1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội quy chế pháp lý của công dân

13 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội quy chế pháp lý của công dân
Tác giả Nguyễn Văn Hội
Người hướng dẫn Hồ Đức Hiệp
Trường học Trường Đại học Công nghệ TP. HCM
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 385,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, các tổ chức xã hội có nhiều loại khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng đều giống nhau ở chỗ, đó chính là hình thức tổ chức tự nguyện của người la

Trang 1

QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÔNG DÂN

Giảng viên hướng dẫn: Hồ Đức Hiệp

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Hội

MSSV: 2210270022 Lớp: Luật kinh tế

Học phần: Luật hành chính

TP Hồ Chí Minh, 2022

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

PHẦN I CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI 2

PHẦN II CÔNG DÂN 5

1 Sự chấp nhận của Nhà nước cho phép công dân mang hai quốc tịch 6

2 Sự thừa nhận của Nhà nước đối với Công dân Việt Nam có đồng thời quốc tịch nước ngoài 7

PHẦN 3 NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI KHÔNG QUỐC TỊCH 8

PHẦN 4 VÍ DỤ MINH HOẠ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI (HỘI CHIẾN BINH) 10

KẾT LUẬN 11

Nội dung tham khảo: 11

Trang 3

MỞ ĐẦU

Tìm hiểu quy chế pháp lý hành chính đối với các tổ chức xã hội, công dân

Trang 4

PHẦN I CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI

Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Đó là những nguyên tắc hiến định trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một mặt thông qua những đại diện trong bộ máy nhà nước do mình trực tiếp bầu ra và bãi miễn, một mặt khác thông qua sự tham gia trực tiếp của nhân dân, của các tổ chức xã hội của nhân dân vào các công việc của Nhà nước Chính vì vậy, các tổ chức xã hội là một loạt chủ thể quan trọng của quản lý nhà nước, quản lý xã hội, là

bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nhà nước

Ở nước ta, các tổ chức xã hội có nhiều loại khác nhau, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng đều giống nhau ở chỗ, đó chính là hình thức

tổ chức tự nguyện của người lao động được tổ chức và hoạt động theo điều lệ của mình phù hợp với pháp luật nhà nước, nhân danh tổ chức mình tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các thành viên, động viên giáo dục các thành viên của mình nâng cao ý thức và trách nhiệm công dân trước xã hội, trước nhà nước, sống và làm việc theo pháp luật

Các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung là:

- Đều là những hình thức tổ chức tự nguyện của người lao động cùng chung một lợi ích, một mục đích, hay cùng một giai cấp hoặc cùng nghề nghiệp

- Khi tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội nhân danh

tổ chức mình chứ không nhận danh nhà nước Chỉ trong những trường hợp

cụ thể nào đó, tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền thay mặt nhà nước quản lý các công việc nhất định, nó mới hành động nhân danh nhà nước

Trang 5

- Các tổ chức xã hội tổ chức và hoạt động theo chế độ tự quản Chế độ đó được xác định trong điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng nên Ngoài ra, có một số tổ chức xã hội không có điều lệ mà được tổ chức và hoạt động theo quy định của Nhà nước như tổ chức thanh tra nhân dân, tổ chức hoà giải v.v…

- Chức năng của các tổ chức xã hội nói chung là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên, đồng thời giáo dục và động viên các thành viên

ý thức trách nhiệm công dân trước Nhà nước và xã hội, sống và làm việc theo pháp luật

Các tổ chức xã hội bao gồm: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp và các tổ chức

xã hội khác

Tổ chức chính trị duy nhất ở nước ta là Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của các dân tộc, theo chủ nghĩa Mác – Lê nin

và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4 – Hiến pháp 1992)

Các tổ chức chính trị – xã hội chủ yếu như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam Các tổ chức chính trị – xã hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt

Trang 6

Nam, có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân

Các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức xã hội nghề nghiệp thành lập theo sáng kiến của Nhà nước, hoạt động trên một lĩnh vực chuyên môn ngành nghề nhất định như Hội luật gia, Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam, Hiệp hội các nhà doanh nghiệp trẻ Hà Nội, Hội toán học, Hội cơ học v.v… các tổ chức này thành lập và hoạt động theo chế độ bầu cử dân chủ và có hệ thống phân tán Giữa các thành viên không có quan hệ đoàn thể Ngoài ra trong thực tế còn có các tổ chức tự quản khác như Hội phụ huynh, Hội bảo thọ vv…

Trang 7

PHẦN II CÔNG DÂN

Khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch Quốc tịch là mối liên hệ pháp lý của một người đối với một nhà nước nhất định Mối liên hệ pháp lý này được biểu hiện trong tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của người đó với Nhà nước Một người mang quốc tịch nước nào thì được coi là công dân của nước đó

Điều 49 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” Mối liên hệ pháp lý của công dân đối với Nhà nước xuất hiện từ khi người đó sinh ra và kết thúc khi người đó chết Khi sống ở nước ngoài, kiều dân của nước nào cũng vẫn phải chịu sự tài phán của nước đó, không được miễn các nghĩa vụ đối với Tổ quốc, đồng thời được Nhà nước bảo hộ về quyền lợi Điều 4 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận công dân Việt Nam có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật này có quy định khác” Khoản 2 Điều 13 quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam và trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, phải đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam”

Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài đang định cư ở nước ngoài được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan Chế độ quốc tịch ra đời cùng với chế độ công dân, xuất hiện cùng với các cuộc cách mạng tư sản Trong xã hội phong kiến, người dân được xem là “thần dân” Thần dân chỉ có nghĩa vụ, không có quyền gì về chính trị Ngày nay, “ở nước Cộng hoà xã hội chủ

Trang 8

nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch Công dân Việt Nam không bị tước quốc tịch Việt Nam”

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mọi thành viên của các dân tộc đều bình đẳng về quyền có quốc tịch Việt Nam”

Người có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam Công dân Việt Nam được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm các quyền công dân và phải làm tròn các nghĩa vụ công dân đối với Nhà nước và xã hội theo quy định của pháp luật Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách để công dân Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện hưởng các quyền công dân và làm các nghĩa vụ công dân phù hợp với hoàn cảnh sống xa đất nước

Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 có những đổi mới nhất định khi đã bắt đầu ghi nhận việc công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài Lý do của sự thay đổi này là để phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của quá trình toàn cầu hóa Hai điểm mới đáng lưu ý tại Luật Quốc tịch 2008 là:

1 Sự chấp nhận của Nhà nước cho phép công dân mang hai quốc

tịch.

Sự chấp nhận này cho thấy Nhà nước đã chủ động cho phép công dân nước ngoài khi làm thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam không bị bắt buộc thôi quốc tịch mà họ đang mang Đương nhiên, những người được hưởng diện này phải có những tiêu chuẩn đặc biệt và được Chủ tịch nước cho phép Những người này chỉ giới hạn trong phạm vi:

Trang 9

“a) Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ hoặc con đẻ của công dân Việt Nam;

b) Có công lao đặc biệt đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo về tổ quốc Việt Nam;

c) Có lợi cho nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”

2 Sự thừa nhận của Nhà nước đối với Công dân Việt Nam có

đồng thời quốc tịch nước ngoài.

Hiện nay luật pháp Việt Nam đã thừa nhận tình trạng một người là công dân của nhiều nước khác nhau Nếu như trước đây, công dân Việt Nam có quốc tịch nước

khác sẽ mất quốc tịch Việt Nam thì pháp luật hiện hành đã cho phép “kể từ ngày

01 tháng 7 năm 2009, công dân Việt Nam vì lý do nào đó mà có quốc tịch nước ngoài và chưa mất quốc tịch Việt Nam, thì vẫn có quốc tịch Việt Nam” 2.

Trong một nhà nước pháp quyền, nếu viên chức nhà nước chỉ được hành động trong phạm vi quyền hạn được giao thì công dân được làm mọi việc mà pháp luật không cấm Do vậy, công dân tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật thuộc các ngành luật khác nhau Công dân tham gia vào quan hệ pháp luật hành chính trong các trường hợp sau đây:

– Khi công dân sử dụng quyền của mình và quyền đó cùng các lợi ích hợp pháp bị xâm hại

– Khi công dân thực hiện nghĩa vụ về hành chính, kinh tế, xã hội

– Khi các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm và nhà nước phải bảo vệ và phục hồi những quyền đó

Trang 10

– Khi công dân không thực hiện nghĩa vụ của mình đối với nhà nước, phát sinh quan hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý hành chính nhà nước bao gồm nhiều nội dung cụ thể trong các lĩnh vực quản lý hành chính – chính trị, trong lĩnh vực kinh tế; trong lĩnh vực văn hoá – xã hội Các quyền cụ thể đó được quy định trong Hiến pháp 1992 (chương V) và nhiều đạo luật và văn bản dưới luật khác như: Luật Công đoàn, Luật Báo chí, Luật giáo dục, Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật khiếu nại, tố cáo của công dân

PHẦN 3 NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ NGƯỜI KHÔNG QUỐC

TỊCH

Người nước ngoài là người cư trú ở một nước nhưng mang quốc tịch của một nước khác Ở Việt Nam, người nước ngoài là người có quốc tịch của một quốc gia khác đang lao động, học tập, công tác, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam như các viên chức ngoại giao, ngoại kiều, doanh nhân nước ngoài Người không quốc tịch là người không

có quốc tịch Việt Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài

Quy chế pháp lý đối với người nước ngoài ở Việt Nam được xây dựng trên các nguyên tắc tiến bộ, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế Điều 81 Hiến pháp 1992 ghi nhận: “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền chính đáng theo pháp luật Việt Nam”

– Người không quốc tịch là người không mang quốc tịch một nước nào cả Những trường hợp không có quốc tịch có thể do:

Trang 11

– Mất quốc tịch, thôi quốc tịch mà chưa có quốc tịch mới – Luật quốc tịch của các nước mâu thuẫn nhau

– Cha mẹ mất quốc tịch hoặc không có quốc tịch thì con sinh ra cũng có thể không

có quốc tịch

Khác với nhiều nước khác, ở nước ta không có sự phân biệt đối xử giữa người nước ngoài và người không quốc tịch Họ đều chịu sự điều chỉnh của cùng một quy chế pháp lý hành chính

Đặc điểm quy chế pháp lý hành chính đối với người nước ngoài ở Việt Nam là họ phải chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật, pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch Họ không được hưởng một số quyền và làm một số nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến quốc tịch Việt Nam như: Nghĩa vụ quân sự, quyền bầu cử, quyền

tự do cư trú và đi lại Quy chế pháp lý hành chính đối với người nước ngoài, người không quốc tịch bao gồm các nội dung chủ yếu là:

– Các quy định về xuất nhập cảnh, đăng ký thường trú, tạm trú)

– Các quyền và nghĩa vụ của họ trong thời gian thường trú, tạm trú tại Việt Nam – Các quy định riêng về cư trú, đi lại

– Các loại ngành nghề, công việc mà họ không được làm

Trang 12

PHẦN 4 VÍ DỤ MINH HOẠ QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA CÁC TỔ

CHỨC XÃ HỘI (HỘI CHIẾN BINH)

Ví dụ về Hội Cựu chiến binh:

Các hội viên có quyền trực tiếp bầu ra hoặc bãi nhiệm các chức danh chủ tịch hội, Phó chủ tịch hội hoặc Chi hội trưởng các Chi hội Có hình thức tổ chức tự nguyện của người lao động cùng chung một lợi ích, một mục đích, hay cùng một giai cấp hoặc cùng nghề nghiệp Khi tham gia quản lý xã hội, quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội nhân danh tổ chức mình chứ không nhận danh nhà nước Chỉ trong những trường hợp cụ thể nào đó, tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền thay mặt nhà nước quản lý các công việc nhất định, nó mới hành động nhân danh nhà nước Các tổ chức xã hội tổ chức và hoạt động theo chế độ tự quản Chế độ đó được xác định trong điều lệ do các thành viên trong tổ chức xây dựng nên Ngoài ra, có một số tổ chức xã hội không có điều lệ mà được

tổ chức và hoạt động theo quy định của Nhà nước như tổ chức thanh tra nhân dân, tổ chức hoà giải v.v… Chức năng của các tổ chức xã hội nói chung là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên, đồng thời giáo dục và động viên các thành viên ý thức trách nhiệm công dân trước Nhà nước và xã hội, sống và làm việc theo pháp luật

Ví dụ về quy chế hành chính của công dân:

Công dân từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hành chính về những hành vi vi phạm do cố ý; từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi hành vi vi phạm Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lén

có quyền ứng cử Điều kiện tuyển dụng công chức: công dân Việt Nam từ 18 tuổi đến 40 tuổi đối với nam; từ 18 tuổi đến 35 tuổi đối với nữ

Trang 13

KẾT LUẬN

Hiểu rõ quy chế pháp lý hành chính của các tổ chức xã hội và quy chế pháp lý hành chính của công dân Về quy chế hành chính của các tổ chức hành chính do Đảng lãnh đạo trực tiếp các tổ chức xã hội theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách

Nội dung tham khảo:

1 Hiến pháp năm 1992 (chương V) và nhiều đạo luật và văn bản dưới luật khác như: Luật Công đoàn, Luật Báo chí, Luật giáo dục, Luật Nghĩa vụ quân

sự, Luật khiếu nại, tố cáo của công dân

2 Luật quốc tịch việt nam năm 2018

Ngày đăng: 03/07/2023, 15:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w