Thơ Hữu Thỉnh vừa có đặc điểm chung của thơ ca Việt Nam, lại vừa cónhững nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật biểu hiện trong đó tiêu biểu làcách xây dựng không gian biển đảo.. Không gi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNGĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
LƯƠNG THỊ THU THỦY
KHÔNG GIAN BIỂN ĐẢO TRONG THƠ
HỮU THỈNH
Chuyên ngành: LÍ LUẬN VĂN HỌC
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lý Hoài Thu
HÀ NỘI, 2016
Trang 2Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới phòng Sau đại học trường Đạihọc sư phạm Hà Nội 2, cùng bạn bè, đồng nghiệp, gia đình, người thân đãđộng viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốtnghiệp này.
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2016
Tác giả luận văn
Lương Thị Thu Thủy
Trang 3LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan công trình luận văn này là sự nỗ lực hết mình của tôitrong quá trình nghiên cứu Những số liệu thống kê hoàn toàn do tôi tự nghiêncứu Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình.
Tác giả luận văn
Lương Thị Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài
1 2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
5 5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Những đóng góp của luận văn 6
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ KHÔNG GIAN VÀ HÀNH TRÌNH THƠ HỮU THỈNH 7
1.1 Khái niệm không gian và không gian nghệ thuật 7
1.1.1 Khái niệm không gian 7
1.1.2 Khái niệm không gian nghệ thuật 10
1.1.3 Không gian nghệ thuật trong thơ trữ tình 13
1.2 Những chặng đường thơ Hữu Thỉnh
15 1.2.1 Thơ Hữu Thỉnh thời kì chống Mĩ 16
1.2.2 Thơ Hữu Thỉnh trong thời kì đổi mới 25
CHƯƠNG 2: CÁC KIỂU KHÔNG GIAN BIỂN ĐẢO TRONG THƠ HỮU THỈNH 33
2.1 Biển đảo- không gian thiên nhiên tươi đẹp
34 2.2 Biển đảo- không gian sinh tồn của đời sống con người 38
2.2.1 Biển đảo- không gian sinh hoạt của nhân dân 38
2.2.2 Biển đảo- không gian sống và chiến đấu của người lính 43
2.3 Biển đảo- không gian suy tư khát vọng 49
2.3.1 Biển đảo khát vọng của tự do và độc lập chủ quyền 49
2.3.3 Biển đảo- không gian suy tư về tình yêu 72
Trang 5CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN KHÔNG GIAN BIỂN ĐẢO
TRONG THƠ HỮU THỈNH 78
3.1 Hệ thống hình ảnh, biểu tượng 78
3.1.1 Biểu tượng cát 79
3.1.2 Biểu tượng sóng 84
3.1.3 Biểu tượng cánh buồm 86
3.1.4 Biểu tượng cánh chim hải âu 88
3.1.5 Biểu tượng bão biển 90
3.2.1 So sánh 95
3.2.2 Nhân hóa 98
3.2.3 Ẩn dụ 100
3.3 Giọng điệu 103
3.3.1 Giọng ngợi ca, tự hào 104
3.3.2 Giọng điệu tâm tình, suy tư, triết lí 106
KẾT LUẬN 113
TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 61
Trang 71 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
1.1 Vùng biển Tổ quốc Việt Nam là một đặc ân của thiên nhiên chocon người Từ bao đời, biển Việt Nam cung cấp nguồn tài nguyên phong phú.Câu thành ngữ “rừng vàng biển bạc” đã bao hàm ý nghĩa đó Biển đảo khôngnhững là vẻ đẹp tự nhiên mà còn chứa đựng nhiều giá trị tinh thần sâu sắc
Là một quốc gia có dải bờ biển trải dọc theo bờ Tây Thái Bình Dươngdài hơn ba nghìn ki lô mét, tự bao đời, biển đã là môi trường sống, môi trườnggiao tiếp văn hoá của người Việt Cùng với các không gian núi rừng và châuthổ, biển đã góp phần hợp thành định diện truyền thống, bản sắc văn hoá, cơ
sở kinh tế, tư duy của nhiều cộng đồng cư dân Việt Nam Trong tâm thứccủa người Việt, biển đông là không gian thiêng gắn với thời lập quốc Bao thế
hệ người Việt đã hoài niệm về cha Rồng, mẹ Tiên, về công lao sinh thành, mở
bờ cõi của bậc thuỷ tổ Từ biển, Lạc Long Quân đã về với đất liền, hiển linhnhư một nhân thần, diệt trừ yêu quái, giáo hoá dân chúng, dạy cho dân biếtcấy lúa, làm nghề thủ công
Từ lâu, biển đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm thức người Việt bởi sự
ồn ào và dữ dội nhưng cũng có lúc lặng im của nó Biển không chỉ được khaithác về mặt kinh tế, quân sự mà còn bao hàm nhiều yếu tố văn hoá- nghệthuật Không khó để tìm những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc về biển trên cáclĩnh vực như âm nhạc, điêu khắc, hội hoạ Đối sánh với rừng, biển là biểutượng của Tổ quốc, của tình yêu quê hương, đất nước, con người Tìm hiểu vềhình tượng biển, không gian biển cũng giống như chúng ta tìm về không giancủa cha Rồng, mẹ Tiên vậy
1.2 Ngày nay đất nước chúng ta đang đứng trước những vấn đề khókhăn để gìn giữ biển đảo cho quê hương, bảo vệ chủ quyền cho dân tộc vì vậybiển đảo ngày càng đi vào tâm thức, ý thức của người Việt Nghiên cứu về
Trang 8không gian biển trong văn học qua thơ Hữu Thỉnh, tác giả luận văn muốn gópthêm một tiếng nói, một “viên đá” để xây nên tượng đài của tình yêu Tổ quốc.
Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, sángtác của ông khá liền mạch tiêu biểu cho quá trình vận động của thi ca cáchmạng hiện đại và đương đại Việt Nam đã gây được tiếng vang lớn trên thiđàn Thơ Hữu Thỉnh vừa có đặc điểm chung của thơ ca Việt Nam, lại vừa cónhững nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật biểu hiện trong đó tiêu biểu làcách xây dựng không gian biển đảo Ông đã tạo được một tiếng thơ mới mẻcho nền thơ ca những thập niên cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI bằng một loạtnhững tác phẩm thơ và trường ca có giọng điệu, phong cách riêng, tiếng nóiriêng không bị khuất lẫn vào dàn đồng ca chung của thế hệ Xuyên suốt vàbao trùm thế giới ấy, không gian ấy là tấm lòng tha thiết gắn bó với đất nước,với con người Việt Nam Đến với thơ Hữu Thỉnh có nhiều con đường, nhiềugóc độ, chúng tôi chọn góc độ không gian biển đảo trong thơ Hữu Thỉnh đểnghiên cứu thơ ông
1.3 Không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểuhiện con người và thể hiện một qua niệm nhất định về cuộc sống, do đó khôngthể quy nó về không gian địa lí hay không gian vật lí, vật chất Thơ HữuThỉnh đã xây dựng được không gian biển đảo như một không gian đặc biệt,một môi trường văn hoá, một người bạn, một người thầy đồng thời là một đốitrọng vĩ đại của người lính, một kích tấc độc đáo của thời đại để đo đạc conngười trong mọi chiều kích của văn minh Có thể thấy, không gian biển đảotrong thơ Hữu Thỉnh tuy chưa nhiều nhưng ta thấy chất chứa những ngẫmnghĩ, đánh giá đáng quý về vùng biển thân yêu của Tổ quốc, chất chứa nhữngbiến ảo về thi pháp mà tác giả muốn gửi vào đấy bằng toàn bộ dụng công khivắt kiệt cảm xúc của mình
Trang 9Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: Không gian biểnđảo trong thơ Hữu Thỉnh để nghiên cứu trên cơ sở tham khảo các đề tài đitrước, từ đó có cái nhìn phổ quát hơn về không gian biển đảo trong thơ caHữu Thỉnh nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung Nghiên cứu không gianbiển đảo trong thơ Hữu Thỉnh, tác giả luận văn muốn góp một góc nhìn vềkhông gian biển, hình tượng biển trong bối cảnh nước ta đang sục sôi xâydựng biển đảo, bảo vệ chủ quyền đất nước.
2 Lịch sử vấn đề
Ngay từ những ngày đầu mới cầm bút giọng thơ Hữu Thỉnh đã sớm thuhút được sự quan tâm của bạn đọc và giới phê bình văn học Những nghiêncứu về thơ ông đặc biệt ở mảng thơ trữ tình, các bài viết tập trung nhiều từthập niên 90 trở lại đây Trần Mạnh Hảo đã viết: “Hữu Thỉnh và Thanh Thảo
là cái gạch nối của nền thơ ca chống Mỹ sang thời bình Sau 1975, cùng vớiNguyễn Duy họ đưa thơ tiến về phía trước với những bước tiến ngoạn mục,
đa dạng và phong phú” [18,95]
Tài năng của Hữu Thỉnh được khẳng định bởi một loạt các giải thưởngthơ mà ông đoạt được Với nhiều giải thưởng văn học có giá trị, Hữu Thỉnh lànhà thơ có sức tìm tòi sáng tạo nghệ thuật bền bỉ Ông luôn có những khámphá mới, thú vị trên con đường nghệ thuật Thơ ông có chiều sâu về nội dung,giàu chất thơ và tính nhạc nên đã tạo sự lôi cuốn và thu hút đối với bạn đọc.Qua sự sàng lọc của thời gian, các tác phẩm của ông vẫn tìm được chỗ đứngtrong lòng độc giả và lọt vào “con mắt xanh” của những nhà nghiên cứu Cáctác giả đã chỉ ra nét hấp dẫn kì lạ trong thơ Hữu Thỉnh được bắt nguồn từ sựkết hợp giữa yếu tố truyền thống và yếu tố hiện đại, thể hiện rõ ý thức luônbiết chủ động “khai thác cái hay, cái đẹp của dân gian, của dân tộc, vừa biếtdồn tâm lực, tài năng cho việc tìm kiếm sáng tạo cái mới”
Trang 10Cho đến nay, số lượng các bài viết về Hữu Thỉnh khá nhiều Mỗi bàiviết có một cách tiếp cận khác nhau về thơ Hữu Thỉnh Một vài tác giả có đềcập đến đặc điểm của hồn thơ, chất thơ Hữu Thỉnh, chẳng hạn: “Thơ HữuThỉnh thấm đẫm phong vị dân gian”, “Hồn điệu dân gian được biến tấu,chuyển hóa thành những giai điệu mới mẻ”[57].; “Nét riêng biệt của hồn thơHữu Thỉnh phải chăng là một tâm hồn quê trong trẻo, hồn hậu”[40].
Về hình tượng, nhiều bài viết có chung nhận định: Thơ Hữu Thỉnh làtiếng nói tri kỉ, tri âm của người lính Vũ Nho cho rằng: “chất lính là mộttrong những nét đặc biệt của thơ Hữu Thỉnh ( ) Mọi thời khắc, mọi địa bàn,mọi không gian khác nhau, nhưng ở đâu thơ của Hữu Thỉnh vẫn là lời kể, lờitâm sự, giãi bày lời thưa của người lính về người lính”[40,77] Lý Hoài Thunhận xét: “Thơ Hữu Thỉnh nồng nàn một tấm lòng tri kỉ, tri âm”[57] TrườngLưu cũng khẳng định: “Tài năng của Hữu Thỉnh có lẽ trước hết ở sự hòa điệutrong tiếng nói tri âm với thân phận người lính”[ 28] Ba tác giả trên thốngnhất cho rằng thơ Hữu Thỉnh tạo dựng được những hình tượng con người ViệtNam, người lính, người phụ nữ bằng chính cái nhìn và tấm lòng tri âm, tri kỉ
Ở dạng nhận định khái quát, có tác giả đã đề cập đến sự vận động của cảmhứng chủ đạo trong thơ Hữu Thỉnh qua hai giai đoạn thơ ca trong chiến tranh
và sau chiến tranh chống Mĩ: “ Những trăn trở suy tư về Tổ quốc, về chiếntranh, về người lính nhanh chóng liền mạch với trăn trở về hạnh phúc, khổđau, về thế thái nhân tình của con người nói chung chứ không phải người línhnữa”[40,86]
Một số tác giả đã nêu nét đặc sắc của ngôn ngữ thơ Hữu Thỉnh: “chauchuốt”, “Không quá ham chuộng lạ, ưa tao nhã, mặn mà”, “cách nói giản dị,
tự nhiên, mềm mại về âm điệu, thấm đẫm chất trữ tình”
Như vậy các bài viết về thơ thơ Hữu Thỉnh tuy mức độ ngắn, dài khácnhau song đều nói được cái hay, cái riêng của thơ Hữu Thỉnh Nhìn chung
Trang 11mỗi tác giả, từ góc nhìn của mình đều chỉ đề cập tới một khía cạnh về nộidung hay nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Xét về góc độ thi pháp cũng đã có một
số tác giả đề cập đến một số loại hình không gian trong thơ Hữu Thỉnh: khônggian con đường, không gian biển Tuy nhiên, có thể thấy chưa có tác phẩmnào đi sâu vào nghiên cứu về một loại hình không gian cụ thể trong thơ ông.Chính vì vậy, tiếp thu những bài viết trên, luận văn nghiên cứu tìm hiểu vềKhông gian biển đảo trong thơ Hữu Thỉnh để có một cái nhìn sâu sắc, toàndiện hơn về mảng đề tài này Chúng tôi hiểu rằng, những công trình nghiêncứu của các nhà nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở hữu ích cho tácgiả luận văn Trên cơ sở đó, chúng tôi mong góp một tiếng nói nhỏ bé củamình để khẳng định đầy đủ và sâu sắc hơn những đóng góp của nhà thơHữu Thỉnh về đề tài biển đảo trong thơ hiện đại Việt Nam, trong dòngchảy của thi ca dân tộc, nhất là trước những vấn đề thời sự hôm nay tình hìnhbiển đảo đang nóng bỏng từng giờ ở nơi “đầu sóng ngọn gió”
3 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết thi pháp học vào việc nghiên cứu Không gianbiển đảo trong thơ Hữu Thỉnh nhằm phát hiện ra những tìm tòi, đổi mớitrong sáng tạo nghệ thuật của Hữu Thỉnh Từ đó khẳng định vị trí, phong cáchthơ Hữu Thỉnh và những đóng góp của ông với nền thơ ca hiện đại Việt Nam
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu về Không gian biển đảo trong thơ Hữu Thỉnh chúng tôichọn hướng nghiên cứu về những vấn đề:
Chương 1: Khái lược về không gian nghệ thuật và hành trình thơHữu Thỉnh
Chương 2: Các kiểu không gian biển đảo trong thơ Hữu Thỉnh
Chương 3: Phương thức biểu hiện không gian biển đảo trong thơHữu Thỉnh
Trang 125 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng của luận văn là không gian biển đảo
* Phạm vi nghiên cứu: khảo sát các tập thơ của Hữu Thỉnh:
- Đường tới thành phố (Trường ca)
- Thư mùa đông (Thơ)
- Thương lượng với thời gian (Thơ)
- Trường ca biển (Trường ca)
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
7 Những đóng góp của luận văn
Nghiên cứu đề tài: Không gian biển đảo trong thơ Hữu Thỉnh tác giảluận văn hi vọng sẽ đóng góp một cái nhìn về hình tượng biển đảo trong thơ
ca Hữu Thỉnh nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung
Trang 13CHƯƠNG 1KHÁI LƯỢC VỀ KHÔNG GIAN VÀ HÀNH TRÌNH THƠ HỮU
THỈNH1.1 Khái niệm không gian và không gian nghệ thuật
1.1.1 Khái niệm không gian
Ngay từ thời xa xưa, con người đã hiểu rằng bất kì khách thể vật chấtnào cũng chiếm một ví trí nhất định, ở vào một khung cảnh nhất định trongtương quan hệ về mặt kích thước so với khách thể khác Các hình thức tồn tạinhư vậy gọi là không gian A Ja Gurevich, trong cuốn “Các phạm trù văn hóatrong cổ” đã chỉ ra cách lí giải của người trung cổ về không gian: “Khônggian được quan niệm như một hình thức có khoảng trải đồng đều, hình học,
có ba chiều, có thể phân cách thành những khoảng chiếu ứng được với nhau.Thời gian và không gian có tính chất khách quan, những chất của chúng độclập với chất liệu được chứa chất trong chúng”
Coi quan hệ của thế giới vật chất với không gian và thời gian như quan
hệ của một đối tượng trong môi trường cùng quá trình tồn tại, hoạt động của
nó, hoặc là như quan hệ của một điểm trong hệ tọa độ nhiều chiều, hai tác giả
“Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới”, Jean Chevalierr và Alain Gheerbrant
đã định nghĩa không gian: “Không gian, gắn không tách rời với thời gian, vừa
là nơi chứa đựng những gì có thể xảy ra – Theo ý nghĩa đó, nó tượng trưngcho trạng thái hỗn mang của nguồn gốc – Vừa là nơi chứa đựng những gì đãthực hiện – Khi đó nó tượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã được tổ chức”,
“không gian, gắn không tách rời với thời gian, vừa là nơi chứa đựng những gì
có thể xảy ra – theo ý nghĩa đó, nó tượng trưng cho trạng thái hỗn mang củacác gốc nguồn – vừa là nơi chứa đựng những gì đã thực hiện – khi đó nótượng trưng cho vũ trụ, cho thế giới đã được tổ chức”, “không gian vừa làbiểu tượng chung của môi trường, ở bên ngoài hgay bên trong, mà bất kỳ mộtsinh thể nào, cá thể hay tập thể, đều hoạt động trong đó (15, 486)
Trang 14Theo cuốn Giản yếu Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh biên soạn), khônggian (espace) có nghĩa là “khoảng không”, trong đó “không” là “trốngkhông”, “hư không” Không gian là quan niệm về bốn phương, trên dưới,ngắn dài, xa gần, trái với thời gian (letemps) chỉ ba trạng thái quá khứ, hiệntại là vị - lai lưu chuyển với nhau vô cùng.
Theo quan niệm của người phương Tây, thế giới vật chất tồn tại trongkhông gian bằng quan hệ của cái được chứa đựng với cái chứa đựng Ngườiphương Đông lại nhìn nhận không gian không chỉ là môi trường, là hệ tọa độ
mà còn là năng lượng vũ trụ của con người Trong công trình nghiên cứu về
sử thi Mahabharata, Phan Thị Thu hiền đã dẫn lời thiền sư Dogen bàn về Uji(hữu – thời) trong “chánh pháp nhãn tàng” Mỗi vật thể, một các riêng rẽ, toànthế giới ”, “ mọi hữu trong toàn thế giới là một thời riêng trong nhấtphiến” (chuyển dẫn từ 48, 80) Phân tích rõ hơn về điều này khi tìm hiểukhông gian trong thơ Đường, Nguyễn Thị Bích Hải chỉ ra rằng “thế giới”,cũng như “vũ trụ” đều là tổng thể của không – thời gian Cho nên, giống nhưmọi “hữu thể” khác, như mặt trời hằng tỏa sáng bằng năng lượng không gian
và thời gian của chính nó, con người cũng là một tổng thể không – thời gian.Mỗi người là “một tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ, một tiểu thế giới trong đại thếgiới” (41, 26)
Nguyễn Như Ý và các tác giả, trong Đại từ điển Tiếng Việt, định nghĩakhông gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, trong đó các vật thể có độdài, độ lớn khác nhau
Trong lịch sử triết học, không gian (cùng với thời gian) là một phạm trùxuất hiện sớm Người ta đã từng tranh cãi xem không gian và thời gian cóhiện thực không hay đó là những trừu tượng đơn thuần chỉ tồn tại trong ý thứccon người Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận tính khách quan của không gian.Beccơli và Hium, coi không gian chỉ là nội dung của ý thức cá nhân Cantơ
Trang 15khẳng định không gian là hình thức của mọi sự trực quan của con người chứkhông phải là thực tại khách quan Nhà triết học duy tâm người áo EcnơMakhơ quan niệm : “không gian và thời gian là những hệ thống liên kết chặtchẽ (hay hòa hợp, wohlgerodnete) của những cảm giác” (chuyển dẫn từ70,238) Nhà tương đối chủ nghĩa này cho rằng, không phải con người vớinhững cảm giác của mình tồn tại trong không gian và thời gian mà chínhkhông gian và thời gian tồn tại trong con người, lệ thuộc vào con người và docon người sinh ra Thế kỷ XVII – XVIII, các nhà duy vật siêu hình tập trungphân tích khách thể vĩ mô vận động trong tốc độ thông thường nên đã tách rờikhông gian với vật chất Niutơn quan niệm không gian và thời gian là nhữngthể thực đặc biệt, không gắn bó gì với nhau và tồn tại độc lập bên cạnh vậtchất cũng như các vật thể tồn tại độc lập bên cạnh nhau vậy Phải đợi đến chủnghĩa duy vật biện chứng, không gian mới có được chân giá trị của nó.V.Lênin, trong cuốn “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm – phêphán” đã viện dẫn lời ĂngGhen giảng giải cho Đuyrinh khi ông này khăngkhăng phủ định thực tại khách quan của không gian và thời gian: “Không gian
và thời gian là những hình thức cơ bản của mọi sự tồn tại; sự tồn tại ở ngoàitrời cũng cực kỳ vô lý như sự tồn tại ngoài không gian vậy” (chuyển dẫn từ70,237) Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng không gian và thời gian làhình thức tồn tại khách quan của vật chất Không gian gắn bó chặt chẽ vớithời gian và gắn liền với vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất “Vũ trụchỉ là vật chất đang vận động, mà vật chất đang vận động chỉ có thể vậnđộng trong không gian và thời gian “(Lê nin, chuyển dẫn từ 118,919) Quanđiểm đúng đắn của chủ nghĩa duy vật biện chứng về không gian và thời gianngày càng được kiểm nghiệm bởi những thành tựu khoa học tự nhiên nhưcông trình nghiên cứu của nhà bác học Nga Lô-ba-sep-xki, nhà hóa học But-lê-rôp, nhà tinh thể học Phê-đơ-rôp và đặc biệt là thuyết tương đối của A
Trang 16Anh-xten, được coi là “Lý luận hiện đại về không gian và thời gian”(119,920) Nhà bác học này đã xác nhận rằng, không gian và thời giankhông tự nó tồn tại, tách rời vật chất mà nằm trong mỗi quan hệ qua lại phổbiến và không thể phân chia
Như vậy, không gian là hình thức tồn tại cơ bản của thế giới vật chất Do
đó, trong cuộc sống, nó là môi trường tồn tại của con người Mỗi sự vật hiệntượng đều được xác định trong một không gian nhất định Không có một dạngvật chất nào tồn tại ở bên ngoài không gian Ngược lại nếu có một không giannào ở ngoài vật chất thì đó cũng chỉ là một sự trừu tượng vô nghĩa mà thôi
1.1.2 Khái niệm không gian nghệ thuật
Trong hệ thống thi pháp, không gian nghệ thuật là một bộ phận quantrọng Các nhà văn nhà thơ trong sáng tác của mình luôn chú trọng xây dựng,miêu tả hình tượng không gian Từ đó, thể hiện cách nhìn đầy chất chủ quan
về thế giới xung quanh, cảm xúc của bản thân khi đối diện hay trải qua đờisống trong không gian đó Về vai trò của thi pháp không gian nghệ thuật,trong cuốn Thi pháp thơ Đường, Nguyễn Thị Bích Hải phát biểu: “Khônggian nghệ thuật là một phương diện quan trọng của thi pháp Nó là phươngtiện để tác giả xây dựng thế giới nghệ thuật của mình (tác phẩm) Nó cũng làcánh cửa để qua đó người đọc hiểu hình tượng và tư tưởng được tác giả gửigắm vào trong tác phẩm” [3, 26]
Trần Đình Sử trong công trình Một số vấn đề thi pháp học hiện đại[22] phát biểu khái niệm về không gian nghệ thuật như sau: “Không giannghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại vàtriển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cáinhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ mộtđiểm nhìn, cách nhìn…Do gắn với điểm nhìn, trường nhìn, môi trường hoạtđộng, không gian nghệ thuật trở thành phương tiện chiếm lĩnh đời sống, đồng
Trang 17thời do gắn với ý nghĩa, giá trị, không gian trở thành ngôn ngữ, biểu trưngnghệ thuật” [22, 42-43] Tác giả cũng giải thích rõ hơn về không gian nghệthuật: “Là một hiện tượng nghệ thuật, không gian nghệ thuật là một hiệntượng ngoại lệ, mang ý nghĩa cảm xúc, tâm tưởng Không gian trong văn họcđược biểu hiện bằng không gian điểm mang tính chất ước lệ, tượng trưng(đỉnh Ôlimpơ, Tây trúc, Thiên đình, làng quê, bến sông, tha hương, ngoàivườn…), hoặc các từ chỉ không gian vốn đã mã hóa sẵn về ý nghĩa trong đờisống (trên cao, dưới thấp, quanh co, rộng hẹp, ngắn dài…), không gian nghệthuật thể hiện tập trung vào cái nhìn, điểm nhìn, điểm quan sát không gian vàthời gian” [22, 44]
Từ điển thuật ngữ văn học cũng giải thích về không gian nghệ thuật:
“Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, ngoài không gian vậtthể còn có không gian tâm tưởng… Không gian nghệ thuật trong tác phẩmvăn học có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như:thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự… Không gian nghệ thuật không chỉcho thấy nội dung mà còn thể hiện quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụcủa tác giả hay cả một giai đoạn văn học Nó cung cấp cơ sở khách quan đểkhám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình các hiện tượng nghệthuật” [4]
Giữa không gian nghệ thuật và thể loại tác phẩm có mối quan hệ kháchặt chẽ Không gian nghệ thuật nhiều khi phản ánh đặc trưng thể loại củamột tác phẩm văn chương Nói cách khác, ở những loại thể khác nhau, việcphản ánh không gian và quan niệm về không gian của tác giả cũng khác nhau.Nếu không gian trong tác phẩm tự sự thường là không gian sinh hoạt, khônggian cuộc sống đời thường, đó là nơi phố thị, hoặc chốn làng quê có nhiềungười, nhiều nhà cửa, có công việc làm ăn sinh sống, có nhiều mối quan hệgiữa người với người ở nhiều địa điểm…; thì không gian trong tác phẩm trữ
Trang 18tình thường nghiêng về không gian vũ trụ, không gian tinh thần, ở đó thường
có đất trời mênh mông thoáng đãng, thiên nhiên đầy sức sống, cô đơn lặng lẽ
ít có hình bóng con người, hay đó là nơi mà nhân vật trữ tình đối diện vớichính mình, bộc lộ suy nghĩ tình cảm thái độ của mình trước cuộc sống…
Giáo trình thi pháp học- Đại học Huế đã nêu lên một số đặc điểm củakhông gian nghệ thuật: “Nó (không gian trong tác phẩm nghệ thuật) khôngđơn giản là không gian vật chất, không phải là một hiện tượng cơ giới máymóc mà chủ yếu là sự tái hiện lại không gian tinh thần Không gian nghệ thuậtbao giờ cũng gắn liền với cảm xúc và mang ý nghĩa nhân sinh Do vậy, ngoài
ba chiều thông thường, không gian này còn có chiều thứ tư: chiều tâm không gian của cảm xúc, của ước vọng” [26, 30-31] Nghiên cứu về khônggian nghệ thuật, sẽ thật thiếu sót nếu chỉ nghiên cứu về không gian hiện thực,không gian vật lí được tác giả miêu tả trong tác phẩm mà quên đi không giantrong thế giới tâm tưởng của con người Thậm chí đây là lớp không gian quantrọng nhất mà người cảm thụ văn học cần chiếm lĩnh, không gian hiện thựcchỉ là cái cớ để tác giả nêu lên quan điểm của mình: “Không gian nghệ thuậttrong thơ không chỉ gắn liền với ý thức về không gian tồn tại của con người
tưởng-mà còn gắn liền với cách chiêm nghiệm, thưởng thức không gian, cách ứng
xử trong mô hình không gian” [16, 20]
Tóm lại, dù có nhiều cách định nghĩa và quan niệm về không gian,chúng ta vẫn thấy một số điểm chung nhất định: Không gian cũng là một dạnghình tượng văn học, tác giả xây dựng không gian theo quan niệm và ý đồriêng của mình, không gian đó được thể hiện lặp đi lặp lại nhiều lần tạo thànhmột thói quen trong cách cảm nhận thế giới của mỗi nhà văn nhà thơ, mỗi tácphẩm Nghiên cứu không gian nghệ thuật có ý nghĩa rất quan trọng trong việcgiải mã nội dung tác phẩm văn học Mục đích cuối cùng của việc nghiên cứukhông gian nghệ thuật là tìm hiểu được tư duy, quan niệm của tác giả về
Trang 19không gian đó, từ đó mở rộng ra phạm vi toàn xã hội, toàn bộ cuộc sống Vìthế, ngoài việc khám phá không gian vật lí của thế giới hiện thực cần chútrọng khám phá không gian tâm tưởng, tâm trạng của người sáng tác
1.1.3 Không gian nghệ thuật trong thơ trữ tình
Khái niệm trữ tình được xem như là sự thể hiện trực tiếp những cảmxúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đờisống Khái niệm này được tạo nên từ tên một nhạc cụ thời cổ Hi Lạp là "lura"(đàn lyr - đàn thất huyền) mà người ta dùng để đệm khi hát (Có lẽ xuất phát
từ đó mà Heeghen đã xem thơ trữ tình là "loại thơ có nhờ đến âm nhạc để đisâu hơn nữa vào tâm hồn và làm cho tình cảm xúc động hơn" [47, 24]
Đặc trưng của tác phẩm trữ tình là tính chủ quan Thơ trữ tình nắm bắtmột cách nghệ thuật thế giới bên trong của con người như là nó vốn có, đó làcác suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm Ngay từ thế kỉ XVIII - XIX, các nhà mỹhọc, điển hình là Hêghen, đã xem thơ trữ tình là biểu hiện của chủ thể và cảmthụ của chủ thể Theo ông, "nội dung của thơ trữ tình là toàn bộ cái chủ quan,thế giới nội tâm, tâm hôn đang tư duy và đang cảm thấy, một tâm hồn chưachuyển sang hành động, mà vẫn giữ nguyên trong tính chất của cuộc sống bêntrong " (Với Hêghen, khái niệm cái chủ quan thuộc về ý niệm tuyệt đối)
"Thơ ca trữ tình - Bêlinxki viết: chủ yếu là thơ ca chủ quan, nội tại là sự biểuhiện của chính nhà thơ" (chuyển dẫn từ 115, 201) Nhà phê bình Nga gọi "tất
cả những gì gây bận tâm, làm xao xuyến, tạo niềm vui, làm sầu muộn, làmsay mê, gây đau khổ, làm yên tâm, làm lo lắng, tóm lại, tất cả những gì tạo ranội dung đời sống tinh thần của chủ thể, tất cả những gì hòa nhập vào ngườianh ta, nảy sinh trong đó" là "tài sản" hợp pháp của trữ tình [38, 268] V E.Khalizep cũng chỉ ra đối tượng chính của nhận thức nghệ thuật trong trữ tình
là "tính cách của bản thân "người mang lời nói", trước hết là thế giới nội tâmcủa anh ta, tâm trạng và thái độ xúc cảm của anh ta đối với cuộc đời" [115,
Trang 20324] Tác phẩm văn học là sự tái hiện đời sống thông qua sự nhận thức, đánhgiá mang tính chủ quan của người nghệ sĩ, là sự thống nhất biện chứng giữacái chủ quan và cái khách quan Nhưng trong thơ trữ tình, thế giới chủ quancủa con người được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu
"Không nên tìm cách xếp thơ vào một vị trí cao hơn so với kịch hay văn xuôi.Thơ không hay hơn mà cũng chẳng sâu sắc hơn các thể loại văn chương khác.Thơ mang đặc tính khác, nó đi xa hơn Nhà thơ không thể giấu mình, trongthơ anh ta phải đối diện với chính bản thân" [116, 72] Nhà phê bình văn họcMarcel Reich - Ranicki đã nói như vậy về thơ trữ tình Nhà thơ trữ tình phảnánh hiện thực thông qua lăng lính chủ quan, cũng có nghĩa là phản ánh hiệnthực tâm hồn mình Chính bởi vậy mà hệ thống hình tượng để miêu tả tâmtrạng, cảm xúc trữ tình rất tự do, tự do nhất trong văn học Trong tương quan
ấy, hình tượng không gian trong thơ trữ tình cũng mang đặc thù riêng, khácvới không gian trong tự sự, kịch, kí v.v
Trước hết, phải nhận thấy một điều: phương thức phản ánh thế giới củathơ trữ tình khác với tự sự, kịch, kí v.v (Có chăng, chúng ta có thể nhìn thấymột vài điểm gần gũi giữa nó với tùy bút, một tiểu loại giàu chất trữ tình củathế kỉ) Thơ trữ tình gần với hội họa và điêu khắc, đặc biệt là hội họa, trongviệc tái hiện thế giới khách quan Những nghệ thuật này miêu tả các sự vậtmột cách tĩnh tại, đặc biệt chú trọng đến các đường nét và tỉ lệ không gian củachúng Thơ trữ tình và hội họa cùng nắm bắt một khoảnh khắc của thiênnhiên, tạo vật hay lòng người Thơ trữ tình không có được lợi thế về thời gian
và dung lượng thể loại như ở tự sự Trữ tình thật sự rất ngắn gọn và hàm súc
Nó đóng khung một khoảnh khắc ở thời hiện tại, khi những rung động, nhữngcảm xúc trong tâm hồn thi sĩ tuôn trào mãnh liệt (Cần lưu ý rằng, các khoảnhkhắc hiện tại này trong trữ tình thường được soi rọi bởi những hồi tưởng quákhứ và dự cảm tương lai) Nhà thơ phải nắm bắt lấy khoảnh khắc ấy, không
Trang 21để cho nó trôi qua Mặt khác, tính ngắn gọn cũng đảm bảo cho sự thống nhấtnội tại của cảm xúc trong một bài thơ trữ tình Co lại chiều thời gian, trữ tìnhbuộc phải mở rộng chiều không gian để chuyển tải tư tưởng, tình cảm Chính
vì vậy mà mặc dù là nghệ thuật thời gian, nhưng không như các thể loại vănhọc khác, thơ trữ tình, giống như hội họa, lại thiên về biểu hiện không gian
Bản chất của thơ trữ tình là sự hiện diện của cái tôi cá nhân “Thơ trữtình nào cũng dựa vào sự rung động của cái tôi cá nhân mang số phận, cá tínhriêng tư trong các tình huống trữ tình và lý do trữ tình mang nội dung tâm lý[131,113] Như vậy, ở trữ tình, việc nhân vật trữ tình bộc lộ những cảm xúc,suy tư làm thành nội dung chủ yếu Cho nên, không gian trong thơ là khônggian diễn ra hành động trữ tình, là môi trường của hành động trữ tình Hiểutheo tình thần đó, không gian nghệ thuật trong thơ trữ tình là mô hình nghệthuật về cái thế giới mà con người trữ tình đang sống trong tương quan với
vị thế và số phận của họ Có thể nói không gian nghệ thuật là phương diệnrất quan trọng của tư duy nghệ thuật, đánh dấu trình độ chiếm lĩnh của thếgiới thơ
Có thể phân tích không gian trong thơ theo ba chiều của không gian vật
lý mà trung tâm là con người, phát hiện không gian tâm tưởng, lí giải tínhchất động, tĩnh, thực, hư của nó, tìm hiểu quan hệ khăng khít giữ nó với thờigian nghệ thuật Nhưng quan trọng nhất là xem xét không gian nghệ thuật nhưmột quan niệm về thế giới mà con người như một phương thức chiếm lĩnhthực tại, một hình thức thể hiện cảm xúc và khái quát tư tưởng thẩm mĩ, để từ
đó lí giải khả năng phản ánh hiện thực của một hệ thống thơ nhất định
1.2 Những chặng đường thơ Hữu Thỉnh
Hữu Thỉnh là gương mặt tiêu biểu trong số các nhà thơ trưởng thànhtrong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được khẳng định từ năm 1975
Trang 221.2.1 Thơ Hữu Thỉnh thời kì chống Mĩ
Mảng thơ viết về chiến tranh gồm tập thơ Tiếng hát trong rừng (bàiviết sớm nhất vào năm 1968, bài muộn nhất vào năm 1982), trường ca Sứcbền của đất (viết xong dịp tết Ất Mão 1975), trường ca Đường tới thành phố(viết từ tháng 8/1977, hoàn thành tháng 7/1978) Cảm hứng chủ đạo là cảmhứng về đất nước, nhân dân, về cuộc chiến đấu chống kẻ thù Mĩ ngụy Mộtđất nước, nhân dân với khát vọng tự do thống nhất, đoàn tụ và chính vì khátvọng cao đẹp ấy mà chấp nhận bao thử thách hy sinh
1.2.1.1 Cảm hứng về chiến tranh và người lính cách mạng
Lớn lên trong chiếc nôi của cuộc kháng chiến chống Mĩ, hiện thực ấy
đã thôi thúc nhà thơ lấy tâm hồn mình phản ánh lịch sử, nhìn vào tâm hồnmình để viết về cuộc sống con người Trong bối cảnh lịch sử đất nước cóchiến tranh vì vậy nhiệm vụ chủ yếu của văn học là phản ánh kháng chiến vàphục vụ kháng chiến Đó không chỉ là đòi hỏi của thời đại mà còn là sự thôithúc bên trong của chính các nhà thơ Có thể nói, một trong những cảm hứngnổi bật nhất trong thơ Hữu Thỉnh là cảm hứng về cuộc chiến tranh và ngườilính cách mạng
Khi cuộc chiến tranh mở rộng khắp các chiến trường từ Bắc tới Nam,
từ vùng núi đến đồng bằng, cũng là lúc Hữu Thỉnh cùng nhiều nhà thơ trẻ
Trang 23khác khoác ba lô nhập cuộc Những vần thơ của tác giả theo dấu chân ngườilính trẻ hành quân suốt chiều dài đất nước Cuộc kháng chiến chống Mĩ làmột hiện thực hoành tráng khơi dậy ở Hữu Thỉnh những cảm hứng trực tiếp
về cuộc chiến tranh gian khổ mà hào hùng, vĩ đại và qua đó phát hiện ra chínhbản thân mình, chính bức chân dung tinh thần của thế hệ mình Bằng con mắtcủa người trực tiếp chiến đấu ngoài mặt trận, Hữu Thỉnh chú ý nhiều đến sựkiện đời sống chiến tranh, không khí chiến tranh, cảm nhận và cách nhìn vềchiến tranh Những sự kiện này luôn mang sức nặng biểu cảm và có giá trịthuyết phục bởi tính chân xác của nó qua những trải nghiệm thực sự, hết mìnhcủa người lính Cái nhìn đối với hiện thực ấy gọi là “thi pháp xác thực”, “thipháp của người nhập cuộc” [51, 37]
Như vậy Hữu Thỉnh miêu tả chiến tranh với cái nhìn từ trong chiếnhào, những câu thơ bật lên từ đời sống hiện thực, từ cuộc chiến tranh vừa âmthầm, vừa quyết liệt, vừa dữ dội, nóng bỏng Hiện thực chiến tranh qua rungcảm nghệ sĩ của Hữu Thỉnh đã thăng hoa thành các tác phẩm: Tiếng hát trongrừng, Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Trường ca biển Trong nhữngtác phẩm này cảm hứng sử thi là cảm hứng chủ đạo, then chốt
Trong những vần thơ ở tập Tiếng hát trong rừng, chiến tranh hiện lêndẫu có gian nan nhưng vẫn thấp thoáng những giây phút bình yên: Sau trậnđánh, Tắm mưa “Những năm đầu của chiến tranh, thơ của các nhà thơ trẻcòn bồng bột, mang đậm cái nhìn lãng mạn” [44,351]
Đến trường ca Đường tới thành phố, tập thơ viết về giai đoạn cuối củacuộc kháng chiến chống Mĩ, ngày chiến thắng càng tới gần thì cảm nhận củaHữu Thỉnh về chiến tranh càng ác liệt hơn, quyết liệt hơn bao giờ hết Cảmnhận của nhà thơ về chiến tranh đã bớt đi cái phần ồn ào, sôi nổi của buổi đầukháng chiến mà gắn nhiều với những thử thách đau thương, tổn thất, mất mát,
Trang 24Đến lượt chúng tôi qua dốc đá tai mèoMưa trơn quá chân tuồi ra khỏi dép Mỗi tuổi quân chịu sáu tháng mưa dòng
Đó là sự đối mặt không cân sức, kẻ thù hung bạo không chỉ áp đảo baovây bằng những trang thiết bị hiện đại mà còn bằng những cuộc càn quét đẫmmáu:
Giặc đổ xuống ba tiểu đoàn trâu điên
Bò theo chúng hai hàng máy ủi Trận đánh lại bắt đầu mới nguyênSúng lại nổ như chưa từng ác liệt Lại thám báo dò đường, B52 dọn bãiĐất vụn nát trong bữa tiệc quay cuồng của thép
(Đường tới thành phố)Giặc vẫn không ngừng đổ quân xuống chiến trường đem theo giết chóc
và hủy diệt Hữu Thỉnh đã miêu tả chân thực những hình ảnh đau thương,cảnh tàn phá của bom đạn Mĩ trút xuống quê hương:
Giặc đổ quân sau rừng
Uỉ và đốtCây thở dài trên đấtĐóng đinh vào chân tócBới rừng lên
(Đường tới thành phố)
Trang 25Cảm nhận về chiến tranh qua ngòi bút Hữu Thỉnh mỗi lúc một hiện lên
dữ dội hơn Cùng với sự điên cuồng, dã man tàn bạo của quân thù là nhữngcảnh đau lòng của người dân trong vùng địch Nhà thơ đau đớn khi phảichứng kiến cuộc tàn sát đẫm máu của kẻ thù đối với đồng bào:
Thêm một người bị cắm cọc bêu đầu Thêm một người bị lôi đi mất tích Thêm một người bị chụp ảnh lăn tay Thêm một làng bị quăng bom hủy diệt
(Đường tới thành phố)
Và biết bao mất mát hi sinh của đồng đội thân yêu cứ hiện lên xa xóttrong những vần thơ của ông:
Đồng chí bị thương trên xeĐồng chí hi sinh trên xe
Có nắm cơm đã cháy thành thanĐen chỉ còn một nửa
Có dấu tay in lõm vào trong Ngón tay bè của đồng chí lái xeCác anh ăn nửa bữa trong ngàyPhần để dành
Làm ta day dứt mãi
(Đường tới thành phố)Chi tiết “dấu tay in lõm vào trong” cứ làm xúc động lòng người mãikhông thôi Chi tiết hằn in sự sống, hằn in ranh giới, mỏng manh, khắc nghiệtgiữa sự sống và cái chết Thế mới biết cuộc chiến tranh là khốc liệt đếnnhường nào
Cuộc đụng đầu lịch sử vô cùng ác liệt nhằm chống lại tên trùm sỏ đếquốc tàn bạo, giàu có, nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại vào bậc nhất ấybuộc con người Việt Nam phải đứng lên với tầm cỡ phi thường, bộc lộ vàphát huy hết mọi khả năng và sức mạnh sáng tạo, lòng kiên nhẫn, tình yêu
Trang 26thương đoàn kết, niềm tin, tinh thần lạc quan được động viên tới mức chưatừng có Cả đất nước sống những ngày đau thương mà hào hùng nhất, đằmthắm nhất, mà cao cả nhất Chủ nghĩa anh hùng cách mạng nảy nở khắp mọinơi và hội tụ đầy đủ nhất, kết tinh ngời sáng nhất ở những người lính cáchmạng Chính họ là những con người trực tiếp làm nên cuộc kháng chiến thầnthánh, kì diệu của dân tộc Người lính cách mạng là một nguồn cảm hứng bấttận khơi nguồn cho biết bao hồn thơ cất cánh, bay cao, bay xa vào cõi trườngtồn, bất tử cùng núi sông lịch sử Họ hiện lên với những phẩm chất cao quý:dũng cảm, vượt lên mọi khó khăn gian khổ với tinh thần “Quyết tử cho Tổquốc quyết sinh.” Hòa mình vào dòng văn học cách mạng với những nét vẽ vềngười lính ngòi bút Hữu Thỉnh vẫn có những nét riêng đặc sắc Chính điều
đó đã tạo nên sức sống của thơ Hữu Thỉnh: “Chất lính là một trong những nétđặc biệt của Hữu Thỉnh Lính bộ binh, lính thiết giáp, lính biển, lính trênđường hành quân trong đêm chuẩn bị, lúc qua chuyến đò đêm giáp ranh, hay
đi trong mây ở đâu thơ Hữu Thỉnh vẫn là lời kể, lời tâm sự, giãi bày, lờithưa của người lính về người lính” [41,20]
Như vậy cảm hứng về người lính thấm đượm khắp trong các vần thơcủa tác giả, làm nên cái duyên riêng của thơ ông Những câu thơ đầu tay củanhà thơ- chiến sĩ này được cất lên từ cánh rừng Trường Sơn Dải Trường Sơn
Vĩ đại đã đi vào thơ ca của biết bao người Nó là nguồn cảm hứng cho thơ,văn, nhạc, họa Trường Sơn mang lại cho thi sĩ hồn thơ mạnh mẽ tràn đầy tìnhyêu lẽ sống, niềm tin:
Anh vịn vào tiếng hát vượt gian laoNhững năm Trường Sơn bạn bè trong trẻo quáTiếng hát đi rồi căn hầm còn đó
Thành chiếc hộp đàn giữa lòng đất âm sâu
(Tiếng hát trong rừng)Cảm hứng của Hữu Thỉnh về người lính đi theo Tiếng hát trong rừngsong hành với chặng hành trình đầy gian khổ của người lính trong trường ca
Trang 27Ở thơ Hữu Thỉnh thời kì chống Mĩ, bên cạnh cảm hứng chủ đạo là cảmhứng sử thi thường thấy trong nhiều sáng tác còn có cảm hứng thế sự- đời tư.Cảm hứng này góp phần làm nên tiếng thơ rất giàu nội tâm của Hữu Thỉnh.
“Nếu thơ Phạm Tiến Duật là thơ chiến trận, hướng ra mặt trận thì thơ HữuThỉnh không như thế Ông cũng viết về chiến tranh, trận đánh nhưng một nửathơ ông là tình cảm gắn bó với hậu phương Trong thơ Hữu Thỉnh bao giờnhững ác liệt, dữ dội của chiến trường cũng được gắn gián tiếp hay trực tiếpvới hậu phương bằng chiếc cầu tình cảm” [41,22]
Như vậy, từ Trường ca Đường tới thành phố đến Trường ca biển đã
có sự vận động trong cảm hứng thơ: từ đậm nét trong cảm hứng sử thi sangcảm hứng thế sự đời tư Âm vang sử thi vẫn còn vang vọng trong văn học sau
75 trong đó có Trường ca Đường tới thành phố Trường ca biển hình thành
từ 1981 hoàn thành 1994 nên cảm hứng thế sự đời tư chiếm ưu thế Do đógiọng điệu thơ chuyển từ ngợi ca, tự hào, cổ vũ sôi nổi sang trầm lắng, suy tư.Nhờ thế mà cảm hứng về chiến tranh và người lính cách mạng được HữuThỉnh thể hiện phong phú, đa dạng, hình tượng người lính cũng được khắchọa đầy dặn hơn bằng nhiều giọng điệu mang phong cách thơ của Hữu Thỉnh
1.2.1.2 Cảm hứng về quê hương, Tổ quốc, nhân dân
Bên cạnh cảm hứng về chiến tranh, về người lính, trong thơ Hữu Thỉnhquê hương, Tổ quốc, nhân dân cũng là cảm hứng chủ đạo, một sợi chỉ đỏxuyên suốt trong thơ anh Nét đặc sắc trong thơ Hữu Thỉnh, tình cảm quê
Trang 28hương không phải là một cảm hứng chung chung, trừu tượng mà chủ yếu làquê hương trong trái tim người lính Tình yêu quê hương, Tổ quốc, Nhân dântrong trái tim mỗi người đã tha thiết, nhưng tình cảm ấy trong tim mỗi ngườilính thì da diết hơn nhiều Bởi họ đứng ở mũi nhọn của cuộc sống, giáp mặtvới quân thù, thiếu thốn, thử thách là kiệt cùng nên mọi niềm thương, nỗi nhớ,tình yêu của người lính như mãnh liệt hơn, thiêng liêng hơn Ngoài chiếc ba
lô đơn sơ bé nhỏ, hành trang mà người lính mang theo nhiều nhất, lúc nàocũng đầy ắp trong lòng, đó là tình yêu quê hương Tổ quốc, Nhân dân
Quê hương, Tổ quốc, Nhân dân là điểm tựa của sức mạnh và cũng làmục đích ra đi của người lính Hòa trong tình yêu quê hương của người lính
có cả: “Kỉ niệm của anh về đồng đất quê nhà đã tỏa vào thơ một không khírưng rưng thương nhớ”[53, 162]
Trên đường hành quân gặp cỏ, thế là mùa xuân quê hương hiện lêntrong tưởng tượng, suy đoán:
Mùa xuân hẳn bắt đầuTrên quê mình lất phấtMấp máy lúa chiêm lên
Cỏ dội bờ thả sức
Ở đây nghe rõ nhấtBão lời quê nhắn nhe
(Mùa xuân đi đón)Trong đêm chuẩn bị đầy tâm trạng, người lính đã tâm sự với quê hương gọi quê hương như một người bạn vậy:
Xúc động quá quê ơiSao ta nhớ mùa, nhớ mùa quá mùa ơi!
Qua nương rẫy ngẩn ngơ từng gốc rạ
(Đêm chuẩn bị )
Trang 29Cảm hứng về quê hương theo anh trong Đường tới thành phố kết đọnglại trong “Tự thuật người lính” ở Trường ca biển; quê hương hiện lên trongSức bền của đất với hình ảnh:
Đom đóm bay ra hoa gạo đỏ
Mẹ ở nhà đã cất áo bông
Mẹ có ra bờ sôngQua bến đò tiễn con dạo trướcĐường xuống bến có 16 bậc
Mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu
(Sức bền của đất )Cảm hứng về quê hương như chưa hề vơi cạn, còn theo ông trong cảnhững vần thơ sau này
Cảm hứng về Tổ quốc là một nguồn cảm hứng mãnh liệt trong thơ HữuThỉnh thời kì chống Mĩ Lý Hoài Thu đã khẳng định “Bao trùm lên sáng táccủa Hữu Thỉnh là nguồn cảm hứng về đất nước, nhân dân”[74, 51] Bằng sựgắn bó sâu sắc với cuộc kháng chiến của dân tộc và bằng cả hồn thơ phongphú của mình, Hữu Thỉnh đã góp phần phản ánh khá toàn diện, hình ảnh Tổquốc, nhân dân với một cảm hứng tha thiết: “Còn hạnh phúc nào hơn Tổquốc ” Đường tới thành phố
`Cảm hứng về Tổ quốc trong thơ Hữu Thỉnh không phải là một kháiniệm trừu tượng, to tát, xa vời Cảm hứng về Tổ quốc hóa thân trong hìnhtượng người lính, người phụ nữ, hình tượng đất nước Tổ quốc không chỉ làđỉnh núi, bờ sông, mà còn là từng nhành cây, ngọn cỏ của đất nước Tác giảLại Nguyên Ân đã phát hiện: “đạt đến một cảm xúc nén căng nhất ở trường
ca Đường tới thành phố có lẽ là cái cách hình dung Tổ quốc qua một gốc simnơi trận địa tranh chấp ”[11,12] Cảm hứng về Tổ quốc trong thơ Hữu Thỉnhkết tinh sâu lắng trong một tình huống cam go, thử thách nhất Đó là hình ảnh
Trang 30Chỉ còn lại nhân dân vằng vặc dưới trời saoNhân dân trở về qua tay người móc nối
(Đường tới thành phố)Với một ý chí quật cường, một sức sống mãnh liệt, một tình yêu đấtnước thiết tha, nhân dân quyết giữ vững Tổ quốc, bản sắc dân tộc, giữ gìnnhững gì bình dị nhất Cảm xúc tự hào về nhân dân chan chứa trong lời thơ:
Cứ bền lòng như phản đóng đinhGiữ cho được nước mình
Trang 31mình Nhờ thế, bức tranh hiện thực chống Mĩ tuy có đau thương, gian nan vất
vả, nhưng vẫn ngời sáng một niềm tin, một sức sống mãnh liệt
1.2.2 Thơ Hữu Thỉnh trong thời kì đổi mới
Thơ viết về cuộc sống thời bình gồm tập Thư mùa đông và Trường cabiển (1981-1994) Các tập này được biết ở giai đoạn cuối của thời kỳ bao cấp
và giai đoạn đầu của thời “mở cửa”, đổi mới đất nước Đất nước trong thờibình nhưng con đường đi đến chân trời hạnh phúc còn nhiều gian nan Dochính sách, cơ chế bao cấp kéo dài hạn chế những tiềm năng đất nước, conngười cùng những nguyên nhân xã hội – chính trị khác trên phạm vi cả nước
và thế giới đã làm xuất hiện các khuynh hướng tư tưởng mới, chưa hề cótrong thời kỳ chống Mỹ.Những biến động trong đời sống chính trị (sau khiLiên Xô sụp đổ - 1991 cùng những bức xúc chung quanh việc quản lý lãnhđạo xã hội và văn nghệ (biểu hiện rõ nhất trong giai đoạn chuẩn bị và đại hộinhà văn 1989), sự vung ra về mặt kinh tế cho phép nghĩ đến cách làm ăn mới,suy nghĩ mới làm thay đổi nhiều quan niệm về những giá trị cũ được hìnhthành trong suốt thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ đã tác động mạnh mẽ đến
tư tưởng văn nghệ sĩ
Ở giai đoạn trước năm 1980, ý thức cộng đồng chiếm ưu thế, con ngườitoàn tâm toàn ý vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, số phận cá nhân luôn đạttrong số phận đất nước, cá nhân không có ý nghĩa độc lập tự thân mà có ýnghĩa trong sự hy sinh cống hiến cho dân tộc Giai đoạn này, “có một sự bùng
nổ về ý thức cá tính nhằm lập lại thế cân bằng giữa ý thức cá nhân và ý thứccộng đồng “ (38, 35) Từ đầu thập kỷ 80 (thể kỷ XX) trở lại đây, những biếnđổi to lớn trong đời sống xã hội đã đi đến sự đổi thay các thang chuẩn quantrọng khi nhìn nhận các giá trị của cuộc sống và cả văn học nghệ thuật “ Sựthức tỉnh về ý thức cá nhân, sự quan tâm nhiều hơn đến con người trong tính
cụ thể, cá biệt, với nhu cầu trong thời bình là bước chuyển tất yếu của xã hội
Trang 32Con người được miêu tả trong tất cả tính đa dạng của nó đã tạo thành nétchính trong sự định hướng về giá trị văn học của công chúng hôm nay Nóikhác đi, tinh thần dân chủ và cảm hứng nhân bản là đặc điểm nổi bật của thời
kỳ đổi mới Sự thay đổi này dĩ nhiên sẽ dẫn đến những thay đổi về đề tài, chủ
đề, nhân vật và thể loại, phương thức trần thuật và cách biểu hiện trữ tình(38,22)
1.2.2.1 Cảm hứng thế sự đời tư
Như chúng ta đã biết, hiện thực đời sống chính là điểm xuất phát cũng
là ngọn nguồn cảm hứng sáng tạo của thơ ca, nghệ thuật Và phản ánh hiệnthực là bản chất của mọi nền văn học, cho dù có những trào lưu tuyên bốthoát ly thực tại Chiếm lĩnh hiện thực là quá trình có ý thức trong sự địnhhướng của cả nền thơ nói chung, trong đó có Hữu Thỉnh và các nhà thơ trẻchống Mỹ
Cuộc kháng chiến chống Mĩ đã huy động sức mạnh tiềm tàng của mỗingười, tạo nên khái niệm kép (công dân- nghệ sĩ) Hoàn cảnh chiến tranhkhiến: “cái tôi cá nhân trở nên nhỏ bé trước dòng thác lớn của những biếnchuyển xã hội và thời đại, tiếng nói của thơ trữ tình có xu hướng trở thànhtiếng nói của số đông, của một cộng đồng” [8,45]
Thơ Hữu Thỉnh trong những năm chống Mĩ (bao gồm cả tác phẩm sauchiến tranh viết về cuộc kháng chiến chống Mĩ), suy cho cùng là cảm hứng vềdân tộc, đất nước, nhân dân với tính sử thi dậm đặc Sau năm 1975, HữuThỉnh vẫn tiếp tục mạch sử thi trước 1975 Chỉ có điều, Hữu Thỉnh đã nhìnsâu hơn vào những bi kịch và nhìn thấy sự vĩ đại của nhân dân trong những bikịch lớn
Sau 1975, đất nước thống nhất, cuộc sống hòa bình bắt đầu nảy sinhnhiều vấn đề phức tạp, ngổn ngang, chồng chất Hiện thực bao trùm sau chiếntranh là hiện thực đời sống của cả dân tộc đối mặt với những khó khăn thời
Trang 33hậu chiến Nhà thơ đứng ở vị trí con người đời thường, quan sát chiêmnghiệm những vấn đề thế sự Và cảm hứng về nhân thế, thế sự - đời tư cũng làdòng cảm hứng cơ bản của thơ Hữu Thỉnh thời kì đổi mới
Là một hồn thơ tinh tế, nhạy cảm có trách nhiệm với thời cuộc, HữuThỉnh không thể dửng dưng với những biến động của cõi nhân sinh: “Trướcđây anh đã từng viết thật xúc động về chiến tranh, về lòng quả cảm, về đức hisinh của dân tộc Việt Nam, sau này ông vẫn trăn trở vui buồn cùng số phậncon người, khắc khoải lo âu trước sự mất mùa nhân nghĩa.”
Tập thơ Thư mùa đông có tới 23/36 bài mang cảm hứng thế sự đời tư
Ở đó cái tôi trữ tình mang nặng nỗi trăn trở về tình người Nhận ra sự tha hóanhân cách đang diễn ra hằng ngày, nỗi nhức nhối ấy hằn vào thơ, kết thànhniềm tê tái Cảm xúc đau xót ấy thường trực trong thơ Hữu Thỉnh
Ở bài thơ Mười hai câu ta bắt gặp sự khắc khoải nỗi niềm nhân thế, trước một sự thật nghiệt ngã:
Nguyễn Du viết Kiều hơn hai trăm nămGió vẫn lạnh trên vai người phận bạc Chèo Quan Âm trẻ già đều thuộcNỗi oan khuất ở đời nào đã chịu vơi đâu
Là người từng trải, nhà thơ buồn bã nhận ra những nỗi cô đơn bất hạnh,bất công luôn tồn tai dai dẳng với con người Những câu thơ không có sự lãngmạn hóa, lý tưởng hóa mà chỉ thấy sự tỉnh táo khi phán xét hiện thực Tuyhiện thực chúng ta đang sống có nhiều điều tốt đẹp hơn xưa, nhưng nhữngngang trái, nghịch lí của cuộc đời chưa hết Hữu Thỉnh đã dũng cảm nói thẳng
và nói thật
Nhà thơ còn nhận ra rất rõ sự khắc nghiệt, những trớ trêu, nghịch lí ở đời:
Đá rơi hạt chắc dầu bông rụng
(Mưa đá)
Trang 3428
Trang 35Trong đoạn thơ có câu hỏi chứa đựng sự sững sờ, bàng hoàng, hoangmang: “Không hiểu vì sao bóng mát bị trả thù” Đây không chỉ đơn thuần làchuyện thiên nhiên bị phá hoại, mà suy rộng ra đó là lòng tốt bị bạc bẽo, sựthành thật gặp phải sự tráo trở, tiếng chim và sự bình yên cũng đang bị dồnđuổi bởi sự vô cảm đến tàn nhẫn của những kẻ được gọi là người Cảm hứngtriết lí trong bài thơ này nói riêng, thơ Hữu Thỉnh nói chung bật lên từ chínhnhững suy ngẫm không ngừng về lẽ sống, cách xử thế, về quan hệ, về cái cao
cả mong manh đang bủa vây bởi cái thấp hèn hung bạo
Cuộc sống thời bình với biết bao đổi thay giúp nhà thơ nhận ra mốiquan hệ giữa thơ ca và cuộc sống xã hội Nhà thơ cảm nhận được sự bất lựccủa thơ trước cuộc đời Hiểu được điều đó ông đau đớn nhận ra trách nhiệm,khó khăn, nặng nề vinh quang của người thi sĩ: “Chưa viết giấy đã cũ/ Chưaviết sông đã đầy / Chưa viết chợ đã đông/ Chưa viết đồng đã bạc/ Ngườithan thở vì mất mùa nhân nghĩa/ Câu thơ đứng giữa trời/ Với nhện cất sươngrơi” (Tạp cảm)
Bên cạnh cảm hứng thế sự - đời tư, Thư mùa đông còn là một bản hợp âmtiếng lòng của một con người gửi cho mọi người, gửi cho đời, cho mẹ, cho
Trang 36anh, cho em, cho bạn bè đồng đội và cũng là bản tình ca của người đang yêugửi tới người đang yêu.
Cùng với cảm hứng về nhân dân, đất nước, cảm hứng thế sự đời tưtrong thơ Hữu Thỉnh chính là tiếng thơ, tiếng lòng của một cái tôi luôn nặnglòng với đời, với người, thiết tha với cuộc sống, luôn ưu tư, triết lí về cuộcđời Đó cũng chính là dạng thức biểu hiện của con người đời thực, con ngườinhập thế, khẳng định tính tích cực, nhân cách của nhà thơ trước hiện thựcphong phú, phức tạp của đời sống
1.2.2.2 Cảm xúc về thiên nhiên
Từ khi con người chưa xuất hiện, thiên nhiên đã có rồi Thiên nhiên làmôi trường sống, là đối tượng gắn bó với con người từ thuở sơ khai Thiênnhiên là nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân muôn đời Đã có biết bao vầnthơ nói về thiên nhiên, ca ngợi vẻ đẹp và mối giao hòa giữa con ngừơi vớithiên nhiên Trong dòng thơ đầy cảm xúc về thiên nhiên đó, Hữu Thỉnh đãgóp những vần thơ đẹp, thể hiện sự cảm nhận tinh tế về đề tài này
Thiên nhiên luôn được Hữu Thỉnh dành cho nhiều yêu thương, luôn lànguồn cảm hứng cho nhiều bài thơ của anh Ở Tiếng hát trong rừng có đến17/22 bài gửi gắm cảm xúc về thiên nhiên Trong đó có những bài thơ thực sựđặc sắc, ấn tượng (Sang thu, Mùa xuân đi đón) được tuyển chọn đưa vàosách giáo khoa, được phổ nhạc như Chiều sông Thương Trong Đường tớithành phố, trường ca dài 1628 câu thơ, số câu nói về thiên nhiên là 102/1628;
Ở Thư mùa đông cảm hứng trữ tình phong cảnh xuất hiện không nhiều và nóthường bị chi phối bởi cảm hứng thế sự -đời tư Cảm hứng thiên nhiên chiếmmột tỉ lệ nhỏ 8/ 36 bài, trong đó một số bài chỉ có một vài câu mang cảm xúcnày, nhưng nó đã góp phần thể hiện hồn thơ Hữu Thỉnh “Đằm thắm, hồn hậu,nghiêng về phía rợp mát.”
Trang 37Hữu Thỉnh đã bước say mê trên sông núi hữu tình để mà nhớ, màthương, để mà viết về thay đổi của làng quê đất nước sau những ngày khángchiến Đúng là: “Hữu Thỉnh đã tìm về với thiên nhiên, đất nước, thơ anh là cảmột thế giới đa sắc màu của thiên nhiên Bắc Bộ Ngỡ như anh đã hóa thânvào cảnh sắc ca hát triền miên về ruộng đồng cây cỏ, về mùa xuân và cả vềtrời xanh và hoa mướp vàng, về một đám mây mùa hạ hay một chút hanh củachiều đông áo thắm, về mùa màng rơm rạ, đất dai Tất cả hiện lên trong thơanh vừa hoang dã, nguyên sơ, vừa như mới được hồi sinh qua lăng kính củaphép tư duy thơ hiện đại” [74,82]
Ở Thư mùa đông, thiên nhiên lại hiện lên như một khách thể của đờisống, góp phần giúp ta hình dung rõ hơn những suy tư về nhân thế của conngười, nhà thơ Ngay trong hình tượng thiên nhiên thơ Hữu Thỉnh cũng rấtgiàu triết lí Sự đan xen cảm xúc đã tạo nên những hình ảnh thơ giàu sức biểucảm, tạo nên những câu thơ mà khi đọc ta : “Thấy trước hết cả những cảnhvật thiên nhiên, những câu thơ không chỉ dừng lại ở đó mà còn gợi người đọcnhững suy nghĩ, liên tưởng khác”[73,82]
Thật vậy khi đọc những câu thơ: “Trông ra bờ ruộng năm nào/ mưabay trắng cỏ, cào cào cánh sen/ Mẹ tôi nón lá bước lên/ Mạ non đầu hạ trăngliềm cuối thu” (Trông ra bờ ruộng) Dường như cả đồng quê đang mở ratrước mắt người đọc là bờ tiếp bờ, là màn trời mưa trắng cỏ Không gian mở
ra ở đây có tính chất tĩnh, không biến đổi dù thời gian có vận dộng “đầu hạ,cuối thu” thì sự vận động ấy là một sự tuần hoàn trở lại Sự vận động ấy cuảthiên nhiên gợi người đọc liên tưởng tới sự tuần hoàn vòng quay của đời mẹ,một cuộc đời vất vả, nhọc nhằn Câu thơ còn gợi ra cái hữu hạn của đờingười
Có khi thiên nhiên gắn với tâm sự, nỗi nhớ con người: “Lá đem nhữngmảnh chiều/ Trút lên đầy nỗi nhớ” (Thảo nguyên) Có khi cảm xúc về thiênnhiên đẫm màu sắc triết lí về cuộc đời, về thời gian: “Mây dẫu thương mặt
Trang 38đất/ Không thể nào không bay (Chăn- Đa em ơi) Có khi thiên nhiên trĩu nặngtâm tư: “Trời bỗng gần hơn mây bớt nắng/ Cây gầy gò bừng thức có tìnhsao” (Những kẻ chặt cây)
Thiên nhiên qua tâm hồn và tình yêu gắn bó với quê hương đất nướccủa Hữu Thỉnh đã trở thành những mảnh hồn thi sĩ: “Cuối năm rơm rạ nằm
mơ ngủ/ Tôi bước đi như có bao người/ Chiều đông áo thắm ai vừa thắm aivừa sắm/ Sông nhớ người xa thưa thớt trôi” (Cuối năm)
Có ý kiến cho rằng mọi nét của thiên nhiên tự thân nó đã là nguồn thiliệu giàu có Đọc thơ Hữu Thỉnh ta bắt gặp rất nhiều câu thơ đặc sắc về thiênnhiên Qua đó còn giúp người đọc nhận ra cái tôi trữ tình tinh tế đa cảm, tàihoa:
Bắt đầu là bóng núi
Vô cùng như mắt em Những chùm quả bình yênRơi xuống triền núi vắng
Trang 39Anh đi tìm một ngày cau ắp bẹHoa ngủ mê trong lá mơ hồ Duyên nợ chiều má đỏ dẫn anh đi
(Bình yên)
(Im lặng)Hữu Thỉnh người con của làng trung du Phú Thọ đã không chỉ viết rấthay về quê mình, mà khi viết về những mảnh đất xa xôi mới mẻ, tác giả cũng
có những vần thơ sâu lắng Đó là những vần thơ về vùng bắc cực Tổ quốc nơitrập trùng núi đá Thiên nhiên ở nơi đây không phải là thiên nhiên có thểchiêm ngưỡng mà là thiên nhiên luôn thách đố con người Hữu Thỉnh vẫngiành nhiều yêu thương khi hạ bút:
Ở đây tuyết trắng bên chăn mỏngBếp đỏ cơm trưa núi vẫn mờ