1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tìm hiểu quy định của pháp luật việt nam về tổ chức chính quyền địa phương

43 347 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 248,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 3 CHƯƠNG I.KHÁI QUÁT CHUNG 3 1.Khái quát về Việt Nam 3 1.1.Địa lý Việt Nam 3 1.2. 1. Sự hình thành, phát triển của chính quyền địa phương Việt Nam qua các thời kỳ 4 1.3.Phân cấp chính quyền tại Việt Nam hiện nay 5 2. Khái niệm chung về đơn vị hành chính và chính quyền địa phương 7 CHƯƠNG II.CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 9 1.Khái niệm chính quyền địa phương tại Việt Nam 9 1.1.Khái niệm chung 9 1.2.Khái niệm chính quyền địa phương trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật. 9 2. Các cấp chính quyền địa phương tại Việt Nam 11 2.1.Cấp xã: 11 2.2.Cấp huyện: 11 2.3.Cấp tỉnh 12 3. Vai trò và mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại Việt Nam 12 3.1. Vai trò 12 3.2. Mô hình 13 CHƯƠNG III. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 15 1. Quy định của Hiến pháp 2013 về chính quyền địa phương 15 1.1. Quan niệm về chính quyền địa phương 15 1.2. Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương 17 1.3. Thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương 22 2.Chính quyền địa phương theo Luật tổ chức chính quyền địa phương 25 CHƯƠNG IV. THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 32 1.Thực trạng tổ chức, hoạt động chính quyền địa phương ở Việt Nam 32 2. Định hướng, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương tại Việt Nam 35 KẾT LUẬN: 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO 40   DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CQĐP: Chính quyền địa phương UBND: Ủy ban nhân dân HĐND: Hội đồng nhân dân CNXH: Chủ nghĩa xã hội XHCN: Xã hội chủ nghĩa UBHC: Ủy ban hành chính  

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG I.KHÁI QUÁT CHUNG 3

1.Khái quát về Việt Nam 3

1.1.Địa lý Việt Nam 3

1.2 1 Sự hình thành, phát triển của chính quyền địa phương Việt Nam qua các thời kỳ 4

1.3.Phân cấp chính quyền tại Việt Nam hiện nay 5

2 Khái niệm chung về đơn vị hành chính và chính quyền địa phương 7

CHƯƠNG II.CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 9

1.Khái niệm chính quyền địa phương tại Việt Nam 9

1.1.Khái niệm chung 9

1.2.Khái niệm chính quyền địa phương trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật 9

2 Các cấp chính quyền địa phương tại Việt Nam 11

2.1.Cấp xã: 11

2.2.Cấp huyện: 11

2.3.Cấp tỉnh 12

3 Vai trò và mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại Việt Nam 12

3.1 Vai trò 12

3.2 Mô hình 13

CHƯƠNG III NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 15

1 Quy định của Hiến pháp 2013 về chính quyền địa phương 15

1.1 Quan niệm về chính quyền địa phương 15

Trang 2

1.2 Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa

phương 171.3 Thực hiện các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương 222.Chính quyền địa phương theo Luật tổ chức chính quyền địa phương 25CHƯƠNG IV THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 321.Thực trạng tổ chức, hoạt động chính quyền địa phương ở Việt Nam 32

2 Định hướng, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương tại Việt Nam 35

KẾT LUẬN: 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

Trang 4

MỞ ĐẦU

Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam ta rất coi trọng nền hành chínhnhà nước,đặc biệt là vấn đề về chính quyền địa phương Nhằm thực hiệnthắng lợi nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam theo định hướng pháp quyền của dân, do dân và vì dân Đấtnước ta đang trên con đường đổi mới và ngày càng phát triển Nền tảng đểnền kinh tế xã hội phát triển vững mạnh là hệ thống chính quyền địa phươngcủa nhà nước phải được ổn định và không ngừng phát triển Nhằm thúc đẩy,nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước ở địa phương đáp ứng yêu cầu của thời kỳcông nghiệp hóa - hiện đại hóa Đảng, nhà nước đã và đang triển khai thựchiện những nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địaphương Đồng thời học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển, nhất lànhững nước có điều kiện và hoàn cảnh tương đồng với nước ta để xây dựng

và sửa đổi những quy định của pháp luật về chính quyền địa phương ở ViệtNam cho hợp lý

Hiện nay chúng ta đang nghiên cứu đổi mới tổ chức và hoạt động củachính quyền địa phương nhằm đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm củachính quyền địa phương, tổ chức hợp lý các cấp chính qyền địa phương, tangcường hiệu lực quản lý của nhà nước với địa phương trong quá trình côngnghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

Thuật ngữ “chính quyền địa phương” thường được hiểu là những đơn

vị của chính quyền trực tiếp cung cấp dịch vụ cho công dân tại cấp trung gianthấp và cấp thấp nhất Tại một số nước trên thế giới, các đơn vị chính quyềnđịa phương đã có quyền tự trị từ rất lâu, trước khi các quốc gia đó thành lập

và có tổ chức chính quyền như hiện nay Do đó không cần sự phân cấp thẩmquyền từ cấp chính quyền cao hơn cho các đơn vị này Ở một số nước có kếtcấu nhà nước đơn nhất, chính quyền địa phương thực thi quyền lực nhà nước

Trang 5

theo nguyên tắc quyền lực của chính quyền cấp dưới do chính quyền Trungương trực tiếp ủy nhiệm Chính quyền Trung ương có thể bãi bỏ việc ủynhiệm đó Tại một số nước thuộc hệ thống đơn nhất khác, chính quyền địaphương hoạt động theo nguyên tắc thẩm quyền chung và trên nguyên tắcđược thực thi những thẩm quyền không thuộc chính quyền Trung ương.

Khác với các nước đó,chính quyền địa phương của Việt Nam là một bộphận hợp thành của chính quyền nhà nước thống nhất, hoạt động trên cơ sởnguyên tắc tập trung dân chủ Do đó việc tổ chức chính quyền địa phươngđược quy định rõ trong các văn bản luật

Với nội dung đề tài “ Tìm hiểu quy định của pháp luật Việt Nam về tổchức chính quyền địa phương” tôi mong muốn làm rõ hơn các quy định củaViệt Nam về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Từ đó đưa racác biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương tạiViệt Nam

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG 1.Khái quát về Việt Nam

1.1.Địa lý Việt Nam

Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, thuộc vùng đông nam châu

Á Lãnh thổ Việt Nam chạy dọc bờ biển phía đông của bán đảo này ViệtNam có đường biên giới đất liền dài 4.550 km: phía Bắc giáp Trung Quốc,phía Tây giáp Campuchia và Lào và phía Đông giáp biển Đông

Việt Nam có diện tích 331.698 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đấtliền và hơn 4.500 km² biển nội thủy, với hơn 2.800 hòn đảo, bãi đá ngầm lớnnhỏ, gần và xa bờ, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa mà Việt Nam tuyên

bố chủ quyền, có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lụcđịa được Chính phủ Việt Nam xác định gần gấp ba lần diện tích đất liềnkhoảng trên 1 triệu km²

Địa hình Việt Nam rất đa dạng theo các vùng tự nhiên như vùng tâybắc, đông bắc, Tây Nguyên có những đồi và những núi đầy rừng, trong khiđất phẳng che phủ khoảng ít hơn 20% Núi rừng chiếm độ 40%, đồi 40%, và

độ che phủ khoảng 75% Các vùng đồng bằng như đồng bằng sông Hồng,đồng bằng sông Cửu Long và các vùng duyên hải ven biển như Bắc Trung Bộ

và Nam Trung Bộ Nhìn tổng thể Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có caonguyên và vùng châu thổ sông Hồng, miền Trung là phần đất thấp ven biển,những cao nguyên theo dãy Trường Sơn, và miền Nam là vùng châu thổ CửuLong Điểm cao nhất Việt Nam là 3.143 mét, tại đỉnh Phan Xi Păng, thuộcdãy núi Hoàng Liên Sơn Diện tích đất canh tác chiếm 17% tổng diện tích đấtViệt Nam

Về tài nguyên đất, Việt Nam có rừng tự nhiên và nhiều mỏ khoáng sảntrên đất liền với phốt phát, than đá, chôrômát,vàng Về tài nguyên biển thì có

cá, tôm, dầu mỏ, khí tự nhiên.Với hệ thống sông, hồ nhiều, đây là tiềm năngcho thủy điện phát triển

Trang 7

1.2 1 Sự hình thành, phát triển của chính quyền địa phương Việt Nam qua các thời kỳ

Lịch sử hình thành và phát triển của CQĐP ở nước ta có thể phân thành

4 gian đoạn, mỗi giai đoạn có những nét đặc thù riêng

Giai đoạn thứ nhất: Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm

1960 Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình xây dựng chính quyền sau khinước ta giành độc lập Trong giai đoạn này, đã có sự phân biệt tương đối rạchròi giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị; cấp huyện là cấp trunggian, không có HĐND; vai trò của UBHC được đề cao; cơ cấu tổ chức gọnnhẹ

Giai đoạn thứ hai: Từ 1960 đến 1980, là giai đoạn có khá nhiều nét đặcbiệt trong tổ chức và hoạt động của CQĐP để bảo đảm song song hai nhiệmvụ: vừa xây dựng kinh tế, xây dựng nhà nước XHCN ở miền Bắc, vừa thựchiện công cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam Tổ chức và hoạt động củachính quyền thể hiện rõ nguyên tắc tập quyền XHCN; pháp luật đề cao vai tròcủa HĐND; cơ cấu tổ chức có xu hướng tăng mạnh so với trước đây; không

có sự phân biệt chính quyền đô thị và nông thôn, nhưng ở các khu vực miềnnúi có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống được thành lập các khu tự trị

Giai đoạn thứ ba: Từ 1980 đến 1992, là giai đoạn tiến hành xây dựngCNXH trong cả nước Đặc trưng của giai đoạn này là việc tổ chức và hoạtđộng của CQĐP theo mô hình của Liên xô (cũ); chỉ các cơ quan do nhân dântrực tiếp bầu ra mới được thừa nhận là cơ quan quyền lực nhà nước; triệt đểtuân thủ nguyên tắc tập quyền XHCN; tổ chức chính quyền ở các cấp cơ bảngiống nhau Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên CQĐP giaiđoạn này không được phát huy, dân chủ trở nên hình thức Tổ chức và hoạtđộng của CQĐP đều rập khuôn theo chính quyền trung ương

Giai đoạn thứ tư: Từ 1992 đến nay Với sự nhận thức mới bộ máy nhànước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN nên các cấpCQĐP đã chủ động, sáng tạo hơn, phát huy dân chủ nhiều hơn trong tổ chức

Trang 8

và hoạt động HĐND các cấp có Thường trực, các ban chuyên môn và bướcđầu có sự khác biệt về thẩm quyền giữa các cấp chính quyền ở địa phương.Tuy nhiên, việc phân cấp vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để; không

có sự phân biệt giữa chính quyền ở đô thị và nông thôn…

Như vậy, qua các giai đoạn phát triển, mô hình tổ chức và hoạt độngcủa CQĐP ở nước ta mang những đặc trưng riêng Thực tiễn cũng đã chỉ rađược những điểm hợp lý, những bài học kinh nghiệm rất có giá trị cho quátrình nghiên cứu, xây dựng một mô hình tổ chức CQĐP hoạt động có hiệulực, hiệu quả trong thời gian tới

1.3.Phân cấp chính quyền tại Việt Nam hiện nay

Bản đồ hành chính Việt Nam

Trang 9

Phân cấp hành chính Việt Nam gồm 3 cấp: cấp tỉnh và tương đương,cấp huyện và tương đương, cấp xã và tương đương.

Việt Nam được chia ra 58 tỉnh và 5 thành phố trực thuộc trung ương(*)với thủ đô là Hà Nội 63 đơn vị hành chính cấp tỉnh và tương đương của ViệtNam lần lượt (sắp xếp theo bảng chữ cái):

Trang 10

Dưới cấp tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là cấp quận, huyện, thị

xã và thành phố trực thuộc tỉnh Tính đến năm 2015, Việt Nam có 713 đơn vịcấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh

Dưới cấp quận/huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh là các đơn vị hànhchính phường, xã, thị trấn

Dưới cấp phường/xã/thị trấn là các khu vực với các tên gọi khác nhau ởcác vùng miền như khu phố, tổ dân phố, làng, thôn, ấp, khóm, buôn, bản, xóm

2 Khái niệm chung về đơn vị hành chính và chính quyền địa phương

Về mặt lý luận, nhìn chung chính quyền địa phương thường được hiểu

là tập hợp các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương nhưng phạm

vi của tập hợp này có thể rộng hay hẹp tùy theo cách quan niệm Có tác giảcho rằng, cơ quan chính quyền địa phương về nguyên tắc phải do nhân dânđịa phương trực tiếp bầu ra hoặc do cơ quan đại diện nhân dân ở địa phương

đó thành lập Hiểu theo cách này chính quyền địa phương không bao gồmnhững cơ quan do cấp trên bổ nhiệm hoặc chỉ định xuống Cách quan niệmrộng hơn thì cho rằng “chính quyền địa phương có thể chỉ là một cơ quanhành chính được thiết lập bằng nhiều cách thức khác nhau, có thể do cơ quanhành chính cấp trên quyết định thành lập, hay do hội đồng nhân dân cấp dướibầu, hoặc theo cách thức khác” ở Việt Nam, chúng ta thường tiếp cận kháiniệm chính quyền địa phương theo nghĩa hẹp, phần đông các học giả xác địnhchính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân màkhông bao gồm cơ quan xét xử và cơ quan kiểm sát ở địa phương (song cũng

có học giả cho rằng cần xem bản thân nhân dân địa phương là một chủ thểquan trọng nhất của chính quyền địa phương)

Rất gần gũi với khái niệm “chính quyền địa phương” chúng ta có kháiniệm “đơn vị hành chính” Nói cách khác, không thể xây dựng định nghĩa

Trang 11

“chính quyền địa phương” nếu không thông qua khái niệm “đơn vị hànhchính” Về mối quan hệ giữa hai khái niệm này, có tác giả đồng nhất chínhquyền địa phương với đơn vị hành chính, từ đó đề cập đến việc phải nhìnnhận tư cách pháp nhân đối với đơn vị hành chính Ngược lại, có tác giả đặcbiệt nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa hai thuật ngữ nói trên, từ đó kiến nghịphải xây dựng Luật Tổ chức đơn vị hành chính bên cạnh Luật Tổ chức chínhquyền địa phương Theo người viết, cần thiết phải phân biệt chính quyền địaphương với đơn vị hành chính ở một mức độ nhất định Đơn vị hành chínhnên được hiểu là một đơn vị lãnh thổ xác định có địa giới được phân định bởimột quyết định mang tính hành chính và là khách thể của hoạt động quản lýhành chính nhà nước Chính quyền địa phương nên được hiểu là một tổ hợpthiết chế công quyền được thiết lập trên một đơn vị hành chính, thực thiquyền lực nhà nước và cung cấp các dịch vụ công trong phạm vi đơn vị hànhchính đó Nói cách khác, chính quyền địa phương có tư cách của pháp nhâncông quyền và đóng vai trò chủ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhànước.

Các đơn vị hành chính theo nghĩa này là các phần tử hợp thành lãnh thổcủa một quốc gia, căn cứ vào địa vị pháp lý của từng loại đơn vị hành chính ta

có các lát cắt gọi là “cấp hành chính” Trong khi đó, chính quyền các địaphương cùng với chính quyền trung ương là các phần tử hợp thành bộ máynhà nước (tất nhiên khái niệm bộ máy nhà nước bao gồm cả các phân hệ cơquan khác nữa), theo các lát cắt chúng ta có các “cấp chính quyền” “Cấphành chính” và “cấp chính quyền” không nhất thiết phải trùng khớp với nhaubởi trong các cấp hành chính địa phương có thể có cấp trung gian (cấp hànhchính nhân tạo) nơi mà ở đó không cần tổ chức cấp chính quyền hoàn chỉnh

Trang 12

CHƯƠNG II.CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM 1.Khái niệm chính quyền địa phương tại Việt Nam

1.1.Khái niệm chung

Khái niệm chính quyền địa phương là khái niệm phát sinh từ khái niệm

hệ thống các cơ quan nhà nước ở địa phương Khái niệm này được sử dụngkhá phổ biến trong nhiều văn bản của pháp luật Là khái niệm được sử dụngnhiều trong tổ chức và hoạt động của nhà nước vào đời sống thực tế xã hội.Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa kháiniệm chính quyền địa phương bao gồm những thiết chế nào, mối quan hệ và

cơ chế hoạt động cụ thể của các bộ phận cấu thành Xuất phát từ góc độnghiên cứu lý luận, từ góc độ thực tế hay cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu củacác nhà khoa học, ác nhà thực tiễn và quản lý tập trung vào 3 quan niệm nhưsau:

a Chính quyền địa phương là khái niệm để chỉ tất cả các cơ quan nhànước (mang quyền lực nhà nước đóng trên địa bàn)

b Chính quyền địa phương gồm hai phân hệ cơ quan: Cơ quan quyênlực nhà nước ở địa phương (Hội đồng nhân dân) và cơ quan hành chính nhànước ở địa phương (Ủy ban nhân dân)

c Chính quyền địa phương bao gồm 4 phân hệ cơ quan tương ứng với

4 phân hệ cơ quan nhà nước tối cao ở trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao) là cơ quan quyền lực nhànước ở địa phương (Hội đồng nhân dân các cấp), cơ quan hành chính nhànước ở địa phương (Ủy ban nhân dân các cấp), cơ quan tư pháp (Tòa án nhândân các cấp), cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân các cấp)

1.2.Khái niệm chính quyền địa phương trong các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật.

Trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam, khái niệm

Trang 13

chính quyền địa phương được sử dụng để chỉ tổ chức và hoạt động của hai cơquan là Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân Nghị quyết lần thứ ba BanChấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) ngày 18 tháng 6 năm 1997 tại phầnIII, mục 4 về tiếp tục cải cách hành chính nhà nước đối với chính quyền địaphương chỉ đề cập tới việc kiện toàn củng cố Hội đồng nhân dân và Ưỷ bannhân dân các cấp và hướng cải cách tố chức và hoạt động của hai cơ quan này

mà không đề cập tới các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống các cơ quannhà nước ở địa phương Hiện nay, theo quy định của Hiến pháp 2013 thìchính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có Hộiđồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nôngthôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định và căn

cứ Luật Tố chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 chínhquyền địa phương được tổ chức ở ba cấp tương ứng đối với các đơn vị hànhchính sau đây:

- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh);

- Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện);

- Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đạidiện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dânđịa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quannhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương

do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương vàviệc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Uỷ ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dâncùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hànhchính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và

Trang 14

cơ quan hành chính nhà nước cấp trên Uỷ ban nhân dân tổ chức việc thi hànhHiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hộiđồng nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước cấp trên giao.

Ngoài ra, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thực hiện chế độ thôngbáo tình hình của địa phương cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thểnhân dân, lắng nghe ý kiến, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chínhquyền và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; phối hợp với Mặt trận Tổquốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân động viên Nhân dân cùng Nhà nướcthực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa phương

2 Các cấp chính quyền địa phương tại Việt Nam

2.1.Cấp xã:

Đây là chính quyền của các đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, phường

Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền địa phương cấp cơ sở, gần dânnhất ở Việt Nam Ủy ban nhân dân cấp xã có từ 04 đến 05 thành viên, gồmChủ tịch, 02 Phó Chủ tịch, 01 Ủy viên quân sự và 01 Ủy viên công an Ngườiđứng đầu Ủy ban nhân dân cấp xã là Chủ tịch Ủy ban nhân dân do do Hộiđồng nhân dân của xã, thị trấn hay phường đó bầu ra bằng hình thức bỏ phiếukín Thông thường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hay phường sẽ đồngthời là một Phó Bí thư Đảng ủy của xã, thị trấn hay phường đó

Bộ máy giúp việc của Ủy ban nhân dân cấp xã có các công chức: Tưpháp - Hộ tịch, Địa chính - Xây dựng, Tài chính – Kế toán, Văn phòng -Thống kê, Văn hóa - Xã hội, Chỉ huy Trưởng quân sự, Trưởng công an

2.2.Cấp huyện:

Đây là chính quyền của các địa phương cấp huyện, quận, thành phốtrực thuộc tỉnh, thị xã Ủy ban nhân dân cấp huyện có từ 09 đến 13 thànhviên, gồm Chủ tịch, 02-03 Phó Chủ tịch và các ủy viên Thường trực Ủy bannhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, và ủy viên thư ký

Trang 15

Người đứng đầu Ủy ban nhân dân cấp huyện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân,trên danh nghĩa là do Hội đồng nhân dân huyện bầu ra Thông thường, Chủtịch Ủy ban nhân dân huyện sẽ đồng thời là một Phó Bí thư Huyện ủy.

Các cơ quan giúp việc của chính quyền địa phương cấp huyện thôngthường gồm các phòng, ban trực thuộc: Văn phòng UBND, Phòng Tài chính –

Kế hoạch, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên Môi trường, Phòng Kinh tế và Hạ tầng, Phòng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn, Phòng Tư pháp, Phòng Giáo dục và Đào tạo, Phòng Văn hóa -Thông tin, Phòng Y tế, Thanh tra huyện, Phòng Nội vụ, Phòng Văn hóa -thông tin,… Một số cơ quan nhà nước ở cấp huyện như Chi cục Thuế, Chicục Thống kê, Huyện đội, Công an huyện, v.v không phải là cơ quan củachính quyền địa phương cấp huyện mà là cơ quan của chính quyền Trungương đặt tại huyện (đóng trên địa bàn huyện)

-2.3.Cấp tỉnh

Đây là chính quyền của các địa phương cấp tỉnh và thành phố trựcthuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân có từ 11 đến 17 thành viên, gồm Chủtịch, các Phó Chủ tịch, 1 ủy viên thư ký và các ủy viên khác Thường trực ủyban Nhân dân cấp tỉnh gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, và ủy viên thư ký.Người đứng đầu chính quyền địa phương cấp tỉnh là Chủ tịch úy ban Nhândân Trên danh nghĩa, vị trí này do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định bằngbầu cử theo hình thức bỏ phiếu Giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh làcác Sở, ngành tỉnh

3 Vai trò và mô hình tổ chức chính quyền địa phương tại Việt Nam 3.1 Vai trò

Chính quyền địa phương ở Việt Nam có vai trò hai mặt Một mặt, với

tư cách là một bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước thống nhất, chínhquyền địa phương thay mặt nhà nước tổ chức quyền lực, thực thi nhiệm vụ

Trang 16

quản lý trên lãnh thố địa phương trong cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhấttrên lãnh thổ Việt Nam Mặt khác, chính quyền địa phương lại là cơ quan donhân dân địa phương lập ra (trực tiếp và gián tiếp) để thực hiện các nhiệm vụ

ở địa phương nhằm phục vụ nhu cầu của nhân dân địa phương trên cơ sở cácquy định của Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.Vai trò như vậy của chính quyền địa phương được thể hiện tập trung vềnguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhànước, của bộ máy nhà nước nói chung Trong đó, tập trung thống nhất là yếu

tố có tính chủ đạo Tư tưởng cơ bản trong tố chức chính quyền địa phươngtheo nguyên tắc đó là vừa bảo đảm sự tập trung thống nhất, vừa phát huy vaitrò chủ động tích cực của địa phương

tỏ rằng, chính quyền địa phương Việt Nam không có “chủ quyền” trong việcthực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được giao Quy định ở Điều 7 của Luật Tổchức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thể hiện rõ hơn này khi ghi nhậntrong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ Chính phủ đến Uỷ ban nhândân cấp xã có sự chỉ đạo trong quản lý nhà nước từ trên xuống dưới Đây

Trang 17

chính là điểm khác về bản chất so với chính quyền địa phương tự quản.

Do đó, có thế gọi là mô hình chính quyền địa phương nước ta là môhình chính quyền địa phương tập trung dân chủ

Trang 18

CHƯƠNG III NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC

CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG TẠI VIỆT NAM

1 Quy định của Hiến pháp 2013 về chính quyền địa phương

Hiến pháp năm 2013 đã dành Chương IX quy định về chính quyền địaphương (CQĐP) thay cho Chương IX Hiến pháp năm 1992 về “Hội đồngnhân dân - HĐND và Ủy ban nhân dân - UBND” Nội dung chương này cónhiều điểm mới đòi hỏi phải được nghiên cứu, suy ngẫm và trước hết, cần làm

rõ quan niệm về CQĐP là gì, những điểm mới căn bản của Hiến pháp vềCQĐP và hướng cần được cụ thể hóa trong Luật Tổ chức CQĐP

1.1 Quan niệm về chính quyền địa phương

Thuật ngữ “chính quyền” được sử dụng phổ biến trong đời sống chínhtrị - xã hội, khoa học chính trị, luật học, hành chính học, trong nhiều văn kiệncủa Đảng Cộng sản Việt Nam và trong một số văn bản pháp luật ở nước ta từnăm 1945 tới nay

Trong ngôn ngữ tiếng Việt, thuật ngữ chính quyền được hiểu là “bộmáy điều hành, quản lý công việc của Nhà nước ở các cấp”([1]) Thuật ngữ

“власт ” trong tiếng Nga được dịch sang tiếng Việt là chính quyền, hayquyền lực, được hiểu là “quyền và khả năng buộc một ai đó phải lệ thuộc vào

ý chí của mình”([2])

Nhà nước là thiết chế gắn liền với lãnh thổ quốc gia nên một trongnhững công việc đầu tiên của nhà nước là phân chia lãnh thổ quốc gia thànhcác đơn vị hành chính - lãnh thổ, đồng thời thiết lập quyền lực, bộ máy quản

lý trên đơn vị hành chính - lãnh thổ Tính đến ngày 31/12/2013, ở nước ta có

63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; có 708 đơn vị cấp huyện, trong đó

có 64 thành phố thuộc tỉnh, 47 thị xã, 49 quận và 548 huyện Như vậy, sốlượng các đơn vị lãnh thổ, số lượng các cấp hành chính quyết định số lượng

cơ quan CQĐP Để thực hiện quyền lực nhà nước trên lãnh thổ đó, nhà nước

Trang 19

thành lập cơ quan tương ứng quản lý Bộ máy quản lý, điều hành trên các đơn

vị hành chính - lãnh thổ được gọi là CQĐP Và như vậy, bộ máy quản lý, điềuhành ở các đơn vị lãnh thổ là sự biểu hiện bên ngoài của việc thiết lập quyềnlực trên đơn vị lãnh thổ Đây mới là điều cốt yếu, bản chất của vấn đề chứkhông phải là bản thân thuật ngữ CQĐP Từ đây, có thể nhận thấy rằng, thuậtngữ CQĐP chỉ là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những thiết chế được thànhlập để quản lý, điều hành trên đơn vị lãnh thổ nhất định, và để quản lý, điềuhành trên một đơn vị lãnh thổ thì những thiết chế đó có nhiệm vụ, quyền hạn

do pháp luật quy định và như vậy, đó là những thiết chế quyền lực nhà nước,hay quyền lực của cộng đồng lãnh thổ ở địa phương, tùy theo quy định củatừng quốc gia Điều này tùy thuộc vào chế độ chính trị, hình thức chính thểcủa nhà nước, tùy thuộc vào trình độ phát triển của nền dân chủ xã hội, vàocách thức quản lý xã hội của nhà nước và nhiều yếu tố khác

Nhà nước là một tổ chức công quyền, chính thống trong xã hội, vì vậychính quyền được thiết lập trên các đơn vị hành chính của quốc gia luôn làquyền lực nhà nước, chính thống, do đó những thiết chế được thành lập đểthực hiện quyền lực nhà nước trên đơn vị lãnh thổ luôn phải hợp hiến và hợppháp, có nhiệm vụ, quyền hạn được Hiến pháp, pháp luật quy định và bảo vệ

Các thiết chế được thành lập để quản lý trên các đơn vị lãnh thổ, có thểtham gia vào các quan hệ dân sự với tư cách là pháp nhân luật tư như cácpháp nhân luật tư khác, nhưng đồng thời những cơ quan đó đại diện choquyền lực nhà nước, thay mặt nhà nước, hay nhân dân địa phương tham giavào các mối quan hệ mang tính quyền lực, hay trong một số quan hệ kinh tếvới tư cách là một pháp nhân công pháp - đại diện cho cộng đồng lãnh thổ đểthực hiện những công việc chung của cộng đồng lãnh thổ thông qua việc kýkết các hợp đồng hành chính, thực hiện công vụ nhà nước

Các thiết chế được thành lập để quản lý có các nhiệm vụ, quyền hạn

Trang 20

nhất định do pháp luật quy định; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạntheo một thủ tục, cách thức nhất định do pháp luật quy định.

Từ những vấn đề nêu trên, có thể hiểu: CQĐP là những thiết chế nhànước, hay thiết chế tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phương, có tư cáchpháp nhân quyền lực công, được thành lập một cách hợp hiến và hợp pháp đểquản lý, điều hành mọi mặt đời sống nhà nước, xã hội trên một đơn vị hànhchính - lãnh thổ của một quốc gia, trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục, cáchthức nhất định do pháp luật quy định

1.2 Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 về chính quyền địa phương

Nếu so sánh chế định CQĐP trong Hiến pháp năm 2013 và chế địnhHĐND và UBND trong Hiến pháp năm 1992, chế định CQĐP có những điểmmới căn bản sau đây:

Thứ nhất, việc đổi từ chế định “HĐND và UBND” thành chế định

“CQĐP”, không thuần túy chỉ là sự đổi tên, mà là kết quả tổng kết của cả quátrình lâu dài về tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND, đồng thời là kếtquả của quá trình đổi mới nhận thức về CQĐP Mặt khác, nếu Hiến pháp năm

1992 chỉ giới hạn ở việc tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND như lànhững cơ quan mặc định thực hiện sự quản lý, điều hành trên lãnh thổ địaphương, thì Hiến pháp năm 2013 đã mở ra một xu hướng mới là “CQĐP”không chỉ là HĐND và UBND mà có thể có cả những thiết chế với tên gọikhác thực hiện sự quản lý, điều hành trên một lãnh thổ nhất định, CQĐP cóthể chỉ là một cơ quan hành chính được thiết lập bằng nhiều cách thức khácnhau, có thể do cơ quan hành chính cấp trên quyết định thành lập, hay doHĐND cấp dưới bầu, hoặc theo cách thức khác Như vậy, chính Hiến pháp

mở ra khả năng có nhiều cách thức thành lập cơ quan CQĐP ở các đơn vịhành chính khác nhau

Trang 21

Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 có những quy định về đơn vị hành chínhkhác với Hiến pháp năm 1992, Điều 110 quy định: Các đơn vị hành chính củanước Cộng hòa XHCN Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thànhtỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tỉnh chia thành huyện, thị xã và thànhphố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị

xã và đơn vị hành chính tương đương; huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã vàthành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường Đơn

vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập

Như vậy, ở thành phố trực thuộc trung ương ngoài đơn vị hành chính

có tính truyền thống còn có đơn vị hành chính tương đương với cấp quận,huyện, thị xã, đơn vị hành chính tương đương này có thể là thành phố Việcquy định đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt là một vấn đề mới được bổ sungđáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường,khai thác tiềm năng kinh tế của một địa phương nhất định Thực chất, vấn đềnày cũng đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992 (khoản 8, Điều 84).Đây là quy định được bổ sung trên cơ sở ý kiến đề xuất của các đại biểu Quốchội, các cơ quan, tổ chức (nhất là ý kiến đề xuất của Chính phủ) và các địaphương, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết lập các đơn vị hành chính - kinh tế đặcbiệt đang đặt ra ở một số địa phương là huyện đảo như huyện Phú Quốc tỉnhKiên Giang hay huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh Vì vậy, khi tổ chức chínhquyền ở đơn vị hành chính cũng cần phải tính toán một cách khoa học, đơn vịhành chính - kinh tế phải quy định địa vị pháp lý riêng của đơn vị hành chính

- kinh tế đặc biệt

Thứ ba, với quan điểm chủ quyền nhân dân và phát huy quyền làm chủcủa Nhân dân, sự tham gia của Nhân dân vào việc kiến tạo nhà nước nên Hiếnpháp quy định “Việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vịhành chính phải lấy ý kiến Nhân dân địa phương và theo trình tự, thủ tục do

Ngày đăng: 16/11/2017, 19:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w