Và từ đó bệnh TTPL được trình bày kết hợpgiữa lâm sàng cổ điển và quan điểm tâm thần học hiện đại như sau: Tâm thần phân liệt tiếng Anh là Schizophrenia là một rối loạn tâm thần đặc trưn
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Mặc dù bệnh tâm thần phân liệt xảy ra trong cộng đồng dân số chỉ chiếm tỉ lệ thấpkhoảng từ 0,3 - 1% nhưng đối tượng chủ yếu được ghi nhận của căn bệnh này là ở nhữngngười có tuổi đời còn trẻ và trong độ tuổi lao động Người bệnh thường tách dần ra khỏicuộc sống chung quanh để thu hẹp mình lại với những mối quan hệ thân tình Tình cảmcủa họ trở nên cứng nhắc, khô lạnh; có những ý tưởng, hành vi khó hiểu, kỳ dị, khác vớingười bình thường; khả năng học tập, làm việc và lao động bị giảm sút
Hiện nay nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần phân liệt vẫn chưa được biết một cáchchính xác Vì vậy chúng ta cần theo dõi những biểu hiện bất thường để phát hiện sớmbệnh lý nhằm xử trí điều trị triệu chứng kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra vàgiúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý xã hội, hòa nhập cộng đồng Mà muốn làmđược những điều đó, đòi hỏi chúng ta phải có những hiểu biết cơ bản về bệnh tâm thần
phân liệt Đây cũng chính là lý do nhóm thực hiện bài tiểu luận với đề tài “Tâm thần phân liệt”.
Xin chân thành cám ơn
Trang 2I. ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM THẦN PHÂN LIỆT
1. Định nghĩa:
- Có thể nói trong gần một thế kỷ qua, các nhà khoa học trên toàn thế giới đã tập trungnghiên cứu TTPL vì đây là một bệnh loạn thần nặng nhất, phức tạp nhất trong hệ thốngcác bệnh thuộc lĩnh vực tâm thần Họ đã đạt nhiều thành tựu khi tìm ra được những quyluật hình và tiến triển các thể bệnh tâm thần phân liệt, giúp cho các thầy thuốc tâm thầntrên thế giới ngày càng gần nhau hơn trong chẩn đoán, từ đó ngày càng mở rộng sự hợptác quốc tế nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân bệnh này
- Năm 1992, Tổ chức y tế thế giới (WHO) tập hợp được trí tuệ của 915 nhà tâm thần học
có uy tín ở 52 nước trên thế giới, thống nhất đưa ra bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ
10 và xếp bệnh TTPL xếp ở mục F20-F29 Và từ đó bệnh TTPL được trình bày kết hợpgiữa lâm sàng cổ điển và quan điểm tâm thần học hiện đại như sau:
Tâm thần phân liệt (tiếng Anh là Schizophrenia) là một rối loạn tâm thần đặc
trưng bởi một sự suy giảm quá trình suy nghĩ và sự thiếu hụt các đáp ứng cảm xúc điểnhình.Các triệu chứng dương tính bao gồm: hoang tưởng, ảo giác và kích động Các triệuchứng âm tính thể hiện sự sa sút các mặt hoạt động tâm thần bao gồm: cảm xúc thờ ơ,bàng quan, mất ham thích, trí tuệ giảm, tư duy và ngôn ngữ nghèo nàn, các triệu chứngthu mình và cách ly xã hội Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh nhânTTPL có thể gây nguy hiểm cho bản thân và những người xung quanh do các triệu chứngcủa bệnh như các hành vi tấn công, giết người, tự sát do hoang tưởng, ảo giác và hành vixung động
- Năm 1874, K.L.Kalhbumn lại mô tả một dạng khác của bệnh này được biểu hiện chủ yếubằng các triệu chứng của rối loạn vận động mà ông đã gọi dưới tên “căng trương lực”
Trang 3- Năm 1898, nhà tâm học Đức E Kraeplin thống nhất các thể bệnh độc lập được các tácgiả trên mô tả lại thành một bệnh riêng biệt, gọi tên là bệnh “mất trí sớm” (DementiaPraecox) Ông cũng chia bệnh này làm 4 thể là đơn thuần, căng trương lực, Paranoid vàthanh xuân
- Năm 1911, E.Bleuler - một bác sĩ tâm thần người Thụy Sĩ đã nghiên cứu thống nhất đượccác bệnh lý ấy dưới một tên gọi chung là “Tâm thần phân liệt” (Schizophrenia disorder)bởi vì ông nhận thấy rằng các biểu hiện chủ yếu của nó là sự chia cắt cảu các mặt hoạtđộng tâm thần Thuật ngữ này đã được các nhà tâm thần học cũng như các trường pháitâm thần học chấp nhận và sử dụng cho đến ngày nay
3. Các thể lâm sàng
- Bệnh TTPL được chia thành nhiều thể khác nhau Do dựa chủ yếu vào bệnh cảnh lâmsàng nổi bật vào từng thời điểm thăm khám nên thể bệnh có thể thay đổi theo thời giannhưng phần nào có ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh
3.2. Thể thanh xuân (F20)
- Là thể có các biến đổi cảm xúc nổi bật, các hoang tưởng và ảo giác thoáng qua và rời rạc,hành vi vô trách nhiệm và không đoán trước được, các điệu bộ kì dị cũng hay thườnggặp Cảm xúc nông cạn và không phù hợp, thường kèm theo cười khúc khích hoặc mĩmcười tự mãn một mình hoặc thái độ kiêu căng, nhăn mặt, trêu chọc, các than phiền, nghibệnh và định hình ngôn ngữ Tư duy vô tổ chức, ngôn ngữ dài dòng, lộn xộn và khôngliên quan Bênh nhân có khuynh hướng tự cô lập, hành vi dường như không mục đích và
vô cảm xúc, gây ảnh hưởng đến các sinh hoạt thường ngày của người bệnh Các hoangtưởng và ảo giác cũng có thể hiện nhưng không nổi bật Thể bệnh này thường khởi đầusớm giữa 15 – 25 tuổi, có tiên lượng xấu nhất trong các thể bệnh do sự phát triển nhanh
Trang 4các triệu chứng âm tính, đặc biệt là cảm xúc bàng quan, mất ý chí.
3.3. Thể căng trương lực (F20.2)
- Đặc trưng chủ yếu và nổi bật của thể bệnh này là các rối loạn tâm thần vận động, có thểluân phiên giữa các cực : Tăng động và sững sờ hoặc vâng lời tự động hoặc phủ định.Các dáng điệu và tư thế bị áp đặt, có thể được duy trì trong thời gian dài Các cơn kíchđộng dữ dội là một đặc trưng nổi bật của thể này Các nét kết hợp gồm định hình, kiểucách, uốn sáp, không nói Trong sững sờ hoặc kích động căng trương lực, bệnh nhân cầnđược theo dõi chặt để phòng ngừa người bệnh có thể gây thương tích cho bản thân vàxung quanh Ngoài ra cần chăm sóc nội khoa như : sốt, kiệt sức, suy dinh dưỡng…
3.4. Thể không xác định
- Đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán chung của bệnh TTPL nhưng không phù hợp với bất
kỳ thể nào đã được mô tả ở trên hoặc có cá biểu hiện của nhiều hơn một thể nhưng không
ưu thế rõ rệt của một thể này Thể này chỉ nên dùng cho các trạng thái loạn thần, nghĩa làcần loại trừ TTPL di chứng và trầm cảm, sau phân liệt, sau khi đã cố gắng để xếp vào mộttrong ba thể trên nhưng không được
3.5. Trầm cảm sau phân liệt
- Là một giai đoạn trầm cảm xuất hiện như là hậu quả của bệnh TTPL và kéo dài ít nhất 2tuần Một số triệu chứng TTPL vẫn còn tồn tại nhưng không ưu thế trong bệnh cảnh lâmsàng Các triệu chứng này có thể là dương tính hoặc âm tính nhưng các triệu chứng âmtính thường gặp hơn Hiện vẫn chưa rõ là các triệu chứng trầm cảm chỉ đơn thuần đượcbộc lộ say khi các triệu chứng loạn thần mất đi hơn là chúng mới phát sin Th hoặc chúng
là một phần nội tại của bệnh TTPL hơn là một phản ứng tâm lý đối với bệnh này Cáctriệu chứng trầm cảm hiếm khi đủ trầm trọng hoặc mở rộng đến mức đáp ứng tiêu chuẩncủa 1 gian đoạn trầm cảm nặng và thường khó xác định các triệu chứng nào của bệnhnhân là do trầm cảm, các triệu chứng nào là do thuốc an thần, hoặc do sự ý chí, hoặc cảmxúc bàng quan của chính bệnh TTPL Trầm cảm sau phân liệt thường có nguy cơ cao về
tự sát
3.6. Thể di chứng (F20.5)
- Là giai đoạn mãn tính của TTPL và bệnh nhân trước đó đã có 1 hoặc nhiều giai đoạn loạnthần đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán chung của bệnh này Nổi bật trong bệnh cảnh lâmsàng hiện tại là các triệu chứng âm tính như : cảm xúc cùn mòn, tư duy nghèo nàn, mất ýchí, người bệnh chậm chạp, thụ động và mất sáng kiến ; khả năng tự chăm sóc bản thân
và giao tiếp xã hội kém Các triệu chứng dương tính như : ảo giác, hoang tưởng nếu cóthường đã mờ nhạt đến mức không còn chi phối cảm xúc và hành vi của bệnh nhân
Trang 53.7. Thể đơn thuần (F20.6)
- Ít gặp, đặc trưng là sự xuất hiện âm thầm và càng lúc càng tăng dần các nét kì dị trong tácphong, mất khả năng đáp ứng với các đòi hỏi của xã hội và giảm sút trong toàn bộ cáchoạt động Các hoang tưởng và ảo giác cũng như các biểu hiện loạn thần khác không rõrệt như trong các thể thanh xuân, hoang tưởng và căng trương lực Người bệnh có cáctriệu chứng âm tính giống như TTPL thể di chứng nhưng trước đó không có các giai đoạnloạn thần rõ rệt Với sự tách rời xã hội ngày càng tăng dần, người bệnh trở thành kẻ langthang, ăn không ngồi rồi và sống không mục đích
- TTPL thể đơn thuần thường khó chẩn đoán 1 cách chắc chắn Chẩn đoán dựa vào mộtgiai đoạn bệnh kéo dài ít nhất một năm, đặc trưng bởi sự xuất hiện chậm chạp và tăng dầncác triệu chứng âm tính nhưng trong tiền sử không hề có các ảo giác, hoang tưởng hoặccác triệu chứng loạn thần rõ rệ Người bệnh tâm thần phân liệt có thể gây ra những phiềntoái gì cho gia đình và bản thân họ?
4. Người bệnh tâm thần phân liệt có thể gây ra những phiền toái gì cho gia đình và bản thân họ?
- Từ chối điều trị, không chịu uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sỹ chuyên khoa
- Bỏ nhà đi lang thang
- Nguyên do và cách giải quyết
- Phá phách, công kích người xung quanh
- Không chịu ăn uống, không nói
- Tự sát
II. DỊCH TỂ HỌC
- Tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt là 1% dân số Tỷ lệ này tương đối ổn định ít thay đổi theo
vị trí địa lý, chủng tộc hoặc các nền văn hóa Ở nước ta qua các công trình điều tra cơ bảntại những vùng khác nhau cũng cho những số liệu tương tự Bệnh thường bắt đầu ở lứatuổi từ 15 – 45 tuổi, cao nhất từ 18 – 26 tuổi, rất hiếm gặp trước 10 tuổi và sau 50 tuổi
Về giới tính, mặc dù bệnh gặp như nhau ở cả hai phái nhưng ở phái nam bệnh thườngxuất hiện sớm hơn (15 – 25 tuổi) so với phái nữ (25 -35) tuổi Một số nghiên cứu chothấy bệnh nhân nam thường có nhiều triệu chứng âm tính hơn bệnh nhân nữ Bệnh nhân
nữ thường có hoạt động xã hội tốt hơn bên nhân nam và nói chung, tiên lượng ở bên nhân
nữ tốt hơn so với bệnh nhân nam
- Bệnh chiếm khoảng 25 % những bệnh nhân nhập viện lần đầu ở các bệnh viện tâm thầnnhưng do thời gian nằm viện thường kéo dài nên số bệnh nhân TTPL trong các bệnh viện
Trang 6chuyên khoa thường lớn hơn 50% Do bệnh xuất hiện ở người trẻ tuổi nên ảnh hưởngnhiều đển khả năng học tập và công tác của người bệnh Ngoài ra, do bệnh có khuynhhướng tiến triển mãn tính và người bệnh thường có các rối loạn về hành vi nên gây tốnkém cho gia đình và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội
III. CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, TRIỆU CHỨNG
- Đặc điểm chung của bệnh TTPL là các rối loạn về tư duy và tri giác, cảm xúc cùn mònhoặc không phù hợp Ý thức và năng lực trí tuệ thường vẫn được duy trì tuy một số thiếusót về nhận thức có thể xuất hiện trong tiến triển của bệnh Rối loạn thường liên quan đếncác chức năng cơ bản nhất tạo cho người bình thường cảm giác về cá tính, sự độc nhất vàtính tự chủ của mình Người bệnh cho rằng các ý nghĩ, cảm xúc và hành vi sâu kín nhấtcủa họ bị người khác biết hoặc chia sẻ và có những sức mạnh tự nhiên hoặc siêu nhiênchi phối các ý nghĩ và hành vi của họ theo những phương cách thường là kỳ quái Ngườibệnh cảm thấy mình là trung tâm của tất cả mọi việc đang xảy ra Các ảo giác, đặc biệt là
ảo thanh thường rất gặp, bình phẩm hành vi và ý nghĩ của của người bệnh Tri giác cũngthường bị rối loạn theo một cách khác: màu sắc hoặc âm thanh trở nên sống động mộtcách khác thường hoặc bị biến đổi về chất và các nét thứ yếu của các sự vật thông thường
có thể trở nên quan trọng hơn toàn bộ sự vật hoặc tình huống Bối rối thường xuất hiệnsớm và đưa đến sự tin chắc là các tình huống thường ngày đều có ý nghĩa đặc biệt,thường là xấu, nhắm vào người bệnh Torng rối loạn tư duy đặc trưng của bệnh TTPL,các nét thứ yếu và không quan trọng vốn bị ức chế trong hoạt động tâm thành bìnhthường lại trở nên nổi bật Vì thế tư duy trở nên mơ hồ, khó hiểu Dòng tư duy thường bịngắt quãng hoặc xen vào và tư duy dường như bị thu hút bởi một sức mạnh bên ngoài.Cảm xúc thường nông cạn, thất thường hoặc không phù hợp Tính hai chiều và rối loạn ýchí có thể đưa đến sự trì trệ, phủ định hoặc sững sờ Căng trương lực cũng có thể gặp.Khởi bệnh có thể cấp tính với rối loạn nặng nề về hành vi hoặc âm ỉ với sự phát triển dầndần các ý nghĩ và hành vi kỳ dị Triến triển của bệnh thường rất thay đổi và không nhấtthiết trở nên mạn tính hoặc xấu đi Trong một số trường hợp, tùy theo các nền văn hóahoặc dân số khác nhau, sự phục hồi có thể hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn Hai pháinam và nữ đều mắc bệnh như nhau nhưng khởi bệnh trễ hơn ở phái nữ
- Mặc dù bệnh cảnh lâm sàng rất đa dạng và không có những triệu chứng đặc hiệu nhưngnhìn chung trong quá trình tiến triển, bệnh TTPH có các biểu hiện sau đây:
1. Các triệu chứng dương tính:
1.1. Hoang tưởng:
Hoang tưởng là triệu chứng loạn thần cơ bản của bệnh tâm thần phân liệt Hoangtưởng phải có các đặc trưng sau:
Trang 7- Sai lầm.
- Cố định trên bệnh nhân
- Chi phối hành vi của bệnh nhân
- Không phải là các niềm tin tôn giáo phổ biến
- Bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng phê phán (nghĩa là không bao giờ thừa nhận ý nghĩcủa mình là sai lầm)
Nội dung hoang tưởng có thể bao gồm nhiều chủ đề khác nhau, hay gặp nhất trongtâm thần phân liệt là:
- Hoang tưởng bị hại: bệnh nhân tin rằng họ bị hành hạ, bị tra tấn, đầu độc, sẽ bị giết bởimột người hoặc một thế lực nào đó
- Hoang tưởng liên hệ: bệnh nhân tin rằng một số sách báo, bài bình luận, bài hát hoặc một
số thông tin khác ở bên ngoài ám chỉ họ dưới các hình thức đặc biệt
- Hoang tưởng bị kiểm tra, chi phối: bệnh nhân tin rằng có một người hoặc một thế lực nào
đó đang chi phối bệnh nhân bằng các phương tiện đặc biệt
- Các hoang tưởng kỳ quái: hoang tưởng được coi là kỳ quái nếu như chúng rất lập dị,không phù hợp và không phải là kết quả của mọi kinh nghiệm trong cuộc sống
1.2. Ảo giác:
Ảo giác là tri giác không có đối tượng Ảo giác có thể ở bất kỳ giác quan nào (ví
dụ ảo thanh, ảo thị, ảo khứu, ảo xúc, ảo vị giác) nhưng ảo thanh là hay gặp nhất và có giátrị chẩn đoán cao cho tâm thần phân liệt Ảo thanh có ở 60-70% số bệnh nhân tâm thầnphân liệt Bệnh nhân nghe thấy những tiếng nói không có thật, nhưng được bệnh nhâncho là thật Chúng thường được chia làm ảo thanh thật và ảo thanh giả Nội dung của ảothanh có thể rất khác nhau, căn cứ vào nội dung người ta chia làm các loại ảo thanh sau:
- Ảo thanh bình phẩm là tiếng người khen hoặc chê bai bệnh nhân nhưng xúc phạm hoặc
đe dọa bệnh nhân là hay gặp nhất
- Ảo thanh sai khiến, ra lệnh: là tiếng nói sai khiến hoặc ra lệnh cho bệnh nhân phải làmmột việc gì đó Thông thường, bệnh nhân không thể cưỡng lại các mệnh lệnh của ảothanh đưa ra
- Ảo thanh là tiếng người trò chuyện với bệnh nhân: bệnh nhân nói chuyện với ảo thanh(giống như ta nói chuyện qua điện thoại) mà người ngoài có thể thấy bệnh nhân nóichuyện một mình to thành tiếng
- Ảo thanh là 2 hay nhiều giọng nói đối thoại với nhau hoặc giọng nói bình phẩm về ý nghĩ
Trang 8và hành vi của bệnh nhân.
Ngoài ra còn có ảo thị giác và ảo xúc giác, trong đó ảo thị giác là những hình ảnhkhông có thật nhưng được bệnh nhân nhìn thấy như thật Ảo thị giác thường được gặp ở10% số bệnh nhân TTPL, chúng ít có giá trị chẩn đoán cho bệnh TTPL hơn ảo thanh Các
ảo thị có thể có nội dung dễ chịu, vui vẻ thế nhưng các ảo thị thường là các hình ảnh ghê
sợ khiến bệnh nhân rất lo lắng và sợ hãi Bệnh nhân có thể có các hành vi nguy hiểm nhưđánh người, tự sát do sự chi phối của ảo thị
Ảo xúc giác ít được gặp trong TTPL và ít có giá trị chẩn đoán cho bệnh này Bệnhnhân có cảm giác có các con côn trùng bò dưới da, có con rắn đang bò trong dạ dày bệnhnhân
1.3. Ngôn ngữ thanh xuân:
Ngôn ngữ thanh xuân là một triệu chứng rất có giá trị chẩn đoán trong TTPL.Triệu chứng này thường chỉ gặp trong bệnh nhân TTPL thể thanh xuân Bệnh nhân có tưduy (lời nói) rất hỗn loạn, kỳ dị, khó hiểu
1.4. Hành vi thanh xuân:
Hành vi thanh xuân là rối loạn hành vi nặng, rất có giá trị chẩn đoán cho TTPL.Triệu chứng này hay gặp trong TTPL thể thanh xuân và thể không biệt định Các hành vinày có thể biểu hiện ở các mức độ khác nhau, từ đi lại không ngừng đến kích động vàthường mang tính lố lăng, hời hợt, kỳ dị, khó hiểu
1.5. Hành vi căng trương lực:
Hành vi căng trương lực bao gồm:
- Sững sờ căng trương lực: là sự giảm sút rõ ràng các phản ứng lại mọi tác động của môitrường Một số trường hợp đạt đến mức độ vô thức quá mức, bệnh nhân giữ ở một tư thếrất lâu
- Kích động căng trương lực: là kích động do căng trương lực cơ Các kích động này rất lốlăng, kỳ quái nhưng chỉ xuất hiện trong không gian hẹp (trên giường, trong phòng) chứkhông xảy ra trong không gian rộng như hưng cảm
- Phủ định căng trương lực là bệnh nhân chống lại mọi tác động bên ngoài Ví dụ: khi takéo tay bệnh nhân ra thì bệnh nhân co tay chống lại
- Uốn sáp căng trương lực là bệnh nhân giữ lâu ở một số vị trí vô lý và kỳ lạ (ví dụ: khi tađưa tay bệnh nhân lên đầu làm tư thế chào, bệnh nhân sẽ giữ nguyên tư thế đó hàng tiếngđồng hồ) Trong lâm sàng, người ta thường làm nghiệm pháp gối không khí, bệnh nhân
có thể giữ đầu ở tư thế không chạm xuống giường trong nhiều chục phút
Trang 9- Nếu tình trạng căng trương lực quá nặng, bệnh nhân sẽ không đáp ứng với các kích thíchbên ngoài mà chỉ nằm im một chỗ.
2. Các triệu chứng âm tính
Triệu chứng âm tính của TTPL thường xuất hiện nhiều ở các bệnh nhân TTPL vìchúng là nền tảng của bệnh TTPL Tuy nhiên trong giai đoạn đầu, các triệu chứng này rấtkín đáo và khó phát hiện nhưng chỉ sau một vài năm bị bệnh, các triệu chứng này ngàycàng rõ ràng và đến giai đoạn di chứng thì bệnh nhân chỉ còn các triệu chứng âm tính màthôi Ba triệu chứng âm tính chính trong TTPL là: cùn mòn cảm xúc, ngôn ngữ nghèo nàn
và mất ý chí
2.1. Cùn mòn cảm xúc:
Bệnh nhân có nét mặt đơn điệu, không thay đổi, không sinh động như vốn có củamình Bệnh nhân giảm sút sự tiếp xúc bằng ánh mắt, ngôn ngữ cơ thể; tuy nhiên mộtbệnh nhân có triệu chứng cùn mòn cảm xúc đôi khi có thể cười, có nét mặt sinh động,nhưng biểu hiện cảm xúc của họ giảm sút rõ ràng trong phần lớn thời gian còn lại
Khi bệnh TTPL đã chuyển thành thể di chứng, cùn mòn cảm xúc sẽ phát triểnthành vô cảm Lúc này, bệnh nhân không hề biểu hiện cảm xúc vui buồn, cáu giận vớibất kỳ một sự vật, hiện tượng nào ngoài môi trường
2.2. Ngôn ngữ nghèo nàn:
Nghèo nàn lời nói thể hiện bởi các câu trả lời cộc lốc, ngắn cụt ngủn Bệnh nhânvới nghèo nàn ngôn ngữ có thể có giảm sút lượng suy nghĩ, điều đó phản ánh sự giảm sútquá trình ảnh hưởng và tạo ra ngôn ngữ
2.3. Mất ý chí:
Mất ý chí là sự giảm sút hoạt động định hướng về một mục đích nào đó Ngườibệnh mất hết sáng kiến, mất động cơ, hoạt động không hiệu quả Các thói quen nghềnghiệp cũ mất dần đến nỗi bệnh nhânh không muốn làm bất kỳ việc gì nữa Do vậy họgiảm sút khả năng lao động, mất việc làm vẫn đến lối sống ngày càng suy đồi, khôngmuốn làm gì, chỉ nằm lỳ một chỗ
3. Các dấu hiệu báo hiệu bệnh tái phát
- Thấy căng thằng ngày một tăng
- Thấy lo lắng viển vông không thể thư giãn
- Rối loạn giấc ngủ ( mất ngủ, rối loạn nhịp thức ngủ )
- Mệt mỏi
Trang 10- Dễ kích thích cáu bẳn
- Hoảng sợ không có lý do
- Thu mình, từ chối giao tiếp, ăn uống
- Thờ ơ với mọi người và với bản thân, không tự chăm sóc
IV. CƠ CHẾ BỆNH SINH VÀ TIẾN TRIỂN
Trong những năm gần đây, việc ứng dụng nhiều thành tựu mới đã làm tăng sự hiểubiết của chúng ta về bệnh TTPL cũng như giúp cho việc chẩn đoán và điều trị bệnh nàyđạt nhiều kết quả tốt hơn Tuy nhiên, cho đến nay nguyên nhân của bệnh tâm thần phânliệt vẫn chưa được xác định và được cho là sự tác động phối hợp của nhiều yếu tố
1. Sinh học
1.1. Các chất dẫn truyền thần kinh
- Dopamine: Liên quan đến vai trò của các chất dẫn truyền thần kinh trong bệnh sinhTTPL, cho đến nay giải thuyết được biết đến nhiều nhất là giả thuyết Dopamine theo đóbệnh TTPL là do sự tăng quá mức hoạt động của hệ Dopaminergic Giả thuyết này dựavào các nhận xét sau:
- Hiệu quả của và sức mạnh của các thuốc chống loạn thần có liên quan trực tiếp đến khảnăng của chúng trong việc ngăn chặn thụ thể dopamine sau tiếp hợp, đặc biệt là thụ thểD2
- Các chất Amphetamine, Levodopa và Methylphenidate làm tăng hoạt động hệdopaminergic và có thể gây ra các rối loạn tâm thần rất giống TTPL
- Nồng độ của Homovanilic acid (HVA), chất chuyển hóa chính của dopamine trong huyếttương có liên quang đến độ nặng của các triện chứng loạn thần
- Tuy nhiên giả thuyết này còn tồn tại một số vấn đề:
- Các chất đối vận Dopamine có hiệu quả trong tất cả các bệnh nhân loạn thần và kíchđộng mạnh, bất kể chẩn đoán là gì, do đó sự tăng hoạt động hệ Dopaminergic không hẳn
là đặc trưng của bệnh TTPL
- Một số dữ liệu điện sinh lý gợi ý là neuron Dopaminergic gia tăng mức độ kích thích khitiếp xúc dài hạn với các thuốc chống loạn thần do đó có khả năng là sự bất thường banđầu ở bệnh TTLP liên quan đến một trạng thái giảm hoạt động Dopaminergic
1.2. Các chất dẫn truyền thần kinh khác:
- Serotonin: được chú ý nhiều trong bệnh sinh TTPL từ khi nhận thấy các thuốc chống loạnthần thế hệ mới có tác dụng trên hệ thống serotonin trong đó sự đối vận ở thụ thể
Trang 11Serotonin có thể làm giảm các triệu chứng âm tính của bệnh TTPL cũng như các rối loạnvận động do đối vận ở thụ thể D2 Ngoài ra, cũng giống như trong rối loạn khí sắc, hoạtđộng Serotonin còn liên quan đến các hành vi tự sát và xung động gặp trong TTPL.
- Norepinephrine: Việc sử dụng dài hạn các thuốc chống loạn thần làm giảm hoạt động củacác neuron Noradrenergic trong nhân xanh (Locus ceruleus) và tác dụng điều trị của một
số thuốc chống loạn thần có liên quan đến tác dụng trên các thụ thể α1 Adrenergic và α2Adrenergic Mặc dù chưa có bằng chứng rõ ràng, có gợi ý rằng hệ Noradrenergic có tácdụng điều chỉnh trên hệ Dopaminergic làm cho bệnh nhân bị tái phát nhiều hơn
- Amino acids:
● γ Aminobutyric acids (GABA) có liên quan đến sinh lý bệnh của TTPL Các dữkiện hiện có phù hợp với giả thuyết là một số bệnh nhân TTPL bị mất neuronGABAergic ở hồi hãi mã Sự mất các neuron có tính ức chế này đã làm tăng sựhoạt động của các hệ Dopaminergic và Noradrenergic
● Glutamate: cũng được cho là có liên quan đến sinh lý bệnh TTPL Glutamate ảnhhưởng đến chức năng điều chỉnh của các neuron vỏ não trên hoạt động Dopaminedưới vỏ Do đó, sự giảm hoạt động của Glutamate có thể đưa đến sự gia tăng hoạtđộng Dopamine và đưa đến các triệu chứng TTPL
2. Bệnh lý thần kinh.
Não của bệnh nhân TTPl có các bất thường về cấu trúc và chức năng ở các mức độkhác nhau Ở một số bệnh nhân có teo não, dãn não thất, bất thường điện não đồ trongkhi ở các bệnh nhân khác ít phát hiện các bệnh lý hoặc rối loạn chức năng não Các tiến
bộ gần đây trong các kỹ thuật chẩn đoán thần kinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho việcnghiên cứu các rối loạn chức năng não CT (Computed tomography) não đã phát hiện sựgiảm thể tích võ não, sự dãn rộng não thất và các rãnh vỏ não ở một số bệnh nhân TTPLtuy các bất thường này cũng có thể gặp ở bệnh nhân bị rối loạn lưỡng cực và do đó có thểkhông đặc trưng cho bệnh TTLP PET (Positron emission tomography) cho thấy có sựgiảm mức độ chuyển hóa glucose trong vỏ não thùy trán ở một số bệnh nhân khi thựchiện các trắc nghiệm về nhận thức Các nghiên cứu đo lưu lượng máu đến từng vùng nãobằng Xenon phóng xạ có kết quả chưa rõ ràng, một số khác cho thấy giảm lưu lượng máuđến toàn bộ não của bệnh nhân TTPL Các nghiên cứu dùng MRI (Magnetic resonnaceimaging) cho thấy có giảm thể tích phức hợp hải mã – hạnh nhân và hồi não cạnh hải mã
3. Di truyền
Nhiều nghiên cứu gợi ý một yếu tố di truyền trong bệnh TTPL Từ các thập niên
30, các nghiên cứu đã cho thấy 1 người sẽ dễ bị TTPL khi có người thân bị bệnh này vàkhả năng này liên quan với sự gần gũi về mức độ quan hệ (thân nhân độ 1 hoặc độ 2)
Trang 12Sinh đôi cùng trứng có tỉ lệ phù hợp (Concordance rate) cao nhất Trong nghiên cứu vềcác cặp sinh đôi, những người được nuôi bởi cha mẹ nuôi cũng bị TTPL cùng 1 tỉ lệ vớingười anh em của họ được nuôi bởi cha mẹ ruột Điều này cho thấy, ảnh hưởng của ditruyền quan trọng hơn của môi trường, một phát hiện được cũng cố thêm khi người tanhận thấy rằng khi bệnh TTPL càng nặng thì sự phù hợp (cùng bị bệnh) càng dễ xảy ra.Sau đây là tỉ lệ chung (Prevalence) về bệnh TTPL trong một số nhóm dân số đặc biệt.
Một số nghiên cứu gợi ý nhiễm siêu vi hoặc suy dinh dưỡng bào thai dễ dẫn đếnTTPL do ảnh hưởng đến sự phát triển não Có giả thuyết cho rằng những người có nhâncách đặc biệt như nhân cách khép kín( schizioid) dễ bị TTPL hơn những người khác
Sau cùng các yếu tố stress, tâm lý – xã hội cũng là một nhân tố thuận lợi cho sựphát sinh bệnh TTPL: TTPL gặp nhiều hơn ở những nhóm người có trình độ kinh tế xãhội thấp cũng như ở các thành phố có mật độ dân số, ở những người phải chịu đựng 1 sựthay đổi đột ngột về nền văn hóa (các di dân)
5. Tiến triển
Trang 13Bệnh TTLP có khởi phát đột ngột hoặc âm thầm, một số trường hợp xuất hiện saumột số nhân tố thuận lợi như nhiễm trùng, nhiễm độc, sang chấn tâm lý… Trước giaiđoạn toàn phát, người bệnh có thể có một giai đoạn tiền triệu với các biểu hiện như táchrời xã hội, thờ ơ với học tập và công tác, không quan tâm đến ăn mặc hoặc vệ sinh cánhân, hành vi khác thường, hành vi kỳ dị hoặc có các cơn giận dữ Giai đoạn tiền triệunày có thể kéo dài đến 1 năm hoặc lâu hơn Nói chung TTPL là một bệnh tâm thần nặng,
có khuynh hướng tiến triển đến mạn tính với các giai đoạn tăng bệnh xen kẽ các giai đoạnthuyên giảm, sự phục hồi hoàn toàn tương đối hiếm gặp Sau giai đoạn loạn thần đầu tiên,bệnh nhân phục hồi dần, hoạt động tương đối bình thường trong một thời gian Mỗi lầntái phát về sau sẽ làm cho tình trạng bệnh nhân ngày một xấu đi và cuối cùng đưa đếnthiếu sót tâm thần nặng nề Sự giảm sút hoạt động tâm thần giữa các giai đoạn bệnh làmột trong các khác biệt chính giữa TTPL và các rối loạn khí sắc
Theo các nghiên cứu, chỉ khoảng 1/3 bệnh nhân có thể sống hoàn nhập một phầnvới xã hội, đa số không còn khả năng lao động và ở các đô thị lớn họ dễ trỏ thành những
kẻ lang thang, vô gia cư Ngoài các cơn kích động gây nguy hiểm cho bản thân và ngườixung quanh, bệnh nhân TTPL còn có nguy cơ cao về tự sát Khoảng 50% bệnh nhậnTTPL có mưu toan tự sát ít nhất một lần trong đời và 10 - 15% chết vì tự sát trong mộtthời gian theo dõi 20 năm Bệnh nhân nam và nữ tự sát bằng nhau và các yếu tố nguy cơchính về tự sát gồm sự hiện diện của các triệu chứng trầm cảm, ảo thanh mệnh lệnh, tuổitrẻ, học vấn cao, tiền sử có mưu toan tự sát, sống một mình… Bệnh nhân TTPL còn có tỉ
lệ cao về hút thuốc lá (trên 75% bệnh nhân TTPL hút thuốc so với dưới 50% ở bệnh nhântâm thần nói chung); nghiện rượu (30 -50% bệnh nhân TTPL đáp ứng các tiêu chuẩn vềlạm dung hoặc nghiện rượu) và nghiệm ma túy
Về tiên lượng, khoảng 5 – 10 năm sau lần nhập viện đầu tiên, chỉ có 10 -20 %bệnh nhân TTPL được xem là có kết quả tốt, trên 50% có kết quả xấu với nhiều lần nhậpviên do tăng nặng triệu chứng
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh TTPL gồm:
Có yếu tố thuận lợi Không có yếu tố thuận lợi
Quan hệ xã hội, nghề nghiệp trước
bệnh tốt
Quan hệ xã hội, nghề nghiệp trướcbệnh xấu