2.1.Quá trình phát triển pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế Về điều kiện kinh doanh lữ hành, Luật năm 2005 quy định khá chi tiết điều kiện kinh doanh lữ hành, nhưng lại rất đơn giản về điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa. Điều kiện kinh doanh lữ hành đang tồn tại nhiều mâu thuẫn cần tháo gỡ. Trong đó pháp luật quy định doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế phải có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế. Trên thực tế, giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế là một hình thức để cơ quan có thẩm quyền công nhận việc doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế đã đảm bảo đủ điều kiện kinh doanh (bao gồm cả việc ký quỹ đặt cọc để đảm bảo đền bù cho khách nếu doanh nghiệp vi phạm pháp luật). Tuy nhiên, doanh nghiệp lữ hành nội địa lại không yêu cầu phải có giấy phép, không phải ký quỹ đặt cọc, không quy định bắt buộc các doanh nghiệp lữ hành nội địa phải báo cáo về hoạt động. Như vậy là không có sự đồng bộ với hệ thống pháp luật và tạo sự bất công bằng giữa các doanh nghiệp lữ hành nội địa và quốc tế, tạo ra lỗ hổng trong quản lý các doanh nghiệp lữ hành nội địa. Khắc phục những điểm yếu trong Luật 2005, Luật du lịch sửa đổi 2017 bổ sung đối tượng phải cấp phép kinh doanh lữ hành cũng như các điều kiện bảo đảm phù hợp với quy định của Luật đầu tư nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các doanh nghiệp lữ hành. Từ đó các đơn vị chức năng sẽ tăng cường quản lý nhà nước để tránh hậu quả pháp lý do chỉ thực hiện công tác hậu kiểm, bảo đảm an toàn hơn cho du khách. Luật cũng đã bổ sung điều kiện có nghiệp vụ chuyên môn đối với Giám đốc điều hành về kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp. Do tính chất khác nhau của kinh doanh lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa nên ngoài sự khác biệt về mức tiền ký quỹ, Luật đòi hỏi sự khác nhau về chuyên môn, nghiệp vụ của Giám đốc điều hành doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa hoặc quốc tế. Luật cũng điều chỉnh phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo đúng mức độ mà Việt Nam đã cam kết khi tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới.2.2.Thực trạng quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế2.2.1. Điều kiện thành lập theo luật địnhTheo quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư 2014), kinh doanh dịch vụ lữ hành là loại hình kinh doanh có điều kiện bởi “ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”. Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành phải tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo luật định và xin cấp giấy phép hoạt động lữ hành theo đúng quy mô và phạm vi dự kiến kinh doanh, cụ thể là kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế (Điều 31 Luật Du lịch năm 2017).Luật Du lịch 2017 đã có sự đơn giản hóa về thủ tục cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế. Doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ, thực hiện thủ tục cấp giấy phép tại Tổng cục Du lịch thay vì thực hiện thủ tục tại 2 cơ quan Nhà nước: Sở Văn Hóa, Thể thao và Du Lịch và Tổng cục du lịch. Bên cạnh đó, thời gian cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế rút ngắn xuống còn 10 ngày làm việc thay vì 20 ngày làm việc như quy định hiện hành. Đồng thời cùng với việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, Tổng cục du lịch cũng thông báo cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở. Như vậy, doanh nghiệp không cần thực hiện thủ tục thông báo hoạt động trong vòng 15 ngày kể từ ngày có giấy phép theo thủ tục hiện tại.Căn cứ Khoản 2 Điều 31 Luật du lịch năm 2017 thì điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế bao gồm:a) Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế;
Trang 1BÀI TẬP LỚN CUỐI HỌC KỲ 2 HỌC PHẦN VĂN BẢN PHÁP LUẬT NGÀNH DU LỊCH
Đề tài:
PHÂN TÍCH QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ KINH
DOANH DU LỊCH, VẬN DỤNG QUY CHẾ VÀO ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ LỮ HÀNH LỮ
HÀNH QUỐC TẾ
TP Hồ Chí Mình, tháng 9 năm 2021
Trang 2DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1 Loại hình doanh nghiệp (Nguồn Tổng cục Du lịch ) 14 Bảng 2 Thống kê số lượng khách quốc tế đến Việt Nam (Tổng cục du lịch) 15
Trang 3MỤC LỤC CHƯƠNG 1 3
Trang 4Ngành du lịch là ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Có thể nói, không có ngành kinh tế nào có thể đi đường tắt như ngành
du lịch để bắt đầu phát triển các nước trong khu vực, rút ngắn khoảng cách, xóa bỏ hậu về kinh tế Chính vì vậy, Đảng và nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt cho ngành “công việc không khói” này từ nhiều năm nay Chính phủ Việt Nam ban hành một số luật và quy định
về quan hệ kinh doanh ngành dịch vụ và quản lý du lịch quốc gia, tạo môi trường pháp lý kinh doanh lành mạnh Tuy nhiên, trong thời gian chuyển tiếp giữa luật cũ và mới vẫn còn một số hạn chế gây khó khăn cho sự phát triển du lịch lữ hành quốc tế
Chính vì vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài “Phân tích quy chế pháp lý về kinh doanh du lịch, vận dụng quy chế về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế” để cùng nghiên cứu và thực hiện
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của bài tiểu luận nhằm:
- Phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về quy chế pháp lý của kinh doanh du lịch, từ đó vận dụng quy chế về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế để nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật các điều kiện đó tốt hơn
- Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện cũng như thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh du lịch quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề chung về các quy chế pháp lý và điều kiện kinh doanh du lịch lữ hành quốc tế Đồng thời đánh giá, nhận xét thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế
Trang 52
- Phạm vi nghiên cứu: Chú trọng nghiên cứu các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành quốc tế và đánh giá, cũng như đưa ra các nhận xét kiện nghị pháp luật về điều kiện kinh doạnh dịch vụ lữ hành quốc tế
4 Phương pháp nghiên cứu
Nhóm em sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Tổng hợp các văn bản pháp luật khác nhau, cuốn bài giảng văn bản pháp luật du lịch, các tài liệu tham khảo thực tế về luật du lịch, cũng như các số liệu từ các nguồn khác nhau Xem lại quá trình cải cách, thay đổi về điều kiện kinh doanh du lịch lữ hành quốc tế để có được nội dung đánh giá sao cho phù hợp nhất
5 Kết cấu của bài tiểu luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài tiểu luận có kết cấu chia làm 3 chương:
- Chương 1 Những vấn đề chung của pháp lý về kinh doanh du lịch
- Chương 2 Thực tiễn vận dụng quy chế vào điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc
tế
- Chương 3 Nhận xét và kiến nghị
Trang 63
DOANH DU LỊCH
1.1 Khái quát về kinh doanh dịch vụ lữ hành
1.1.1 Khái niệm du lịch và kinh doanh lữ hành
a Khái niệm du lịch
Theo Luật du lịch năm 2005 của Quốc hội Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Ngày nay, theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): Du lịch là hoạt động về chuyến
đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao
ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm
Theo Wikipedia thì: “Du lịch là việc đi lại nhằm mục đích niềm vui hoặc kinh doanh; cũng là lý thuyết và thực hành về tổ chức các chương trình đi du lịch, ngành kinh doanh nhằm thu hút, cung cấp và giải trí cho khách du lịch, và việc kinh doanh của các tổ chức điều hành các tour du lịch.”
Nhìn từ góc độ kinh tế, du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ, có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác Như vậy, du lịch là một ngành kinh tế độc đáo phức tạp, có tính đặc thù, mang nội dung văn hoá sâu sắc và tính xã hội cao
b Khái niệm kinh doanh lữ hành
Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hay văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch
1.1.2 Đặc điểm kinh doanh dịch vụ lữ hành
Trang 74
- Thứ nhất, hoạt động kinh doanh lữ hành cần số vốn tương đối lớn
Hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành là hoạt động kinh doanh có điều kiện Theo đó, doanh nghiệp muốn kinh doanh lữ hành phải tiến hành ký quỹ tại ngân hàng Mức ký quỹ kinh doanh lữ hành tương đối cao Mặt khác, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành phải có sự liên kết với các nhà cung ứng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu cho khách hàng
- Thứ hai, hoạt động kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ
Kinh doanh lữ hành mang tính thời vụ rõ nét Hoạt động du lịch không kéo dài thường xuyên, nó phụ thuộc và thời tiết, cảnh sắc, nhu cầu của khách du lịch
- Thứ ba, hoạt động kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào nhiều yếu tố
Hoạt động kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, điển hình như: tài nguyên du lịch, cảnh sắc thiên nhiên, thời gian, nhà cung cấp dịch vụ… chính những yếu
tố này quyết định đến sự đa dạng, phong phú của chuyến đi
- Thứ tư, hoat động kinh doanh lữ hành cần một lượng lao động trực tiếp
Bản chất của lữ hành là cung ứng dịch vụ, sản phẩm lữ hành mang tính chất phục vụ trực tiếp nhiều Do đó, lượng lao động đòi hỏi sự khéo léo, lịch sự mà không một loại máy móc nào thay thế được Thời gian lao động không cố định, nó phụ thuộc vào thời gian khách tham gia chương trình Đồng thời do chịu áp lực tâm lý lớn từ phía khách hàng nên cường
độ lao động không đồng đều và rất căng thẳng Như vậy công tác nhân lực trong kinh doanh
lữ hành đòi hỏi rất cao và phải tuyển chọn kỹ lượng giúp kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn 1.1.3 Các loại hình kinh doanh du lịch
Các loại sản phẩm du lịch đều do các đơn vị trong và ngoài nước tham gia cùng nhau sản xuất và cung ứng đầy đủ nhu cầu của khách
Khách cũng có thể mua những mặt hàng đơn lẻ của nhà cung ứng để đáp ứng thỏa mãn từng nhu cầu trong chuyến đi của chính mình Kinh doanh lữ hành còn là biện pháp hoàn
Trang 85
toàn chu đáo , tất yếu của chuyên môn hóa trong ngành du lịch, nhằm nâng cao phương thức năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm đáp ứng tốt toàn bộ nhu cầu ngoài xã hội
b Kinh doanh lưu trú
Được coi là một hoạt động kinh doanh thực hiện các lĩnh vực cung cấp sản xuất vật chất, các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho khách đảm bảo trong khoảng thời gian ở lại tạm thời tại địa điểm đi du lịch nhằm mục đích để có lãi tối ưu Ngoài hoạt động kinh doanh lưu trú thì còn có các loại dịch vụ khác nhau như : dịch
vụ ăn uống, giải trí, thể thao, y tế, giặt là, chăm sóc sắc đẹp, hội nghị, đều được bổ sung thêm để lượng sản phẩm đa dạng hơn và làm tăng lên mức độ thờn mãn của du khách khi lưu trú
Có rất nhiều loại cơ sở lưu trú nhưng trong đó có khách sạn chính là cơ sở chủ yếu Chính là cơ sở chiếm tỷ trọng cao trong kinh doanh lưu trú, vật chất kĩ thuật cao, đầy đủ các vật dụng có sẵn nhất định, cách thức phục vụ khá là ổn định, có thể làm khách thỏa mãn nhiều hơn
Kinh doanh lưu trú du lịch phát triển hơn thì kéo theo việc thay đổi cơ cấu kinh tế để phục vụ, cung ứng cho sự phát triển của lưu trú du lịch Thường xuyên tiêu dùng dịch vụ, hàng hoá du lịch…sẽ không ngừng mang đến một nguồn thu tăng cao cho ngân sách Nhà nước nói chung và hộ cư dân nói riêng là nơi luôn thi hành hoạt động kinh doanh phục vụ lưu trú
c Kinh doanh ăn uống :
Là bao gồm những hoạt động chế biến thức ăn, bán và phục vụ thực hiện nhu cầu lượng tiêu dùng cho thức ăn, đồ uống và cung cấp tất cả các loại dịch vụ khác giúp tiếp thêm sự thoả mãn các nhu cầu về ăn uống và giải trí tại nhiều nơi như nhà hàng (khách sạn) phục vụ cho du khách nhằm được thành mục đích có lãi
Gồm có các hoạt động như : sản xuất vật chất, lưu thông, tổ chức phục vụ Sản xuất vật chất thì đảm bảo việc chế biến tạo ra những món ăn khác nhau cho người tiêu dùng Trong lưu thông, thực hiện việc trao đổi và bán mọi thứ thành phẩm là các món ăn,
đồ uống đã được chế biến sẵn, hàng hóa được vận chuyển bán từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng
Trang 96
Ngoài ra, trong ăn uống còn có thể tổ chức các hoạt động phục vụ việc tiêu dùng các sản phẩm tạo điều kiện để khách hàng tiêu thụ thức ăn tại chỗ và cung cấp điều kiện giúp nghỉ ngơi, thư giãn cho khách
Nhà hàng còn được coi là giữ vai trò quan trọng trong kinh doanh ăn uống Chính vì, ngoài đáp ứng thức ăn và đồ uống, khách có thể được hưởng sự thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ bởi nhiều dịch vụ giải trí như nghe nhạc, nghệ thuật, khiêu vũ , ở các nhà hàng nơi tiêu dùng sản phẩm ăn uống
d Kinh doanh vận chuyển :
Là một hoạt động kinh doanh, tiến hành giúp cho những du khách di chuyển được từ nơi cư trú của mình đến địa điểm du lịch Việc cung cấp dịch vụ vận chuyển này cũng nhằm đáp ứng được mọi nhu cầu đi lại cho du khách trong hành trình đi du lịch của họ với
mụ địa có lãi
Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh này có rất nhiều phương tiện vận chuyển cho khách khác như: ô tô, tàu hoả, tàu thuỷ, máy bay Loại hình kinh doanh này rất thuận tiện, rất dễ dàng cho việc đi lại vô cùng cũng góp phần hoàn thiện hệ thống giao thông và phát triển dịch vụ vận chuyển tại các khu vực, làm thu hút hấp dẫn mọi du khách du lịch
Trong chuyến đi du lịch của khách, thì có thể sử dụng phương tiện vận chuyển cá nhân hoặc dịch vụ vận chuyển trọn gói từ các nhà cung cấp dịch vụ cộng đồng, các công ty vận chuyển
du lịch, doanh nghiệp lữ hành, khách sạn
e Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch :
Là việc luôn bảo đảm về các điều kiện cần thiết nhất để thực hiện khai thác hết những tiềm năng tìm ẩn phát triển du lịch tại các nơi có nguồn tài nguyên du lịch nhằm thu hút và phục vụ khách du lịch
Để phát triển một điểm du lich, khu du lịch thì cần có nhiều thành phần như tài nguyên
du lịch, điều kiện có sẵn như cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, điều kiện để sẵn sàng tiếp đón khách
Khu du lịch , điểm du lịch là những nơi cần có đủ tất cả về mọi mặt, nơi mà có các điểm tham quan tuyệt vời, cung cấp các tiện nghi phục vụ cho hoạt động thể thao, văn nghệ,
tổ chức các lễ hội, cảnh thiên nhiên và nhiều bãi biển đẹp làm hấp dẫn du khách
Trang 10Một số dịch vụ kinh doanh du lịch cung cấp : dịch vụ giải trí, dịch vụ mua sắm, dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ hội thảo, hội nghị, dịch vụ khác : đổi tiền, giạt ủi, chăm sóc sắc đẹp, Các dịch vụ này cũng có thể là dịch vụ đặc trưng nhất quan trọng của chuyến du lịch Làm hài hòa thỏa mãn tương đối tốt hơn đối với khách Đảm bảo nhu cầu cho khách rất thích thú, quan tâm nhiều hơn khi thử trải nghiệm cũng như sử dụng các dịch vụ ngoài lề như vậy
1.2 Quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh lữ hành
Hiện nay về việc quy định điều kiện kinh doanh đã đưa về loại quy định hiếm thay thế bởi vì cần phải đáp ứng ngay lập tức và khi thành lập doanh nghiệp như trước Nhà nước luôn là cấp cao để tiến hành kiểm soát điều kiện tham gia vào thị trường của doanh nghiệp bằng cấp giấy phép, giấy chứng nhận cho phép doanh nghiệp hoạt động kinh doanh Hoạt động kinh doanh dịch vụ lữ hành của mọi chủ thể kinh doanh dưới sự quy định của Nhà nước theo nghị định số 27/2001/NĐ- CP ngày 5/6/2008 về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch Số 03/2002 TT- NHNN về việc tiền ký quỹ của việc kinh doanh lữ hành
do Ngân hàng Nhà nước ban hành Nghị định 92/2007/NĐ- CP ngày 8/6/2007 của Chính phủ quy định tiến hành một số điều về Luật du lịch về kinh doanh lữ hành
1 Điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa :
a) Mọi doanh nghiệp đều được thành lập một cách hoàn chỉnh theo quy định pháp luật về doanh nghiệp
b) Tiến hành ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa ở ngân hàng
c) Người lãnh đạo kinh doanh dịch vụ lữ hành tất nhiên phải có bằng cấp học từ tốt nghiệp trung cấp trở lên về chuyên ngành lữ hành, nếu tốt nghiệp trung cấp trở lên mà ngành khác thì phải có đầy đủ chứng chỉ nghiệp vụ để thực hiện điều hành du lịch nội địa
2 Điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế :
Trang 118
a) Mọi doanh nghiệp đều được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp
b) Tiến hành ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế ở ngân hàng
c) Người lãnh đạo kinh doanh dịch vụ lữ hành phải có bằng cấp học từ tốt nghiệp trung cấp trở lên về chuyên ngành lữ hành, nếu tốt nghiệp trung cấp trở lên mà ngành khác thì phải có đầy đủ chứng chỉ nghiệp vụ để thực hiện điều hành du lịch quốc tế
3 Các doanh nghiệp cần đáp ứng tất cả những điều kiện kinh doanh theo quy định tại khoản 1 Điều này chính là được cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa, còn được Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế thì theo quy định tại khoản 2
Việc phí thẩm định để cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí
4 Chính phủ quy định chi tiết về việc ký quỹ kinh doanh rịch vụ lữ hành quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2
5 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về người lãnh đạo kinh doanh dịch vụ lữ hành bao gồm nội dung đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thi, cấp chứng chỉ nghề nghiệp cho việc điều hành du lịch nội địa và điều hành du lịch quốc tế
Trang 129
KINH DOANH DỊCH VỤ LỮ HÀNH QUỐC TẾ
2.1 Quá trình phát triển pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế
Về điều kiện kinh doanh lữ hành, Luật năm 2005 quy định khá chi tiết điều kiện kinh doanh lữ hành, nhưng lại rất đơn giản về điều kiện kinh doanh lữ hành nội địa Điều kiện kinh doanh lữ hành đang tồn tại nhiều mâu thuẫn cần tháo gỡ Trong đó pháp luật quy định doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế phải có giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế Trên thực tế, giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế là một hình thức để cơ quan có thẩm quyền công nhận việc doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế đã đảm bảo đủ điều kiện kinh doanh (bao gồm cả việc ký quỹ đặt cọc để đảm bảo đền bù cho khách nếu doanh nghiệp
vi phạm pháp luật) Tuy nhiên, doanh nghiệp lữ hành nội địa lại không yêu cầu phải có giấy phép, không phải ký quỹ đặt cọc, không quy định bắt buộc các doanh nghiệp lữ hành nội địa phải báo cáo về hoạt động Như vậy là không có sự đồng bộ với hệ thống pháp luật và tạo sự bất công bằng giữa các doanh nghiệp lữ hành nội địa và quốc tế, tạo ra lỗ hổng trong quản lý các doanh nghiệp lữ hành nội địa
Khắc phục những điểm yếu trong Luật 2005, Luật du lịch sửa đổi 2017 bổ sung đối tượng phải cấp phép kinh doanh lữ hành cũng như các điều kiện bảo đảm phù hợp với quy định của Luật đầu tư nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các doanh nghiệp lữ hành Từ đó các đơn vị chức năng sẽ tăng cường quản lý nhà nước để tránh hậu quả pháp lý do chỉ thực hiện công tác hậu kiểm, bảo đảm an toàn hơn cho du khách Luật cũng đã bổ sung điều kiện
có nghiệp vụ chuyên môn đối với Giám đốc điều hành về kinh doanh lữ hành của doanh nghiệp Do tính chất khác nhau của kinh doanh lữ hành quốc tế và lữ hành nội địa nên ngoài
sự khác biệt về mức tiền ký quỹ, Luật đòi hỏi sự khác nhau về chuyên môn, nghiệp vụ của Giám đốc điều hành doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa hoặc quốc tế Luật cũng điều chỉnh phạm vi kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo đúng mức độ
mà Việt Nam đã cam kết khi tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới
2.2 Thực trạng quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế
Trang 1310
2.2.1 Điều kiện thành lập theo luật định
Theo quy định của pháp luật hiện hành về đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư 2014), kinh doanh dịch vụ lữ hành là loại hình kinh doanh có điều kiện bởi “ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng” Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành phải tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp theo luật định và xin cấp giấy phép hoạt động lữ hành theo đúng quy
mô và phạm vi dự kiến kinh doanh, cụ thể là kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế (Điều 31 Luật Du lịch năm 2017)
Luật Du lịch 2017 đã có sự đơn giản hóa về thủ tục cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ
lữ hành quốc tế Doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ, thực hiện thủ tục cấp giấy phép tại Tổng cục Du lịch thay vì thực hiện thủ tục tại 2 cơ quan Nhà nước: Sở Văn Hóa, Thể thao và Du Lịch và Tổng cục du lịch Bên cạnh đó, thời gian cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế rút ngắn xuống còn 10 ngày làm việc thay vì 20 ngày làm việc như quy định hiện hành Đồng thời cùng với việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế, Tổng cục
du lịch cũng thông báo cho cơ quan chuyên môn về du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp có trụ sở Như vậy, doanh nghiệp không cần thực hiện thủ tục thông báo hoạt động trong vòng
15 ngày kể từ ngày có giấy phép theo thủ tục hiện tại
Căn cứ Khoản 2 Điều 31 Luật du lịch năm 2017 thì điều kiện kinh doanh dịch vụ
lữ hành quốc tế bao gồm:
a) Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hoạt động kinh doanh lữ hành quốc tế; b) Ký quỹ kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế tại ngân hàng (mức ký quỹ: 250.000.000 VND);
c) Người phụ trách kinh doanh dịch vụ lữ hành phải tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành về lữ hành; trường hợp tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành khác phải có chứng chỉ nghiệp vụ điều hành du lịch quốc tế
Thủ tục đăng ký giấp phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế
Căn cứ Điều 33 Luật du lịch năm 2017, thủ tục cấp phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế như sau:
Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế bao gồm: