NGUYỄN HỒNG ÁNH MSSV: 1753801013005 LỚP : TM45 TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN HỌC : LUẬT BIỂN TÊN ĐỀ TÀI: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA TÀU QUÂN SỰ, TÀU NHÀ NƯỚC PHI THƯƠNG MẠI KHI HOẠT ĐỘNG TRON
Trang 1NGUYỄN HỒNG ÁNH MSSV: 1753801013005
LỚP : TM45
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN HỌC : LUẬT BIỂN
TÊN ĐỀ TÀI: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA TÀU QUÂN
SỰ, TÀU NHÀ NƯỚC PHI THƯƠNG MẠI KHI HOẠT ĐỘNG TRONG VÙNG BIỂN THUỘC CHỦ QUYỀN CỦA QUỐC GIA THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 2MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, con người đã hết sức quan tâm đến biển và đại dương, tìm cách khám phá, tìm kiếm nguồn tài nguyên sinh vật và không sinh vật từ đó khai thác nhằm phục
vụ cuộc sống, làm chủ phạm vi không gian này Để làm được chuyện đó, để hoạt động trên biển, cư dân ven biển đã chế tạo ra những phương tiện có khả năng hoạt động ngoài biển, chúng được gọi là tàu thuyền đi biển Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, tàu thuyền phát triển một cách mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, được trang bị những thiết bị kỹ thuật công nghệ cao đáp ứng các nhu cầu khác nhau của con người Tùy theo sở hữu, mục đích sử dụng, các phương tiện này được chia thành nhiều chủng loại khác nhau như tàu thuyền quân sự, tàu thuyền nhà nước dùng cho công vụ hay không dùng vào mục đích thương mại, tàu thuyền đánh cá, khai thác thủy sản, tàu buôn (thương thuyền), tàu nghiên cứu khoa học…
Các loại tàu thuyền khi hoạt động trong các vùng biển và đại dương, được điều chỉnh bởi những chế định khác nhau trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành Đây là một trong những đối tượng điều chỉnh chủ yếu của Luật Hàng hải quốc tế, Luật Biển quốc tế và đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển
1982 (UNCLOS 1982), cũng như các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia (có biển và không có biển) trong khu vực và quốc tế
Với mong muốn tìm hiểu một cách tổng quát về vấn đề trên, em xin trình bày
đề tài: “Quy chế pháp lý của tàu quân sự, tàu nhà nước phi thương mại khi hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia theo quy định pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam” làm chủ đề tiểu luận của mình Do những hạn chế khó tránh
khỏi về tri thức và phương pháp nghiên cứu, tiểu luận sẽ còn tồn tại những sai sót nhất định Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để hoàn thiện hơn phương pháp học môn học Em xin chân thành cảm ơn thầy, cô
Trang 31 Một số vấn đề lý luận về quy chế pháp lý của tàu quân sự, tàu nhà nước phi thương mại khi hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia
1.1 Quy chế pháp lý
Đại từ điển tiếng Việt đưa ra khái niệm: “Quy chế là những quy định đã thành chế độ để mọi người tuân theo” Dưới góc độ thuật ngữ luật học, trong tiếng Việt,
“quy chế” được hiểu là “văn bản hoặc toàn thể các văn bản có chứa quy phạm pháp luật” 1 “Chế độ” là “hệ thống các quy định của pháp luật cần phải tuân theo”.
Trong tiếng Anh, theo từ điển Black’s Law Dictionary, thuật ngữ “statute – quy chế”
được hiểu là “một đạo luật được cơ quan lập pháp thông qua”2 và thuật ngữ
“regime – chế độ” được hiểu là “hệ thống các quy tắc, quy định hoặc sự quản lý”.
Như vậy, “quy chế” và “chế độ” được hiểu giống nhau trong tiếng Việt và tiếng Anh Hơn nữa, hai thuật ngữ này có thể sử dụng thay thế nhau khi đề cập đến hình thức (quy chế) hoặc nội dung (chế độ) quy định của pháp luật điều chỉnh một quan
hệ xã hội cụ thể Theo cách hiểu này, “quy chế” không chỉ bao gồm các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong một quan hệ xã hội cụ thể, mà còn gồm các quy định về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, trách nhiệm pháp lý, các đảm bảo về quyền và nghĩa vụ, và trách nhiệm của chủ thể…
Quy chế thường được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền trong xã hội, thường là các cơ quan nhà nước và do vậy quy chế mang tính chất pháp lý, sự vi phạm các quy chế có thể dẫn đến việc xuất hiện và áp dụng các hình thức kỷ luật hay thậm chí là các chế tài Quy chế pháp lý được hiểu là tổng thể các quy định pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành liên quan đến quyền và nghĩa vụ hay trách nhiệm mà chủ thể/đối tượng hướng tới được hưởng hay phải gánh chịu và những chủ thể đó phải tuân theo các quy định này một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh
1Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa và NXB Tư pháp,
Việt Nam, tr 642.
2 Bryan A Garner (2004), Black’s Law Dictionary, 8th, Thomson West Publisher, New York, tr 672.
Trang 41.2 Tàu biển
Tàu biển là một phương tiện hình thành lâu đời trong lịch sử nhân loại nhưng định nghĩa tài biểu được hiểu và giải thích không đồng nhất trong các văn kiện pháp
lý quốc tế và pháp luật của các quốc gia Trong nhiều công ước quốc tế, tàu biển thường bị giới hạn là tàu đi trên biển, không bao gồm tàu sông, tàu quân sự, tàu cá, tàu gỗ thô sơ, tàu du lịch, du thuyền và tàu của quốc gia không tham gia vào mục đích thương mại bởi mục đích của tàu biển là thương mại với chức năng vận chuyển hàng hóa, hành khách Ngoài ra, loại tàu nhỏ, có tổng dung tích dưới 500 cũng không được coi là tàu biển bởi theo cách hiểu truyền thống tàu biển là phương tiện vận chuyển kích cỡ lớn, có khả năng đi qua đại dương và các vùng biển rộng3
Bộ luật Hàng Hải Việt Nam 2015 quy định tại Điều 13: “Tàu biển là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển Tàu biển quy định trong Bộ luật này không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi” Định nghĩa trên
hoàn toàn hợp lý và phù hợp với các định nghĩa về tàu biển trong các công ước quốc tế, thể hiện thuộc tính nổi di động hoạt động trên biển với mục đích thương mại, phù hợp tinh thần nhiều công ước: Công ước Hagues 1924, Công ước Athens
1974, Công ước Inmarsat 1976
1.3 Tàu quân sự
Định nghĩa “tàu chiến” (navire de guerre) hay tàu quân sự được quy định tại
Điều 29 UNCLOS 1982: “Tàu chiến là mọi tàu thuyền thuộc lực lượng vũ trang của một quốc gia và mang dấu hiệu bên ngoài đặc trưng của các tàu thuyền quân
sự thuộc quốc tịch nước đó; do một sĩ quan hải quân phục vụ quốc gia đó chỉ huy, người chỉ huy này có tên trong danh sách các sĩ quan hay trong một tài liệu tương đương; và đoàn thủy thủ phải tuân theo các điều lệnh kỷ luật quân sự.”
3Lương Thị Kim Dung (2018), An ninh hàng hải đối với tàu biển, cảng biển trong pháp luật quốc tế và thực
tiễn của Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, tr 24.
Trang 5Công ước LaHaye (tiếng Anh: The Hague Convention) năm 1907 cho phép“tàu quân sự được cải trang trong chiến tranh với điều kiện là không tham chiến khi gặp tàu của một nước trung lập và khi bước vào trận chiến nếu đang dùng
cờ để cải trang thì phải hạ cờ cải trang xuống và kéo cờ của nước mình lên Việc cải trang của tàu quân sự không được phép áp dụng trong thời bình.”
1.4 Tàu nhà nước phi thương mại
Hay còn gọi là tàu công vụ theo pháp luật Việt Nam, được quy định tại khoản
2 Điều 4 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015: “Tàu công vụ là tàu thuyền chuyên
dùng để thực hiện công vụ của Nhà nước không vì mục đích thương mại.”
1.5 Vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia
Các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia là các vùng biển nằm phía trong đường biên giới quốc gia trên biển và là một bộ phận cấu thành lãnh thổ của quốc gia ven biển Như vậy, trong số các vùng biển nói trên, chỉ có nội thủy và lãnh hải là lãnh thổ biển của quốc gia ven biển Các vùng biển này có quy chế pháp lí như lãnh thổ lục địa Điều này có ý nghĩa là quốc gia ven biển có quyền thực thi chủ quyền của mình tại vùng biển này như đối với lãnh thổ đất liền (trừ quyền qua lại vô hại lãnh hải của tàu thuyền nước ngoài) Trên cơ sở chủ quyền quốc gia và phù hợp với các quy định của Luật biển quốc tế, các quốc gia có biển trong đó có Việt Nam đã ban hành các quy định
có liên quan nhằm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, khai thác hiệu quả các lợi ích
ở nội thủy và lãnh hải của mình.”
Theo điều 8 của Luật Biển 1982, nội thủy là “các vùng nước nằm ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải” Điều 9 Luật Biển Việt Nam quy định: “Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam”, đây là cách diễn đạt khác dựa trên cơ sở Công ước Luật Biển 1982, tính chất của việc xác định vị trí của vùng nội thủy đều giống nhau, phía trong tiếp giáp với bờ biển (thuộc đất liền), phía ngoài tiếp giáp với đường cơ sở của lãnh hải
Trang 6Cả Công ước Luật biển năm 1982 và Luật biển Việt Nam 2012 đều xác định lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài tính từ đường cơ sở ra phía biển và có chiêu rộng không vượt quá 12 hải lí tính từ đường cơ sở
2. Quy chế pháp lý của tàu quân sự, tàu nhà nước phi thương mại khi hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia theo quy định pháp luật quốc tế
và pháp luật Việt Nam.
2.1 Quy chế pháp lý của tàu quân sự, tàu nhà nước phi thương mại khi hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia theo quy định pháp luật quốc tế
2.1.1 Quyền miễn trừ tài phán
Điều 32 UNCLOS quy định: “…không một quy định nào của Công ước đụng chạm đến các quyền miễn trừ mà các tàu chiến và các tàu khác của Nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại được hưởng.” Điều này có nghĩa là xuất
phát từ chức năng, tính đại diện cho quốc gia, tàu quân sự/ tàu nhà nước phi thương mại của các quốc gia khi hoạt động tại nước ngoài sẽ được hưởng miễn trừ tài phán
để có đầy đủ điều kiện hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được giao trừ các trường hợp tại Tiểu mục A, Điều 30, 31 UNCLOS
Nội dung chủ yếu của quyền miễn trừ tài phán bao gồm: Quyền bất khả xâm phạm tàu và các tài sản trên tàu; quyền miễn trừ tư pháp đối với bản thân chiếc tàu
và đoàn thủy thủ (gồm quyền miễn trừ xét xử về hình sự, dân sự, hành chính, quyền miễn trừ các hành vi tố tụng”
2.1.1 Quyền tài phán hình sự
Quyền tài phán là“thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện mọi hoạt động trên biển thuộc quyền chủ quyền của quốc gia mình như: cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số hoạt động cụ thể, các đạo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trong
Trang 7vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó,”điều đó được quy định cụ thể tại Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982 (Công ước năm 1982) Khi trong nội thủy, tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ luật và các quy định của quốc gia ven biển Đối với tàu quân sự (tàu chiến), quốc gia ven biển thường quy định khá chặt chẽ về thời gian neo đậu, số lượng tàu quân sự được phép vào, tư thế vũ khí, khí tài quân sự…
Về nguyên tắc, quyền tài phán của quốc gia ven biển ở nội thủy cũng tương tự như ở trên đất liền UNCLOS 1982 không có một quy định cụ thể nào về quyền tài phán hình sự hay dân sự của quốc gia ven biển đối với tài thuyền nước ngoài ở nội thủy, với vị trí tiếp liền với lục địa, các vi phạm trên tàu thuyền hay do tàu thuyền gây ra trong nội thủy có thể ảnh hưởng đến quốc gia ven biển Quốc gia ven biển có quyền quyết định mức độ và giới hạn của quyền tài phán trong lĩnh vực hình sự và dân sự
Quốc gia ven biển có quyền tài phán hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự được thực hiện trên tàu thương mại nước ngoài hoặc do tàu nước ngoài thực hiện trong nội thủy Đối với tàu quân sự và tàu thuyền khác của nhà nước dùng cho mục đích phi thương mại, theo quy định của luật quốc tế, các phương tiện này được hưởng quyền miễn trừ tài phán Đối với tàu quân sự, các tàu thuyền quân sự thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quốc gia đó giao phó Thành viên của tàu quân sự cũng chính là những công dân mang quốc tịch của quốc gia mà tàu mang cờ Khi hoạt động ở bất cứ vùng biển nào, kể cả các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia khác hay vùng biển quốc tế, tàu quân sự nước ngoài sẽ được hưởng quyền miễn trừ tuyệt đối và bất khả xâm phạm Trong trường hợp tàu quân sự nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển thì quốc gia ven biển có quyền: Yêu cầu tàu đó ra khỏi vùng nội thủy trong một thời gian nhất định; Yêu cầu quốc gia mà tàu đó mang quốc tịch phải áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với thủy
Trang 8thủy đoàn vi phạm; Yêu cầu quốc gia có tàu phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của tàu đó gây ra trong nội thủy của quốc gia ven biển.4
2.2 Quyền tài phán dân sự
Trong phạm vi nội thủy, quốc gia ven biển có quyền tài phán dân sự đối với tàu thương mại nước ngoài Quốc gia ven biển có thể áp dụng các biện pháp trừng phạt hay biện pháp đảm bảo về mặt dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài nếu chúng
vi phạm các trách nhiệm hoặc nghĩa vụ đã cam kết trong nội thủy Đối với các tranh chấp phát sinh giữa các thủy thủ đoàn, quyền tài phán thường được thực hiện bởi quốc gia tàu mang cờ
Tàu quân sự và tàu Nhà nước phi thương mại của nước ngoài được hưởng quyền miễn trừ tài phán dựa trên tập quán pháp luật quốc tế và miễn trừ ngoại giao: “Ngoài những ngoại lệ đã nêu ở Tiểu mục A và ở các Điều 30 và 31, không một quy định nào của Công ước đụng chạm đến các quyền miễn trừ mà các tàu chiến và các tàu khác của Nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại được hưởng”5 Trong trường hợp có hành vi vi phạm, quốc gia nơi tàu đang hoạt động có quyền yêu cầu tàu thuyền
vi phạm rời khỏi vùng biển của mình6 và đồng thời đề nghị quốc gia mà tàu quân sự hoặc tàu Nhà nước phi thương mại của nước ngoài mang quốc tịch trừng trị các nhân viên phạm pháp đồng thời đền bù mọi thiệt hại phát sinh7 Như vậy, trong trường hợp, nếu một tàu quân sự không tôn trọng các luật và quy định của quốc gia ven biển, có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và bất chấp yêu cầu phải tuân theo các luật và quy định đó đã được thông báo cho họ, thì quốc gia ven biển có thể yêu cầu chiếc tàu
đó rời khỏi lãnh hải ngay lập tức Sự hiện diện của tàu quân sự trong lãnh hải dù có thực hiện các hành vi gây hại hay không cũng có thể tạo ra những lo ngại nhất định đối với an ninh của quốc gia ven biển bởi các hoạt động quân sự của loại tàu này Quốc gia
mà tàu mang cờ phải chịu trách nhiệm quốc tế về mọi tổn
4 Công ước của Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982
5 Điều 32 UNCLOS 1982.
6 Điều 30 UNCLOS 1982
7 Điều 31 UNCLOS 1982
Trang 9thất hoặc về mọi thiệt hại gây ra cho quốc gia ven biển do một tàu quân sự hay bất
kỳ tàu thuyền nào khác của nhà nước dùng vào những mục đích không thương mại
vi phạm các luật và các quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua lãnh hải hay vi phạm các quy định của Công ước hoặc các quy tắc khác của pháp luật quốc tế Trong quy định này, chủ yếu vấn đề được giải quyết theo con đường ngoại giao, dựa trên nền tảng chính trị quốc tế giữa các nước hữu quan
2.2 Quy chế pháp lý của tàu quân sự, tàu nhà nước phi thương mại khi hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia theo quy định pháp luật Việt Nam.
2.2.1 Các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam
“Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có vị trí địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng Bờ biển Việt Nam dài hơn 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nãm với nhiều vịnh, đảo và quần đảo, các vùng biển rộng và nguồn tài nguyên thủy hải sản dồi dào Trong số 63 tỉnh, thành phổ của Việt Nam thì có đến 28 tỉnh, thành phố có biển Biển đảo gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển đất nước
và con người Việt Nam Phù hợp với quá trình phát triển của Luật biển quổc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, trong đó phải kể đến Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ngày 12/5/1977 về các vùng biển của Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam (Tuyên bố năm 1982), Luật biển giới Quốc gia năm 2003, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 và năm 2015, Nghị định số 58/2017/NĐ-CP ngày 10/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải ”8Đặc biệt là Luật Biển Việt Nam Các văn bản này tạo thành một hệ thống đồng bộ điều chỉnh các hoạt động của mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước trên các vùng biển Việt Nam nói chung và nội thủy, lãnh hải của Việt Nam nói riêng Cùng
8 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Biển quốc tế, tr 102.
Trang 10với UNCLOS 1982, hệ thống pháp luật hiện hành về biển của Việt Nam là cơ sở pháp lý quan trọng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích chính đáng của Việt Nam trên biển
Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam nói chung và nội thủy nói riêng, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan Hoạt động thông tin liên lạc của tàu thuyền nước ngoài khi ở trong cảng, bến hay trú đậu trong nội thủy chỉ được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ của tàu quân sự, tàu công vụ của nước ngoài đến Việt Nam
Theo Luật Biển Việt Nam năm 2012, theo đó,“tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của
nước ngoài chỉ được đi vào nội thủy, neo đậu tại một công trình cảng, bến hay
nơi trú đậu trong nội thuỷ hoặc công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với quốc gia mà tàu mang
cờ.”9 Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 27 Luật này, phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên có quy định khác và phải hoạt động phù hợp với lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam Nguyên tắc chung đối với tàu quân sự nước ngoài đến Việt Nam được quy định tại Điều 4 Nghị định số 104/2012/NĐ – CP quy định đối với tàu quân sự nước ngoài đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đối với hoạt động đi lại của tàu quân sự nước ngoài của Việt Nam, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia có quy định về việc tàu quân sự và tàu nhà nước phi thương mại phải thông báo trước khi vào lãnh hải Việt Nam Xét trong bối cảnh Việt Nam, là quốc gia có tranh chấp biển khá phức tạp tại khu vực Biển Đông đồng thời có đường bờ biển dài với những nguy cơ có tính lịch sử từ phía biển thì thủ tục thông
9 Khoản 1 Điều 27 Luật Biển Việt Nam