Thơ viết về biển, đảo có hàng trăm tác giả với rất nhiều tác phẩm sống cùng thời gian và nhiều bài thơ được phổ nhạc như Biển của Xuân Diệu, Biển một bên và em một bên của Trần Đăng Khoa
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN ANH THU
HÌNH TƯỢNG BIỂN, ĐẢO VỚI CON NGƯỜI
TRONG THƠ HỮU THỈNH
Lí luận văn học
Mã số: 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI, 2017
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin cảm ơn chân thành PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện –
Người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, tận tâm dìu dắt, chỉ bảo tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong tổ Lí luận văn học, khoa Ngữ văn, Phòng sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Từ đáy lòng mình, tôi xin được cảm ơn, chia sẻ sự trân trọng này với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn ở bên tôi, giúp đỡ và động viên kịp thời để tôi vững tâm nghiên cứu, hoàn thành luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do khả năng của bản thân và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót khuyết điểm Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quí thầy cô và đồng nghiệp để chúng tôi rút kinh nghiệm và nâng cao hơn nữa trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Vĩnh Phúc, ngày 17 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Thu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do tôi nghiên cứu và thực hiện dưới
sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện
Những tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực được trích dẫn
từ tác phầm gốc và có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã được công bố … với sự trân trọng
Kết quả nghiên cứu này không hề trùng khít với bất kỳ công trình nghiên cứu nào từng công bố
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Vĩnh Phúc, ngày 17 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Thu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……….……… 1
2 Lịch sử vấn đề ……… 2
3 Mục đích nghiên cứu ……… ……… … 8
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… ……… 8
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… … … 8
6 Đóng góp luận văn ……… ………… …… 8
7 Phương pháp nghiên cứu ……… ………… … 9
Phương pháp loại hình ……… ………… …… … 9
So sánh, tổng hợp ……… 9
Thi pháp học ……….……… 9
8 Cấu trúc luận văn ……… ………… 9
NỘI DUNG ……… 11
CHƯƠNG 1: HÀNH TRÌNH THƠ HỮU THỈNH; QUAN NIỆM CỦA HỮU THỈNH VỀ VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT ……….……… 11
1.1 Hữu Thỉnh, nhà thơ chiến sĩ ……… ……… 11
1.2 Quan niệm, ý kiến của Hữu Thỉnh về văn chương nghệ thuật…… … 14
1.2.1 Văn học phản ánh hiện thực; Mối quan hệ giữa nhà văn và đời sống ……… 15
1.2.2 Vấn đề dân tộc và hiện đại; Hội nhập quốc tế trong văn học nghệ thuật ……….… 17
1.2.3 Tác phẩm văn học là sinh mệnh văn hóa; Văn chương dù có là hàng hóa vẫn phải là văn chương ……….……… 19
1.2.4 Lý luận phê bình là bộ phận tiên phong của nền văn học; Nhà phê bình là ba trong một ……… 23
1.2.5 Những người viết trẻ - Lý do của hy vọng ……….……… …… 24
Trang 5CHƯƠNG 2: BIỂN, ĐẢO VỚI CON NGƯỜI TRONG THƠ TRỮ TÌNH
CỦA HỮU THỈNH ……….……… …… 30
2.1 Khái niệm về hình tượng nghệ thuật, hình tượng thơ ……… … 30
2.1.1 Khái niệm thơ ……… … 30
2.1.2 Khái niệm thơ trữ tình ……… …… 31
2.1.3 Hình tượng thơ ……… … 31
2.1.4 Hình tượng nghệ thuật ……… … 32
2.2 Hình tượng biển, đảo với con người trong thơ Hữu Thỉnh ……… … 34
2.2.1 Biển, đảo dưới góc nhìn sinh thái học ……… … 34
2.2.2 Biển, đảo với tư cách là hình tượng ẩn dụ của tình yêu lứa đôi … 40 2.2.3 Biển, đảo với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc ……….… 47
2.2.4 Nghệ thuật thơ trữ tình về biển, đảo của Hữu Thỉnh ……… 60
2.2.4.1 Về ngôn ngữ ……… ……….… 60
2.2.4.2 Về thể thơ ……… ……… …… 67
2.2.4.3 Các biện pháp tu từ ……… 72
CHƯƠNG 3: TRƯỜNG CA BIỂN – KHÚC TRÁNG CA VỀ TÌNH YÊU TỔ QUỐC TRONG CHIẾN TRANH VÀ SAU CHIẾNTRANH … … 80
3.1 Kết cấu của trường ca ……….…… 80
3.1.1 Khái niệm trường ca ……… 80
3.1.2 Kết cấu hòa kết giữa tự sự và trữ tình trong trường ca …… … 82
3.2 Điểm nhìn nghệ thuật của chủ thể trữ tình ……… …… 88
3.2.1 Khái niệm điểm nhìn ……… …… 88
3.2.2 Người lính – nhân vật trữ tình trực tiếp của cái tôi trong thơ Hữu Thỉnh ……… ………… 89
3.2.3 "Nhân dân" – một hình thức gián tiếp của chủ thể trữ tình……… 93
3.3 Giọng điệu trong trường ca ……… 98
3.3.1 Giọng điệu ngợi ca mang âm hưởng sử thi ……… 99
Trang 63.3.2 Giọng điệu xót thương, cay đắng ……… 101
3.3.3 Giọng điệu trữ tình, triết lý ……… … ….… 102
KẾT LUẬN ……… ……….… 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 110
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Biển và đảo là món quà tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho con người và đất nước chúng ta Biển và đảo gắn liền với những kỳ quan thiên nhiên bởi vẻ đẹp và những kiến tạo độc đáo Sự cuốn hút của biển và đảo không chỉ bởi vẻ đẹp thiên nhiên, mà còn bởi những dấu mốc gắn liền với những giá trị lịch sử, văn hóa và giữ vị trí quan trọng về an ninh - quốc phòng của đất nước Biển và đảo Việt Nam từ ngàn xưa đã gắn với truyền thống yêu nước, ý chí quật cường và công cuộc chống ngoại xâm của dân tộc
Đồng thời biển, đảo Việt Nam còn là nguồn cảm hứng bất tận của thi
ca Thơ viết về biển, đảo có hàng trăm tác giả với rất nhiều tác phẩm sống
cùng thời gian và nhiều bài thơ được phổ nhạc như Biển của Xuân Diệu, Biển một bên và em một bên của Trần Đăng Khoa, Thuyền và biển của Xuân
Quỳnh, thơ viết từ biển của Hữu Thỉnh và nhiều bài thơ của các tác giả khác viết về biển v.v…
Thơ viết về biển của Hữu Thỉnh để lại nhiều ấn tượng trong lòng người yêu thơ Hữu Thỉnh là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước Khi chiến tranh kết thúc, ông tiếp tục sáng tác và có những vần thơ đầy nhiệt huyết đóng góp cho thơ ca đất nước Thơ ông mang đặc điểm chung của thơ ca kháng chiến chống Mỹ nhưng có những độc đáo riêng Đọc những bài
thơ viết về hình tượng biển, đảo nhất là bài thơ Trường ca biển của ông, ta
thấy được cảm xúc, giọng điệu riêng, giàu chất hiện thực, chắt lọc từ sự trải nhiệm từ đời sống chiến tranh với nhiều biến động dữ dội, đời sống thời bình bộn bề, phức tạp Thơ Hữu Thỉnh nồng nhiệt, hồn hậu, sâu lắng, đối thoại, sử dụng có hiệu quả, sáng tạo chất liệu và phương thức nghệ thuật của kho tàng văn nghệ dân gian, văn nghệ truyền thống, biến hóa cấu trúc thơ và nhịp điệu nói có những thủ pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ trùng điệp, đối lập
Trang 8Thiết nghĩ cần tìm hiểu về một nhà thơ đã từng được biết đến rất sớm
và có những đóng góp nhất định cho nền văn học dân tộc nói chung về hình tượng biển, đảo và con người trong thơ Hữu Thỉnh nói riêng
Việc làm này về mặt khoa học không chỉ cho phép chúng ta có cái nhìn bao quát, toàn diện hơn về thế giới nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, nhận diện đặc trưng phong cách riêng của nhà thơ trong cái nhìn so sánh mà còn có ý nghĩa lịch sử Do vậy, luận văn này sẽ tìm hiểu về hình tượng biển, đảo với con người trong thơ Hữu Thỉnh Trước những lý do trên, chúng tôi đã chọn hình tượng biển, đảo với con người trong thơ Hữu Thỉnh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
2 Lịch sử vấn đề
Đánh giá về thơ ông đã có nhiều nguồn tư liệu khác nhau, ở đây chúng tôi xin phép sơ lược nội dung cơ bản của một số bài viết mà theo chúng tôi có giá trị tham khảo đối với luận văn
Thiếu Mai cũng có những nhận xét khá tinh tế về nhiều phương diện
trong bài viết "Hữu Thỉnh trên Đường tới thành phố", in trên báo Văn nghệ Quân đội số 3- 1980: "Cảm xúc dạt dào, phong phú và mạnh mẽ là chỗ mạnh của Hữu Thỉnh Trong lòng cuộc chống Mỹ vĩ đại của nhân dân, Hữu Thỉnh thường nghĩ về những vấn đề lớn lao của đất nước, của thời đại anh đi Anh khao khát thơ mình lí giải được điều đó Thành công chủ yếu nhất của Hữu Thỉnh cũng chính là thế hiện vừa sâu, vừa tỉnh, vừa khái quát, vừa tỉ mỉ, chí lí những tình cảm, suy ngẫm của người chiến sĩ trong cuộc chiến đấu chống Mỹ, cái vững của ngòi bút Hữu Thỉnh là miêu tả trực diện những tổn thất mà tác phẩm vẫn không chìm xuống trong không khí bi đát, trải lại vẫn thấy được xu thế tiến lên của cuộc chiến đấu " Sau Sức bền của đất, Đường tới thành phố, Trường ca biển là bức tranh hoành tráng, tập thể về
những người lính trên đảo xa, sự cô đúc một thế giới, khắc nghiệt và đầy
Trang 9nghịch lý, làm nổi bật một cách lung linh và góc cạnh số phận những con người trả giá đến cùng để giữ lấy cho cuộc sống một ý nghĩa, một diện mạo văn hóa, một thế giới riêng biệt, một đội ngũ bền vững để chống lại sự cô đơn
và sự hòa tan Số phận họ là hiện thân của sổ phận dân tộc trong những thử thách lịch sử cuối thế kỷ mà nổi bật là thử thách về vấn đề ranh giới
Lưu Khánh Thơ trong "Hữu Thỉnh một phong cách thơ sáng tạo" in trên Tạp chí Văn học số 2 năm 1988, cho rằng hình tượng người lính và hiện thực
lớn lao, sôi động của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc là nguồn cảm hứng chủ đạo cho sáng tác của Hữu Thỉnh Nhà thơ cũng đã tiếp thu được ở truyền thống thơ ca dân tộc, ở cách nói, cách ví von so sánh, ở cách tư duy, liên tướng độc đáo để làm nên những sáng tạo thơ ca có sức sống lâu bền Thơ
ông trở nên đa nghĩa, hàm ẩn, mới lạ, bất ngờ trong cảm xúc Đường tới thành phố, Sức bền của đất được nhiều người yêu mến chính là những chiều sâu của
sự suy nghĩ và dạt dào cảm xúc "Hữu Thỉnh cảm nhận rõ qua cuộc sống của
chính mình, của những người thân nơi quê hương, sức mạnh đã làm nên chiến thắng Trước những vấn đề lớn của đất nước Hữu Thỉnh đã góp phần phản
ánh và lí giải bằng một cách nói riêng, giản dị mà sâu lắng" và đất trong thơ Hữu Thỉnh "là biểu tượng của một cái gì rộng lớn hơn, như nhân dân, như Tổ Quốc" Phong cảnh thiên nhiên đơn sơ như cỏ rơm, hoa, lá được truyền vào
một sự sống mới, giàu sức biểu hiện
Bài viết "Đọc tập thơ Thư mùa đông của Hữu Thỉnh" của tác giả Trần Mạnh Hảo in trên báo Văn nghệ Quân đội số 4/1996 đã đánh giá về những sáng tác độc đảo của Hữu Thỉnh qua tập thơ Thư mùa đông như thơ kiệm lời,
hàm súc, hồn nhiên đan xen với những yếu tố triết lý sâu sắc Điều đáng chú ý
là bài viết đã nhận ra được chất đồng quê, sự hồn nhiên và cả nỗi cô đơn, đau
buồn của thơ Hữu Thỉnh Đến tập thơ Thương lượng với thời gian, thơ ông có
một bước đột phá mới bởi nó đặc biệt quan tâm tới vấn đề đời tư, thế sự,
Trang 10những trăn trở, suy tư và trải nghiệm của một hồn thơ nặng lòng với đời Trần
Mạnh Hảo cũng đã viết: "Hữu Thỉnh và Thanh Thảo là cái gạch nối của nền thơ ca chống Mỹ sang thời bình Sau 1975, cùng với Nguyễn Duy họ đưa thơ tiến về phía trước với những bước tiến ngoạn mục, đa dạng và phong phú"
Trong bài viết "Đọc Đường tới thành phố" in trên tạp chí Văn nghệ Quân đội số 43 năm 1997 nhà thơ Vũ Quần Phương đã phát hiện "Hữu Thỉnh không xây dựng những tính cách hoàn chỉnh, anh chỉ dừng lại đi sâu vào một vài tâm trạng, một vài mẫu người Phần xúc động nhất và tạo nên tầm khái quát của trường ca chính là những mẫu người đó …"
Tác giả Nguyễn Trọng Tạo trong cuốn Văn chương cảm và luận in năm
1998 có bài "Hữu Thỉnh, thành phố hồn quê" cũng đã đánh giá rất cao yếu tố
truyền thống, yếu tố đồng quê Bắc Bộ trong những sáng tác của Hữu Thỉnh Ông cho rằng chính những yếu tố dân gian và truyền thống của dân tộc đã làm nên phong cách và khẳng định vị thế của thơ Hữu Thỉnh trên thi đàn đương đại
Năm 1999 trên Tạp chí Văn học số 12 nhà nghiên cứu Lý Hoài Thu có bài "Thơ Hữu Thỉnh – một hướng tìm tòi và sáng tao từ dân tộc đến hiện đại"
Bài viết đã đưa ra những minh chứng cho ý kiến "luôn biết đào sâu, khai thác cái hay, cái đẹp, cái dân gian, cái dân tộc", "cách tân" "sáng tạo cái mới", đó
là một cái khái quát đầy đủ và sâu sắc về những nét đặc sắc, độc đáo và những đóng góp cho nền thi ca đương đại của thơ Hữu Thỉnh Tác giả đã khái quát
và đưa ra nhận xét về phong cách nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh là sự hòa quyện
nhuần nhụy giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, có sức lôi cuốn để "Tạc dựng thành một hình tượng dân tộc Việt Nam bất tử", giữa trữ tình và triết
luận, giữa những hình ảnh gần gũi bình dị với những ý tứ sâu xa
Nhà phê bình Vũ Nho trong "Vài cảm nhận về Thương lượng với thời gian của Hữu Thỉnh" đã chỉ ra một Hữu Thỉnh thể hiện được bản lĩnh của một
nhà thơ có tầm vóc, được nhiều bạn đọc yêu thích, ngưỡng mộ Những vần
Trang 11thơ của ông đã làm say đắm biết bao thế hệ bạn đọc bởi những cảm nhận tinh
tế và tài hoa Trong ông không còn cái bồng bột mạnh mẽ, tinh tế của buổi đầu biết yêu, nhưng tình yêu ấy lại được cảm nhận theo những mùi vị riêng
Có thể nói, công trình nghiên cứu thơ Hữu Thỉnh một cách có hệ thống
và công phu đầu tiên là chuyên luận Thi pháp Thơ Hữu Thỉnh của Nguyễn Nguyên Tản do Hội Nhà văn xuất bản năm 2005 Tác giả cho rằng: "Thơ Hữu Thỉnh tái hiện hành trình của người lính, của Quân đội vắt qua hai giai đoạn chiến tranh Có mặt trong hành trình đó có những người lính, những người mẹ, người vợ, là của thiên nhiên đất nước Thiên nhiên đất nước con người là một hình tượng lớn bao trùm trong Thơ Hữu Thỉnh Ở phần cuối của Trường ca biển
ta thấy Biển, Đảo nối liền như một hình tượng không gian bao trùm (Biển được nhắc đến 43 lần, Đảo được nhắc 12 lần) Theo quan niệm của nhà thơ, Biển, đảo
là một bộ phận cơ thể của Tổ Quốc, không thể nói là thắng lợi trọn vẹn, tự do trọn vẹn nếu chúng ta không làm chủ được vùng Biển, đảo mênh mông dài rộng"
[65,81]
Trong tác phẩm, Phong cách và đời văn do Nhà xuất bản khoa học xã
hội năm 2005 của PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện đã có những đánh giá về thơ
Hữu Thỉnh: "Hữu Thỉnh đã tạo cho mình một giọng điệu riêng và một chỗ đứng chắc chắn trong đông đảo người đọc Sở trường về thơ ngắn tự do và trường ca, thơ Hữu Thỉnh giàu chất hiện thực, chắt lọc từ sự trải nghiệm trực tiếp từ đời sống chiến tranh với nhiều biến động dữ dội, đời sống thời bình còn bộn bề, phức tạp"… [61,406]
Bài viết "Đọc Trường ca biển của Hữu Thỉnh" trên báo Lao động cuối tuần
ra ngày 28/4/2013 của Nguyễn Thụy Kha có cái nhìn mới, khác về hình tượng
biển, đảo và con người trong thơ Hữu Thỉnh Theo ông: "Trường ca biển vẫn có một tầm vóc đích thực của nó Nó càng có giá trị hiện hữu với hôm nay hơn bao giờ hết, khi gần đây, cả nước đang đồng lòng, dốc sức hướng ra Biển, đảo trong
Trang 12chiến lược bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc Đọc Trường ca biển
ta thấy chứa chất những ngẫm nghĩ, đáng giá, đáng quý về vùng biển thân yêu của Tổ Quốc, chứa chất những biến hóa về thi pháp mà tác giá muốn gửi vào đấy bằng toàn bộ dụng công khi vắt kiệt cảm xúc của mình"
Nguyễn Thụy Kha khẳng định ý nghĩa của Trường ca biển: "Thiết nghĩ trong hôm nay, nên được tái bản, được làm quà tặng trao cho tất cả những người lính biển, đảo như trao thêm cho họ một niềm tin, một chỗ dựa như những lời ru của Mẹ Việt Nam để tất cả họ có thể đứng vững trước sóng gió, mọi mưu toan thâm độc Đấy là sức mạnh của tác phẩm này, một người bạn đồng hành cùng những người lính Biển, đảo hôm nay"
PGS TS Nguyễn Đăng Điệp có bài viết về "Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ", in trong Thơ Việt Nam hiện đại tiến trình và hiện tượng, Nhà xuất bản Văn học, 2014, đã đi sâu vào những quan niệm và ý thức đổi mới thơ
ca của Hữu Thỉnh: "Những vần thơ của ông thật gần gũi, bình dị và chân thật, gần với đời sống thường nhật, chú trọng phản ánh đời sống thường nhật, chú trọng phản ánh đời sống với những suy tư, trăn trở Chính điều đó làm nên sức lôi cuốn kỳ diệu của thơ Hữu Thỉnh"
"Ta bới sóng đi tìm các dòng sông, đọc Trường ca biển của Hữu Thỉnh"
ra ngày 26-12-2014 trên Văn hóa Nghệ An, Đỗ Minh Tuấn nhìn nhận tiếp cận ở nét rất riêng, cho rằng: "Trong cái nhìn của nhà thơ Hữu Thỉnh, Biển trở thành một không gian tưởng chừng trong đó luôn diễn ra những day dứt thấm sâu về ranh giới, từ ranh giới cụ thể giữa hai chủ quyền đến ranh giới tinh vi và siêu thực giữa sống và chết, giữa riêng và chung, giữa bản sắc và hòa nhập Người lính biển bứt ra khỏi Đảo, bởi nhiều ngày trên biển đi tìm về Đảo"
PGS TS Lý Hoài Thu trong bài viết "Biển và những biến hình kí hiệu
trong thơ Trường ca biển" trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số ra ngày 13/01/2016, nhận định: "Những thông điệp được phát đi từ "Trường ca biển của
Trang 13Hữu Thỉnh là sự khẳng định tư cách và chủ quyển biển, đảo của dân tộc Có thể thấy sự kết hợp nhịp nhàng giữa âm điệu hào hùng của cảm hứng sử thi với chiều sâu thế sự lịch sử, tính đa thanh về giọng điệu và khả năng dự báo đã tạo nên sắc diện nổi bật và mô hình không gian bản sử thi Trường ca biển của Hữu Thỉnh"
Trong bài viết "Đề tài Biển, đảo trong thơ ca Việt Nam" trên Báo điện tử
Tổ Quốc (website: http://vanhocquenha tho-ca-viet-nam-/124101 html, truy cập ngày 17/11/2016), Đỗ Ngọc Yên cho
vn/vi-vn/113/49/de-tai-bien-dao-trong-rằng: "Nhà thơ Hữu Thỉnh vốn là anh lính xe tăng vừa ra khỏi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của toàn dân tộc, rất nhạy cảm và giàu suy tư khi công
bố và tới 13 năm (1981 - 1994) vắt kiệt sức để viết nên những vần thơ hay đến cháy lòng trong Trường ca biển tác phẩm được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật 2012"
Như vậy các bài viết về thơ Hữu Thỉnh tuy mức độ ngắn, dài khác nhau song đều nói được cái hay, cái riêng của thơ Hữu Thỉnh Nhìn chung mỗi tác giả,
từ góc nhìn của mình đều chỉ đề cập tới một khía cạnh về nội dung hay nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh Xét về góc độ thi pháp cũng đã có một số tác giả đề cập đến hình tượng biển, đảo, con người không gian trong thơ Hữu Thỉnh Tuy nhiên, có thể thấy chưa có tác phẩm nào đi sâu vào nghiên cứu về một hình tượng cụ thể trong thơ ông Chính vì vây, tiếp thu những bài viết trên, luận văn nghiên cứu tìm hiểu
về "hình tượng biển, đảo và con người trong thơ Hữu Thỉnh" để có một cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về mảng đề tài này Chúng tôi hiểu rằng, những công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước là những ý kiến gợi mở hữu ích cho tác giả luận văn Trên cơ sở đó, chúng tôi mong góp một tiếng nói nhỏ bé của mình để khẳng định đầy đủ và sâu sắc hơn những đóng góp của nhà thơ Hữu Thỉnh về đề tài biển, đảo trong thơ hiện đại Việt Nam, trong dòng chảy của thi ca dân tộc, nhất là trước những vấn đề thời sự hôm nay tình hình biển, đảo đang nóng bỏng từng giờ ở nơi "đầu sóng ngọn gió"
Trang 143 Mục đích nghiên cứu
Luận văn "Hình tượng biển, đảo với con người trong thơ Hữu Thỉnh",
trong quan hệ nội tại thống nhất giữa tư tưởng cảm xúc và hình thức biểu hiện qua toàn bộ sáng tác của nhà thơ Qua đó có thể thấy được vị trí của thơ ông trong nền văn học Việt Nam Luận văn phân tích và thể hiện được hình tượng biển, đảo với cảm xúc, suy nghĩ của con người trong các sáng tác của Hữu Thỉnh và phong cách
thơ ông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết thi pháp học về hình tượng nghệ thuật trong văn học để tìm tòi, phát triển những phương diện độc đáo và vai trò của hình tượng biển, đảo, con người trong thơ trữ tình và trường ca của Hữu Thỉnh
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung tìm hiểu hình tượng biển, đảo với con người trong thơ Hữu Thỉnh qua việc khảo sát các sáng tác của ông, bao gồm những bài thơ trữ tình
ngắn về biển, đảo; đoạn cuối trường ca Đường tới thành phố và Trường ca biển
6 Đóng góp luận văn
Đưa ra những ý kiến, quan niệm của Hữu Thỉnh về văn chương nghệ thuật, góp phần định hướng sáng tác cho nền văn học, với tư cách là lãnh đạo của hội nhà văn Việt Nam và giới Văn học nghệ thuật
Làm rõ cái đẹp về tư tưởng nghệ thuật, bút pháp nghệ thuật trong thơ Hữu Thỉnh (trữ tình, trường ca) qua việc miêu tả mối quan hệ gắn bó giữa thiên nhiên biển, đảo với con người
Dưới cái nhìn của thi pháp học chỉ ra tính ẩn dụ trong hình tượng biển, đảo trong quan hệ với con người trong quá trình lao động xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc giữ gìn chủ quyền đất nước
Trang 15Giúp cho việc giảng dạy về thơ Hữu Thỉnh trong nhà trường phổ thông được sâu sắc hơn, bồi dưỡng lòng yêu thiên nhiên, yêu Tổ Quốc cho học sinh phổ thông
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp loại hình
Chúng tôi quan niệm hình tượng biển, đảo với con người trong thơ Hữu Thỉnh là một chất thể có nội dung và nghệ thuật trọn vẹn mang tính hệ thống, vì thế khi nghiên cứu, chúng tôi đặt nó trong một hệ thống chung theo một trật tự nhất định
Bên cạnh đó, chúng tôi đặt đối tượng nghiên cứu trong tư cách là hình tượng nghệ thuật của thể loại để chỉ ra sức hấp dẫn, tính cảm xúc, tính cụ thể mang đặc trưng thể loại thông qua cái nhìn của chủ thể trữ tình và giọng điệu tác phẩm
So sánh, tổng hợp
Nhằm phát hiện những nét độc đáo riêng biệt của thơ Hữu Thỉnh so với các nhà thơ khác Đồng thời thấy được những nét riêng, sự cách tân độc đáo mới lạ của thơ ông trong dòng chảy của thơ cách mạng và thơ đương đại
Thi pháp học
Ứng dụng cách tiếp cận thi pháp học đối với các tác phẩm trữ tình, trường
ca Từ đó làm cơ sở khái quát chung về hình tượng biển, đảo với con người trong
thơ Hữu Thỉnh
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Trang 16Chương I: Hành trình thơ Hữu Thỉnh; Quan niệm của Hữu Thỉnh về văn chương,
nghệ thuật
Chương II: Biển, đảo với con người trong thơ trữ tình của Hữu Thỉnh
Chương III: Trường ca biển - khúc tráng ca về tình yêu Tổ Quốc trong chiến
tranh và sau chiến tranh
Trang 17NỘI DUNGCHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH THƠ HỮU THỈNH; QUAN NIỆM CỦA HỮU THỈNH
VỀ VĂN CHƯƠNG NGHỆ THUẬT 1.1 Hữu Thỉnh, nhà thơ chiến sĩ
Nói đến thơ ca thời kỳ chống Mỹ, nhiều người thường nghĩ rằng đấy là một thế hệ nhà thơ – chiến sĩ trẻ trung và hùng hậu có lẽ chỉ có cuộc kháng chiến lớn lao ấy của dân tộc mới có thể sản sinh ra được một đội ngũ đông đảo các nhà thơ vừa có tâm, vừa có tài đến thế Nhà thơ Hữu Thỉnh không chỉ
là một người trong đoàn quân ấy, mà cùng với cuộc chiến và thời gian, ông đã trở thành một cánh chim đầu đàn của dòng thi ca chống Mỹ nói riêng và thi ca cách mạng nói chung
Nhà thơ Hữu Thỉnh sinh ngày 17/02/1942, với tên khai sinh là Nguyễn Hữu Thỉnh Ông quê ở làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Từ khi hòa bình lập lại (1954) ông Hữu Thỉnh mới được đi học Năm 1963, vừa tốt nghiệp phổ thông, ông vào bộ đội làm lính của trung đoàn
202, binh chủng Tăng Thiết Giáp Sau thời gian huấn luyện, ông vào chiến đấu ở chiến trường miền Nam Sau năm 1975, ông được cử đi học tại trường Viết văn Nguyễn Du, khóa I Từ năm 1982, ông đã giữ nhiều cương vị như:
biên tập viên, trưởng ban thơ và làm phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội từ năm 1986 Sau đó, năm 1990, nhà thơ Hữu Thỉnh chuyển sang làm Tổng biên tập tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, ủy viên ban
chấp hành hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN) các khóa III, IV, V, đại biểu Quốc hội khóa X, XI Từ năm 2000, nhiệm kỳ khóa VI ông làm bí thư Đảng, Đoàn, Chủ tịch hội Nhà văn Việt Nam Đến nay đã sang nhiệm kỳ khóa IX, ông vẫn được tín nhiệm giữ trọng trách này, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam
Trang 18Thực ra, nói nhà thơ Hữu Thỉnh là cánh chim đầu đàn của thi ca chống
Mỹ cũng đúng nhưng chưa trọn nghĩa Bởi lẽ sự nghiệp thơ ca của ông được nuôi dưỡng và nảy mầm từ cuộc kháng chiến thần thánh ấy của dân tộc Dù quãng thời gian trong quân ngũ là vô cùng quan trọng trong việc hình thành phong cách thơ của ông, nhưng chặng đường 40 năm sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, ông vẫn tiếp tục làm thơ và có thể coi giai đoạn sáng tác sau này của ông kể cả khi đã ra ngoài quân ngũ, cũng quan trọng không kém
Sống và cống hiến cả tuổi thanh xuân trên nhiều mặt trận, quãng đời áo lính luôn dõi theo văn nghiệp Hữu Thỉnh Nhập ngũ vào bộ đội Tăng – Thiết Giáp lúc tuổi hai mươi sắc xuân phơi phới, kinh nghiệm sống của người lính Tăng Thiết Giáp Hữu Thỉnh "kết tinh" nên những bài thơ để đời
Cũng như nhiều thanh niên thời đại ấy, Hữu Thỉnh tham gia nhiều mặt trận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đường 9 – Nam Lào, Khe Sanh, Quảng Trị, Tây Nguyên … Niềm tin sắt đá về lý tưởng độc lâp, chiến đấu vì hòa bình, sáng lên trong hành trang của cả một thế hệ Giữa bom rơi, lửa đạn thế hệ nhà thơ, nhà văn chống Mỹ tay súng, tay bút Phần đời người lính tham gia cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chính là "mảnh đất", "kinh nghiệm sống" cho tài năng thơ ca Hữu Thỉnh nảy mầm, thăng hoa
Tác phẩm đã xuất bản: Âm vang chiến hào (Thơ in chung, 1976), Đường tới thành phố (Trường ca, 1979), Từ chiến hào tới thành phố (Thơ ngắn, trường ca, 1985), Khi bé Hoa ra đời (Thơ thiếu nhi, in chung, 1985), Thư mùa đông (Thơ, 1994), Trường ca biển (Trường ca, 2004), Thơ Hữu Thỉnh (Thơ tuyển, 1998), Sức bền của đất (Trường ca, 2004), Thương lượng với thời gian (Thơ, 2005), Mùa xuân trên tháp pháo (Bút ký, truyện ngắn, 2009), Lý do của hy vọng (Tiểu luận, phê bình, 2010) Ngoài ra còn rất nhiều
bút ký văn học, viết báo
Trang 19Giải thưởng văn học: Giải A cuộc thi báo Văn nghệ 1975 – 1976 bài
Chuyến đò đêm giáp ranh, Trường ca Sức bền của đất Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1995 với tập thơ Thư mùa đông Giải thưởng văn học ASEAN, 1999 Giải xuất sắc Bộ Quốc Phòng năm 1994 với Trường ca biển
Giải thưởng Nhà nước vể văn học nghệ thuật đợt I, 2001 Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2012
Hữu Thỉnh, một nhà thơ – chiến sỹ đã thực sự hòa nhập vào cuộc chiến đấu Bởi vậy, bằng con mắt của một người nhập cuộc, Hữu Thỉnh đã đưa vào thơ mình hiện thực của thời chiến tranh Những sự kiện ấy luôn mang sức mạnh biểu cảm và có giá trị thuyết phục bởi tính chân thực của nó qua những trải nghiệm của người lính Hữu Thỉnh bộc bạch: "Tôi và bạn bè trong lớp những nhà văn chống Mỹ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những nhà thơ cách mạng lớp đầu và các nhà thơ kháng chiến chống Pháp Như là sự sắp đặt của lịch sử, về sau này hành trình thơ của chúng tôi cũng giống như các anh Bởi cảnh thì khác, quy mô và tính chất ác liệt cũng khác, nhưng tinh thần dấn thân
để tìm thấy sự kết hợp hài hòa giữa chủ thế sáng tạo và khách thể thẩm mĩ" Nói gọn trong một anh bộ đội có một thi nhân … Nhập cuộc và hành động có đòi hỏi hy sinh không? Có Đó là có vụn vặt, quẩn quanh, lạc điệu và nguy cơ cạn kiệt tâm hồn … Nhập cuộc và hành động được gì? Rất nhiều Cả một đời thơ Cuộc sống cho anh bao nhiêu thứ, kể cả sự đào luyện nghiêm khắc để anh
có thể trở thành "con của vạn nhà" đó là cái lớn, chiến lược cho cả đời thơ
Cuộc sống khốc liệt của chiến trường đã được phản ánh trong thơ ông bằng những vần thơ giàu nhiệt huyết, với những thanh âm sôi nổi trẻ trung
Trường ca Sức bền của đất ghi lại tâm tình của người lính cách mạng đang
gác chốt Ở nơi hàng ngày giáp mặt với kẻ thù, ông suy từ nguồn gốc sức mạnh của bản thân và đồng đội, sức mạnh nhận từ lòng mẹ, từ đất đai Cảm
Trang 20hứng chủ đạo của bài thơ này là cảm hứng về đất nước, nhân dân về cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước
Sau khi ra khỏi chiến tranh, Hữu Thỉnh viết về trường ca Đường tới thành phố, đây là một cột mốc đánh dấu sự chín muồi trong ý thức về thể loại,
là bản tổng kết chiến tranh bằng thơ, giúp ta hình dung những chặng đường
cuối cùng trong cuộc chiến chống Mỹ ngụy Từ "cái nôi nghệ thuật" dữ dội,
khốc liệt và thơ mộng là Trường Sơn, hồn thơ Hữu Thỉnh tìm đúng những nguồn cảm hứng lớn về Tổ Quốc, nhân dân và thế hệ những người cầm súng thời chống Mỹ giản dị và trung thực
1.2 Quan niệm, ý kiến của Hữu Thỉnh về văn chương nghệ thuật
Chưa từng có một giai đoạn lịch sử nào mà dân tộc ta lại sản sinh ra nhiều nhà thơ có chung chí hướng và gần gũi quan niệm sáng tác như thời chống Mỹ Cả một đội ngũ cầm bút hừng hực khí phách, tươi rói hồn thơ Rất nhiều tâm hồn thơ sáng lóa như: Phạm Tiến Duật, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Khoa Điềm … Họ luôn coi làm thơ là một hành động đầy ý thức Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ có quan niệm về thơ rất đúng đắn Thiết nghĩ ngoài những nhân tố và thời đại, quê hương, gia đình mà chúng ta được biết thì những suy nghĩ, quan niệm của ông về nghề thơ cũng góp phần giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn
về tâm hồn thơ, phong cách thơ ông
Nói quan niệm thơ Hữu Thỉnh là cập đến những yếu tố xã hội được chuyển hóa vào tư duy nghệ thuật để trở thành quan niệm văn chương Chủ
yếu tập trung ở cuốn Lý do và hy vọng, sau đó còn được đăng rải rác ở các tạp
chí, diễn đàn Và phát biểu với tư cách là người sáng tác, tư cách quản lý, tư cách lãnh đạo của Hội nhà văn Việt Nam và giới Văn học nghệ thuật
Trang 211.2.1 Văn học phản ánh hiện thực; Mối quan hệ giữa nhà văn và đời sống
Hữu Thỉnh đã từng nói: "Thơ là kinh nghiệm sống" Trên chặng đường
hành quân gian khổ cùng với chiến sĩ nhà thơ đã không quên ghi lại giây phút của chiến trường ác liệt Phải chăng đó là quan niệm về thơ ca của một người chiến sĩ, là tuyên ngôn về thơ được nảy sinh từ chính hiện thực khốc liệt Chính vì vậy ông quan niệm làm thơ là ông ghi lấy cuộc đời mình và của dân tộc Không có trang nhật ký nào có thể ngắn gọn lại đầy đủ, chân thực hơn những dòng thơ của người chiến sĩ vừa trực tiếp tham gia cầm súng chiến đấu, vừa cầm bút ghi lại những khoảng khắc diễn ra trong cuộc đời mình
Chúng tôi sưởi trên những câu thơ ấy
Cứ thế qua đi nhiều mùa mưa
(Đường tới thành phố)
Còn là sự gắn bó của cuộc đời mình với cuộc sống, là những cảm nhận
từ cuộc đời, để nhà thơ và nhiều thế hệ nhà thơ khác, viết lên những vần thơ hay
Đãi ngộ lớn của nhà văn là cuộc sống, chính cuộc sống đã cung cấp chất liệu cho nhà văn Chất liệu sống không phải là vay mượn từ bên ngoại
mà còn là sự chuẩn bị, tích tụ lâu dài từ bản thân nhà văn Nhà văn hiểu người
vì mình không phải người xa lạ
Một nguy hiểm thường trực đối với nhà văn là nguy cơ cạn kiệt vốn sống, cạn kiệt tâm hồn Đối với nhà văn vốn sống trực tiếp mới là cái quyết định Thiếu vốn sống, thiếu máu tinh thần là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những biến chứng rút lui vào hình thức, tuyệt đối hóa hình thức, tô đậm các cá nhân lẻ loi, ốm yếu trước một thực tiễn sôi động, đổi mới từng ngày Cạn kiệt vốn sống sẽ dẫn đến bế tắc Bế tắc nhưng không thể không viết, vì cái nghiệp văn theo đuổi như một định mệnh Đó là một nhẽ, nhẽ nữa là không đủ gan bỏ
Trang 22nghề, đổi nghề vì cũng khó bỏ, khó đổi Viết trong sự cạn kiệt và nguội lạnh,
chỉ còn cách là trông cậy vào chữ, tự an vì rằng "chữ bầu nên nhà thơ", tuyệt
đối hóa chữ Cái bệnh rút lui vào hình thức, tuyệt đối hóa hình thức là nguyên nhân chính làm thơ đang mất dần công chúng [72,98]
Trước một đời sống bề bộn, ngổn ngang phát triển đan xen nhiều yếu tố thuận nghịch, sáng và tối, tích cực và tiêu cực, muốn nắm bắt, giải thích khái quát hóa được bản chất của nó, nhà văn phải nhập cuộc, phải thực sự là người trong cuộc Xuân Diệu, nhà thơ lãng mạn hàng đầu của thơ mới, sau cuộc đổi
đời hóa thân triệt để đã có thể tự hào nói rằng "Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi, cùng đổ mồ hôi, cùng rơi giọt máu" Còn Tố Hữu khẳng định
"Tôi đã là con của vạn nhà, là em của vạn kiếp phôi pha, là anh của vạn đàn
em nhỏ, không áo cơm cù bất, cù bơ" thì đó không chỉ là chỗ đứng của một
nhà cách mạng, mà còn là chỗ đứng của một nghệ sĩ kiểu mới Muốn tác phẩm trở thành một tri kỷ, một đồng điệu với người đọc trước hết nhà văn phải tri kỷ, phải đồng điệu với cuộc sống, với con người xung quanh
Người viết văn phải phản ánh chân thực, cụ thể và sinh động hiện thực cuộc sống với sự khái quát nghệ thuật cao khác hẳn với sụ sao chép giản đơn,
cơ giới, dung tục Một trong những nét mới trong sự phản ánh hiện thực của văn học ta vừa qua là tính phức điệu, đa thanh và nhiều chiều, là những thông tin kép được xem như những cố gắng mở rộng đường biên văn học Nhà văn
sử dụng tối đa năng lực tưởng tượng đó cần tới chiều sâu bản chất của hiện thực, đồng thời còn đưa ra những thông tin dự báo [72,100]
Dự báo là phòng xa tưởng tượng về tương lai, nó có tác dụng như những dẫn đường soi sáng khi nó đứng vững từ hiện thực, cất lên từ hiện thực Là hiện thực, tất cả những gì của cuộc đời, của thế giới tâm hồn, những thăng hoa cảm xúc, những cung bậc tâm tư, những đòi đoạn can trường của
Trang 23nhà văn trong quá trình nung nấu sáng tạo Tác phẩm văn học vì thế luôn luôn
là một phiên bản tâm hồn, là chân dung tự họa của nhà văn Trách nhiệm của nhà văn phải dự báo được khuynh hướng văn học trong tương lai [72,100]
Văn học cần có lý và có tình đối với hiện thực Nhà văn là người nhiều khát vọng, nhiều mộng mơ Nhưng khi xuất phát từ mong muốn, từ khát vọng
để đo hiện thực Là người cầm bút, nhà văn đứng trước hiện thực cuộc sống phải phản ánh trung thực, phải có lý và có tình Vì thế Hữu Thỉnh đã thấm thía điều này hơn ai hết Một trong những nguồn nuôi dưỡng tâm hồn và làm nên sức mạnh của đời sống xã hội là thi ca
1.2.2 Vấn đề dân tộc và hiện đại; Hội nhập quốc tế trong văn học nghệ thuật
Vấn đề dân tộc và hiện đại luôn được đề cập tới trong các hội nghị của nhà văn Cần luôn ghi nhớ, giữ gìn bản sắc dân tộc của mình, nhưng lại hòa nhập vào thế giới hiện đại Bản sắc dân tộc hình thành, phát triển cùng với lịch sử dân tộc, vừa bền vững, vừa biến động Cho dù quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đến đâu thì trong văn hóa, cốt yếu là bổ sung, chứ không phải thay thế Không có nền văn hóa nào, dù lớn, dù rực rỡ đến đâu có thể thay thế , đại diện cho nền văn hóa khác Chính nền văn hóa được xem là rực
rỡ ấy cũng có nhu cầu được bổ sung, làm giàu, hoàn thiện từ nền văn hóa khác để đạt tới trình độ phát triển cao Bản sắc dân tộc không hề gây cản trở cho sự hòa nhập, ngược lại nó là sự cống hiến của dân tộc cho nhân loại UNESCO công nhận và khuyến nghị sự đa dạng của các nền văn hóa chính là nương theo tinh thần trên Không có nền văn hóa nào có thể thay thế nền văn hóa đó, phải phấn đấu cho sự đa dạng văn hóa Chúng ta phải luôn cộng sinh các giá trị văn hóa, đó là chân trời của đối thoại, của tích hợp Luôn học hỏi bản sắc văn hóa hay của các nước trên thế giới, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại
Trang 24Nhưng hiện nay bệnh sính ngoại, vồ vập quá đáng với các giá trị ngoại nhập, quay lưng, ghẻ lạnh với di sản văn hóa dân tộc Biết bao cái hay, cái đẹp, cái tốt của cha ông còn chưa được nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá đến nơi, đến chốn Hội nhập văn hóa là quá trình tiếp nhận và chuyển hóa công phu, không đơn giản là sự thẩm thấu, hòa trộn cơ giới, sống sít, vội vã Hội nhập văn hóa chứ không phải là toàn cầu hóa [72,69]
Sự thống nhất biện chứng giữa dân tộc và hiện đại là hài hòa nghệ thuật Từ lý luận, chủ trương, chính sách, quản lý, điều hành đến nội dung và hình thức, sáng tác và biểu diễn, giao lưu và quảng bá Sự hài hòa ở đây là sự thống nhất biện chứng máu thịt và sống còn giữa tính dân tộc và tính hiện đại Không hài hòa không thể phát triển, càng không thể phát triển bền vững Lịch
sử giao lưu văn hóa cho thấy, mỗi lần văn hóa dân tộc tiếp nhận hài hòa tinh hoa văn hóa thế giới đề tạo ra những bước tiến bộ lớn, tạo đà lớn cho văn học nghệ thuật Văn học nghệ thuật là cái độc đáo dân tộc, độc đáo trên tất cả Tâm hồn, tính điệu, ngữ âm, biểu cảm Phải trở lại khám phá dân tộc, đi đến tận cùng dân tộc gặp nhân loại Thực chất vấn đề không phải là tiếp nhận hay không tiếp nhận mà là cộng sinh, là tiếp biến văn hóa, là quá trình chuyển hóa
vô cùng công phu, tinh tế Tinh thần là chủ động sáng tạo chứ không phải là
nô lệ văn hóa, chủ động kết tinh chứ không phải là vay mượn, bắt chước Không phải tiếp nhận bất cứ cái nào từ nơi khác đến, mà phải là các giá trị tinh hoa Hiện đại hóa là một yêu cầu tất yếu của đổi mới, nhưng tiếp thu nhân loại cuối cùng phải được dân tộc hóa, phải làm giàu cho chủ thể dân tộc
Phải đứng vững trên quan điểm lựa chọn văn học đổi mới và phát triển Phải quán triệt tư tưởng, phát triển trên tất cả các lĩnh vực Phát triển là lợi ích, là mục tiêu, là sống còn Sự phát triển của mỗi cá nhân, mọi thể loại, mọi tìm tòi khám phá là tiền đề cho một cục diện văn hóa mới, hiện đại, đa dạng, phong phú như chính cuộc sống Như nhà văn Ma Văn Kháng đã từng nói:
Trang 25Thuận theo người mà không bỏ mình Hữu Thỉnh trong báo cáo hội thảo về tính dân tộc và hiện đại trong văn học, nghệ thuật hiện nay có nói: Thuận theo người mà không để mất mình [72,92]
Vấn đề hiện đại hóa được giải thích theo khái niệm nơi sinh Ông phản đối việc hiện đại hóa theo kiểu nhập khẩu văn hóa thay cho văn hóa truyền thống, mà phải phát huy chỗ mạnh để năng động hóa cấu trúc vốn có Đây là một quan điểm quan trọng có thể phát huy nội lực của văn hóa dân tộc đến những trình độ mới mà không gây ra đứt gãy với truyền thống Rất nhiều tác giả tán thành kết hợp nội sinh với sính ngoại
Đa dạng là thuộc tính cố hữu của văn hóa Đó là sự lựa chọn sáng suốt của lịch sử Lịch sử là người viết kịch bản cho sự tồn tại phong phú, bền vững của văn hóa nhân loại Văn hóa là sự lựa chọn Mỗi dân tộc có sự lựa chọn một cách tùy thuộc vào khát vọng của chính họ Sự lựa chọn đó trở nên thiêng liêng để mỗi người là chính mình, dân tộc được là dân tộc Nguồn mạch văn hóa cứ được tuôn chảy và đan dệt như thế đem đến sự lành mạnh chung Dòng thác giao lưu văn hóa mạnh mẽ hơn bao giờ hết Tất cả những cái phi văn hóa đang đặt các nhà văn trước trách nhiệm không thể chối bỏ Bảo vệ không gian sinh tồn của con người gắn liền với bảo vệ không gian văn hóa dân tộc Bài học lịch sử văn học đất nước chúng ta là luôn luôn bay trên đôi cánh của văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Chúng ta phải học tập các yếu tố văn hóa tiên tiến của các nước công nghiệp phát triển, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy nội lực, yếu tố nội sinh để tiếp nhận, đổi mới yếu tố ngoại sinh, thành bản sắc văn hóa Việt Nam
1.2.3 Tác phẩm văn học là sinh mệnh văn hóa; Văn chương dù có là hàng hóa vẫn phải là văn chương
Tiếp thu ý kiến của nhà phê bình văn hóa Hoài Thanh "Văn chương là văn chương", đây là ý kiến rất nổi tiếng của người anh trong thi đàn văn học
Trang 26Việt Nam Tác phẩm văn học là phiên bản tâm hồn, là chân dung tự họa của nhà văn Sáng tác phải tâm huyết với vấn đề phản ánh trong tác phẩm Nhà văn phải say sưa đi vào đời sống, phản ánh đời sống Một cuộc sống đầy biến động, ngổn ngang, hối hả, có lúc như trăm năm ép lại một ngày Nhà thơ Nguyễn Du khắc khoải liệu trăm năm sau hậu thế có thể hiểu mình không?
Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa Người đời ai khóc Tố Như chăng?
Câu thơ phản ánh hiện thực của đời sống, tâm trạng này không phải vì điều ông nhắn gửi quá cao siêu mà vì ông quá cô đơn trong thời đại mình Từ hình ảnh của nàng Tiểu Thanh, Nguyễn Du đặt ra một câu hỏi mang nhiều lớp
ý nghĩa Nhưng điều mà độc giả thấy đó là hiện thực xã hội phong kiến thối
nát Nhà thơ đã thể hiện được hiện thực đó qua bài "Độc Tiểu Thanh ký"
Không chỉ có nhà thơ Nguyễn Du đâu, mà đã là nhà thơ họ luôn xuất phát từ hiện thực cuộc sống, phản ánh trong tác phẩm của mình Nhà văn đã rất tâm huyết phản ánh cuộc sống hiện thực trong tác phẩm của mình, họ thể hiện ở từng bối cảnh thời đại, thông qua các số phận và nhân vật khác nhau
Sự chuẩn bị của người viết, nói cho cùng là chuẩn bị khả năng tiếp cận
và phản ánh những khía cạnh muôn màu của đời sống Ví như nhà thơ, nhà văn viết về chiến tranh, là người viết phải vượt lên khu rừng rậm rạp nhiều tầng của các sự kiện để khẳng định tầm vóc của nhân dân và bản lĩnh của dân tộc qua cuộc chiến tranh ấy Có thể, có người suốt đời chỉ chuyên viết về một
đề tài, tùy theo sở trường và sự chuẩn bị của họ Giá trị của tác phẩm không phụ thuộc vào đề tài Một tác phẩm có sức rung động lớn viết về chiến tranh vẫn có ý nghĩa thời sự lâu dài
Trong bài tham luận của mình, Hữu Thỉnh nói: thừa nhận văn chương
là hàng hóa, trong cơ chế thị trường, nhưng chống thương mại hóa văn
Trang 27chương Bởi thương mại hóa văn chương, chạy theo tiền là hạ thấp thiên chức của văn học Chống thương mại hóa trong văn học là chống việc hy sinh thiên
chức của văn học cho mục đích kiếm tiền, biến văn học thành nghề ngón kiếm tiền, nhà văn trở thành nô lệ của hàng hóa sách Cùng con đường đi đến bạn đọc có sáng tạo và có làm hàng Văn chương dù có là hàng hóa vẫn phải là
văn chương Đa số nhà văn, đời sống khó khăn thật đấy "Cơm áo không đùa với khách thơ" thật đấy nhưng gan góc bám trụ "không lùi một phân" trước
sức ép của cơ chế thị trường Nhưng có một sự thật đau lòng, dù nhà văn có giàu mơ mộng đến đâu chăng nữa không thể không thấy một sự thật "thị trường sách văn học ngày càng bị thu hẹp đến hãi hùng" [72,65]
Với nhà văn có sách hay là có tất cả Không thỏa hiệp, không nhượng
bộ với những lời chào mời ngọt lịm của thị trường
Ngay từ thời Tản Đà phải kêu lên: "Văn chương hạ giá rẻ như bèo" Sự
thật là như thế, nhưng trong một thời gian rất dài chúng ta né tránh, sợ gọi văn chương là hàng hóa thì làm giảm cái chức năng cao quý của nó đi Và sợ sai quan điểm sẽ bị phê bình, quy kết này nọ, thị trường vẫn là thị trường Lúc sáng tác nhà văn hăm hở, tự tin, say đắm bao nhiêu tức là chủ động bao nhiêu thì khi cái tài năng, tâm huyết đã được vật hóa, nhà văn bị đẩy lùi phía sau cuốn sách xa lắc bấy nhiêu Cho nên với cách nhìn thoáng rộng, chúng ta thừa nhận văn chương là hàng hóa Văn chương là hàng hóa đặc biệt chăng? Văn chương dù có là hàng hóa vẫn phải là văn chương Nhưng cuối cùng phải có sách hay Đó là cách tốt nhất để nhà văn cứu mình và sau đó là cứu thị trường văn học [72,61]
Văn chương không ngoài một chữ "hay" phải luôn dân chủ trong sáng,
phải dân chủ trong hưởng thụ Dù có đổi mới đến đâu, con người vẫn mong muốn được thấy những triết luận sâu xa về cuộc sống, những vẻ đẹp còn ẩn
Trang 28khuất, những khát vọng cần vươn tới Thâm nhập vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân không thể không tìm hiểu nhân dân hiện nay đang cần gì, cuộc sống đang cần gì? Tổ Quốc đang cần gì? Trả lời những câu hỏi đó là trách nhiệm của văn nghệ sĩ và cũng là định hướng của cuộc sống Nhưng sáng tạo hay tiếp nhận đều cần có định hướng Buông lỏng, thả nổi, chiêu nịnh thị hiếu thấp của một bộ phận công chúng là đi ngược lại với mục tiêu hoàn thiện con người, hạ thấp thiên chức cao quý của văn nghệ Cơ chế thị trường vừa kích thích vừa vuốt ve những thị hiếu tầm thường xử lý vấn đề thế nào thuộc về bản lĩnh của nhà văn nghệ sĩ
Nhà văn, chúng ta không thể ra lệnh cho ai Nhưng chúng ta có kinh nghiệm sống Chúng ta có quyền lực của trái tim và sức mạnh của ngôn ngữ
như Stalin đã nói: "Nhà văn là kỹ sư của tâm hồn" Ngôn ngữ của trái tim
thoạt đầu nó được nhen lên từ những con người riêng lẻ, thầm lặng giống như những hạt quặng bị lẫn chìm trong đất, nhưng với sự phấn đấu không mệt mỏi qua thời gian, tài năng sẽ được tôi luyện để trở thành chất thép của lẽ phải và tình thương, có sức mạnh kết dính tất cả mọi người, kết dính nhân loại Đối với văn chương, điều người ta ngại nhất là gò bó và áp đặt, là thiên kiến và hẹp hòi Không bị cột chặt vào một đề tài nào, các tác giả không còn quá băn khoăn trong lựa chọn vấn đề, nhân vật, giọng điệu và bút pháp Họ đã viết trong sự sảng khoái và tự do Chính sự triệt để trong lao động nhà văn đã tạo nên tính chân thực của không ít tác phẩm [72,59]
Nếu nói văn học là lịch sử được viết bằng số phận con người thì nhà văn xứng đáng là chiến sĩ tiên phong chống lại sự quên lãng Nhà văn luôn đồng hành, đồng cảm, đồng vọng Đường lối văn nghệ của Đảng: văn học là
số phận của văn hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam, góp phần xây dựng xã hội, con người làm cho xã hội ổn định và phát triển
Trang 29Hữu Thỉnh đã bàn sâu thông qua hai thể loại: Thơ và tiểu thuyết, ông
đã có những phát biểu: "Thơ là bữa tiệc của tâm hồn" nó thể hiện sự sinh
động, say đắm, yêu thương, đau khổ, nghĩa là mọi cung bậc tình cảm, tâm trạng của nhà thơ Thơ là nơi trú ngụ của tâm hồn; Thơ tôi là ngôi nhà của tôi,
Hữu Thỉnh đã rất xúc động được biết tập thơ Cây thời gian sẽ được xuất bản tại Hàn Quốc, là tập hợp của tập thơ Thư mùa đông và Trường ca biển
Cuộc hội thảo "Đổi mới tư duy tiểu thuyết" đã chứng tỏ sự nghiêm khắc
nghề nghiệp của các nhà văn chúng ta, một cuộc tự vượt rất đáng thương, trước hết về mặt nhận thức Trong nỗ lực vươn tới đỉnh cao, tiểu thuyết ta chưa có nhứng cuộc cách tân thật đáng kể về hình thức thể loại, nó mới hay ở nước mới có thể hiểu được, giải thích được mà không thể giải thích Theo Hữu Thỉnh tác phẩm hay là tác phẩm có khả năng thay đổi trạng thái tâm lý của người đọc, công phu mà lại làm cho người ta quên công phu, khó nhọc
mà lại làm người ta quên khó nhọc, để chỉ còn cảm thấy cái lồng lộng của tài năng, cái choáng ngợp trước một kỳ quan Tác phẩm hay là tác phẩm tạo ra các khoảng trống, đó là "đất trồng" tiếp theo cho người tiếp nhận văn chương, không nên chi tiết quá Để cho người đọc có sự bổ sung, đồng thời người độc
cơ bản để đổi mới lý luận, phê bình văn học Tiếp tục đưa nghị quyết 5 của Trung ương vào đời sống
Trang 30Là ý thức của văn học, lý luận, phê bình liên quan mật thiết và trực tiếp đến chính trị, tư tưởng Nếu văn học nghệ thuật là bộ phận nhạy cảm nhất của
xã hội thì lý luận phê bình là bộ phận nhạy cảm nhất của văn học nghệ thuật, chịu tác động trực tiếp của lịch sử, xã hội Nhìn nhận, đánh giá bức tranh văn học nói trên là công cuộc của lý luận phê bình Đã làm được chức năng định hướng, chức năng đòn bẩy, thì trước hết lý luận phê bình phải tự đổi mới, và
sự tự quan sát, tự đánh giá này với lý luận phê bình, thậm chí còn khó khăn hơn đối với sáng tác Trong công việc hệ trọng này, Nghị quyết 5 của Trung ương Đảng khóa VIII quả là một sự soi sáng hết sức quý báu Hoạt động lớn nhất và cũng là một đóng góp lớn nhất của công tác lý luận, phê bình văn học vừa qua là thống nhất nhận thức, nghiên cứu vận dụng, đưa nghị quyết 5 vào đời sống, thể hiện ở những khía cạnh sau
Kiên trì hệ thống các quan điểm mỹ học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, chức năng của văn học, coi đó là nguyên tắc
cơ bản để đổi mới văn học [72,33]
Trên quan điểm đổi mới của Đảng, khắc phục những non nớt, ấu trí, sơ lược trong quan niệm, việc đánh giá lại một số trào lưu văn học trước cách mạng, bộ phận văn học yêu nước trong các thành thị miền Nam trước giải phóng, một số tác phẩm, tác giả trong quá khứ được thỏa đáng
Vận dụng lý luận vào thực tiễn, mềm mại, thuyết phục hơn, chẳng hạn, khẩu hiệu văn học phục vụ Tổ Quốc, phục vụ nhân dân là sự diễn đạt một cách tinh tế khẩu hiệu văn học phục vụ chính trị
1.2.5 Những người viết trẻ - Lý do của hy vọng
Mỗi một giai đoạn lịch sử có lớp nhà văn, nhà thơ tiếp cận được lý tưởng của giai đoạn ấy, để viết lên tác phẩm thể hiện hiện thực của đời sống, cũng như tư tưởng của tác giả thông qua số phận nhân vật cụ thể Ví như,
Trang 31những người viết văn thuộc thế hệ chống Mỹ đều có một số lý lịch giống nhau: sinh ra để làm cách mạng Cùng với việc học tập văn hóa, lý tưởng về chủ nghĩa xã hội và lý tưởng thẩm mĩ được hình thành từng bước trong nhà trường xã hội chủ nghĩa Và khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bắt đầu, tất cả đề hăng hái thực hiện nghĩa vụ công dân, hoặc trực tiếp cầm súng ngoài chiến trường, hoặc đảm nhận một công việc nào đó ở hậu phương Nhà văn không những là người chứng kiến lịch sử mà quan trọng hơn là đã tự giác tham gia vào những biến động xã hội Và những tác phẩm ra đời đã ghi lại được những trạng thái tâm hồn khá tiêu biểu của lớp thanh niên thời kỳ đó
Người viết văn cần được chuẩn bị như một con người chuẩn bị những
gì cần để bước vào đời Nhưng người viết văn là người truyền năng lượng trí tuệ và năng lượng tâm hồn mình cho những người khác, do đó những gì cấu tạo nên anh ta cần được huy động đến mức tối đa Mỗi người trở thành nhà thơ theo cách riêng của họ Một nhà thơ có diện mạo, cốt cách khác nhà thơ kia, điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố hợp thành, trong đó có sự chuẩn bị văn hóa Một cuộc chuẩn bị toàn diện và công phu như thế cần phải có thời gian
Có thể thấy chiến tranh là cuộc thử sức lớn nhất đối với mọi dân tộc Cảm hứng lịch sử và cảm hứng anh hùng là một trong những cảm hứng của lớp người làm thơ trẻ Ngay cả khi viết bằng những nét bút bình dị nhất, thơ
ca của các anh vẫn có được cái hài hòa giữa những vấn đề sôi bỏng của xã hội với đời sống tâm hồn của mỗi cá nhân Để đạt tới tiếng nói hài hòa giữa lý tưởng xã hội và lý tưởng thẩm mỹ, giữa yêu cầu công dân và trách nhiệm nghệ sĩ cần đến sự trưởng thành của lớp người cầm bút xuất hiện trong chiến tranh
Đi vào cuộc chiến đấu, mỗi người viết càng ngày càng cố gắng nhận ra quy luật của chiến tranh, quy luật và nghệ thuật chiến thắng kẻ thù Cùng với việc khám phá ra bản chất của đời sống, mỗi người viết tự khám phá ra chính
Trang 32mình Con đường tự khám phá ra chính mình làm cho quá trình phản ánh mang yếu tố chủ quan rõ nét Nhận ra mình là mía để mà ngọt, làm nam châm
để hút lấy sắt non, theo Hữu Thỉnh đây là sáng tạo thứ nhất Khám phá ra mình là khám phá ra những khả năng không lặp lại ở người khác, và như thế khám phá ra mình tức là khám phá ra thơ Ông chỉ ra Blaga Đimitrôva đã
nhận xét rất xác đáng rằng: "Chúng ta thường nghĩ rằng thơ ở ngoài chúng ta Chúng ta đi tìm thơ ở nhưng nơi khác, ở những người khác Vì thế mà chúng
ta bỏ qua thơ" [72,12]
Sự chuẩn bị của người viết nói cho cùng cũng là chuẩn bị các khả năng tiếp cận và phản ánh những khía cạnh muôn màu của đời sống Một trong những yêu cầu khi viết về chiến tranh, là người viết phải vượt lên khu rừng rậm rạp nhiều tầng của các sự kiện để khẳng định tầm vóc của nhân dân và bản lĩnh của dân tộc qua cuộc chiến tranh ấy Trong đội ngũ những người viết văn trẻ rất có thể có người suốt đời chỉ chuyên viết về một đề tài, tùy theo sở trường và sự chuẩn bị của họ Giá trị của một tác phẩm không phụ thuộc vào
đề tài Một tác phẩm có sức rung động lớn thường có ý nghĩa thời sự lâu dài
Tình hình mới của đất nước đang đặt ra những yêu cầu mới cho người viết Không phải chuẩn bị để chỉ viết một bài thơ mà cho cả đời thơ, không chỉ chuẩn bị để viết những ngày đã qua mà còn là chuẩn bị viết về những ngày chúng ta đang sống và đang tới Mỗi người viết cảm thấy có trách nhiệm nặng nề, đáng quý biết bao nhưng cố gắng tự vượt lên chính mình, bởi vì đúng như một bạn làm thơ trẻ đã viết:
Mỗi bài thơ là một cái dốc Cái dốc sau là cái dốc cao hơn
Phải luôn cố gắng, chăm sóc, bồi dưỡng đội ngũ kế cận của mình Đây
là việc làm phù hợp với quy luật phát triển của văn học vừa là vấn đề đạo lý
Trang 33Chăm sóc tài năng là một công việc đầy công phu và có thể nói là nghệ thuật
Nó không những đòi hỏi phải có tấm lòng, tình yêu mà còn phải rất nhiều hiểu biết
Hội nghị những người viết văn trẻ lần thứ VI là hình ảnh của sự kế tục Đây là một đội ngũ đông đảo, thử sức trên tất cả các thể loại văn học Điểm mạnh của họ là trình độ học vấn, năng lực xét đoán thẩm mỹ và ý thức về đoàn thể Văn của họ cuốn hút ở sự sinh động, gây ấn tượng ở sự mạnh bạo và làm người đọc cảm động về sự thuần khiết Đối với họ khao khát đi tìm cái mới cũng chính là khao khát tự khẳng định mình Đội ngũ các cây viết trẻ hiện nay xứng đáng với những ai đặt niềm tin và kỳ vọng ở họ Nghệ thuật viết văn nói cho cùng, là nghệ thuật nuôi dưỡng và phát huy năng khiếu Ở các cây bút viết trẻ năng khiếu văn học được bộc lộ khá sớm Sáng tác của các lớp trẻ góp phần mở rộng đường biên văn học, đa dạng hóa đề tài [72,37]
Cầm bút trong bối cảnh cơ chế thị trường khi mà quy luật hàng hóa tác động mạnh mẽ và tinh vi ở tất cả các lĩnh vực sản xuất của vật chất và sản xuất tinh thần, thì việc giữ cho ngòi bút không sa vào sự tầm thường hóa, thương mại hóa, quả là việc không dễ dàng Làm thế nào để góp phần đưa văn hóa thấm sâu vào các hoạt động xã hội, trở thành nhân tố phát triển bền vững bên trong của mỗi một người, gắn tu thân với kiếm sống, gắn tự vượt với giao tiếp, giàu có mà luôn hướng thiện, giỏi giang mà không vô cảm lạnh lùng? Làm thế nào để văn học góp phần sưởi ấm mối quan hệ giữa người với người, đưa lý tưởng công bằng dân chủ, văn minh trở thành một nguyên tắc đạo đức cao nhất tạo ra một môi trường thuận lợi để phát triển nhân tính? Làm thế nào
để văn học góp phần tích cực chống lại nguy cơ hủy hoại của đạo đức, một nguy cơ có tính toàn nhân loại hiện nay? Làm thế nào để văn học chủ động tham gia vào quá trình hội nhập và toàn cầu hóa mà vẫn luôn giữ vững được chủ quyền quốc gia và bản sắc văn hóa, dân tộc? Đó cũng là chủ đề, nội dung
Trang 34cảm hứng sáng tác của văn học ta Gánh nặng đó đặt lên vai tất cả các nhà văn, đặc biệt là các cây bút trẻ, bởi chính họ chứ không phải ai khác sẽ là chủ nhân tương lai của văn học nước nhà
Đối với những người cầm bút văn chương phải luôn luôn là một mối tình đầu, vì văn chương là cuộc đời Và vì yêu đời mà ta chọn văn chương Hãy đến với đời sống cuốn sách hùng vĩ của mọi thời đại Đến với đời sống không phải đóng vai trò của người khách tham quan mà là một người trong cuộc, yêu thương và phấn đấu hết mình, tìm kiếm và sáng tạo hết mình, qua
đó tâm hồn hiểu biết, vốn sống tài năng sẽ được bồi đắp Lịch sử văn học trong nước và thế giới đã chứng minh không có thiên tài nào không đi qua con đường đó, không có tác phẩm vĩ đại nào không bắt đầu từ đó
Các cây bút trẻ quan tâm đến việc đi tìm cái mới trong văn học Đó là một sự băn khoăn chính đáng Có điều cần được nhìn nhận cho đúng, cái mới trong văn học bắt nguồn từ cái mới trong đời sống Cái mới nhất và trung tâm của xã hội hiện nay là sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Đi vào cái mới ấy nhất định các bạn sẽ phát hiện ra chính bản thân mình, đó là tiền đề để có cái mới thực sự trong tác phẩm Chúng ta phải luôn tạo cho cây bút trẻ có những cơ hội phát huy tài năng, tạo nên các lớp bồi dưỡng sáng tác dành cho các cây bút có nhiều triển vọng Các cây bút trẻ phải tự đào tạo, vươn lên bởi chính họ mới là người gieo hạt cho những mùa màng của văn học tương lai
Tiểu kết:
Xuất thân là một chiến sĩ cách mạng, Hữu Thỉnh đã có một vốn sống,
có kinh nghiệm cho quá trình sáng tác thơ văn của mình Với vai trò là người lãnh đạo ông luôn thực hiện tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mac – LêNin và tư tưởng Hồ Chí Minh, sự vận động chuẩn mực của cá nhân trong sáng tạo Ông
Trang 35biết kế thừa và phát huy giá trị của văn học giai đoạn trước, đồng thời luôn luôn tìm tòi, sáng tạo Điều này đã khẳng định Hữu Thỉnh là người có ý thức trách nhiệm, niềm tin với chính sứ mệnh cầm bút của mình Ông đưa ra nhiều
ý kiến, quan niệm về thơ Ông đã đưa văn học nghệ thuật lên một tầm cao mới, tạo ra những bước đột phá nhưng cũng luôn học hỏi của các nước bạn
mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 36CHƯƠNG 2 BIỂN, ĐẢO VỚI CON NGƯỜI TRONG THƠ TRỮ TÌNH
CỦA HỮU THỈNH 2.1 Khái niệm về hình tượng nghệ thuật, hình tượng thơ
2.1.1 Khái niệm thơ
Hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và
nhất là có nhịp điệu Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: "Thơ là hình thức nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là tình cảm và lý trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những bài thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường" [63,309]
Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ Cũng trên cơ sở này mà xuất hiện khái niệm
chất thơ để chỉ những sáng tác văn học (bằng vần hoặc văn xuôi) giàu cảm
xúc, nội dung, cô đọng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu
Lý tưởng và khát vọng của đông đảo nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo với những biểu hiện lịch sử của nó là tiêu chuẩn khách quan cho chất thơ chân chính ở mỗi thời đại Chất thơ là điều kiện cơ bản của thơ, không có chất thơ thì nhất quyết không thể có thơ hay
Thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người Ở nhiều dân tộc trong thời gian tương đối dài, các tác phẩm văn học đều được viết bằng thơ Vì thế, trong lịch sử văn học của nhiều dân tộc từ thế kỷ XVII trở về trước, nói đến thơ tức là nói đến văn học Tùy theo yêu cầu nghiên cứu, có thể chia thơ theo những tiêu chí khác nhau Dựa vào phương thức phản ánh có thể chia ra thơ
tự sự và thơ trữ tình Dựa vào thế luật có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự
Trang 37do Xét về mặt gieo vần, có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần Cũng có khi người ta phân loại theo thời đại như thơ Đường, thơ Tống, thơ Lý – Trần Ngoài ra, người ta còn phân loại thơ theo nội dung như thơ tình yêu, thơ chính trị, thơ đời thường…
2.1.2 Khái niệm thơ trữ tình
Là thuật ngữ dùng để chỉ các thể thơ thuộc loại trữ tình trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ
và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học [63,347]
Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ thuộc loại
tự sự
Tùy theo truyền thống văn học cụ thể, người ta có thể phân loại thơ trữ tình thành nhiều cách khác nhau Trước đây trong văn học châu Âu, người ta thường dựa vào cảm hứng chủ đạo mà chia thơ trữ tình thành bi ca, tụng ca, thơ trào phúng
2.1.3 Hình tượng thơ
Chúng ta biết rằng hình tượng nghệ thuật là kết quả của quá trình tư
duy nghệ thuật, "Hình tượng nghệ thuật chính là các khách thể đời sống được nghệ sĩ trải nghiệm một cách sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật" Hay nói một cách khác: "Hình tượng văn học nghệ thuật là một bức tranh sống động nhất của cuộc sống được xây dựng bằng ngôn ngữ nhờ trí tưởng tượng, có sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ"
Thơ cũng là một loại hình của văn học nghệ thuật Vậy hình tượng thơ
là gì? Dựa trên những quy luật riêng của hoạt động ngôn ngữ, khác với quy
Trang 38luật hoạt động ngôn ngữ trên lĩnh vực văn xuôi ta nhận thấy "Hình tượng thơ
là một bức tranh sống động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần cộng với trí tưởng tượng, sáng tạo và cách đánh giá của người nghệ sĩ" Hiểu một cách
đơn giản hình tượng thơ chính là mối quan hệ giữa các bộ phận của thơ để phản ánh đối tượng bằng những rung động tình cảm và cách đánh giá riêng của từng nhà thơ Chính vì thế, khi phân tích hình tượng thơ ta có thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau Điều quan trọng khi cảm nhận là phải chú ý ở khả năng tiềm tàng và ở khả năng hiện thực của ngôn ngữ để làm sáng tỏ nội dung
và quan niệm của người sáng tác
Thế giới hình tượng trong thơ khá phong phú, đa dạng, có thể là một cái thực, một cái ảo Hình tượng thơ bao gồm hình tượng thiên nhiên: con người, rừng, biển, đảo, chiến sĩ … như tác phẩm của Hữu Thỉnh, Thu Bồn, Thanh Thảo…
Các hình tượng trong thơ đều cần có ý nghĩa điển hình, cụ thể trong tác phẩm, đều thể hiện được tư tưởng của tác giả, lý tưởng hóa cuộc sống
2.1.4 Hình tượng nghệ thuật
Sản phẩm của phương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực
theo quy luật của tưởng tượng, hư cấu nghệ thuật Nghệ sỹ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng và tình cảm của
mình, giúp con người thể nghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có
ý nghĩa muôn màu, muôn vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Nhưng khác với các nhà khoa học, nghệ sĩ không biểu đạt trực tiếp ý nghĩ và bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lý công thức mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể [63,146]
Trang 39Hình tượng nghệ thuật chính là cái khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật Bằng chất liệu cụ thể, nó làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện
xã hội được cảm nhận Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ tới hình tượng con người, bao gồm cả hình tượng của tập thể người với những chi tiết biểu hiện của cảm tính phong phú
Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép ý nguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt, trăn trở cho người khác Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, lại vừa có khả năng khái quát, làm bộc lộ được bản chất của một loài người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sĩ Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh các khách thể thực tại tự nó, mà thể hiện toàn
bộ quan niệm và cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại tự nó Người
đọc không chỉ thưởng thức "Bức tranh" hiện thực mà còn thưởng thức cả nét
vẽ, sắc màu, cả nụ cười Hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung ở các giá trị nhân học và thẩm mỹ nghệ thuật [63,147]
Hình tượng là hình thức, là ký hiệu của một tư tưởng, tình cảm, một nội dung nhất định, là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ Mặt khác hình tượng lại là một khách thể tinh thần có cuộc sống riêng, không gian phụ thuộc vào ý muốn
Trang 402.2 Hình tượng biển, đảo với con người trong thơ Hữu Thỉnh
2.2.1 Biển, đảo dưới góc nhìn sinh thái học
Cảnh quan thiên nhiên đẹp, hùng vĩ
Việt Nam là một quốc gia nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về bờ biển Bờ biển nước ta dài 3670 km2, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Như vậy cứ 100 km thì có 1 km bờ biển (trung bình của thế giới là 600
km2 đất liền/ 1 km bờ biển), mở ra 3 hướng Đông, Nam và Tây Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thèm luc địa với diện tích trên 1 triệu km (gấp 3 lần diện tích đất liền: 1 triệu km2/330 000 km2) Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì có 28 tỉnh, thành phố gần biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển Như vậy, biển là một không gian
vô cùng rộng lớn, mới hình thành các dạng trầm tích và nuôi dưỡng các nền văn hóa Việt cổ là một bình giao tiếp quan trọng để nối liền với thế giới, nhưng đồng thời và cũng quan trọng nhất đó là phần lãnh hải thiêng liêng của
Tổ Quốc, khẳng định, khắc ghi chủ quyền dân tộc Đặc biệt ở thời điểm hiện tại khi tình hình biển Đông đang "dậy sóng" và "nóng lên từng ngày" đất nước
Việt Nam đau thương một lần nữa lại được "nhìn từ biển"
Biển và đảo là những thứ tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước chúng ta Biển và đảo, nơi gắn liền với những kỳ quan thiên nhiên với những vẻ đẹp và những kiến tạo độc đáo Đó là món quà tặng vô giá và bền lâu cho cuộc sống của dân tộc Việt Nam Biển và đảo không chỉ thu hút mọi người bởi vẻ đẹp thiên nhiên, mà còn là những dấu mốc gắn liền với những giá trị lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa và chiếm giữ cả vị trí quan trọng về
an ninh quốc phòng
Khi nói biển và đảo là nói những vị trí và dấu mốc quan trọng của lịch
sử, bởi chúng luôn được gắn liền với biên giới mỗi quốc gia nói chung, và là nơi khẳng định ranh giới riêng cho lãnh thổ dân tộc Việt Nam, một đất nước