1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định

50 1,9K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 600 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu về chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng trong và ngoài nước...20 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...21 2.1.. Một số yếu tố liên q

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH

TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI GIA ĐÌNH Ở NAM ĐỊNH

Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Thị Dung

Đơn vị chủ trì: Bộ môn Tâm – Thần kinh.

Mã số: …

NAM ĐỊNH 2014

BỘ Y TẾ

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH

TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI GIA ĐÌNH Ở NAM ĐỊNH

Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Thị Dung

Những người tham gia: CN Nguyễn Thị Lý

CN Đỗ Thị Hiền

CN Vũ Thị Nhung

Người hướng dẫn: TS Trương Tuấn Anh

Đơn vị chủ trì: Bộ môn Tâm – Thần kinh

Cơ quan quản lý: Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Thời gian thực hiện: Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014 Tổng kinh phí thực hiện đề tài

NAM ĐỊNH 2014

Trang 3

TTPL Tâm thần phân liệt

NCS Người chăm sóc

BVSK Bảo vệ sức khỏe

Trang 4

MỤC LỤC

TÓM TẮT ĐỀ TÀI 7

ĐẶT VẤN ĐỀ 8

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11

1.1 Đại cương về bệnh tâm thần phân liệt 11

1.2 Triệu chứng và phân loại bệnh tâm thần phân liệt 11

1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt 12

1.4 Đặc điểm tiến triển lâm sàng của bệnh 13

1.5 Chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt 13

1.6 Gia đình với người bệnh tâm thần phân liệt 15

1.7 Hướng dẫn chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình 16

1.8 Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam 19

1.9 Dịch tễ học bệnh tâm thần phân liệt, công tác triển khai chương trình mục tiêu quốc gia Bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng tại Nam Định 19

1.10 Một số nghiên cứu về chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng trong và ngoài nước 20

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21

2.3 Thiết kế nghiên cứu: 21

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 21

2.5 Phương pháp thu thập thông tin 21

2.6 Các biến số 22

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 22

2.8 Phương pháp xử lý số liệu 23

2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu: 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 24

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 24

Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ người bệnh tâm thần phân liệt được chăm sóc theo tuổi và giới 26

3.3 Thực trạng chăm sóc người bệnh tại gia đình 27

3.4 Liên quan giữa các yếu tố với thực trạng chăm sóc người bệnh 32

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 34

4.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 34

Trang 5

4.2 Một số đặc điểm về người được chăm sóc 35

4.3 Thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình 35

4.4 Một số yếu tố liên quan tới thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt 39

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 41

Qua khảo sát 64 người chăm sóc chính người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở Nam Định chúng tôi rút ra một số kết luận sau: 41

5.1 Thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình 41

5.2 Yếu tố liên quan với thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tai gia đình 41

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

NỘI DUNG VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN 44

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN VÀ PHỐI HỢP 45

PHIẾU ĐIỀU TRA 46

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG ĐỀ TÀI

Trang 6

STT Tên bảng Trang

9 Người chăm sóc nhận thuốc cấp điều trị cho NB hàng tháng 27

11 NCS cho NB uống thuốc đúng liều theo chỉ định BS 28

14 Thực trạng chăm sóc về vệ sinh cho người bệnh 29

15 Thực trạng chăm sóc về dinh dưỡng cho người bệnh 30

17 Thực trạng chăm sóc giúp người bệnh giao tiếp 31

18 Thực trạng đưa người bệnh đi khám bệnh định kỳ 31

19 Điểm trung bình chăm sóc NB của NCS trong gia đình 32

20 Liên quan giữa tổng điểm trung bình và số lần tái phát người bệnh 32

21 Liên quan giữa tổng điểm trung bình chăm sóc và một số đặ điểm

của đối tượng nghiên cứu

33

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG ĐỀ TÀI

Trang 7

Số Tên biểu đồ Trang

TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Trang 8

Qua nghiên cứu 64 người chăm sóc chính người bệnh tâm thần phân liệt tại giađình ở Nam Định đại diện cho tổng số những người chăm sóc chính người bệnh đangđược quản lý Chúng tôi tiến hành đánh giá thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thầnphân liệt tại gia đình với phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn đốitượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi in sẵn Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trungbình chăm sóc cho người bệnh đạt 7,17 ± 1,12 (tính theo thang điểm 10) Trong đóđiểm trung bình chăm sóc về dùng thuốc cho người bệnh mới chỉ đạt 5,46 ± 3,33,khám bệnh định kỳ mới đạt 3,88 ± 0,6 Sau khi phân tích các yếu tố ảnh hưởng tớichăm sóc người bệnh tại gia đình chúng tôi thây rằng có 3 yếu tố: Trình độ học vấn,thu nhập hàng tháng, tiếp cận thông tin hướng dẫn chăm sóc người bệnh của ngườichăm sóc có mối tương quan với p< 0,05.

Studied 64 caregivers of patients with schizophrenia in families in Nam Dinhrepresents the total number of primary care patients who are being managed Weconduct a situational assessment for patient care in schizophrenia family study methoddescribed cross, interviews with the study subjects in question available The studyresults showed that average scores overall care of patients reached 7.17 ± 1.12(calculated on a scale of 10) In point average that taking care of the patients reachedonly 5.46 ± 3.33, periodic medical examination and reached 3.88 ± 0.6 Afteranalyzing the factors that affect patient care in our family found that there are 3factors: education level, monthly income, access to information for patient careguidelines of care correlation with p <0.05

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 9

Tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển mãn tính, làmsuy giảm nặng nề các chức năng tâm thần, làm cho người bệnh không thể hòa nhậpđược với cuộc sống gia đình cũng như xã hội nếu không được điều trị tích cực Bệnhnguyên, bệnh sinh của bệnh vẫn chưa được rõ ràng.

Tâm thần phân liệt là một bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, tỷ

lệ mắc bệnh khoảng 0, 3 – 1,5% dân số[9] Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) hiện naytrên thế giới đang có khoảng 45 triệu người mắc bệnh tâm thần phân liệt và mỗi năm

có khoảng 1 triệu người tự sát vì tâm thần phân liệt [11]

Theo thống kê của Chương trình Quốc gia năm 2012, ở Việt Nam tỷ lệ mắc tâmthần phân liệt là 0,47% dân số, bệnh khởi phát ở lứa tuổi 18 đến 40[7] Theo Trần ViếtNghị tỷ lệ này là 0,3 - 1%[9]

Theo bộ lao động thương binh xã hội năm 2011 tại Việt Nam hiện nay đang cókhoảng hơn 200.000 người bệnh tâm thần phân liệt Trong khi đó, cả nước chỉ cókhoảng 100.000 người bệnh đang được chăm sóc và phục hồi chức năng tại 26 cơ sởbảo trợ xã hội[11] Như vậy, còn lượng rất lớn người bệnh tâm thần đang sống ở cộngđồng, không ít người trong số đó do gia đình không kiểm soát được đã bỏ nhà đi langthang Chính vì thế, các mô hình chăm sóc người bệnh tâm thần dựa vào cộng đồngđược coi là một giải pháp tốt, là xu hướng mà thế giới đang đi theo

Năm 1999, Chính phủ Việt Nam đưa vào Chương trình mục tiêu Quốc gia dự

án bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng[2] Bệnh tâm thần phân liệt là môt trong babệnh chính được đưa vào chương trình Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần đượcnhân rộng từ tuyến trung ương, tuyến tỉnh, đến các trung tâm Y tế dự phòng quận,huyện và trung tâm Y tế xã, phường, thị trấn Với phần lớn người bệnh tâm thần đangđược quản lý tại gia đình và được theo dõi quản lý theo sổ tại trạm y tế xã, phường

Việc điều trị bệnh tâm thần phân liệt ngày nay chủ yếu là dựa vào cộng đồngnghĩa là người bệnh không cần phải nằm trong bệnh viện lâu dài mà có thể sinh hoạtbình thường tại gia đình và xã hội nhưng phải được tái khám định kỳ và dùng thuốcduy trì theo hướng dẫn của thầy thuốc Vì vậy vai chò của người chăm sóc trong giađình là rất quan trọng Nếu tại gia đình, người thân chỉ biết sử dụng thuốc cho ngườibệnh uống đều đặn hàng ngày mà không quan tâm đến việc phục hồi các chức năng

Trang 10

tâm lý thì vẫn chưa đủ bởi vì mục tiêu là vừa điều trị vừa giúp cho người bệnh tái hòanhập cộng đồng

Nam Định là một trong những tỉnh có số lượng người bệnh tâm thần phân liệttương đối cao Theo số liệu báo cáo năm 2012, hiện nay toàn tỉnh có 12,353 ngườibệnh tâm thần đang được quản lý Trong đó tâm thần phân liệt là 5069 chiếm 41%

Dự án chăm sóc bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng đã được triển khai đồng bộ từtỉnh đến từng đội trong toàn tỉnh Toàn tỉnh có 9 huyện và 1 thành phố với 229 xã,phường, thị trấn tất cả đã được triển khai dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng.Tuy nhiên cho đến nay tỉnh Nam Định vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đềthực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng nhất là ở chính giađình người bệnh Nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy tâm thần, đánh giá đùng thực

trạng chăm sóc, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở Nam Định” với mục tiêu:

1 Khảo sát thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ởNam Định

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến thực trạng chăm sóc người bệnh tâmthần phân liệt tại gia đình ở Nam Định

Trang 11

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về bệnh tâm thần phân liệt

Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ có khuynhhướng mãn tính, căn nguyên chưa rõ, nhân cách bị biến đổi theo kiểu phân liệt, làmcho người bệnh tách dần ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong,làm cho tình cảm trở nên khô lạnh, học tập và làm việc sút kém Bệnh tâm thần phânliệt đã được biết từ lâu nhưng đến thế kỷ thứ XVIII mới được mô tả trong y văn

Năm 1857 nhà tâm thầm học người Pháp Morel (1809 – 1873) lần đầu tiên

mô tả một loại bênh tâm thần ở người trẻ tuổi và thường dẫn đến sa sút, gọi là bệnh sasút sớm.[9]

Năm 1911 nhà tâm thần học Thụy sỹ Bleuler đưa ra kết luận lý thú về các rốiloạn chủ yếu của bệnh là sự chia cắt trong các mặt hoạt động tâm thần, đó là lý do đểông đưa ra thuật ngữ mới: Bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia) Theo ông nét đặcchưng của bênh tâm thần phân liệt gồm 4 chữ A (rối loạn sự liên tưởng: Association,rối loạn loại cảm xúc: Affect, tự kỷ: Autism, tính hai chiều trái ngược : Ambevalence)

Năm 1939 Schneider mô tả một số triệu chứng hàng đầu, được ông coi là đặctrưng cho tâm thần phân liệt (TTPL): là một bệnh tâm thần nặng, có tính chất tiếntriển, căn nguyên chưa rõ ràng, làm biến đổi nhân cách của bệnh nhân theo kiểu phânliệt, biểu hiện bằng sự mất thống nhất trong các hoạt động tâm thần Bằng mất dần liên

hệ với thực tại xung quanh, bằng cảm xúc ngày càng khô lạnh, tác phong ngày càng kỳ

dị khó hiểu, tư duy ngày càng lệch lạc trầm trọng cả về hình thức lẫn nội dung

Như vậy, các tác giả đều thống nhất rằng: Bệnh TTPL làm mất tính thống nhất,chia cắt các hoạt động tâm thần, bệnh có xu hướng tiến triển mãn tính, làm biến đổinhân cách của nguời bệnh theo hướng thiếu hoà hợp và tự kỷ, cùn mòn cảm xúc, tácphong kỳ dị khó hiểu

1.2 Triệu chứng và phân loại bệnh tâm thần phân liệt

Các triệu chứng của bệnh TTPL vô cùng phong phú, vô cùng phức tạp và luônbiến đổi Tuy nhiên đại đa số các nhà tâm thần học đều thống nhất chia các triệu chứngcủa bệnh TTPL thành 2 nhóm:

- Triệu chứng âm tính: là các triệu chứng biểu hiện sự tiêu hao mất mát trongcác hoạt động tâm thần, sự mất tính toàn vẹn, tính thống nhất trong các hoạt động tâm

Trang 12

thần Triệu chứng âm tính là nền tảng của quá trình phân liệt và bao gồm hai biểu hiệnchính:

+ Tính thiếu hoà hợp và tự kỷ

+ Sự giảm sút thế năng tâm thần

- Triệu chứng dương tính: là biến đổi rất đa dạng phong phú của các hoạt độngtâm thần xuất hiện trong quá trình bị bệnh: như hoang tưởng, ảo giác, ám ảnh, tâmthần tự động, cơn hưng cảm, cơn trầm cảm…

Với sự phức tạp trong bệnh cảnh lâm sàng của bệnh TTPL, cho đến nay đã córất nhiều quan điểm khác nhau về phân loại bệnh TTPL, nhưng có hai bảng phân loạiđược sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và thực hành lâm sàng tâm thần:

1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt

+ Theo Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 của TCYTTG (ICD-10): Ápdụng theo tiêu chuẩn của TCYTTG năm 1992 (ICD-10)

Tiêu chuẩn về lâm sàng là:

1 - Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt, bị đánh cắp hay bị phát thanh

2 - Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị tri phối hay bị động có liên quan rõ rệt vớivận động thân thể hay các chi có liên quan với những ý nghĩ, hành vi hay cảm giác đặcbiệt, tri giác hoang tưởng

3 - Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảoluận với nhau về bệnh nhân hoặc các ảo thanh khác xuất phát từ một bộ phận nào đócủa cơ thể

4 - Các hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hoá và hoàntoàn không thể có được tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc những khả năng

và quyền lực siêu nhân (thí dụ: có khả năng điều khiển thời tiết, hoặc đang tiếp xúc vớingười của thế giới khác)

5 - Ảo giác dai dẳng với bất cứ loại nào có khi kèm theo hoang tưởng thoángqua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc có kèm theo ý thứcquá dai dẳng hoặc xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng

6 - Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói đưa đến tư duy không liên quan, lờinói không thích hợp hay bịa đặt

Trang 13

7 - Tác phong căng trương lực: kích động, giữ nguyên dáng, phủ định, khôngnói, sững sờ.

8 - Các triệu chứng âm tính như vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, cảm xúc cùnmòn hay đáp ứng cảm xúc không thích hợp dẫn đến cách ly xã hội hay giảm hiệu xuấtlao động Các triệu chứng không do trầm cảm hay thuốc gây ra

9 - Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện tập tính của cánhân như mất hứng thú, thiếu mục đích, lười nhác, mải mê suy nghĩ về cá nhân, cách

ly xã hội

- Tiêu chuẩn về lâm sàng phải có ít nhất 1 triệu chứng rõ ràng thuộc vào cácnhóm triệu chứng từ (1) đến (4), nếu không rõ thì phải có 2 triệu chứng trở lên Hoặc

có từ 2 triệu chứng trở lên trong nhóm các triệu chứng từ (5) đến (9)

Tiêu chuẩn về thời gian: các triệu chứng trên phải tồn tại từ một tháng trở lên

dù được điều trị hay không

1.4 Đặc điểm tiến triển lâm sàng của bệnh

Theo R Murray (2000) [9], TTPL có 4 nhóm tiến triển như sau:

- Bệnh nhân có một thời kỳ bị bệnh duy nhất sau đó bệnh ổn định hoàn toàn.Kiểu tiến triển này chiếm 20% tổng số bệnh nhân tâm thần phân liệt

- Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát bệnh hầu như ổn định (chiếm35%)

- Bệnh có nhiều đợt tái phát, giữa các đợt tái phát có biểu hiện thiếu sót hành vitâm thần rõ ràng (8%)

- Bệnh tái phát, sau mỗi đợt tái phát các di chứng tâm thần nặng nề dần lêngiống như kiểu tiến triển liên tục nặng (chiếm 35%)

- Tỷ lệ tái phát, sau 2 năm, chiếm khoảng 40% và tỷ lệ này tăng lên đến 80%nếu người bệnh không được điều trị liên tục

Do vậy bên cạnh sự can thiệp điều trị của thầy thuốc thì gia đình và cộng đồngđóng vai trò rất lớn trong việc giám sát, duy trì điều trị cho người bệnh để góp phầnlàm giảm tỷ lệ tái phát của bệnh

1.5 Chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt.

Bệnh tâm thần phân liệt ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống người bệnh và làm cho

họ mất đi nhiều khả năng sinh hoạt bình thường Mặt khác, phần lớn người bệnh bắt

Trang 14

đầu bị bệnh khi còn trẻ và bệnh tâm thần phân liệt được coi như một bệnh mạn tínhlàm cho họ mất đi hoặc suy yếu những khả năng sinh hoạt như: suy nghĩ, học hỏi, giaotiếp xã hội, làm việc, tình cảm, các mối quan hệ cá nhân cũng như quan hệ xã hội.Phần khó khăn nhất trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt là làm sao giúp ngườibệnh giảm bớt mức độ tàn phế và có thể sống một cuộc sống tương đối bình thườngtrong thời gian sau cơn bệnh.

Trái với những thay đổi mau chóng và rõ rệt trong việc dùng thuốc điều trị vàkìm chế những triệu chứng nổi, việc phục hồi sinh hoạt cho người bệnh chỉ mang lạinhững thay đổi chậm và nhỏ Tuy nhiên giảm bớt những tàn phế và cải thiện cuộc sốngcủa người bệnh là hai mục tiêu quan trọng trong chương trình phục hoạt cho ngườibệnh tâm thần phân liệt

Những chương trình phục hồi khả năng sinh hoạt cho người bệnh là một phầntrong kế hoạch trị liệu bao quát cho người bệnh tâm thần phân liệt sau khi họ đã tươngđối ổn định, không còn các triệu chứng rối loạn tinh thần nữa Mục tiêu của điều trịbệnh là đề cập tới các điểm chính như sau:

- Khả năng sống còn:

Biết tự chăm sóc bản thân, biết cách ăn uống lành mạnh hợp với tình trạng sứckhoẻ, biết cách nấu ăn, mua sắm, giữ gìn vệ sinh thân thể, thu xếp chỗ ăn ở, biết cách

sử dụng những phương tiện công cộng để đi lại

- Khả năng giao tiếp xã hội:

Người bệnh được hướng dẫn để dần dần lấy lại và tăng cường lòng tự tin, sự tựtrọng, biết cách giao tiếp và đối thoại với người khác, biết cách giải quyết những khúcmắc, bất đồng ý kiến với người khác một cách thoả đáng

- Khả năng thích nghi và đối phó với những khó khăn hàng ngày:

Người bệnh được giúp đỡ và hướng dẫn trong việc tìm cách giảm bớt những căngthẳng tinh thần

- Khả năng tổ chức cuộc sống:

Người bệnh được hướng dẫn trong việc thu xếp và tổ chức cuộc sống hàng ngàysao cho có nề nếp, thành một thông lệ, có giờ giấc, biết sử dụng giờ rảnh một cách hữuích và thoải mái

- Khả năng làm việc:

Trang 15

Làm việc cũng giúp cho con người cảm thấy mình có ích, thoả mãn vì mình đãhoàn thành được một điều gì đó, tự tin vào khả năng của mình, đồng thời đóng gópphần của mình vào cuộc sống xã hội Làm việc còn tạo cho con người cơ hội để giaotiếp với người khác, có bạn bè quan hệ tình cảm lành mạnh.

Việc điều trị bằng thuốc không thể phục hồi được những khả năng này mộtcách toàn vẹn (Hiện nay có một số thuốc mới có khả năng cải thiện khả năng tư duy

và nhận thức của người bệnh) Một số người bệnh đã từng nằm điều trị trong các bệnhviện tâm thần nhiều năm và đã quen với lối sống phụ thuộc vào sự giúp đỡ, chỉ dẫn vàchăm sóc của các bác sỹ, điều dưỡng và các nhân viên y tế khác trong mọi chuyện; họthường không phải lo lắng đến việc ăn ở cho bản thân cũng như không phải lo cho giađình Sau nhiều năm sống như vậy, nghị lực, tinh thần, óc sáng tạo, khả năng tháo vát,ứng biến với cuộc sống ngoài xã hội của họ bị ảnh hưởng nặng nề, cho đến khi họ phảitrở về sống với gia đình thì họ trở thành gánh nặng cho gia đình Nếu họ không được

có cơ hội để làm lại cuộc đời thì họ sẽ tiếp tục là gánh nặng cho gia đình và xã hội.Chương trình phục hoạt chính là cơ hội để họ có thể làm lại cuộc đời Người bệnh Tâmthần phân liệt ổn định chủ yếu là sống tại gia đình vì vậy để người bệnh được chămsóc tốt nhất thì gia đình người bệnh cần có kiến thức về bệnh, kiến thức chăm sócđúng để người bệnh có thể tái hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất

1.6 Gia đình với người bệnh tâm thần phân liệt

- Gia đình phải thực sự là tổ ấm của mọi thành viên Tạo không khí tình cảmthoải mái hài hoà trong gia đình, mọi người phải thực sự thông cảm hiểu biết nhau.Tránh gây căng thẳng, xích mích, to tiếng, tranh luận hoặc cãi nhau, hiểu lầm nhau

đó đều là những yếu tố thuận lợi (stress) để bệnh phát triển, tái phát

- Khi gia đình phát hiện các biểu hiện bất thường của một người trong gia đìnhcần phải đưa đi khám bệnh các thầy thuốc, tư vấn tâm lý đặc biệt các bác sĩ chuyênkhoa Phát hiện sớm, điều trị tích cực là phương châm chính của công tác chăm sócsức khoẻ tâm thần tại cộng đồng

- Gia đình quản lý thuốc và cho bệnh nhân uống theo đúng qui định của bác sĩchuyên khoa để tránh tái phát bệnh và duy trì cuộc sống bình thường của bệnh nhân.Không tự ý ngừng thuốc

Trang 16

- Gia đình thường xuyên thông tin chính xác, đúng sự thật cho các bác sĩ vềbiểu hiện bất thường của bệnh nhân và những tiến triển tốt.

- Gia đình cần có thái độ xem bệnh nhân như những thành viên khác, khôngphân biệt đối xử

- Gia đình cần chấp nhận những hành vi kỳ dị của người bệnh, cần tỏ rõ tìnhthương đối với bệnh nhân, làm như vậy người bệnh mới có cảm giác mình được đảmbảo yêu thương

- Khuyến khích bệnh nhân làm một số công việc trong gia đình, hoặc tạo cho họ

có việc làm mới phù hợp với khả năng của bệnh nhân Không để cho bệnh nhân ngồikhông

- Cần kiên trì giúp đỡ bệnh nhân, không bi quan chán nản

- Không nên cưỡng ép, giận dữ, nên dịu dàng hướng dẫn bệnh nhân trong xử sựgiao tiếp

- Không nên phê bình ngay khi bệnh nhân sai trái, tránh tranh cãi, lý lẽ, trừngphạt mà nên dịu dàng khuyên bảo từ từ

- Nếu bệnh nhân sa sút không tự phục vụ bản thân được thì gia đình nên đônđốc, giúp đỡ bệnh nhân trong những công việc :ăn uống, vệ sinh cá nhân, mặc quần áo

đi lại trong làng, ngoài phố, uống thuốc theo y lệnh

- Định kỳ đến bác sỹ khám bệnh, điều chỉnh liều thuốc cho phù hợp tình trạngbệnh lý

1.7 Hướng dẫn chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình

Trang 17

o Cách uống thuốc: Cách uống đúng nhất với NB tâm thần phân liệt là đưathuốc cho NB và bảo NB uống trước mặt Hiện nay có khá nhiều NB tích thuốc để tự

tử vì vậy NCS cần phải quản lý thuốc nghiêm ngặt, không được để cho NB tự lấythuốc và uống NCS cũng phải kiểm tra xem NB có uống thuốc thật không do đó việcbảo NB uống thuốc trước mặt nhằm hạn chế vấn đề NB tự ý bỏ thuốc hoặc dấu thuốc

 Vệ sinh

o Người chăm sóc cần khuyến khích và đôn đốc để NB tham gia vệ sinh cánhân hàng ngày, bên cạnh đó NCS nên hướng dẫn tỷ mỷ và kiên nhẫn, khích lệ họ để

họ cảm thấy vui, tích cực tham gia

o Hỗ trợ của gia đình: Nếu người bệnh có thể tự tắm và gội, giặt quần áođược được thì để cho NB tự vệ sinh và tắm rửa Gia đình có thể hỗ trợ NB trong mộtchừng mực nào đó nếu NB cần hỗ trợ ( vd: NB có thể tự tắm được thì gia đình giặtquần áo giúp)

o Người chăm sóc cần phải giữ vệ sinh sạch sẽ cho người bệnh: Dù ngườibệnh có thể tự làm hay gia đình phải hỗ trợ thì hàng ngày NB cần phải được vệ sinh cánhân, quần áo, đầu tóc phải gọn gàng Không nên để cho NB bẩn thỉu và lôi thôi Cónhư vậy NB mới cảm thấy không tự ti, và bớt ánh mắt kỳ thị từ người khác Hơn nữaviệc cơ thể được sạch sẽ có thể hạn chế được các bệnh nhiễm khuẩn hoặc viêm nhiễmkhác Vì vậy người chăm sóc cần phải giúp đỡ để người bệnh luôn được sạch sẽ

 Dinh dưỡng

o Người bệnh tâm thần cũng cần phải được ăn uống đầy đủ ít nhất 3bữa/ngày một ngày và ít nhất 2 bát/ bữa, đủ dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu của cơthể

o Hỗ trợ gia đình: Trong một chừng mực nào đó gia đình có thể hỗ trợ NBnhư đi chợ giúp hoặc nấu cơm giúp Tuy nhiên gia đình cũng nên khuyến khích ngườibệnh tham gia tự giác chủ động nấu cơm và tự lấy cơm để ăn NB tâm thần phân liệt ởgiai đoạn ổn định hoàn toàn có thể tham gia cùng gia đình thực hiện các công việcnhư nấu cơm hoặc rửa bát Gia đình không nên để người bệnh thụ động, không thamgia hoặc hỗ trợ hoàn toàn giúp NB

 Lao động và phục hồi chức năng tâm lý cho NB

Trang 18

o Lao động: Gia đình cần khuyến khích và đôn đốc NB tham gia lao động.Khi người bênh làm được việc gì dù là nhỏ nhất thì gia đình cũng nên khuyến khíchđộng viên Làm việc giúp cho người bệnh cảm thấy mình có ích, thoả mãn vì mình đãhoàn thành được một điều gì đó, tự tin vào khả năng của mình, đồng thời đóng gópphần của mình vào cuộc sống xã hội Làm việc còn tạo cho con người cơ hội để giaotiếp với người khác, có bạn bè quan hệ tình cảm lành mạnh

o Giao tiếp: Muốn phục hồi chức năng tâm lý cho NB thì phải phục hồikhả năng giao tiếp của NB Muốn vậy thì NCS cũng như gia đình NB phải hiểu rõ vàtích cực giao tiếp để NB bớt mặc cảm, tự tin hơn Một trong những cách giúp cho NBgiao tiếp trở lại là gia đình nên để NB ăn cơm cùng gia đình Việc cho NB ăn cơmcùng mâm sẽ làm cho NB không cảm thấy mình bị kỳ thị, trong bữa ăn mọi người sẽcởi mở và dễ nói chuyện hơn

o Tham gia tập luyện thể dục thể thao: Tập thể dục và nghỉ ngơi hợp lýcũng rất quan trọng đối với sức khỏe tâm thần của NB Đây cũng là phương pháp tốt

để cho NB tái hòa nhập xã hội Do đó gia đình cũng nên khuyến khích và động viên

để NB chủ động tham gia

 Tái khám định kỳ

Người bệnh TTPL cần được đi khám định kỳ ít nhất một năm 2 lần, tốt nhất

là hàng tháng gia đình nên đưa NB đến kiểm tra và lĩnh thuốc Hiện nay trong chươngtrình chăm sóc sức khỏe tâm thần, thì khám định kỳ cho NB là một trong nhữngnhiệm vụ cần phải thực hiện trên NB TTPL Việc tái khám định kỳ sẽ giúp cho bác sỹbiết được tình trạng của NB, điều chỉnh thuốc theo từng giai đoạn bệnh nhằm ngănngừa tái phát Gia đình không nên đợi đến khi NB có dấu hiệu phát bệnh trở lại mớiđưa đi khám

Trang 19

1.8 Mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần Việt Nam

Trang 20

1.9 Dịch tễ học bệnh tâm thần phân liệt, công tác triển khai chương trình mục tiêu quốc gia Bảo vệ sức khỏe tâm thần tại cộng đồng tại Nam Định

Theo điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp của bệnh viện tâmthần tỉnh Nam Định Tỉ lệ mắc bệnh Tâm thần phân liệt trên địa bàn tỉnh là 0,31%.Tính đến 12/2012, trong danh sách quản lý và theo dõi của bệnh viện Tâm thần tỉnh có5.069 NB TTPL

Chúng tôi cho rằng tỉ lệ NB được phát hiện thấp hơn so với tỉ lệ chung là do có một số NB giấu bệnh do tâm lý nặng nề về các bệnh tâm thần vẫn còn tồn tại và có một số không nhỏ bệnh nhân đi điều trị theo yêu cầu riêng của gia đình

Trang 21

Hiện nay ở Nam Định, người bệnh TTPL được quản lý theo danh sách ở cả 2chương trình: chương trình Quốc gia và chương trình tỉnh Cho tới nay, chương trình

đã được triển khai tại khắp 229 xã phường, thị trấn trong toàn tỉnh

1.10 Một số nghiên cứu về chăm sóc, điều trị người bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng trong và ngoài nước

- Nghiên cứu của Peuter (1985) đã chứng minh rằng khi các triệu chứng báohiệu bệnh tâm thần phân liệt được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, khẩn trương (ngoạitrú tại nhà) thì chỉ có 6% người bệnh phải nhập viện lại

- Theo nghiên cứu của Nguyên Minh Hải tỷ lệ người bệnh TTPL uống thuốcđều tại thị trấn Vĩnh An chiếm 75%, tuy nhiên vẫn có khoảng 20,4% người bệnh uốngthuốc không đều, và 4,06% NB bỏ điều trị [2]

- Theo Đinh Quốc Thắng và Trần Hữu Bình đánh giá thực hành chăm sóc NBTTPL ở Bình Xuyên, Vĩnh Phúc Tỷ lệ gia đình đưa người bệnh đi khám và lĩnh thuốcđều tại trạm là 91%, cho người bệnh uống thuốc cách là 90%, cho NB uống đúng liều

là 85%, giúp NB hòa nhập cộng đồng chiếm tỷ lệ thấp hơn là 60%[3] Kết quả nàycho thấy cần phải chú trọng hơn rất nhiều về công tác giúp người bệnh tái hòa nhậpcộng đồng,

- Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Hải, tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.Đánh giá kiến thức của gia đình khi chăm sóc người bệnh TTPL Kết quả cho thấy chothấy có tới 10,2 % số gia đình cho rằng điều trị bệnh TTPL chỉ cần uống thuốc mộtthời gian khi bị bệnh, 6,2 % không biết câu trả lời Như vậy có thể thấy kiến thứcchăm sóc NB TTPL vẫn còn thấp [2]

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

64 người chăm sóc chính người bệnh TTPL tại gia đình ở Nam Định

Trang 22

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

* Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Nam Định

* Thời gian: 6/2013 đến 6/2014

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

* Tiêu chuẩn chọn mẫu

+ Người chăm sóc chính người bệnh TTPL đang được quản lý theo sổ ở cả 2

chương trình Tỉnh và chương trình Quốc gia của tỉnh Nam Định

+ Đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

Người trực tiếp chăm sóc người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu

* Phương pháp chọn mẫu: Chọn toàn bộ người chăm sóc chính của người bệnh

tâm thần phân liệt tại 3 xã đại diện cho 3 vùng ở Nam Định làm đại diện cho mẫunghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu : 64

2.5 Phương pháp thu thập thông tin

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn người trực tiếp chăm sóc người bệnh TTPL đang được quản lý theo

sổ của TYT xã Thành Lợi, xã Hải Phương, phường Lộc Hòa theo phiếu điều tra

Theo dõi sổ khám bệnh của người bệnh

Các điều tra viên được tập huấn trước khi triển khai xuống cộng đồng

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu

Công cụ thu thập dữ kiện là bộ câu hỏi (phụ lục 1) Cấu trúc bộ câu hỏi gồm 3phần:

Trang 23

- Phần 1: Bao gồm 8 câu hỏi để đánh giá một số thông tin về đối tượng nghiêncứu như: Quan hệ với người bệnh, tuổi, giới, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thu nhậpbình quân.

- Phần 2: Bao gồm 7 câu hỏi để thu thập một số thông tin về người được chămsóc như: Tuổi, giới, lần tái phát, tiền sử gia đình, phản ứng phụ thuốc người bệnh đãgặp…

- Phần 3: Gồm 17 câu hỏi để khảo sát thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thầnphân liệt tại gia đình ở Nam Định: Thực trạng dùng thuốc, thực trạng vệ sinh, dinhdưỡng, lao động, giao tiếp, khám bệnh định kỳ

Thực trạng chăm sóc NB tại gia đình: Dùng thuốc, vệ sinh, dinh dưỡng laođộng và phục hồi chức năng tâm lý, tái khám định kỳ

Một số yếu tố liên quan tới thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL tại gia đình:tuổi, giới, hoàn cảnh kinh tế gia đình, trình độ văn hóa NCS…

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá.

- Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng căn nguyên chưa rõ, bệnh tiến

triển với những rối loạn đặc trưng về tư duy tri giác cảm xúc dẫn đến những rối loạn

cơ bản về tâm lý và nhân cách theo kiểu phân liệt nghĩa là mất dần tính hài hòa, thốngnhất gây ra chia các hoạt động Tâm thần[9]

- Người chăm sóc chính: Là người thường xuyên trực tiếp đưa người bệnh đi khámbệnh định kỳ, trực tiếp đi lĩnh thuốc, cho NB uống thuốc hàng ngày, đôn đốc, giúp NB làm

vệ sinh cá nhân hàng ngày, trên 18 tuổi và sống cùng NB [3]

- Cho người bệnh uống thuốc đúng cách là cho người bệnh uống thuốc trước mặtNCS, kiểm tra xem người bệnh có uống hết thuốc không thuốc có vào dạ dày không

- Cho NB uống thuốc đều đặn : Là cho người bệnh uống thuốc hàng ngày

Trang 24

- Cho NB uống đúng liều : Cho NB uống thuốc theo đúng chỉ định BS.

- Hỗ trợ hoàn toàn là gia đình phải làm giúp tất cả các công việc cho người bệnh nhưgiặt quần áo tắm rửa nấu cơm cho người bệnh ăn…

- Hỗ trợ một phần là người bệnh có thể làm được một phần như tự tắm được nhưnggia đình phải giặt quần áo cho người bệnh, hoặc có thể tự lấy cơm để ăn được nhưng gia đìnhphải nấu cho NB ăn

Thước đo : Dựa vào hướng dẫn chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia

đình, chúng tôi lập nên bộ câu hỏi khảo sát thực trạng chăm sóc người bệnh TTPL tạigia đình Theo phiếu khảo sát dành cho NCS chính, cứ mỗi tiêu chí đạt chúng tôi cho

1 điểm, không đạt chúng tôi cho 0 điểm Sau đó tính điểm dựa trên thang điểm 10

Test thống kê χ2 để tìm hiểu mối liên quan Mọi sự khác biệt được xem là có ýnghĩa thống kê khi p < 0,05; với khoảng tin cậy 95%

2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu:

Nghiên cứu đã được hội đồng đạo đức Trường Đại học Điều dưỡng Nam Địnhthông qua Việc thực hiện nghiên cứu được sự chấp thuận và cho phép của trạm y tế nơitiến hành thu thập số liệu

Đối tượng nghiên cứu tham gia trả lời một cách tự nguyện và đảm bảo nhữngthông tin thu được từ đối tượng nghiên cứu được giữu bí mật và không ảnh hưởng gìđến NB

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu.

Bảng 1: Phân bố theo nhóm tuổi và giới người chăm sóc chính.

Trang 25

Nhận xét: Người chăm sóc chủ yếu là nữ giới tỷ lệ cao nhất 62,5%; có 14,1% người

chăm sóc trên 60 tuổi vẫn phải chăm sóc người bệnh

Bảng 2 Quan hệ của người chăm sóc chính với người bệnh.

Nhận xét: Đối tượng chăm sóc người bệnh TTPL là chính những người thân trong gia

đình sống cùng người bệnh Vợ hoặc chồng (48,4%), bố mẹ đẻ là 31,2%, Số còn lại làanh chị em ruột trong gia đình hoặc con của NB,

Bảng 3 Nghề nghiệp người chăm sóc chính.

Nhận xét: Nhóm nghiên cứu là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất 65,6%, Chỉ có 6,2%

người chăm sóc là cán bộ viên chức, Số còn lại là công nhân, hoặc nội trợ …

Bảng 4 Trình độ văn hóa người chăm sóc chính

Ngày đăng: 26/04/2015, 22:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đinh Quốc Thắng. Trần Hữu Bình (2010). Kiến thức-thái độ- thực hành của người chăm sóc chính người bệnh TTPL tại nhà và một số yếu tố liên quan ở Huyện Bình Xuyên. Vĩnh Phúc năm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Quốc Thắng. Trần Hữu Bình (2010
Tác giả: Đinh Quốc Thắng. Trần Hữu Bình
Năm: 2010
4. Hồ Xuân (2001). Nâng cao hiệu quả chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại xã Phú Lâm, huyện Tiến Du, tỉnh Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân (2001)
Tác giả: Hồ Xuân
Năm: 2001
5. Nguyễn Minh Hải (2007). Đánh giá tình hình quản lý điều trị người bệnh tâm thần phân liệt dựa vào cộng đồng tại thị trấn Vĩnh An. Vĩnh Cửu. tỉnh Đồng Nai năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Hải (2007
Tác giả: Nguyễn Minh Hải
Năm: 2007
6. Phạm Gia Thắng (2005). “Tâm thần phân liệt”. bệnh học tâm thần. Nhà xuất bản quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Gia Thắng (2005). “Tâm thần phân liệt
Tác giả: Phạm Gia Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bảnquân đội nhân dân
Năm: 2005
7. Phòng chỉ đạo tuyến BV Tâm thần Trung ương (2012). Nghiên cứu dịch tễ các rối loạn tâm thần ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng chỉ đạo tuyến BV Tâm thần Trung ương (2012)
Tác giả: Phòng chỉ đạo tuyến BV Tâm thần Trung ương
Năm: 2012
8. Trần Thị Hồng Thu. Gia đình với việc chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại nhà.Truy cập từ: http://www.maihuong.gov.vn/vi/tu-van/80-gia-dinh-voi-viec-cham-soc-nguoi-benh-tam-than-phan-liet-tai-nha.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thị Hồng Thu. "Gia đình với việc chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệttại nhà
9. Trần Viết Nghị (2000)." Bệnh TTPL". Bệnh học tâm thần nội sinh. Bộ môn Tâm thần học trường Đại học Y Hà Nội. Tr 5-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh TTPL
Tác giả: Trần Viết Nghị
Năm: 2000
10. Trần Duy Tân Liệu pháp tâm lý gia đình trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Duy Tân "Liệu pháp tâm lý gia đình trong điều trị bệnh tâm thần phân liệ
12. ShitiJ(2004), Dopamin, Dopaminergic and glutamatergic influences in the systems biology of Schizophenia, Dopamine in the pathophysyology and treatment of Schizophrenia, Centre for addiction and Metal Healt Toronto, canada, P.211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ShitiJ(2004), "Dopamin, Dopaminergic and glutamatergic influences in thesystems biology of Schizophenia, Dopamine in the pathophysyology andtreatment of Schizophrenia
Tác giả: ShitiJ
Năm: 2004
13. World Health organizatione (2000),"Schizophrenia: General information"Management of metal disorders.P.316-326 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Schizophrenia: General information
Tác giả: World Health organizatione
Năm: 2000
11. Số liệu tổng hợp từ websites Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn) Tiếng Anh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Nghề nghiệp người chăm sóc chính. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 3. Nghề nghiệp người chăm sóc chính (Trang 24)
Bảng 5.  Thu nhập bình quân/tháng người chăm sóc chính. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 5. Thu nhập bình quân/tháng người chăm sóc chính (Trang 25)
Bảng 10.  Người chăm sóc cho người bệnh uống thuốc hàng ngày. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 10. Người chăm sóc cho người bệnh uống thuốc hàng ngày (Trang 28)
Bảng 11. Người chăm sóc cho người bệnh uống thuốc đúng liều theo chỉ định bác sỹ. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 11. Người chăm sóc cho người bệnh uống thuốc đúng liều theo chỉ định bác sỹ (Trang 28)
Bảng 14. Thực trạng chăm sóc về vệ sinh tại gia đình cho NB. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 14. Thực trạng chăm sóc về vệ sinh tại gia đình cho NB (Trang 29)
Bảng 13. Xử trí của người chăm sóc khi người bệnh gặp tác dụng phụ của thuốc. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 13. Xử trí của người chăm sóc khi người bệnh gặp tác dụng phụ của thuốc (Trang 29)
Bảng 16. Thực trạng hướng dẫn lao động cho người bệnh. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 16. Thực trạng hướng dẫn lao động cho người bệnh (Trang 30)
Bảng 17. Thực trạng chăm sóc giúp người bệnh giao tiếp - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 17. Thực trạng chăm sóc giúp người bệnh giao tiếp (Trang 31)
Bảng 20. Liên quan giữa điểm trung bình chăm sóc và số lần tái phát của người bệnh. - báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở thực trạng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt tại gia đình ở nam định
Bảng 20. Liên quan giữa điểm trung bình chăm sóc và số lần tái phát của người bệnh (Trang 32)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w