất bị lấn chiếm không có tài sản gì

Nay anh Ch yêu cầu anh K và anh C phải cùng có trách nhiệm trả lại phần đất đã lấn chiếm của gia đình anh là khoảng

08 - 10m2 Riêng phần đất lấn chiếm đã xây dựng thành nhà kiên cố thì anh yêu cầu thanh toán bằng tiền để đảm bảo giá trị của công trình đã xây dựng, còn diện tích đất khác phải trả cho gia đình anh kể cả phần mái chảy ở trên

Chị Đỗ Lệ Th (vợ anh Ch) trình bày thống nhất với anh Ch

Bị đơn anh Nguyễn Văn K trình bày:

Năm 1985, gia đình anh K được UBND xã KS cấp đất với diện tích 1227,9m2 Ngày 01/11/2005, gia đình anh K được UBND thành phố ST cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 707973 với diện tích là 1227,9 m2

thửa số 53,

tờ bản đồ số 09 (trong đó có 200 m2

đất ở và 1027,9 m2 đất

Trang 27

53 54

vườn) Thửa đất có kích thước như sau: điểm 1-2 là 23,98m,

điểm 2-3 là 0,12m, điểm 3-4 là 39,78m, điểm 4-5 là 1,71m,

điểm 5-6 là 3,42m, điểm 6- 7 là 11,51m, điểm 7-8 là 9,17m,

điểm 8-9 là 8,29m, điểm 9-10 là 0,54m, điểm 10-11 là

22,14m, điểm 11-12 là 0,66m, điểm 12-13 là 0,94m, điểm

13-14 là 5,29m, điểm 13-14-1 là 29,65m Nhưng trên thực tế so với

diện tích đất được cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất thì gia đình anh còn thiếu 79m2

Tháng 3/2007, vợ chồng anh K cho vợ chồng người em

trai là anh Nguyễn Văn C, chị Nguyễn Thị G đất để làm nhà

Khi xây dựng, anh C xây trên phần đất của gia đình anh cho,

không lấn chiếm sang đất của nhà anh Ch Khi anh Ch có đơn

đề nghị UBND xã KS giải quyết, xã đã thành lập đoàn kiểm

tra đến đo đạc thì đất phía mặt tiền thiếu 30 cm, phía sau giáp

nhà anh Ch thiếu 10 cm và vợ chồng anh K cho rằng anh C

khi xây nhà không lấn chiếm đất đai của vợ chồng anh Ch,

Thực tế, tường rào do gia đình anh Ch xây năm 1998 vẫn tồn

tại, cách tường nhà của anh chị khoảng 30cm Việc anh Ch

kiện vợ chồng anh là không đúng, anh K không đồng ý với

yêu cầu của anh Ch đề nghị Toà án xem xét giải quyết theo

quy định của pháp luật

Chị Phùng Thị N (là vợ anh K) thống nhất với lời khai

của anh K

Anh Nguyễn Văn C và chị Nguyễn Thị G trình bày:

Do chưa có nhà ở nên năm 2002 vợ chồng anh K có cho

ý Hiện tại, nhà cửa của vợ chồng anh đã xây xong, nhà xây

02 tầng, 01 tum Khi xây dựng vợ chồng anh xây cách tường rào ngăn cách đất nhà anh Ch, chỗ rộng nhất khoảng 0,6m; hẹp nhất 0,2m để làm rãnh thoát nước Anh khẳng định không

hề lấn chiếm đất của gia đình anh Ch, vì vậy anh không đồng

ý với yêu cầu của anh Ch

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Hợp đồng mua bán ngày 22/5/1997 giữa vợ chồng anh

Ch, chị Th và vợ chồng ông Lê Văn Đ - bà Nguyễn Thị M có xác nhận của UBND xã KS Diện tích chuyển nhượng được ghi trong văn bản mua bán là 356 m2 Giấy chứng nhận quyền

Trang 28

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 707973 đứng

tên anh K, chị N do UBND thành phố ST cấp ngày 01/11/2005

có diện tích là 1227,9 m2

thửa số 53, tờ bản đồ số 09 (trong đó

có 200 m2 đất ở và 1027,9 m2 đất vườn) Theo biên bản thẩm

định tại chỗ thì thực tế tính toán trên các số đo trong Giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất được cấp thì diện tích đất anh K, chị N

đang quản lý, sử dụng còn thiếu khoảng 79 m2

Toàn bộ diện tích nhà đất của hai hộ liền kề của gia đình

anh Ch và gia đình anh K đều được bao bọc bởi tường rào xây

gạch, chiều cao khoảng 1,50m Phía giáp ranh giữa gia đình

anh Ch và anh K tường rào xây gạch do anh Ch xây từ năm

1998, cao khoảng 1,5m Đến nay đã hơn 10 năm không có

tranh chấp

Bình luận:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

- Diện tích nhà đất của vợ chồng anh Nguyễn Duy Ch, chị

Đỗ Lệ Th liền kề và giáp với diện tích nhà đất của vợ chồng

anh Nguyễn Văn K, chị Phùng Thị N tại thôn KT - xã KS -

thành phố ST - tỉnh H Cả hai gia đình đều đã được UBND

thành phố ST cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quá trình sử dụng đất đã xảy ra tranh chấp, bên nguyên đơn anh

Ch, chị Th cho rằng vợ chồng anh K đã lấn khoảng 08 -10 m2

đất nên khởi kiện yêu cầu bên bị đơn anh K, anh C phải trả lại phần đất đã lấn chiếm của gia đình anh Chvà thanh toán bằng tiền phần đất lấn chiếm đã xây dựng thành nhà kiên cố Từ các tình tiết của vụ án và yêu cầu của nguyên đơn, xác định quan

hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Diện tích đất tranh chấp đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm

2003 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định:

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:

1 Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5

Trang 29

57 58

Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền

với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;

2 Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không

có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có

một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5

Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện,

quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu

mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với

quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ

tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân

dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết

định giải quyết cuối cùng;

b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một

bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết

định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng

Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ

trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải

quyết cuối cùng

* Về giải quyết yêu cầu của bên nguyên đơn:

- Nguyên thủy nhà đất của anh Ch - chị Th là mua lại của

vợ chồng ông Đ - bà M từ ngày 22/5/1997 Việc mua bán chuyển nhượng có sự xác nhận của UBND xã KS Diện tích chuyển nhượng được ghi trong văn bản mua bán là 356 m2

Năm 2002, UBND thành phố ST đã kiểm tra đo đạc bằng máy, lập hồ sơ kỹ thuật để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình anh Ch - chị Th với diện tích là 397,5

m2 thuộc tờ bản đồ số 9, thửa số 54 Chính vì vậy, ngày 09/01/2007, vợ chồng anh Ch, chị Th được UBND thành phố

ST cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 485463, thửa số 54, tờ bản đồ số 09 với diện tích 397,5 m2

(trong đó đất ở 50 m2, đất trồng cây lâu năm 347,5 m2

- Toàn bộ diện tích nhà đất của các hộ liền kề của gia đình anh Ch và gia đình anh K đều được bao bọc bởi tường rào xây gạch, chiều cao khoảng 1,50m Phía giáp ranh giữa gia đình anh Ch và anh K tường rào xây gạch do anh Ch xây từ năm

1998, cao khoảng 1,5m Đến nay đã hơn 10 năm không có tranh chấp gì, các bên đều thừa nhận

Trang 30

59 60

- Năm 2007 vợ chồng anh K - chị N đã tặng cho em trai

anh K là anh C và chị G một phần diện tích đất khoảng 100

m2 để làm nhà ở theo quy định tại Điều 722 BLDS năm 2005

Sau đó, vợ chồng anh C - chị G đã tiến hành xây nhà 3 tầng

giáp với nhà đất của gia đình anh Ch - chị Th và đã xảy ra

tranh chấp Việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa vợ chồng

anh K, chị N và vợ chồng anh C, chị G chỉ thực hiện bằng

miệng, song giữa vợ chồng anh K chị N và vợ chồng anh C

-chị G không có tranh chấp về việc tặng cho quyền sử dụng đất

nên căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Tòa án

không xem xét, giải quyết quan hệ hợp đồng tặng cho quyền

sử dụng đất

Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

1 Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu

cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự

Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn

khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết

trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó

2 Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các

đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu

của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự

nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội

Ðiều 722 BLDS năm 2005 quy định:

- Anh Ch cho rằng, đất của gia đình anh phía ngoài tường rào còn khoảng 8 - 10m2, chiều rộng khoảng 40cm chạy dài theo khổ đất khoảng 28m Khi xây tường rào năm 1998 anh

đã để lại làm rãnh thoát nước Nay anh C - chị G xây nhà đã lấn sang phần đất này nên anh yêu cầu đòi lại Phía anh K - anh C khẳng định ranh giới đất giữa hai gia đình được giới hạn bởi tường rào xây gạch do chính tay anh Ch xây năm

1998, nên khi làm nhà anh C - chị G vẫn phải xây lùi về phía đất anh K cho anh chị, cách tường rào khoảng 20 cm để làm rãnh thoát nước

- Xem xét thực tế sau khi anh C - chị G đã xây nhà, tường nhà cách tường rào ngăn cách đất giữa đất của vợ chồng anh

Ch với đất của vợ chồng anh K thì đoạn hẹp nhất là 0,2 m, đoạn rộng nhất là 0,6 m Anh Ch khai rằng, đất của vợ chồng anh còn nằm ngoài tường rào song không đưa ra một căn cứ nào chứng minh đối với vấn đề này

Trang 31

61 62

Mặt khác, trong giấy tờ mua bán chuyển nhượng giữa anh

Ch - chị Th với vợ chồng ông Đ - bà M (năm 1997) thì diện

tích đất vợ chồng anh Ch, chị Th được chuyển nhượng chỉ có

356 m2, song trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã

tăng lên 41,5 m2. Anh Ch, chị Th cũng không lý giải được số

diện tích đất thừa ra do anh mua bán hoặc lấn ở phía nào

- Khi xem xét thực tế, tường rào ngăn cách đất giữa gia

đình ông Đ - bà M trước năm 1997 hiện còn móng tường

trong vườn nhà anh Ch do anh Ch phá và xây lấn về phía đất

của gia đình anh K - chị N để có bức tường rào ngăn cách

giữa 2 nhà như hiện nay và kể từ đó cho đến nay hai bên

không có tranh chấp gì Để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Ch và vợ chồng anh K

thì khi Uỷ ban nhân dân xã KS đến kiểm tra, đo đạc, xác định

mốc giới giữa 2 gia đình, các hộ liền kề anh Ch, anh K đều ký

vào biên bản xem xét đo đạc hiện trạng, không có khiếu nại

thắc mắc gì

Từ các phân tích trên cho thấy, anh Ch kiện đòi quyền sử

dụng đất của vợ chồng anh K - chị N, anh C - chị G là không

có căn cứ, do đó không chấp nhận yêu cầu đòi quyền sử dụng

đất của anh Ch đối với gia đình anh K - chị N, anh C - chị G

và cần giữ nguyên về tình trạng ranh giới đất giữa gia đình

anh Ch - chị Th với gia đình anh K - chị N, anh C - chị Giang

như hiện nay và được giới hạn bởi bức tường hàng rào xây

gạch do gia đình anh Ch đã xây dựng từ năm 1998 là phù hợp với quy định tại Điều 265 BLDS năm 2005

Ðiều 265 BLDS năm 2005 quy định:

Nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản

1 Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ ba mươi năm trở lên

mà không có tranh chấp

2 Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng

do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền

kề của người khác

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

3 Trong trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào,

Trang 32

63 64

rãnh, bờ ruộng thì người sử dụng đất có nghĩa vụ tôn

trọng, duy trì ranh giới chung; không được lấn, chiếm,

thay đổi mốc giới ngăn cách

Thực tế đo đạc diện tích đất tranh chấp là 8 m2 và theo

kết quả định giá của Tòa án cấp sơ thẩm ngày 16/9/2008 giá

trị 1.200.000 đồng/m2 x 8m2 = 9.600.000 đồng Vì vậy, anh

Ch - chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo giá trị tài sản

tranh chấp do không được chấp nhận yêu cầu

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải

quyết như sau:

1 Không chấp nhận yêu cầu đòi quyền sử dụng đất 8m2

và tranh chấp ranh giới đất của anh Nguyễn Duy Ch đối với

vợ chồng anh Nguyễn Văn K - chị Phùng Thị N và vợ chồng

anh Nguyễn Văn C - chị Nguyễn Thị G

2 Giữ nguyên về tình trạng ranh giới đất giữa gia đình

anh Ch - chị Th với gia đình anh K - chị N, anh C - chị Giang

như hiện nay, được giới hạn bằng bức tường rào xây gạch do

anh Ch đã xây dựng năm 1998

VỤ VIỆC SỐ 2

Nội dung vụ án:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Gia đình ông có 2 mảnh đất: Mảnh thứ nhất theo bản đồ

năm 1960 là thửa số 102 tờ bản đồ 05 diện tích 263m2 tại thôn

T, xã C, huyện TL, tỉnh H; chủ sử dụng là Nguyễn Ngọc L -

bố ông Mảnh thứ hai theo văn tự gia đình ông lưu giữ thì ông

Nh, bà L bán cho chị gái ông là bà Nguyễn Thị Th vào năm

1942 diện tích 348m2, bà Th mua cho bố mẹ ông mảnh đất này Bản đồ năm 1987 hai mảnh đất trên nhập thành một thửa diện tích 580m2

đi vào nhà bà S theo cột mốc cũ thì bà S không cho xây với lý

do nhà ông xây nhà đã xây hết đất Vì vậy, ông đề nghị Toà xác định mốc giới đất giữa nhà ông và ngõ đi nhà bà S ranh giới là tâm cột mốc cách tường nhà ông 0,5m

Bị đơn bà Trần Thị S uỷ quyền cho anh Nguyễn Xuân P trình bày:

Ngõ đi vào nhà anh P giáp đất nhà ông H Ranh giới đất

Trang 33

65 66

giữa nhà ông H và ngõ đi vào nhà anh trước đây là hàng rào

cây duối chứ không có cột mốc như ông H khai Khi ông H

xây nhà thì ông H đã phá hàng rào cây duối đi và xây hết đất

Móng nhà ông H đến đâu là cõi đến đó Ông H mở cửa sổ và

để ô văng cửa sổ sang ngõ đi nhà anh, gia đình anh đã phản

đối nhưng ông H vẫn cố tình làm nên anh không cho mở cửa

sổ Nay ông H đề nghị Toà xác định mốc giới giữa hai gia

đình, anh nhất trí nhưng anh không đồng ý ranh giới là tâm

cột mốc cách tường nhà ông H 0,5m

Ngày 30/8/2006, anh P nộp đơn phản tố: Đề nghị Toà xác

định mốc giới đất nhà ông H và ngõ đi vào nhà anh là móng

tường nhà ông H đã xây năm 1984 Buộc ông H phải dỡ bỏ

đoạn móng tường ông H xây trên ngõ đi nhà anh

Cụ Ngh là mẹ ông H trình bày: Nguồn gốc đất hiện nay

mà ông H và cụ sử dụng là của các cụ để lại cho vợ chồng cụ

và của con gái cụ là bà Th mua cho vợ chồng cụ Vợ chồng cụ

chỉ có 1 mình ông H là con trai nên hai cụ đã thống nhất cho

ông H mảnh đất này Ông H muốn làm gì thì làm

Bà Lưu Thị N là vợ ông H nhất trí với ông H, không có ý

kiến gì thêm

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Theo bản đồ năm 1987 thôn T thì thửa 584 tờ bản đồ 01

có diện tích 580m2 Quá trình kiểm tra, đo đạc xác định đất sử

dụng diện tích 580m2 từ 1987 nhưng ông H không thắc mắc, khiếu nại gì Quá trình sử dụng diện tích đất trên ông H đóng thuế sử dụng 580m2

và không khiếu nại gì về diện tích trên Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H đã thuê Công ty đo đạc đến đo bằng máy thì diện tích đất nhà ông đang sử dụng hiện tại là 579,4m2 (tính đến phần móng nhà cấp 4 nổi trên mặt đất)

Nội dung biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 02/7/2008 thì: Cột mốc như ông H trình bày hiện nay không còn nhưng còn móng và được thể hiện trong văn tự mua bán đất năm 1942 giữa ông Nh, bà L với bà Th Sau khi ông H đào hết phần móng tường nhà ông thì ở độ sâu đó lộ ra 2 móng cột xây gạch ở 2 phía đầu nhà Móng cột phía ngoài sát móng nhà, cách tường hậu nhà ông H 32cm, móng cột phía trong cách tường hậu nhà ông H 42cm Hai móng cột này nằm sâu dưới nền đất có chu vi không đều nhau, ông H cho rằng đây là móng cột mốc có từ trước năm 1942, còn phía anh P đại diện cho bà S không công nhận, cho rằng móng này là ông H tự xây, xây từ bao giờ anh không biết

Theo nội dung biên bản lấy lời khai ngày 16/7/2008 người làm chứng là bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn S ở gần gia đình ông H cũng khẳng định, chưa bao giờ nhìn thấy cột mốc Trong quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản hòa giải ngày 14/9/2008, anh P đã công nhận là bức tường ranh

Trang 34

67 68

giới giữa nhà anh và nhà ông M khi xây, ông M nhất trí lùi lại

phía đất nhà ông M một ít đất cho bức tường được thẳng

nhưng cụ thể bao nhiêu anh không biết

Bình luận:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

- Diện tích 580m2 đất của gia đình ông H tại thửa 584 tờ

bản đồ 01 liền kề với ngõ đi vào nhà bà S Quá trình sử dụng

đất đã xảy ra tranh chấp về mốc giới Bên nguyên đơn đã khởi

kiện bị đơn yêu cầu xác định mốc giới nhà ông và ngõ đi nhà

bà S cách tường nhà ông 0,5m Bên bị đơn nhất trí yêu cầu

Tòa án xác định mốc giới đồng thời có yêu cầu phản tố xác

định mốc giới đất nhà ông H và ngõ đi vào nhà bị đơn là

móng tường nhà ông H đã xây năm 1984 Buộc ông H phải dỡ

bỏ đoạn móng tường ông H xây trên ngõ đi Từ các tình tiết

của vụ án và yêu cầu của nguyên đơn chúng ta xác định quan

hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về mốc giới

quyền sử dụng đất Đây là một loại tranh chấp về quyền sử

dụng đất theo quy định tại khoản 7 Điều 25 Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2004

* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp:

Diện tích đất tranh chấp đã có tên trong sổ địa chính nên

theo quy định tại Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 tranh chấp

này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 quy định:

Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1 Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

2 Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản

3 Tranh chấp về hợp đồng dân sự

4 Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều

29 của Bộ luật này

5 Tranh chấp về thừa kế tài sản

6 Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

7 Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai

8 Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật

9 Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định

* Về giải quyết yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu phản

tố của bị đơn:

Đất thuộc quyền sử dụng của ông H hiện nay gồm 2 thửa

Trang 35

69 70

hợp lại: Một thửa mang số 102 tờ bản đồ 05 diện tích 263m2

(bản đồ năm 1960) và một thửa do ông Nh, bà L bán cho chị

gái ông là bà Nguyễn Thị Th năm 1942 diện tích 348m2 (theo

bản đồ năm 1960)

Theo bản đồ năm 1987 thôn T thì hai thửa đất trên của gia

đình ông H nhập thành một thửa là thửa số 584 tờ bản đồ 01

diện tích 580m2 Ông H có biết việc đo đạc xác định đất nhà

ông sử dụng diện tích 580m2 từ năm 1987 nhưng ông không

thắc mắc, khiếu nại gì Quá trình sử dụng diện tích đất trên

ông H cũng chỉ đóng thuế sử dụng 580m2

và không khiếu nại

gì về diện tích trên Theo kết quả đo đạc ngày 18/9/2008 của

Công ty đo đạc thì diện tích đất nhà ông H đang sử dụng hiện

tại là 579,4m2 (tính đến phần móng nhà cấp 4 nổi trên mặt

đất) Theo ông H thì ranh giới giữa nhà ông và ngõ đi nhà bà

S là cột mốc, cách tường hậu nhà ông 0,5m Cột mốc này còn

móng và được thể hiện trong văn tự mua bán đất năm 1942

giữa ông Nh, bà L với bà Th

Xem xét thực tế cho thấy, cột mốc như ông H trình bày

hiện nay không còn, những người làm chứng ở gần gia đình

ông H là bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn S cũng khẳng

định chưa bao giờ nhìn thấy cột mốc này Theo biên bản xem

xét thẩm định tại chỗ thì sau khi ông H đào hết phần móng

tường nhà ông thì ở độ sâu đó lộ ra 2 móng cột xây gạch ở 2

phía đầu nhà Móng cột phía ngoài sát móng nhà, cách tường

hậu nhà ông H 32cm, móng cột phía trong cách tường hậu nhà ông H 42cm Hai móng cột này nằm sâu dưới nền đất có chu

vi không đều nhau, ông H cho rằng đây là móng cột mốc có từ trước năm 1942, còn phía bị đơn do anh P đại diện cho bà S không công nhận và cho rằng móng này là ông H tự xây, xây

từ bao giờ anh không biết Quá trình sử dụng đất tại đây cũng

có biến động

Trong quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn anh P cũng công nhận là bức tường ranh giới giữa nhà anh và nhà ông M khi xây, ông M nhất trí lùi lại phía đất nhà ông M một ít đất cho bức tường được thẳng nhưng cụ thể bao nhiêu anh không biết

Như vậy, ranh giới đất nhà ông H đến sát móng tường hậu nhà ông (phần móng nơi trên mặt đất theo đo đạc) xây năm 1984 là phù hợp với bản đồ năm 1987 diện tích 580m2

Phía anh P và cả ông H xác định móng nhà ông H còn chìm xuống phía dưới nữa và khi xác định thực tế cũng như vậy, vì móng xây giật cấp Anh P cho rằng, móng tường nhà ông H đến đâu là ranh giới ở đó Mặt khác, hai móng cột mốc cũng phù hợp với giấy văn tự mua bán đất năm 1942 Tuy nhiên, hiện nay cột mốc này không còn, không có chứng cứ xác định được ai là người xây cột mốc cũ mà chỉ còn móng cột mốc, vì vậy không có căn cứ thoả mãn yêu cầu của ông H xác định ranh giới là tâm cột mốc

Trang 36

71 72

Cần căn cứ vào bản đồ năm 1987 để xác định ranh giới

đất giữa nhà ông H với ngõ đi nhà bà S là móng tường hậu

nhà ông H Từ đó, xác định ranh giới đất giữa nhà ông H và

ngõ đi nhà bà S đến sát mép bên trái móng cột mốc, cụ thể là

phía ngoài cách tường hậu nhà ông H 32cm, phía trong cách

tường hậu nhà ông H 42 cm kéo thẳng hết đất Ông H đã xây

một bức tường lửng trên ranh giới phía cuối đất dài 3,96m

nhưng bức tường này có 1/2 chiều rộng không nằm trên ranh

giới đất ông được sử dụng nên ông phải tự dỡ bỏ Phần đất

ông H được sử dụng sẽ có diện tích 580 m2

có ranh giới không thẳng với bức tường ranh giới giữa nhà bà S và nhà ông M, vì

chính anh P xác nhận trong quá trình giải quyết vụ án là ông

Mùi đã cho lùi lại phía đất nhà ông M để bức tường thẳng

điều đó không ảnh hưởng đến ranh giới đất giữa nhà ông H và

bà S kéo thẳng theo mốc giới phân định trên Từ những phân

tích trên, yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị

đơn chỉ được chấp nhận một phần

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải

quyết như sau:

1 Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn H

về xác định mốc giới đất giữa thửa đất ông Nguyễn Văn H

được sử dụng với ngõ đi thuộc đất của bà Trần Thị S sử dụng

tại thôn T, xã C, huyện TL, tỉnh H

Xác định ranh giới đất thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị S là đường thẳng phía ngoài (phía đường làng) cách mép ngoài tường hậu nhà ông H 32cm (ba mươi hai cm) phía trong cách mép góc tường hậu nhà ông H 42cm (bốn mươi hai cm) nối đến điểm giữa của đầu bức tường lửng ông H xây kéo thẳng theo bức tường đến hết cõi đất

2 Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Trần Thị S

do anh Nguyễn Xuân P đại diện: Buộc ông Nguyễn Văn H phải phá bỏ 1/2 chiều rộng bức tường lửng ông H xây (phần sát ngõ nhà bà S) không nằm trên diện tích đất ông được sử dụng có chiều rộng 0,15m và dài 3,96m

VỤ VIỆC SỐ 3

Nội dung vụ án:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Ngh trình bày:

Bố ông là cụ Nguyễn Văn B mất năm 1967, có vợ là cụ Phan Thị Th mất năm 1964 Hai cụ có 5 người con gồm: ông

L, ông C , ông P, ông N và ông Ngh Hai cụ có ngôi nhà cổ 5 gian trên diện tích đất 1.770m2 tại xóm Đ, thôn 2, xã T, huyện

TL, tỉnh H Khi còn sống cụ B, cụ Th đã chia tài sản cho 5 người con mỗi người một phần đất có ranh giới rõ ràng, riêng ông Ngh và ông N được bố mẹ chia cho diện tích đất 355m2

chưa có ranh giới cụ thể

Trang 37

73 74

Ngày 31/12/1991, ông L là anh trưởng cùng anh em con

cháu đứng ra lập văn bản phân chia quyền thừa kế, quyền sử

dụng đất thổ cư cho ông Ngh và ông N, cụ thể ông Ngh được

120,8m2 đất còn lại phía trong là của ông N và để lại một lối

đi chung có chiều dài 16m và chiều rộng 1,8m

Do chưa có điều kiện xây dựng ở, năm 1967 anh D - con

ông N có mượn ông Ngh phần đất trên để làm nơi chăn nuôi

Năm 1994, anh D làm giấy trả lại diện tích đất trên cho ông

Ngh Ông Ngh đã làm nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước từ

trước đến nay Nay ông Ngh có ý định về đất này xây dựng thì

anh Nguyễn Kim Kh - con ông N, gây khó khăn và cố tình

chiếm đoạt đất của ông Ông Ngh khởi kiện đề nghị Toà án

buộc anh Kh phải trả lại ông diện tích đất 120,8m2 ở xóm Đ,

thôn 2, xã T, huyện TL, tỉnh H

Bị đơn anh Nguyễn Kim Kh trình bày:

Bố anh là ông Nguyễn Văn N mất năm 1988, mẹ anh là

bà Nguyễn Thị Th mất năm 2003 Bố mẹ anh sinh 5 người

con gồm: anh Kh, chị G, chị Q, anh D và anh H Anh D mất

năm 2005 có vợ là Chu Thị T và 5 con, đó là chị O, chị P, chị

M, anh S, anh Đ

Cụ B, cụ Th có nhà đất như ông Ngh trình bày là đúng

Khi các cụ còn sống đã nói chia đất cho các con, cụ thể Ông

Văn bản chia đất năm 1991, anh không đồng ý vì mẹ anh

và 4 anh chị em anh không biết Nay ông Ngh đòi lại diện tích đất trên, nếu xác định đất của ông Ngh thì anh cũng đồng ý nhưng ông Ngh phải thanh toán công sức duy trì tôn tạo và tài sản nằm trên đất trong suốt 50 năm qua cho vợ chồng anh với

số tiền là 350.000.000 đồng

Chị Hoàng Thị A (vợ anh Kh) trình bày:

Chị nhất trí lời khai của anh Kh và chị có đề nghị nếu Toà

xử trả ông Ngh đất có tranh chấp thì Toà xem xét công sức duy trì tôn tạo của vợ chồng chị từ năm 1953 cho đến nay Anh chị có xây dựng thêm 01 nhà vệ sinh năm 2006

Chị Q, chị G, anh H trình bày:

Nguồn gốc thửa đất có tranh chấp là của ông Nguyễn Văn Ngh Nay có việc tranh chấp giữa anh Kh và ông Ngh Các anh, chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật

Trang 38

75 76

Bà T, chị O, chị P, chị M, anh S, anh Đ trình bày:

Nguồn gốc thửa đất có tranh chấp là của ông Nguyễn Văn

Ngh Trước đây, gia đình bà T và ông D có mượn đất của ông

Ngh để xây dựng chuồng lợn Năm 1994, ông D làm giấy trả

lại ông Ngh đất Khi mượn vợ chồng bà là người xây chuồng

lợn Khi chuyển đi không có ý kiến gì, ông D chết năm 2005

Nay có việc kiện giữa ông Ngh và anh Kh đề nghị Tòa căn cứ

pháp luật giải quyết; bà và các anh chị không có ý kiến gì và

xin giải quyết vắng mặt Đối với chuồng lợn cũ không yêu cầu

ông Ngh phải thanh toán giá trị

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện:

“Văn bản phân chia quyền thừa kế sử dụng đất thổ cư”

ngày 31/12/1991 có nội dung đúng như ông Ngh trình bày

Tại thời điểm này, cán bộ địa chính Uỷ ban nhân dân xã T về

cắm mốc giới đất giữa đất của ông N và đất của ông Ngh, anh

Kh biết nhưng không có ý kiến gì Tại Trích lục bản đồ năm

1986 của xã T đã thể hiện thửa số 79 diện tích 355m2 đất thổ

cư đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn N và ông

Nguyễn Văn Ngh

“Giấy bàn giao” ngày 20/3/1994 do anh D viết và ký có

nội dung trả ông Ngh diện tích đất đã mượn Biên bản xác

minh ngày 25/7/2007 có nội dung UBND xã T xác định diện

tích đất tranh chấp có diện tích 120,8m2

là của ông Ngh Anh

Kh không xuất trình được chứng cứ gì để chứng minh diện tích đất đang tranh chấp là của ông N

Bản di chúc ngày 15/6/2001của bà Nguyễn Thị Th (mẹ anh Kh) có nội dung toàn bộ diện tích đất và nhà (kể cả diện tích đất đang tranh chấp) tại thửa số 79 xóm Đ, thôn 2, xã T, huyện TL, tỉnh H là của bà Th, ông N và anh Kh được giao lại quyền sử dụng đất ở này Bản di chúc không có công chứng, chứng thực chỉ có dấu vân tay nhưng không ghi rõ dấu vân tay

là của ai; anh Kh, chị M ký người làm chứng Tại biên bản đối chất ngày 10/8/2007 anh Kh khai: Vào ngày 27/9/1992 thì mẹ anh là bà Th cũng đã có giấy phân chia nhà đất giữa 5 anh em nhà anh Nội dung trong biên bản ngày 27/9/1992, bà Th xác định vợ chồng bà có 162m2 đất và các ranh giới chia cho anh

D, anh Kh đều có cạnh giáp đất của ông Nguyễn Văn Ngh Tại Biên bản xác minh ngày 12/01/2007 do UBND xã T

xác nhận có nội dung “Hiện tại nền đất trên phần của ông Ngh vẫn nguyên vẹn như ngày xưa…” Trên diện tích đất

120,8m2 hiện có 2 cây hồng xiêm, 1 hàng rào duối, 1 nhà vệ sinh là do vợ chồng anh Kh, chị A xây dựng, trồng trọt Ngoài

ra, còn 01 chuồng lợn cũ hỏng do vợ chồng anh D xây dựng

Bình luận:

* Về yêu cầu đòi quyền sử dụng 120,8 m 2 của ông Ngh:

Theo lời trình bày của các đương sự trong vụ án thì các

Trang 39

77 78

đương sự đều xác nhận nguồn gốc đất tranh chấp là do cụ

Nguyễn Văn B và cụ Phan Thị Th để lại cho các con Nhưng

anh Nguyễn Kim Kh không xác nhận diện tích đất đang tranh

chấp là diện tích ông Ngh được các cụ chia cho, mà anh cho

rằng bố anh là ông Nguyễn Văn N được các cụ chia cho toàn

bộ diện tích đất đang tranh chấp và cả phần diện tích trên đó

nhà anh đang quản lý, tổng diện tích là 355m2

đất

Anh Kh không thừa nhận “Văn bản phân chia quyền

thừa kế sử dụng đất thổ cư” ngày 31/12/1991 do ông

Nguyễn Văn L cùng anh em con cháu trong gia đình lập và

có cán bộ Uỷ ban nhân dân xã T về cắm mốc giới đất giữa

đất của ông N và đất của ông Ngh Nhưng ngay tại thời

điểm đó thì anh Kh cũng không có ý kiến gì Tại Trích lục

bản đồ năm 1986 cũng đã thể hiện thửa số 79 diện tích

355m2 đất thổ cư đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Văn

N và ông Nguyễn Văn Ngh Do vậy, “Văn bản phân chia

quyền thừa kế sử dụng đất thổ cư” lập ngày 31/12/1991

phù hợp với trích lục bản đồ Mặt khác, năm 1967 khi ông

N còn sống thì anh Nguyễn Kim D là anh trai anh Kh còn

hỏi mượn ông Ngh diện tích đất đang tranh chấp để chăn

nuôi và khi không sử dụng nữa anh D đã viết “Giấy bàn

giao” ngày 20/3/1994 trả ông Ngh diện tích đất đã mượn

Qua thu thập chứng cứ, UBND xã T cũng đã xác định diện

tích đất tranh chấp có diện tích 120,8m2 là của ông Ngh

Anh Kh không xuất trình được chứng cứ gì để chứng minh diện tích đất đang tranh chấp là của ông N - bố anh Như vậy, việc anh Kh khiếu nại ra không có cơ sở

Anh Kh xuất trình “giấy giao lại quyền sử dụng đất ở” ngày 15/6/2001 của mẹ anh Kh là bà Nguyễn Thị Th và cho rằng văn bản này là di chúc để chứng minh toàn bộ diện tích đất và nhà (kể cả diện tích đất đang tranh chấp) là của bố mẹ anh và anh được mẹ anh giao lại quyền sử dụng đất ở Nhưng văn bản này không có công chứng, chứng thực mà chỉ có dấu vân tay cũng không ghi rõ dấu vân tay là của ai và người làm chứng lại anh Kh, chị M lại chính là những người thuộc diện được hưởng thừa kế Nên nếu văn bản này là di chúc thì không đúng quy định về việc lập di chúc theo Điều 657, 659 BLDS năm 1995 Hơn nữa, toàn bộ diện tích 14,5 thước đất như trong “giấy giao lại quyền sử dụng đất ở” ngày 15/6/2001 không phải là của ông N và bà Th tất cả Nên việc bà Th viết giấy giao lại quyền sử dụng đất ở cho anh Kh như anh Kh xuất trình là không có cơ sở Mặt khác, tại phiên toà chính anh

Kh cũng thừa nhận trước đây vào ngày 27/9/1992 thì mẹ anh

là bà Th cũng đã có giấy phân chia nhà đất giữa 5 anh em nhà anh Nhưng anh cho rằng, tại giấy này anh bị ép phải ký Tuy vậy, nội dung trong biên bản này bà Th cũng chỉ xác định vợ chồng bà có 162m2

đất và các ranh giới chia cho anh D, anh

Kh đều có cạnh giáp ông Nguyễn Văn Ngh Từ các phân tích

Trang 40

79 80

trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của

ông Ngh là có căn cứ

Điều 657 BLDS năm 1995 quy định:

Người làm chứng cho việc lập di chúc

Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc,

trừ những người sau đây:

1 Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của

Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự

mình viết bản di chúc, thì có thể nhờ người khác viết,

nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng Người

lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc

trước mặt những người làm chứng; những người làm

chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di

chúc và ký vào bản di chúc

Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 656

và Điều 657 của Bộ luật này

* Về công duy trì bảo quản và tôn tạo đất:

Tại Bản tự khai ngày 21/5/2007, anh Kh đã thừa nhận anh không có chứng cứ chứng minh và con số cụ thể về yêu cầu này Tại Biên bản xác minh ngày 12/01/2007 thì UBND xã T

đã cung cấp có nội dung: “… Hiện tại nền đất trên phần của ông Ngh vẫn nguyên vẹn như ngày xưa…” Do vậy, không có

cơ sở để chấp nhận yêu cầu thanh toán công sức duy trì, bảo quản và tôn tạo diện tích 120,8 m2

đất của anh Kh

Trên diện tích đất 120,8m2

hiện có 2 cây hồng xiêm, 1 hàng rào duối, 1 nhà vệ sinh là do vợ chồng anh Kh, chị A xây dựng, trồng trọt nên ông Ngh phải có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên đất do vợ chồng anh Kh, chị A trồng trọt, xây dựng theo Biên bản định giá ngày 12/10/2007 là 3.090.000 đồng Ngoài ra, trên đất còn 1 chuồng lợn cũ hỏng do anh D xây dựng, nay vợ con anh D tự nguyện không yêu cầu thanh toán giá trị, sự tự nguyện phù hợp với pháp luật nên ghi nhận Hiện tại, vợ chồng anh Kh và chị A đang quản lý diện tích đất tranh chấp nên cần buộc anh Kh và chị A phải trả 120,8m2 đất cho ông Ngh

Từ những phân tích trên đây, vụ việc có thể được giải quyết như sau:

1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn

Ngày đăng: 09/05/2016, 21:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w