1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian lữ thứ trong thơ Đường

135 684 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Không gian lữ thứ trong thơ Đường
Tác giả Phạm Vũ Lan Anh
Người hướng dẫn PGS. Trần Xuân Đề
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn học nước ngoài
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 2,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài về : Không gian lữ thứ trong thơ Đường

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TRẦN XUÂN ĐỀ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

Trang 2

Trong suốt quá trình học tập, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ những tấm lòng mà tôi trân trọng được tri ân:

Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy Cô khoa Ngữ Văn trường Đại học Đà Lạt, Đại học Sư Phạm Tp Hồ Chí Minh, Phòng KHCN-Sau ĐH đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nhất là thời gian thực hiện luận văn

Tôi thật sự biết ơn sâu sắc PGS Trần Xuân Đề, giảng viên trướng đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh , người hướng dẫn

luận văn

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, động

viên để tôi hoàn thành luận văn này

- -

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đình thụ bất tri nhân khứ tận Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa

(Cây xuân chẳng biết người đi hết Xuân tới hoa xưa vẫn nở đều) ( Sầm Tham, Sơn phòng xuân sự)

Có lẽ hai câu thơ trên của Sầm Tham, một trong những nhà thơ nổi tiếng phần nào đó là một hình ảnh khái quát cho sự bất tử của thơ Đường qua bao thăng trầm, qua bao biến thiên của thời đại và qua cả sự bào mòn nghiệt ngã của thời gian Bởi, cảnh sắc và tâm hồn Trung Hoa xưa đã đọng lại trong thơ Đường Và, sự tồn tại bền vững ấy trước hết là nhờ một cội rễ văn hóa lâu đời, là sự thấm nhuần những nguyên lý mĩ học Trung Hoa trong sáng tác:

huyền thoại chi âm, cam dƣ chi vị, ngôn ngoại chi ý Cái hay, cái đẹp của

nghệ thuật văn chương hầu như đều có chung một cội nguồn

Đến với thơ Đường không chỉ là đến với “sắc liễu bên bờ sông Dương

Tử, những cành mai đợi tuyết ở núi Cô Sơn, tiếng chuông chùa ở núi Hàn San, chòm mây trắng trên lầu Hoàng Hạc” hay “Ải Ngọc Môn gió xuân không bao giờ thổi tới, sông Hoàng Hà tuôn nước xuống tự trời cao” Mà đến với thơ Đường còn là những trăn trở rất riêng sau khi thưởng thức, khi ngẫm thấy và nhận thấy bao nhiêu nỗi niềm riêng tây, vi tế, những sóng ngầm của cõi lòng, những niệm thức đã bắt gặp sự giao hòa qua những vần thơ ấy Và

có lẽ, gạt qua tất cả những thủ pháp nghệ thuật, tất cả những kĩ xảo của một nền văn học đạt đến đỉnh cao trong đời sống tinh thần nhân loại, còn lại là sự tồn tại của một không gian tinh thần, không gian xuyên thấu mà ở đó con người (thi nhân và độc giả) ý thức được sự tồn tại của mình, không lu mờ,

Trang 4

không hòa lẫn, không là phát ngôn hay đại diện cho bất cứ điều gì khác ngoài tình cảm của con người

Trong cuộc sống bưng bít ở nông thôn thời trung đại dưới chế độ độc quyền phương Đông (absolutisme oriental – chữ dùng của Karl Marx), nhà

thơ – nhà nho khư khư ngồi giữ lấy “xóm cùng làng hẻm”, “lìa nhà mười dặm

đã bùi ngùi mưa gió hoa vàng, ở lữ thứ vài năm đã than thở quan hà đầu bạc” Bởi suy cho cùng, “nhà nho và người nông dân – hai nhân vật nông

thôn” khi ra khỏi không gian gia đình, làng-họ, không gian hương – tính, nhà nho- nhà thơ khi đỗ đạt, được bổ nhiệm làm quan và trong thời gian làm quan

có thể bị biếm trích, lưu lạc nơi chân trời góc bể, cầm quân ở chốn biên cương thì nỗi cô đơn, bơ vơ nơi đất khách quê hương, nỗi niềm hoài niệm về cố hương lại trở đi trở về đến nhức buốt, tái tê Tất cả những nỗi niềm ấy được gửi gắm vào những vần thơ bàng bạc sắc màu của không gian lữ thứ Vì, đối với nhà thơ trong tình cảnh như thế phải ra đi, phải rời xa làng - họ gia đình là

điều rất khó khăn, là chuyện đoạn trường

Có thể thấy, trong thế giới thơ Đường hiện hữu một lằn ranh vô hình

giữa hai không gian sáng tác của thi nhân thời đại hoàng kim của thơ ca

Trung Hoa: không gian gia đình, làng họ và không gian lữ thứ Và kiểu loại

không gian thứ hai, không gian lữ thứ lại là không gian rất đặc trưng cho thơ của nho sĩ-trí thức quan liêu Chỉ khi ở vào trong không gian lữ thứ, những

“thuộc tính cố hữu” của nhà thơ (vốn xuất thân từ nhà nho và có chịu ảnh hưởng của các luồng tư tưởng khác) mới bộc lộ một cách sắc nét, rõ ràng nhưng hữu tình và thấm đẫm màu tâm trạng Trong không gian bị bứng khỏi môi trường quen thuộc cũ, những cảm thức của một con người trí quân trạch dân, những khắc khoải mong sao muôn dân được sống trong “khoan, giản, an,

lạc”, mẫu người lí tưởng mà nhà thơ - nhà nho hướng đến là nội thánh ngoại

Trang 5

vương, tu kỉ trị nhân có dịp bộc lộ Con người xã hội với những trách nhiệm

của bản thân tác giả có một không gian tách biệt để suy tư, ngẫm ngợi, kiểm

chứng… Nếu không tồn tại trong không gian lữ thứ, những điều mà tác giả sở

kiến chỉ tồn tại trong không gian gia đình làng quê vốn được coi là gốc rễ bình

yên Và chỉ khi rời làng quê thì hàng loạt cảm xúc mới lạ mới chợt ùa về trong lòng thi nhân như lòng tư hương, cảm thức biệt ly, sự bình an khi trở về

với nguyên tâm của chính mình trên hành trình du lãm lấy thiên nhiên làm

bạn… mà có lẽ trong không gian thứ nhất những cung bậc cảm xúc ấy ngủ yên, che lấp

Hơn nữa, qua những bài thơ Đường được sáng tác trong không gian lữ thứ, người đọc còn cảm nhận được phong cách độc đáo không lặp lại của từng nhà thơ, sự tài tình trong việc xử lý các chi tiết, cách chọn đề tài, tìm thấy những bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ để rồi tự thấy rằng thiên nhiên trong trẻo

trong thơ Đường không còn là thực tại khách quan nữa mà là thực tại tâm lý,

thực tại ý niệm Đâu đó trong thơ, còn là những cá tính, những khát vọng bay

lên khỏi cuộc đời trần tục cùng những thất vọng bế tắc của các nhà thơ - ông quan trên mỗi bước đường hoạn lộ

Qua việc tìm hiểu không gian lữ thứ trong thơ Đường, phần nào đó những quan niệm tưởng chừng như rất xa với cuộc sống của con người hiện đại, tưởng chừng như đã nhạt nhòa phôi pha theo dòng chảy của thời gian: quan niệm về nhân cách con người-xuất phát điểm làm xuất hiện những đặc trưng văn hóa mĩ học, quan niệm về thế giới tự nhiên, quan niệm về xã hội và

vị trí của nhân cách trong cấu trúc ấy… có dịp được tái hiện Để qua đó, dù cảm để hiểu hay hiểu để cảm thì vẻ đẹp xưa của một thời cũng làm cho trái tim người đọc mềm lại, để những cung bậc cảm xúc lẩn khuất đâu đó có dịp

ùa về, để thấy sự tồn tại của mình trên cuộc đời là có ý nghĩa… Bởi đâu đó

Trang 6

phảng phất trong những bài thơ Đường qua không gian lữ thứ những tâm sự của mình đã được ai đó nói hộ bằng thơ và hơn nữa bằng cả một tấm lòng

Thơ Đường quả thật đã cất cánh trong không gian lữ thứ Và tất cả

những điều trình bày ở trên khiến chúng tôi chọn cho mình đề tài nghiên cứu

KHÔNG GIAN LỮ THỨ TRONG THƠ ĐƯỜNG

2 Lịch sử vấn đề

Sự phức tạp khi tìm hiểu thơ Đường có lẽ là điều không thể phủ nhận Không chỉ vì sự đa dạng của phong cách nhà thơ khi đội ngũ thi nhân được

mở rộng và lực lượng sáng tạo chủ đạo được thay đổi trong bối cảnh kinh tế -

xã hội Trung Quốc đạt đến đỉnh cao, bởi chính sách “dĩ thư thủ sĩ” (dùng thơ

để chọn người tài) và sự ái mộ đặc biệt của nhà vua và xã hội đối với thi nhân; không chỉ vì sự phản ánh các mặt sinh hoạt trong xã hội của thơ Đường được mở rộng hơn: khi các nhà thơ cúi xuống với nỗi đau của con người, đã nhìn thấu những chuyển biến mong manh trong tâm trạng con người trước những thời khắc đặc biệt, trước sự luân chuyển tưởng chừng rất vô tình của thiên nhiên vạn vật; không chỉ bởi sự đa dạng trong phong cách nghệ thuật cũng như các chi phái Điều này có thể giúp người đọc hiểu hơn vì sao có sự

phân chia thành bốn phái biên tái-điền viên-lãng mạn-hiện thực và bốn giai đoạn phát triển rực rỡ huy hoàng Sơ- Thịnh- Trung- Vãn Ngoài ra, hình thức

nghệ thuật của thơ ca được hoàn thiện trên cơ sở kế thừa và thăng hoa được

cái chân thật, mộc mạc của Kinh Thi, cái bay bổng và trang nhã của Sở từ, cái hào sảng của Hán nhạc phủ; là sự tự do tiếp nhận luồng gió tư tưởng Nho-

Phật-Lão, là sự xuyên thấu cùng các bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, vũ đạo, hội họa, thư pháp, điêu khắc… Tất cả những điều ấy đã làm nên một thời đại thơ ca hoàng kim rực rỡ không chỉ của Trung Hoa, mà còn của các nước trong khu vực văn học Đông Á thời trung đại và của toàn nhân loại yêu cái đẹp

Trang 7

Ở Việt Nam, việc tìm hiểu văn học nước ngoài không phải là việc tìm hiểu văn học lịch sử của các quốc gia đó mà là nghiên cứu về các đỉnh cao, các kiệt tác nghệ thuật theo cảm quan riêng của người Việt Thơ Đường của Trung Quốc cũng không là ngoại lệ Nhìn xuyên suốt các giai đoạn phát triển của văn học trung đại Việt Nam, ngoài sự thăng hoa của truyện thơ Nôm mà tiêu biểu là Truyện Kiều của Nguyễn Du, thơ chiếm một vị trí quan trọng

trong cảm quan thẩm mĩ của người Việt Vì thế, trong bối cảnh của một không

gian địa lý và không gian tâm lý đặc thù như thế, thơ Đường đã được người

đọc Việt Nam tiếp nhận sáng tạo không chỉ trên phương diện thưởng thức mà

cả trong lĩnh vực sáng tác Đến với thơ Đường không phải chỉ là một cuộc dạo chơi trong lúc trà dư tửu hậu, mà còn để nhìn thấy sự cấu tạo và bản chất của cái đẹp

Cho đến nay, những công trình nghiên cứu thơ Đường bao gồm nghiên cứu thơ Đường như một bộ phận rực rỡ về thi ca của văn học sử Trung Hoa hoặc nghiên cứu những tác giả nổi tiếng của Đường thi hoặc nghiên cứu một bài thơ hay một chùm các bài thơ về một đề tài nhiều không kể xiết Trải dài theo dòng chảy của văn học dưới sự biến thiên của thời gian, cách hiểu thơ Đường của các nhà thơ, nhà nghiên cứu xưa thông qua cách cảm, bình

giảng, khám phá thần sắc, phong cốt, hứng tượng của thơ Đường Bên cạnh

đó, việc dịch thơ Đường ra thơ Việt là một cách hiểu và thẩm định độc đáo nội dung và nghệ thuật Đường thi, là dịp mà thơ Việt và thơ Đường giao hòa, vượt thắng lẫn nhau, rất hữu ích và thú vị Điểm đặc trưng là qua cảm quan thẩm mĩ mang màu sắc trực quan của các nhà thơ, nhà nghiên cứu Việt Nam, thơ Đường được tìm hiểu, khám phá ở mức độ tác phẩm Và cuối thế kỉ XIX,

vua Tự Đức đã nhận xét thơ Đường một cách chủ quan, vu khoát, rằng “thi

đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường” (thơ ở Việt Nam đến Tùng Thiện Vương,

Tuy Lý Vương thì thơ Thịnh Đường không bằng)

Trang 8

Thế kỷ XX đánh dấu sự bùng nổ của các phương pháp và lý thuyết nghiên cứu văn học mở ra nhiều hướng tiếp cận thơ Đường mới cho các nhà nghiên cứu Việt Nam Dưới góc độ tiếp nhận, bên cạnh sự tiếp xúc trực tiếp với thơ Đường trên sự tương đồng văn hóa - văn học của các nước Đông Á; không dừng lại ở mức độ bình giảng trực cảm các bài thơ riêng lẻ, các học giả và dịch giả Việt Nam đã đón nhận, chuyển ngữ rất nhiều các công trình nghiên cứu văn học Trung Quốc trong đó có thơ Đường Những công trình nghiên cứu thơ Đường ở các nước phương Tây nơi có ngành Đông Phương học phát triển và đạt những thành tựu rực rỡ như Nga, Pháp, Anh, Mĩ… không những cung cấp cho các nhà nghiên cứu Việt Nam những cách tiếp cận mới mà còn

mở rộng biên độ cảm nhận thơ Đường

Đó là những tiền đề quan trọng trong việc tìm hiểu và tri nhận một không gian đặc biệt trong thơ Đường-không gian lữ thứ

Và một trong những đề tài lớn của thơ Đường được đề cập là thơ tiễn

biệt, thơ biên tái và thơ sơn thủy- nơi mà không gian nghệ thuật đậm sắc màu

của không gian lữ thứ Nhưng đối với các bài thơ thuộc mảng đề tài này, các

sách tham khảo và các giáo trình văn học Trung Quốc (Lịch sử văn học Trung

Quốc tập 1 do Nxb Giáo dục phát hành, Văn học sử Trung Quốc tập 2 của

Nxb Phụ nữ, giáo trình Văn học sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê, Phạm

Thế Ngũ, Trần Xuân Đề…) cùng các tuyển tập trích dẫn thơ Đường hiện có ở Việt Nam qua góc nhìn văn hóa đều không đề cập trực diện đến không gian lữ thứ trong các bài thơ Đường Điều duy nhất mà người đọc có thể cảm thấy một không gian nghệ thuật riêng biệt mà qua đó các tác giả gửi gắm tâm trạng

của mình là sự xuất hiện trở đi trở lại của các cụm từ : sầu lữ thứ, sầu tư

hương cố quận, sầu biệt ly, hoài niệm

Trang 9

Sau này, khi yêu cầu chuyên sâu được đặt ra, một số tác phẩm nghiên cứu chuyên biệt về các tác giả nổi tiếng như Vương Duy, Lí Bạch, Đỗ Phủ… cũng

ít nhiều đề cập đến không gian lữ thứ trong các bài thơ của các tác giả trên nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ cảm nhận, chưa xuất hện sự phân lớp, đối chiếu để tìm ra sự khác biệt, độc đáo trong cách cảm nhận không gian lữ thứ của các nhà thơ Điều đặc biệt hơn nữa, qua cảm quan văn hóa phương Đông, hầu hết các bài thơ Đường đều đề cập đến không gian lữ thứ: không gian chia

xa, tiễn biệt, lưu đày, biếm trích, du lãm… Nhưng những nhận định về không gian lữ thứ lại không nhiều, nếu có chỉ là ở mức khái quát chứ chưa đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu Tuy nhiên, nguyên nhân của hiện tượng này (không gian lữ thứ không được đề cập một cách trực diện) có nguồn gốc văn hóa sâu

xa vì thiên nhiên, không gian vũ trụ qua con mắt chủ toàn đã trở thành một người bạn tri kỉ đối với các nhà thơ và trở về với thiên nhiên là sự trở về với chính mình Ở đây, không gian văn hóa đã gặp gỡ với không gian nghệ thuật (không gian lữ thứ) tạo nên một sắc màu văn hóa rất đặc trưng của thơ Đường

như Lâm Ngữ Đường đã nhận xét: thơ là tôn giáo, là nhân sinh quan của

người Trung Hoa

Qua góc nhìn của phương pháp so sánh và lý thuyết liên văn bản (intertextuality), hầu như chưa có một công trình nào tiến hành đối chiếu và

so sánh để tìm ra điểm tương đồng và khác biệt trong không gian lữ thứ của Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ… các nước phương Đông và xa hơn nữa là các nước phương Tây Ở Việt Nam, các yếu tố nghệ thuật của thơ Đường xuất hiện dưới dạng những nhận định riêng lẻ về mối liên hệ so sánh giữa hai nước đồng văn Việt Nam – Trung Quốc qua các bài viết của Trần

Nho Thìn (Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa), Cao Xuân Huy (Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu), Phương Lựu (Văn hóa, văn học Trung Quốc cùng một số liên hệ ở Việt Nam ), Lê Thị

Trang 10

Thanh Tâm (Nghiên cứu so sánh thơ thiền Lý Trần và thơ thiền Đường Tống

– luận án tiến sĩ), Nguyễn Khắc Phi, Đoàn Lê Giang, Đoàn Hương, Trần Ngọc Vương, Phan Ngọc, Nguyễn Tuyết Hạnh… vì một mục đích khác: giải thích rõ hơn những tồn nghi trong văn học sử Việt Nam Nhưng tất cả những nhận định ấy đã trở thành gợi ý quý báu cho người viết trong quá trình thực hiện đề tài

Các tư liệu viết về thơ Đường và có liên quan đến thơ Đường rất nhiều tuy nhiên những tư liệu trực tiếp liên quan đến không gian lữ thứ thì rất ít ỏi một phần do tính chuyên sâu của đề tài Trong những năm gần đây, thành tựu của phương pháp nghiên cứu văn học bằng ánh sáng thi pháp học đã đem lại những khám phá, phát hiện đầy thú vị về thơ Đường trong đó ít nhiều có đề cập đến không gian lữ thứ Điển hình đó là sự xuất hiện của hàng loạt các

công trình nghiên cứu về không gian nghệ thuật, Về thi pháp thơ Đường của Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử; Thi pháp thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải; Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường của Nguyễn Sĩ Đại; luận án tiến sĩ về Tứ tuyệt Lí Bạch của Phạm Hải Anh; Thơ sơn thủy cổ

đại Trung Quốc của Trần Trung Hỷ, Thi pháp thơ Đường của Lương Duy

Thứ, lời mở đầu tác phẩm Giai thoại thơ Đường của Cao Tự Thanh…

Điểm nổi bật của cách nghiên cứu thi pháp học của các tác giả trên là đã

nhìn nhận không gian thơ Đường trong đó có không gian lữ thứ như một dấu

ấn mang đặc trưng thẩm mĩ-nghệ thuật đặc biệt của thơ Đường, đã bước đầu

nhìn nhận không gian lữ thứ là một mã riêng như một chìa khóa để mở cửa

vào thế giới nghệ thuật của thơ Đường Từ đây, qua góc nhìn thi pháp học các

nhà nghiên cứu đã đưa ra những nhận định mang tính gợi mở như không gian

tống biệt cũng là không gian vũ trụ (Nguyễn Thị Bích Hải), không gian du

lãm đã làm nên một phong cách riêng trong thơ tứ tuyệt Lí Bạch từ đó góp

Trang 11

phần củng cố địa vị Thi Tiên của ông ( Phạm Hải Anh) … Không chỉ dừng lại

ở mức độ nhận định, các nhà nghiên cứu còn tiến hành một loạt các thao tác cao hơn: sử dụng, phân tích hàng loạt các thủ pháp nghệ thuật để minh chứng

một điều: xây dựng và cảm nhận không gian lữ thứ trong thơ cần phải có một

thứ ngôn ngữ riêng của nó

Thi pháp học đã cấp cho các nhà nghiên cứu một cái nhìn mới Điển hình là cách nhìn nhận của Francois Cheng – nhà kí hiệu học Pháp gốc Trung Quốc với cách phân chia bố cục một bài thơ Đường thành 2/4/2 trong đó hai

câu đầu và hai câu cuối trật tự thời gian chiếm chủ đạo và bốn câu giữa trật

tự không gian lại chiếm vị trí chủ đạo cũng là một sự gợi ý thú vị để người

viết tìm hiểu về không gian lữ thứ Tuy nhiên, như nhà nghiên cứu Cao Tự

Thanh đã nhận định: thi pháp cũng chỉ là một trong ba chiều làm nên không

gian thơ Đường Đời sống của thi nhân và quá trình sáng tác phổ biến, thưởng thức tác phẩm của họ là hai chiều còn lại [57,tr.16] Nghĩa là môi

trường văn hóa và quá trình tìm hiểu thơ Đường kết hợp với thi pháp mới có thể “phục nguyên” được không gian lữ thứ trong thơ Đường

Tóm lại, trong quá trình thu thập và xử lý tư liệu có liên quan đến nội dung của đề tài, người viết có một vài suy nghĩ:

Trước hết, những nhận định về không gian lữ thứ trong thơ Đường tồn tại rải rác, không trực diện Hầu như không xuất hiện một nhận định nào có thể khái quát những nét cơ bản về không gian lữ thứ Nhưng trên hết, tất cả các nhận định ấy dù riêng lẻ nhưng đối với người viết chúng có một ý nghĩa vô

cùng quan trọng: tất cả những nhận định đấy đều chứng minh cho sự tồn tại của một không gian lữ thứ trong thơ Đường và tạo một tiền đề cơ bản để

người viết triển khai các luận điểm của mình trong các chương của luận văn

Trang 12

Sau nữa, do tính chất tập trung chuyên sâu vào một vấn đề cơ bản của luận văn nên dù tài liệu nghiên cứu về thơ Đường (ngoài những nhận định về không gian lữ thứ) khá nhiều nhưng người viết chỉ tập trung vào những tài

liệu góp phần làm nổi bật nhận định: không gian lữ thứ là một không gian mang tính nghệ thuật thẩm mĩ đặc biệt trong rất nhiều các kiểu dạng không

gian nghệ thuật độc đáo của thơ Đường

Và không gian trong thơ Đường là không gian mang nhiều sức gợi

Bởi đặc điểm chung nhất của thơ Đường là “trọng tình” với bút pháp cơ bản

là “nhập thần”, không theo đuổi sự tái hiện diện mạo mà biểu hiện cái thần của cảnh tượng thiên nhiên [29,tr.62] Trong thời gian thực hiện đề tài, người

viết nhận thấy không gian lữ thứ cũng là sự thể nghiệm, cụ thể hóa những đặc điểm ấy và chính điều này đã tạo nên một bản sắc vừa đa dạng nhưng cũng vừa thống nhất trong phong cách của các nhà thơ

Sự chuyển hóa đa dạng của các dạng thức trong không gian lữ thứ đòi

hỏi một sự nhận đồng (identity) - một sự chia sẻ, đồng cảm mang tính văn

hóa và chấp nhận tính tương đối của sự vật Và ở những lằn ranh của những

dạng thức ấy, không gian lữ thứ có tính đa trị Chính tính đa trị ấy giúp cho

không gian lữ thứ của thơ Đường bất tử với thời gian Vì ở mỗi thời đại nhất định, một (hoặc nhiều) khía cạnh và phương diện của không gian lữ thứ ấy trở nên đặc biệt hơn Và dưới ánh sáng bổ trợ của các ngành khoa học-nghệ thuật khác, không gian lữ thứ sẽ hiển lộ những vẻ đẹp mới, sức sống mới phù hợp với xu hướng thẩm mĩ và tầm đón nhận của bạn đọc

Đến với thế giới thơ Đường sẽ là đến với một thế giới quen mà lạ, lạ

mà quen Quen bởi những lợi thế trong cách cảm nhận của người Việt về thơ Đường và lạ bởi đó là một vườn hoa mênh mông đầy sắc màu mà cả cuộc đời của một con người khó có thể chiêm ngưỡng đến tận cùng vườn hoa đó

Trang 13

Không gian lữ thứ trong thơ Đường được triển khai trên cơ sở kế thừa và mở

rộng dựa trên tất cả những thành tựu nghiên cứu về Đường thi của các bậc tiền bối và cũng là một cách để thưởng lãm vẻ đẹp rất riêng của vườn hoa muôn hồng nghìn tía ấy

3 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp được lựa chọn để thực hiện và triển khai đề tài bao gồm:

-Phương pháp loại hình -Phương pháp nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa -Phương pháp thi pháp học

Ngoài ra, với mục đích khảo sát đối tượng, các thao tác so sánh, phân tích, tổng hợp, nêu vấn đề… cũng được sử dụng

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục (bao gồm tên các bài thơ được trích dẫn trong luận văn và một số hình ảnh minh họa), luận văn có ba chương:

Chương 1 Không gian lữ thứ từ những góc nhìn

Chương 2 Nhận chân những nét đặc biệt của không gian lữ thứ

Chương 3 Vẻ đẹp và những sắc độ của không gian lữ thứ

Trang 14

Chương 1

KHÔNG GIAN LỮ THỨ TỪ NHỮNG GÓC NHÌN

Có lẽ, một trong những ưu thế của “mắt thơ” là luôn đặt cuộc đời trong góc nhìn đa chiều, đa diện; là cảm thấu sự phức tạp, phong phú của chiều sâu những cung bậc cảm xúc; là sự khát khao khám phá và nhìn nhận thân phận con người với tất cả vẻ đẹp tiềm ẩn lung linh, huyền ảo của nó Thế mạnh của văn chương là sự hiểu thấu những góc khuất của con người bằng cảm xúc, bằng trái tim Và với khát khao ấy, một khi những thành tựu mới, những bước tiến trong nghiên cứu văn học xuất hiện, “mắt thơ” luôn đón nhận nó bằng tấm lòng tri kỷ vì đó cũng là những nẻo đường mới để đến với thế giới thơ ca,

để thấy đâu đó chính con người mình trong những dòng trắng, trong sự chuyển dịch của con chữ Đó là một cái nhìn đầy tính nhân văn của văn chương đối với cuộc đời, đối với con người Vì thế, không gian lữ thứ trong thơ Đường cũng sẽ được hình dung trong một cảm quan như thế: một cảm quan đầy màu sắc, đầy cảm xúc

không dễ dàng Phải chăng không gian lữ thứ trong thơ Đường là cái không

gian mà độc giả cảm nhận được khi đọc những bài thơ do các thi nhân đương

Trang 15

thời sáng tác trong không gian xa quê: nơi những nhà thơ trị nhậm với tư

cách mệnh quan triều đình, trên đường nhà thơ đi đến nơi bị biếm trích, các thi nhân trên đường chạy loạn, tại những địa điểm nhà thơ bị biếm trích, thậm chí ở trong tù và cả những nơi thi nhân du lãm, khi tiễn biệt tri kỉ trước khi dấn thân trên chốn đường xa mịt mù mà không biết ngày tái ngộ?

Không gian trong thơ Đường là một không gian đậm chất phương Đông thiên về gợi nhiều hơn tả Và chính yếu tố này khi gặp trí tưởng tượng của độc giả đã giúp hình dung ra những bức tranh khác biệt trên nền một cảnh sắc chung Nhưng dưới góc độ loại hình, không gian trong thơ Đường có thể

hình dung thành hai loại lớn: không gian lữ thứ và không gian gia đình hàng

họ, không gian hương tính Có lẽ, nhận định nhà nho và người nông dân-hai

nhân vật nông thôn không chỉ đúng với Việt Nam mà còn đúng với các nước đồng văn Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên Việc hình dung không gian lữ thứ trong thế đối chiếu so sánh với không gian hương tính, làng họ giúp nêu bật những đặc trưng của hai kiểu không gian này Một bên là không gian của

sự bình yên, của gốc rễ, của sự tĩnh tâm; một bên là không gian với những sự xao động, của những sự khám phá, của những điều “sở kiến”, “tận mục sở thị”, của quá trình trải nghiệm, chiêm nghiệm và chứng nghiệm của nhà thơ Chỉ khi, phải đặt trong cảnh “đoạn trường”- phải đi xa, người đọc mới cảm nhận được đủ đầy những xáo động trong tâm trạng của nhà thơ:

Tạc dạ nhàn đàm mộng lạc hoa, Khả liên xuân bán bất hoàn gia

(Đêm qua trên đầm vắng mơ thấy hoa rơi Thương thay nửa xuân rồi mà chưa trở về nhà) (Trương Nhược Hư, Xuân giang hoa nguyệt dạ) Phải chăng cái cảm giác cô liêu, trống vắng, bơ vơ nơi đất khách đã làm nên một “đêm hoa trăng trên sông xuân” vốn chất chứa nỗi nhớ của

Trang 16

người du tử đối với người khuê phụ trở thành một bài thơ trữ tình nổi tiếng, trở thành “cô thiên hoành tuyệt, cánh vi đại gia” (chỉ một thiên tuyệt diệu, đủ xứng đáng là đại gia - nhận xét của nhà nghiên cứu văn học đời Thanh Vương Khải Vận)? Và phải chăng, chỉ có nơi đất khách ấy nhìn về quê nhà trong đêm trăng vắng lặng đến mức nghe được tiếng cá quẫy thì hình ảnh “ai ở lầu trăng nhớ chốn nào?” (Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu?) mới trở nên da diết, nhức nhối trong lòng người đi lẫn kẻ ở, trong lòng thi nhân lẫn độc giả?

Trong khi đó, những phút giây bình yên ngắn ngủi bên gia đình, bên những gì thân thuộc hiếm hoi trong cuộc đời đầy biến động đã đem đến cho

Đỗ Phủ cái cảm giác tri túc:

Thanh giang nhất khúc bão thôn lưu

Trường hạ giang thôn sự sự u

Tù khứ tự lai lương thượng yến

Tương thân tương cận thủy trung âu

Lão thê họa chỉ vi kì cục

Trí tử xao châm tác điếu câu

Đa bệnh sở tu duy dược vật

Vi khu thử ngoại phục hà cầu?

Thanh giang một dải nước bao quanh Dằng dặc ngày hè xóm vắng tanh

Lũ én ra vào trên mái rạ Đàn âu quen biết giữa sông xanh

Kẻ bàn cờ giấy cùng bu nó Uốn lưỡi kim câu với trẻ ranh

Ốm mãi cũng nên quen vị thuốc Thân hèn đâu tưởng chuyện công danh (Đỗ Phủ, Thanh giang)

Có thể thấy sự khác biệt cơ bản về phong vị thơ ở hai không gian khác nhau Trong không gian hương tính, nhà thơ được sự trợ giúp về mọi mặt của gia đình, làng họ; thơ Đường được trứ tác trong hoàn cảnh đó không thể hiện nỗi cô đơn của thi nhân, không bày tỏ nỗi ca thán chính sự, sự đau khổ cùng cực của dân chúng, không mô tả những khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, hoành tráng, không thể hiện một cách ấn tượng sự hòa hợp của con người với trời đất, vũ trụ Và vì thế, sự xuất hiện và tồn tại của không gian lữ thứ đã mang lại những sắc thái mới cho thơ Đường Những sắc thái mới ấy không

Trang 17

chỉ làm nội dung thơ Đường trở thành một bức tranh toàn bích, mà còn kéo theo sự xuất hiện hàng loạt các phép sử dụng từ, các biện pháp tu từ Đến lượt mình, các biện pháp nghệ thuật ấy lại khơi mở trong lòng người đọc những

phát hiện thú vị: các “pháp” này cho thấy người Trung Quốc xưa thường

dùng con mắt hội họa hoặc con mắt không gian để hình dung ra nghệ thuật ngôn từ [52,tr.15]

Như vậy, thơ Đường hiện hữu một lằn ranh giữa những bài thơ được

viết hai không gian khác biệt Nhưng khái niệm lằn ranh này lại khơi gợi trong lòng người viết rất nhiều suy ngẫm Trước hết, ranh giới vô hình giữa hai không gian thơ có tính chất khu biệt để thấy được sự sáng tạo, tài năng, phong cách, giọng điệu của từng nhà văn trong mỗi không gian riêng biệt, để

từ đó thơ Đường không chỉ là tinh hoa mẫn tuệ của ngôn ngữ trực quan mà

còn là một kiến trúc đầy âm vang (chữ dùng của Đỗ Đức Hiểu) Sau nữa, sự

tồn tại của lằn ranh ấy không vô tình, hờ hững, lạnh lùng bởi nó không làm tách bạch rạch ròi hai khoảng không trong sáng tác đó Bản thân của lằn ranh

ấy đã chấp nhập sự giao thoa, chấp nhận sự tương thông và tương hợp của hai

kiểu không gian Chính sự giao thoa ấy thơ Đường đã làm mới mình trong cách cảm nhận của người đọc Dòng chảy của lịch sử nghiên cứu thơ Đường

vì thế luôn luôn bất tận, vì lịch sử văn hóa không chỉ là lịch sử sáng tạo ra

sản phẩm mới, mà còn là lịch sử giải thích mới các hiện tượng đã biết

Trang 18

lại mang vẻ đẹp trầm mặc, cổ kính: vẻ đẹp của mưa buổi sáng như một làn bụi

nhẹ làm cho sắc lá xanh càng xanh thêm (Mưa mai thấm bụi Vị thành/ Liễu bên quán trọ sắc xanh ngời ngời), của khói sóng trên sông trong một buổi chiều hoài cố về quê cũ (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai), của một tiếng chim kêu lanh lảnh trong khe núi mùa

kêu thảng thốt, lẻ loi trong đêm và cái nỗi sầu len vào giấc ngủ chập chờn của hàng cây phong đối diện với ánh lửa chài (Trăng tà chiếc quạ kêu sương / Lửa

chài cây bến sầu vương giấc hồ)…

Không gian lữ thứ với tư cách là một hình tượng nghệ thuật đã góp phần làm nên vẻ đẹp của Đường thi Không gian lữ thứ không chỉ nắm bắt sự

cảm nhận những sắc thái riêng biệt của không gian địa lý và không gian tâm

lý như những vô thức tập thể của dân tộc Trung Hoa Sự nắm bắt này đã làm

cho thơ Đường Trung Hoa khác biệt với lục bát Việt Nam, với Haikư của

Nhật Bản Không gian lữ thứ còn là sự giao hòa của không gian sự kiện,

không gian bối cảnh, không gian tâm lý và cả không gian kể chuyện Sự song

hành của những kiểu không gian này đã làm nên những tên tuổi đỉnh cao như thi tiên Lí Bạch, thi thánh Đỗ Phủ, thi Phật Vương Duy, thi quỷ Lý Hạ và rất nhiều nhà thơ được bao thế hệ bạn đọc yêu mến

1.2 Góc nhìn chủ thể sáng tạo - nhân vật trữ tình

Một trong những điểm nhìn đặc biệt để cảm nhận không gian trong tác phẩm là đặt mình vào vị trí tác giả Chính tác giả sẽ là người hiểu rõ hơn ai hết về không gian mà mình cảm thụ, xây dựng và thể hiện nó trong tác phẩm của mình Và không gian ấy đã góp phần hình thành nên phong cách riêng của từng nhà văn nhà thơ, góp phần thể hiện một thế giới quan độc đáo khó lẫn của từng tác giả Trong thơ trữ tình, một thể loại đặc biệt của văn học,

Trang 19

trong đó có thơ Đường, sự gặp gỡ của chủ thể sáng tạo - tác giả bài thơ với nhân vật trữ tình trong tác phẩm là điều không thể phủ nhận Bởi thơ là để gửi gắm nỗi lòng, là để kí thác tâm sự Bản chất của thơ ca là thể hiện đời sống nội tâm của nghệ sĩ Không gian lữ thứ cũng góp phần thể hiện đời sống nội

tâm với nhiều sự dao động ấy Vì một trong những động lực sáng tạo của nhà

thơ chắc chắn là cái nhu cầu tự cảm thấy mình có vai trò cốt yếu đối với thế giới Khi tự cảm thấy mình nhƣ thế, với nghệ sĩ, viết là một hành động sáng tạo, một “cuộc chơi” có nghĩa lý, một “dấn thân” thực sự về tinh thần

[13,tr.14]

Dưới góc độ là những số phận người đã phải trải qua chuyện đoạn trường, phải đi xa, phải dán thân vào một miền đất lạ nơi đất khách quê người, nơi miền quan ải mà ngọn gió xuân không bao giờ thổi tới, không gian

lữ thứ đã được các nhà thơ cảm nhận tất cả độ nét của nó Vì thế, trong thơ của các thi nhân không gian lữ thứ luôn xuất hiện ở một trong hai dạng thức:

không gian lữ thứ thực và không gian lữ thứ ảo hay không gian lữ thứ gián cách

Không gian lữ thứ thực là không gian mà tác giả “trực tiếp” thuộc về

nó Sống và đắm chìm trong dạng thức đó, trực tiếp phát sinh những tình cảm sâu sắc nhưng đầy màu sắc cá nhân của từng tác giả Nói cách khác, với vai trò là một lữ khách, một chinh nhân, một du tử, con người của nhà thơ đã bộc

lộ rất nhiều những đặc tính mà trong môi trường yên ổn của không gian gia đình làng họ khó có cơ hội bộc lộ Quay cuồng với những ràng buộc, những trọng trách mà con người phải gánh trong cuộc đời thực, cái Tôi nhà thơ chỉ

có cơ hội thể hiện trong những môi trường đặc biệt: một mình, cô độc Và, không gian lữ thứ là chất xúc tác tuyệt vời cho những cung bậc cảm xúc trong tâm hồn thi nhân được gửi gắm vào thơ Từ dạng thức không gian ấy, rất

Trang 20

nhiều cung bậc tình cảm cảm xúc đã được gọi thành tên: lòng hoài niệm, sầu

li biệt, sầu lữ thứ, sầu tư hương Và từ những tình cảm đã gọi thành tên đó, nhà thơ đã đưa người đọc về lại cái thực tế hiện hữu của từng con người: nỗi buồn

Ở vào một thực tại phũ phàng là phải xa quê: lên đường nhậm chức, tri nhiệm, trấn áp vùng biên cương, đi theo tiếng gọi trách nhiệm của một nhà nho- ông quan chân chính thể hiện được khát vọng vẫy vùng thỏa chí bình sinh, hay những lúc sa cơ lỡ vận của người anh hùng mạt lộ bị biếm trích, bị đày ải, hay những phút giây bình yên với chính mình trên con đường du lãm, thi nhân luôn sống thực với chính mình, và thơ đã trở thành bầu bạn của nhà thơ để chia sẻ những khoảnh khắc “đoạn trường” đó Cho dù sự xa quê là lựa chọn của thi nhân, nhưng sự lựa chọn nào cũng phải trả giá: đằng sau tất cả những trách nhiệm đó là hình bóng quê nhà Quê nhà luôn là hình bóng muôn thuở, luôn ngự trị vĩnh hằng trong tâm khảm của mỗi người con xa quê Tình cảm quê hương hay nỗi lòng của chinh nhân, lữ khách đã có từ trước Nhưng nỗi lòng lữ thứ của thi nhân trong thơ Đường không phải chỉ là người thất cơ

lỡ vận Mà trong dạng thức của không gian lữ thứ, nhà thơ còn khắc khoải đi tìm một cái gì đó rất riêng thuộc về tinh thần, nhằm phát hiện và trả lời cho những băn khoăn mang tính triết học: Ta là ai? Ta từ đâu tới? Và ta sẽ đi về

đâu trong thế giới này? Vì vậy, quê hương trong tình cảm của thi nhân không

còn là nơi chôn rau cắt rốn nữa Nó là một cái gì đó lớn hơn, không chỉ ở phía sau với nỗi hoài hương nguồn cội mà ở đâu đó xa vời phía trước

[10,tr.50]

Chỉ trong không gian lữ thứ trực tiếp và cụ thể hơn là trong sự đối lập

có phần nghiệt ngã với không gian hương tính mà hình ảnh quê nhà luôn là một cái gì đó khiến thi nhân nhức nhối Nhức nhối không hẳn chỉ vì con

Trang 21

người nhà thơ bị bứng ra khỏi môi trường quen thuộc xa bạn bè tri kỉ, xa những gì tưởng chừng đã thuộc về mình, không hẳn vì chốn mới sẽ đến không bình yên, mà nhức nhối như một cách nhắc nhở, như một cách tự an ủi mình của thi nhân rằng mình vẫn còn một chốn đi về, còn một nơi để mà nhớ, để

mà day dứt khi gặp những vật gợi nhắc trong không gian: một cành cúc vào thu, một li rượu lúc tiễn biệt, một cành liễu ven đường, một vầng trăng cô đơn

trên không tịch mịch Bởi chỉ có kí ức mới hội nhập được cuộc sống (Macxen

Prux) Và chỉ khi tồn tại trong cái không gian lữ thứ cùng chân đó, cùng giãi bày nỗi lòng khi đày ải mà tâm sự của Tư Không Đồ và Vương Duy mới khác nhau một trời một vực:

Suy mấn thiên thành tuyết

Tha hương nhất thụ hoa

Kim triêu dữ quân túy

Vong khước tại Trường Sa

Tóc bạc nghìn sợi tuyết Quê người một khóm hoa Sáng nay say với bác Quên bẵng tại Trường Sa (Tư Không Đồ, Ngoạn hoa dữ Vệ Tương đồng túy)

Độc tại dị hương vi dị khách,

Mỗi phùng giai tiết bội tư thân

Dao tri huynh đệ đăng cao xứ,

Biến sáp thù du thiểu nhất nhân

Đất lạ đơn côi làm khách lạ Mỗi lần tiết đẹp nhớ nhà hoài Vẫn hay huynh đệ lên cao đấy Đều cắm thù du thiếu một người (Vương Duy, Cửu nhật cửu nguyệt ức Đông Sơn huynh đệ)

Nếu Tư Không Đồ sử dụng lối nói bi kịch ẩn kín nỗi đau của mình

trong cái say muốn quên mà người đọc vẫn đọc ra cái ý không bao giờ quên được bởi cố quên thì càng nhớ, Vương Duy lại ý thức sự trống vắng, cô đơn

từ cả hai phía: kẻ đi và người ở khi làm thân khách nơi xứ lạ trong ngày tết cửu trùng Cái không gian xa xứ ấy, cùng với sự luân chuyển của thời gian trong những hoàn cảnh đặc biệt: nhìn một khóm cúc nở hoa trên đất người,

Trang 22

bùi ngùi xa xứ trong tiết cửu trùng đã làm nên tâm trạng khắc khoải, day dứt khôn nguôi, làm nên những vần thơ tứ tuyệt lay động lòng người

Không sống trong không gian lữ thứ, không phát huy hết nguyên tâm của mình thì Lí Bạch – một thi nhân “nhất sinh hiếu nhập danh sơn du” (suốt

đời thích chơi ở nơi núi non nổi tiếng) khó có thể viết được bài thơ “Tặng nội” thể hiện suy nghĩ sâu kín nhất, chân thật với trái tim nhà thơ nhất về người vợ của mình:

Tự thán mình cả năm làm con sâu rượu, lại so sánh mình với Chu Trạch không biết nghĩ tới thân phận của vợ, Lí Bạch quả đã viết một bài thơ

sám hối dành cho Lí Bạch phu nhân với bằng cả tấm lòng chân thật của mình

Như vậy trong không gian lữ thứ thực – không gian đã từng chiếm một phần đời của nhà thơ, không còn là một không gian vật lý đơn thuần để phát

triển sở kiến, sở văn, làm cho những điều trông thấy trở nên rộng, sâu, mới so

với những gì nghe, thấy trong không gian gia đình, làng họ nữa mà đã trở thành một không gian nghệ thuật với rất nhiều điểm nhấn Ở đó, nhà thơ với

tư cách là chủ thể sáng tạo đồng thời là nhân vật trữ tình đã suy tư, trải lòng, đối diện với chính mình để tìm kiếm và nhìn thấy một tha nhân, một người khác trong chính con người mình Từ đây, những khát khao được nói lên tiếng nói của chính con người bên trong được thể hiện qua nhiều bình diện:

Thơ thuật hoài hoặc có tính chất thuật hoài;

Trang 23

Thơ thể hiện cuộc sống của nhân dân bị trị, cuộc sống của giới thống trị xã hội và những bình luận phê phán chính sự;

Thơ tống biệt và thơ thể hiện tình bạn giữa các thi nhân;

Gia đình quê hương trong thơ viết ở lữ thứ;

Thơ thiên nhiên trên đường lữ thứ;

Thơ về thời gian trôi nhanh, cái già đến mau trên đầu thi nhân;

Thơ viết theo quan niệm “thi duyên tình”;

Thơ viết về những sở thích cá nhân

Và từ sự nếm trải, cảm nhận những thay đổi lớn lao, những xáo trộn mạnh mẽ trong tâm hồn mà nhà thơ trở nên nhạy cảm với những chuyến đi,

với khát khao trở về và đoàn tụ Những điều đó đã trở thành những ngấn tích

tâm lý Cảm giác cô đơn, cầu mong sự chia sẻ, nhận thấy rất nhanh những

thay đổi của thân phận con người trong cõi bụi trần đã khiến nhà thơ khắc khoải, nhức nhối trong miền kí ức của mình Từ đây, xuất phát từ không gian

lữ thứ thực đã hình thành nên một không gian khác: không gian lữ thứ ảo – không gian lữ thứ gián cách

Ở dạng thức không gian này, chủ thể sáng tạo nhà thơ đôi khi không đồng nhất với nhân vật trữ tình trong tác phẩm Cũng từng có những tháng ngày lưu lạc xa quê, trước những cảnh chia xa, dường như những ngấn tích tâm lý xưa kia như lớp tro tàn phủ trên ngọn lửa vẫn cháy âm ỉ được thổi bùng, làm sống lại hoặc ít nhiều gợi nhắc đến những tháng ngày đã xa Không gian lữ thứ ảo có khi là không gian trong một khoảnh khắc, một nát sa thi nhân chợt thấy những gì mình trải qua, những điều mình ngỡ như xa lạ trên

Trang 24

“dặm đường gió cuốn chinh an” lại trở thành một phần con người mình Dạng thức không gian ấy có khi lại là cái không gian mà tác giả hóa thân vào người

bạn của mình trong cuộc đưa tiễn để nhìn thấy trước mắt một khoảng không

xa lạ Sự phân thân ấy vừa thể hiện sự chia sẻ với người bạn trên bước đường bắt đầu một cuộc hành trình dấn thân vào chốn xa lạ, mù mịt không hẹn ngày tái ngộ đồng thời cũng bộc lộ những cảm quan của chính nhà thơ qua sự hình dung về một không gian xa xôi ấy Không gian lữ thứ ở đây là không gian của cành liễu lúc đưa tiễn, không gian của những điệu nhạc chia xa … Và chính dạng thức không gian này đã trở thành người bạn thứ ba vô hình nhưng hữu tình chia sẻ những cảm xúc của người đi và kẻ ở Tình bạn, tình tri kỉ, nỗi lòng được kí thác, được gởi gắm vào không gian lữ thứ hình thành nên chiều thứ năm của không gian, bên cạnh bốn chiều cơ bản vốn có của nó Và đây cũng là một nét đặc biệt của không gian lữ thứ

Ở không gian lữ thứ ảo nhà thơ cũng nhìn mình như một người khác –

người khách trên con đường lữ thứ Với tư cách đó, nhà thơ không chỉ hướng

người đọc vào một miền lý tưởng, hoài bão trong tâm tư, mà còn hướng người đọc vào vị thế, địa vị, cảnh ngộ của chính mình trong thế giới Cái họ muốn khêu gợi đồng cảm không chỉ là cảm xúc của họ, tâm trạng của họ, mà chủ yếu là cảnh ngộ của họ, vị thế họ, tình cảm mà họ thể nghiệm [52,tr.154]

Vì thế, nỗi buồn song trùng khi phải tiễn bạn nơi đất khách quê người của Vi Trang càng trở nên ngậm ngùi hơn bao giờ hết:

Thiên thai phương thán dị hương thân

Hựu hướng thiên nhai biệt cố nhân

Minh nhật ngũ canh cô điếm nguyệt

Túy tinh hà xứ các chiêm cân

Bên trời lận đận đã thương thân Lại ở bên trời biệt cố nhân Trăng lạnh canh tàn nơi quán khách Tỉnh say mỗi ngả lệ đầm khăn (Vi Trang, Đông dương tửu gia tặng biệt )

Trang 25

Không gian lữ thứ gián cách còn đặc biệt ở chỗ: nó nằm giữa lằn ranh

mong manh của không gian lữ thứ và không gian gia đình, làng họ, không

gian hương tính Hiện hữu ở cái lằn ranh ấy, một vẻ đẹp rất khác lạ như một

sự thách đố đã hiện ra: vẻ đẹp nằm ở lưỡng ngạn Và chính sự thách đố ấy đã thắp sáng trong lòng độc giả hai niềm say mê: chiêm ngưỡng và khám phá Vì nếu quan niệm tự do và sự giải phóng nội tâm là sự nắm vững quy luật, hòa nhập vào đạo, vào cái tuyệt đối thì thơ ca là nẻo về của tâm hồn nhà thơ Ở đây, không gian lữ thứ trong thơ Đường dưới góc nhìn của chủ thể sáng tạo-nhân vật trữ tình đã góp phần làm nên một thời đại văn học có tính cách, có màu sắc

Sáng tác trong không gian lữ thứ, phong cách riêng, độc đáo của từng

nhà thơ đã tỏa sáng Vì sáng tác nghệ thuật, xét cho cùng, được bắt đầu từ ba

nhu cầu chính: phản ánh cuộc sống dưới những phẩm chất đặc biệt, mang tính thẩm mĩ; nhu cầu tự thể hiện; đòi hỏi những cung cách phô diễn mới

[13,tr.81] Ba nhu cầu trên đã hòa quyện vào nhau, bộc lộ ra bên ngoài góp phần hình thành dấu ấn thẩm mĩ của từng nhà thơ Sự hình thành phong cách

ấy đã phải trải qua quá trình định hình kéo dài hàng chục thế kỷ Đó là quá trình “cá nhân hóa” sáng tác để có Lí Bạch, Đỗ Phủ, Vương Duy, Bạch Cư Dị…và rất nhiều những hồn thơ khác Lí Bạch hai mươi lăm tuổi xuống núi Nga Mi, “từ giã cha mẹ, quê hương chống kiếm viễn du” là hiện thân của tinh thần tự do, sống động và thực tiễn Và tinh thần này được thể hiện trong thơ ông, thứ thơ đầy ma lực của tình cảm nội tâm Còn Đỗ Phủ có khi gửi lòng nhớ quê vào một cánh chim, một cánh buồm, một con thuyền, một áng mây, chùm sao Bắc Đẩu… có khi hình ảnh quê hương hiện lên trong giấc mơ Và

cho đến bài Chạy loạn làm năm nhà thơ qua đời, nỗi lòng ấy vẫn day dứt

khôn nguôi:

Trang 26

Quê cũ rợp đống gò Làng xóm đều tan tác

Từ đây lú đường về

Bờ Tương ngập nước mắt

Những năm tháng du lãm, phiêu diêu của Lí Bạch đã làm nên hình ảnh một con người tự do, con người đầy sức mạnh Cuộc đời đầy những cuộc chạy loạn, ly quê đã giúp Đỗ Phủ thu nhận vào tâm hồn mình toàn bộ cuộc sống-sự buồn thương và đau khổ của con người trên đất nước mình và số phận nặng nề của mảnh đất thân yêu Từ đó có thể thấy: phong cách thơ Lí Bạch là hào phóng, phong cách thơ Đỗ Phủ là trầm uất Xa hơn nữa, những tháng ngày bị biếm trích ở Giang Châu đã góp phần hình thành quan niệm

“thi duyên tình” trong những vần thơ Bạch Cư Dị Vì thế, Từ Nhi Am đã có

lý khi cho rằng Lí Bạch hiện thân cho sức mạnh của Trời với cường độ trữ tình mãnh liệt, Đỗ Phủ thể hiện trong thơ mình sức mạnh của Đất ở sự sáng sủa, chính xác và thơ Vương Duy là sự hiện thân cho vẻ đẹp của Người với tất cả chiều sâu của nó Như vậy, không gian lữ thứ ít nhiều đã góp phần định hình và khu biệt phong cách của các nhà thơ

1.3 Góc nhìn văn hóa

Văn học suy cho cùng là sự tự ý thức về văn hóa Văn học chẳng những là một bộ phận của văn hóa, chịu sự chi phối ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mà còn là một trong những phương tiện tồn tại và bảo lưu văn hóa Nhà văn đã tiếp nhận những thành tố văn hóa của cộng đồng mình, những lối

tư duy, những mô thức ứng xử trong đó chứa đựng nội hàm tâm lý riêng của thời đại cũng như ngưng tụ giá trị truyền thống văn hóa của cộng đồng Và theo Gurevich, một trong những yếu tố của bức tranh về thế giới là sự cảm thụ thời gian – không gian Dưới góc độ văn hóa, không gian lữ thứ trong thơ

Trang 27

Đường ít nhiều đã góp phần giải mã và phục nguyên những yếu tố chi phối

đến sáng tác của các thi nhân Những bình diện đó là: không gian lữ thứ -

không gian mang màu sắc triết học - không gian đặc biệt cho sự giao thoa ba luồng tư tưởng Nho – Phật – Đạo, là “môi trường” góp phần hình thành những biểu tượng đã trở thành biểu trưng đặc sắc của Đường thi:

trù phổ biến của nhân loại Trong Phật giáo, Hòa gắn liền với hình ảnh ẩn dụ:

nước hòa với sữa Và hơn hai ngàn năm trước sách Trung Dung của Nho gia

đã nói: “Hòa dã, thiên hạ chi đạt đạo dã” (Hòa ư! Hòa là chuẩn tắc phổ biến

trong thiên hạ / Hòa ấy là đạt đạo của thiên hạ) Theo Kinh Dịch, Thái Hòa là trạng thái điều hòa giữa Âm và Dương, cương và nhu… là vũ trụ quay về sự hài hòa để có quân bình và định vị Lão Tử cũng đã từng đề cập đến yếu tố

hòa qua câu nói đầy hình tượng: “Vạn vật phụ âm nhi bảo dương, xung khí dĩ

vi hòa” (muôn vật đều cõng âm và ôm dương, hai khí ấy đụng chạm nhau, nhưng hòa với nhau) Như vậy, dù cách dùng những hình tượng khác nhau,

nhưng ba luồng tư tưởng lớn ấy đều gặp nhau một điểm trên hành trình nhận thức chữ Hòa: hướng tới sự hài hòa có nghĩa là đã chấp nhận ở thế giới có những yếu tố hoàn toàn khác biệt nhưng không trở thành những xung lực mà cùng bổ sung và hỗ trợ nhau Từ khái niệm Hòa trong triết học Đông phương, con người đã liên tưởng đến khái niệm cộng tồn, cân bằng như một sự nắm bắt bản chất của chữ Hòa Và cũng có thể nói không gian lữ thứ trong thơ Đường cũng trở thành một không gian văn hóa, không gian tinh thần để bảo lưu sự cân bằng ấy

Bản thân một bài thơ Đường luật đã là một sự hài hòa mang tính nghệ thuật: sự cân bằng gắn kết và hòa quyện của các yếu tố thanh điệu, vần, niêm, luật Nhưng để đạt sự hài hòa ấy cần phải có sự hài hòa và bình ổn xuất phát

Trang 28

từ nội tâm của nhà thơ Liệu trên con đường lữ thứ, trong không gian lữ thứ với tư cách là một lữ khách, nhà thơ có đạt được sự an bằng đó? Khi mà đi xa, đối với mỗi nhà thơ cổ phương Đông, là cả một sự dấn thân, để lại sau lưng mình tất cả những gì bình yên, thân thuộc để bước vào một cuộc hành trình

mới Vì thế, trong thơ cổ Trung Hoa, chỉ cần gợi lên một không gian lữ thứ là

dường như đã dấy động nỗi buồn Không chỉ buồn về xa cách người thân mà còn vì tâm lý lo âu trước một phương trời xa lạ Bước chân ra khỏi nơi quen thuộc đã là cả một trời li biệt, vì vậy mà cầu sông, bến nước, quan ải… được nhắc đến trong thơ nhiều hơn bản thân cuộc hành trình bởi nó là mốc dấy lên nhận thức về sự chia lìa, thay đổi Thơ tống biệt bên cạnh nội dung khẳng định tình cảm thương nhớ kẻ ở, người đi thường còn gửi gắm tâm trạng lẻ loi, cảm thương thân phận và lo lắng cho tiền đồ mờ mịt [69]:

Đạm đạm trường giang thủy

Du du viễn khách tình

Lạc hoa tương dữ hận

Đáo địa nhất vô thanh

Sông dài nước chảy lênh đênh Dặm nghìn đất khách mối tình mênh mông

Hoa kia chia mối hận lòng Lúc rơi xuống đất tuyệt không tiếng gì (Vi Thừa Khánh, Nam hành biệt đệ )

Đối diện với thực tại đó, thi nhân đã có một sự hành xử rất đặc biệt:

chấp nhận thực tại đó và cất giấu nỗi buồn ấy vào thơ Một nỗi buồn kín đáo

và chừng mực được chiết tỏa qua từng vần thơ, từng câu thơ Trong cái không

gian xa xứ ấy, nỗi buồn của thi nhân không ảo não nặng nề bởi nhà thơ đã từng bước từng bước đạt đến trạng thái hòa Lời thơ viết ra từ những “vọng động” trong tâm trạng của nhà thơ Những ức chế của cảm xúc (buồn xa xứ,

ly hương, sầu ly biệt…) vì thế đã được giải tỏa Từ đó, thi nhân đạt đến một

sự hài hòa nội tại Sự hài hòa đó vừa là một nghệ thuật vừa là một sự thách

đố Bởi trong một không gian xa lạ, giữ cho mình một nguyên tâm trong sáng

là điều không đơn giản nhưng thi nhân đã thấy hình ảnh của mình - một tiểu

Trang 29

vũ trụ hòa mình với đại vũ trụ, đã nhận ra thiên nhiên là nơi di dưỡng tính

tình, bằng tuệ nhãn của mình đã nhìn thấu bản tướng của vạn vật, từ đó đạt

đến sự cân bằng giữa nội tâm và ngoại giới Sự trải nghiệm những cảm xúc trong không gian lữ thứ đã đem lại cho thi nhân và độc giả trạng thái hài hòa giữa con người với con người và con người với thiên nhiên vạn vật Ở đây, khi chiều sâu bản chất của sự vật được khám phá bằng sự hòa thân của thi

nhân vào vạn vật, nhà thơ đã đạt được sự hoàn thiện bản thân - đích đến cuối

cùng của một cuộc du lãm hoàn mĩ Và cũng có thể nói, trải mình trong không

gian lữ thứ, sau khi gạt bỏ tất cả những ức chế của cảm xúc bên cạnh trạng thái hài hòa, điều mà thi nhân có được nữa đó là hiểu được sự thông biến của vạn vật và của chính mình

qua đó, tiếng lòng của độc giả đã được nhà thơ nói hộ: con người phương Đông đều trọng những yếu tố bền vững, gốc rễ mà quê hương là một phần

không thể thiếu Song, phải chăng từ chính tâm khảm của mỗi người, đi và về

con đường mà mỗi người phải trải qua, như một mặc định của kiếp người; sống trên cõi đời cũng là một hành trình lữ thứ, cõi thế gian là cõi tạm “sinh

ký tử quy”, “du tử quy lai”…? Hình ảnh chập chờn của cánh bướm trong giấc

mộng của Trang sinh cho người đọc cái nhìn đầy ảo giác về một trần thế nhân sinh như mộng, ngắn ngủi chóng qua Triết lý đời là bể khổ của Phật giáo, chỉ

có giác ngộ mới mong đạt được sự giải thoát hoàn toàn trong cõi thế mờ ảo như hình ảnh trăng soi đáy nước Nhưng cuộc đời con người như một chuyến

xe trên hành trình lữ thứ không đem lại một cái nhìn tiêu cực mà ở đó, trước

sự ngắn ngủi hạn định của kiếp người so với sự tuần hoàn vô hạn của trời đất thì sự nhìn nhận lại bản thân mình lại đánh dấu một bước tiến mới của thơ ca, của sự biến chuyển của con người Nho giáo:

Trang 30

Nhân sinh vô kỷ hà

Như ký thiên địa gian

Tâm hữu thiên tải ưu

Thân vô nhất nhật nhàn

Hà thì giải trần võng

Thử địa lai yểm quan

Sinh ra nào sống bao lâu Gởi thân trần thế cùng nhau tạm thời

Âu lo suốt cả nghìn đời Tâm thân chẳng được vui chơi một ngày

Bao giờ giũ sạch trần ai Lên non cửa đóng then gài an nhiên (Bạch Cư Dị, Thu san)

Bươn trải trên hoạn lộ khắc nghiệt để rồi nhận thấy làm quan chỉ là sự vướng vào lưới trần Thời trẻ, Nho quỳ trước vua, trung hiếu tiết nghĩa Với bản chất của con người xã hội, Nho chỉ thấy mình, hiểu mình, và định nghĩa mình trong quan hệ với người khác: quan hệ họ hàng, quan hệ làng nước, quan hệ đỗ đạt, quan hệ lễ nghĩa; quân quân thần thần phụ phụ tử tử, cư xử sao cho đúng vị trí của người quân tử Bạc đầu, khi hết quay cuồng với hình bóng của mình trong con mắt của xã hội, lúc đó Nho mới giật mình nhận ra rằng có mối quan hệ khác nữa mà mình không hay: quan hệ của mình với mình Hóa ra, cuộc sống lý tưởng của nhà nho – thi nhân không phải ở thế giới thực tại, mà ở trong thiên nhiên vũ trụ Thơ Đường được sáng tác trong không gian lữ thứ đã chạm vào bản chất, đặc trưng của văn chương nhà nho - trí thức quan liêu như vậy đó!

Sự gặp gỡ của Khổng tử - Thích Ca - Trang tử còn cấp cho không gian

lữ thứ một hình hài rất đặc trưng: quy mô không gian có ý nghĩa đặc biệt để

biểu hiện sức mạnh tâm hồn Người xưa nói “hùng tâm đại chí”- chí lớn gắn với chiếm lĩnh không gian lớn Không gian lớn có tác động giải phóng tầm nhìn Nhà nho mượn không gian rộng mở để nâng cao tinh thần tiến thủ, Đạo gia mượn không gian bao la để bộc lộ cảm giác tự do của cá nhân Hai

Trang 31

truyền thống này hợp lại tạo thành đặc sắc không gian trong thi ca Trung Quốc [52,tr.217]

Như vậy, không gian lữ thứ đặc biệt bởi nó chấp nhận sự tồn tại của những yếu tố khác biệt và sự hòa thân giữa chúng Tư tưởng thơ là sự hòa đồng tinh thần trật tự nhân bản của Nho gia, tình yêu thiên nhiên của Lão Trang và niềm khát vọng siêu thoát của nhà Phật Những cảnh sắc dị biệt được trình bày, những tình tự phức tạp được diễn tả, khiến cho mỗi người đọc đều tìm thấy trong thơ một mẩu kỉ niệm, một mảnh tâm tư của chính mình

khác Con người tư duy bằng biểu tượng, giao tiếp bằng biểu tượng, thể hiện những tâm tư tình cảm sâu kín nhất cũng như thăng hoa những khát vọng đều bằng biểu tượng Và sự xuất hiện của không gian lữ thứ trong thơ Đường đã

kéo theo sự xuất hiện của hàng loạt những hình ảnh chung nhất có tính chất

ước lệ lập đi lập lại ở nhiều người để diễn tả tấc lòng của hành giả, của thi nhân Vì về nguyên tắc, dường như nhà thơ - nhà nho có thể viết về mọi đề tài

trong thiên nhiên Nhưng trên thực tế, trong thơ ca của họ luôn có sự định

hướng, sự ưu tiên cho một số đề tài xác định Vì ở những đề tài đó, tư tưởng

và triết lý của nhà nho tìm được phát ngôn chung đắt nhất, hùng hồn nhất, có khả năng thuyết phục nhất [9,tr.57] Hình ảnh của tùng-cúc- trúc-mai không

còn là hình ảnh thực tế trong thiên nhiên nữa mà đã trở thành những biểu tượng cho các phương diện khác nhau của phẩm chất và nhân cách nhà nho.Và trong hoàn cảnh mới cụ thể là vạn vật trong không gian lữ thứ, bên

cạnh những hình ảnh thiên nhiên vốn được xem là nguồn tạo dựng nhân cách

cho nhà nho, là mẫu mực lý tưởng cần vươn tới của nhân cách này [9,tr.74]

đã xuất hiện những hình ảnh mới để có thể thể hiện được những biến chuyển của tâm trạng trước sự biến thiên của vạn vật Đó là hình ảnh lá thư, giọt lệ,

Trang 32

cầu sông, bến nước, quan ải, những ngôi lầu để có thể đăng cao nhìn bóng bạn khi tiễn biệt, là hình ảnh của một cành liễu, của chim đậu cành Nam, ngựa Hồ

hí về phương bắc, là hình ảnh của chén rượu trước lúc tiễn đưa, hình ảnh của

“nhất phiếm cô chu”- một cánh buồm đơn lẻ gợi lên biết bao suy nghĩ, thậm chí là hình ảnh của ngọn nến lẻ loi trong đêm vắng:

Ngọn nến có lòng còn luyến tiếc Thay người nhỏ lệ suốt năm canh

(Đỗ Mục, Tặng biệt kỳ 2)

Nhớ quê mắt lệ dần vơi Cánh buồm cô độc góc trời tha phương

(Mạnh Hạo Nhiên, Tảo hàn giang thượng hữu hoài);

Liễu xanh rờn bến sông Dương Chạnh lòng ly khách hoa dương héo mòn

(Trịnh Cốc, Hoài thủy biệt hữu);

Bạn từ lầu Hạc lên đường Giữa mùa hoa khói Châu Dương xuôi dòng

(Lí Bạch, Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng);

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách Quạnh hơi thu lau lách điều hiu

(Bạch Cư Dị, Tỳ bà hành) Hoặc những hình ảnh những biểu tượng thiên nhiên rất quen thuộc nhưng lại phát lộ những ý nghĩa mới qua góc nhìn của người lữ khách: sông Tương, đất Sở, gió Tần, cánh nhạn Và tiêu biểu là hình ảnh trăng Trăng biến hóa khôn lường trong thơ: không chỉ là trăng trong trẻo trong những buổi vọng nguyệt khi sum vầy bạn bè, mà còn là trăng sầu muộn, trăng hoài cổ, trăng tư lự, cô đơn, trống trải như chính nỗi niềm của thi nhân:

Trăng lạnh canh tàn nơi quán khách

Trang 33

Tình say mỗi ngả lệ đầm khăn

(Vi Trang, Đông Dương tửu gia tặng biệt)

Nay khách đọa đày trông ngóng uổng;

Soi ai, trăng bãi cứ bơ vơ?

(Lí Bạch, Anh Vũ châu) Những hình ảnh trên lặp đi lặp lại nhiều lần trong thơ không chỉ vì nó

là mốc dấy lên nhận thức về sự chia lìa, thay đổi, là kết quả của sự liên tưởng

và lựa chọn của mỗi nhà văn mà hơn nữa nó còn điển hình cho phong cách

của một thời đại với bút pháp trọng tình, “quan vật thủ tượng” (quan sát sự

vật để lấy hình tượng), góp phần làm nên sự súc tích, ý tại ngôn ngoại, ngôn

tận ý bất tận của một thời đại hoàng kim Nghệ thuật, theo đúng quy ước của

văn hóa, cách hiểu của văn hóa minh triết phương Đông cũng là một bộ phận của sự sống chứ không phải là bản sao chép sự sống [ 28,tr.28]

Có thể nói, bên cạnh hình ảnh trăng, hình ảnh con đường cũng là một

biểu tượng đẹp của không gian lữ thứ Vẻ đẹp của trăng và con đường là vẻ đẹp lung linh, biến ảo qua nhiều tầng nghĩa Trăng xuất hiện đầy ảo hóa nhưng trực tiếp qua từng câu thơ như sự lưu giữ vẻ đẹp bản nguyên trong tâm hồn của thi nhân, ánh trăng khuya là cái nhìn vào nội giới cầu để cầu mong một sự hòa điệu Con đường lại hiện lên gián tiếp qua những sự hóa thân kì

ảo Con đường đã nhập mình vào thơ ca qua điển tích Bao Tà- một con đường

với địa hình cực kỳ hiểm trở và khó đi dài 470 dặm từ lưu vực sông Bao và sông Tà gợi nhắc sự khó khăn trên chốn lữ hành Con đường là biến thiên của cuộc đời, là hình bóng của một cuộc hành trình đến vùng đất trích, là lòng sông mở ra cho cánh buồm cô độc đem tri kỉ đến miền viễn xứ, con đường trải ra mời gọi bàn chân, vó ngựa:

Cố viên đông vọng lộ man man

Song tụ long chung lệ bất ca

Đường về vườn cũ mịt mù xa Tay áo xuề xòa nước mắt sa

Trang 34

Và con đường cũng chuyên chở trong nó giá trị hai mặt: con đường là

phương tiện tự thức nhưng cũng là phương tiện tha hóa Con đường mời gọi

những bàn chân đi xa để mở ra những khung cảnh rộng lớn, những bức tranh thiên nhiên hùng vĩ Con đường cũng bảo lưu biết bao khát khao, dịch chuyển biết bao ý niệm của thi nhân về cuộc đời Nhưng hình ảnh con đường dài xa tít tắp càng làm cho hình bóng quê hương càng xa xăm mờ mịt, để từ đó cái

ám ảnh bị tha hóa, cô đơn, bơ vơ càng xâm chiếm hồn người Dấn thân vào một hành trình lưu lạc, bước chân trên con đường đầy ảo hóa đó, ta đã không thuộc về quê hương lại càng không thuộc về nơi xứ lạ Sự hiện hữu tạm thời

về kiếp người trên cõi đời hơn bao giờ hết lại trở nên nhức nhối trong thơ Do

đó, hoài cổ, níu kéo hình bóng quê hương là để chống trả lại với cái ám ảnh

“xương trắng quê người” như một gánh nặng trong tâm hồn của người lữ thứ Nghệ thuật ở đây, không thể cứu rỗi con người trong dòng chảy lưu lạc định mệnh của cuộc đời mình nhưng có thể nhắm tạo cho con người một quê hương khác, hay nói đúng hơn là lưu giữ lại một cách thi vị hóa hình bóng quê nhà trong tâm tư và tưởng tượng của mỗi con người:

Trường Giang bi dĩ trệ

Vạn lý niệm tương qui

Hướng phục cao phong vãn

Sơn sơn hoàng diệp phi

Trường Giang sầu lắng trong lòng Đường xa muôn dặm nhớ mong ngày về

Chiều buông gió lộng lê thê

Lá vàng quanh núi bốn bề tung bay (Vương Bột, Tư quy)

Trang 35

Như vậy, không gian lữ thứ ít nhiều cũng thể hiện được bản chất của thi ca Con đường để đến với thế giới thơ ca bắt nguồn từ trực giác vốn được coi là sự trực nhận sự vật bằng con đường giác ngộ, bằng một sự thăng hoa trong ý thức để tiếp nhận sự vật Và từ trực giác đó, con người sẽ đi đến thế giới của sự đa nghĩa Vì thế, không gian lữ thứ được hình dung, bao quát từ nhiều góc nhìn không chỉ làm tường minh hơn nội hàm ngữ nghĩa vốn mơ hồ của nó, mà hơn nữa đó cũng là cách để cảm nhận sự đa nghĩa, cảm nhận chiều

sâu của thi ca Bởi không biết từ bao giờ văn chương đã phải thoả hiệp hay

du nhập và cuối cùng là bổ khuyết vào cái hành trang (vốn chỉ ưa gọn nhẹ) của mình một người bạn đồng hành là không gian Không gian - nơi mở đầu

và không bao giờ khép lại những đau đáu nghệ thuật [73] và cũng là nơi bảo

lưu những giá trị văn hóa của một thời đại đã qua

Trang 36

Chương 2

NHẬN CHÂN NHỮNG NÉT ĐẶC BIỆT CỦA

KHÔNG GIAN LỮ THỨ

Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Heraclitus đã đưa ra luận điểm nổi tiếng

về sự vận động, phát triển và thay đổi không ngừng của sự vật trong thế giới:

“Không ai tắm hai lần trên dòng sông” Trong thế giới của nghệ thuật thi ca

cũng tồn tại một chân lí như vậy: mỗi lần đọc sẽ là một sự phát hiện mới, khám phá mới về những tâm tư được ẩn giấu đằng sau những dòng thơ, lần giở đến đâu ta sẽ bắt gặp một không gian mới, một thời gian mới Sự biến đổi

ảo hóa của không gian lữ thứ đã mở ra những phương trời viễn mộng để thơ Đường luôn mênh mang, thi vị, luôn là những nẻo đường muôn thuở đi về khắp nẻo của tâm hồn con người

2.1 Không gian quy tụ và xuyên thấu

John.C H.Wu trong công trình The four seasons of T’ang poetry đã ví

bốn giai đoạn Sơ-Thịnh-Trung-Vãn Đường với bốn mùa xuân-hạ-thu-đông trong sự tuần hoàn của tự nhiên Có lẽ tác giả đã nhận thấy sự hiện diện luân chuyển của vạn vật trong thơ Đường và sự gia nhập của thời gian vào không gian làm nên chiều thứ tư của không gian bên cạnh ba chiều cơ bản, vốn có của nó Bên cạnh đó, không gian lữ thứ trong thơ Đường còn là sự tương

đồng với tính chất của không gian tôpô trong toán học: sự hội tụ, liên thông

và liên tục

Thơ Đường là thơ của các mối quan hệ là một nhận định ít nhiều nêu

bật được đặc trưng của thơ Đường Đó là quan hệ giữa con người với thiên nhiên, con người với con người và với chính mình; là quan hệ giữa thi ca, thư pháp và hội họa như một đam mê nghệ thuật trọn vẹn; là quan hệ giữa hư và

Trang 37

thực… Tựu trung lại đó là mối quan hệ được các nhà mĩ học Trung Quốc khái

quát thành mối quan hệ của tình - cảnh - ý Và đâu đó, thấp thoáng trong

những mối quan hệ đó, không gian lữ thứ vẫn ẩn hiện như một sự cảm nhiễm,

sự tương giao, là một sự trở về với bản ngã, trở về với nguyên tâm của nhà thơ Có được như vậy, từng yếu tố trong mối quan hệ đó đã được từng tác giả chăm chút, sáng tạo theo những phong cách riêng và cá tính của mình

Cảnh trong không gian lữ thứ thiên về gợi hơn tả bởi cách nhìn “quan

vật thủ tượng” để nhìn thấy bản tướng của sự vật Cùng là cảnh mùa thu chia

xa, tiễn biệt, nhưng mỗi mùa thu trong lòng thi nhân lại có những ấn tượng khác nhau: thu của Lạc Tân Vương được nhắc gợi qua tiếng ve kêu não nề:

Tây lục thiền thanh xướng Nam quan khách tứ thâm

(Thu đến ve kêu tiếng Trong lao, khách nhớ nhà) (Lạc Tân Vương, Tại ngục vịnh thiền) Thu trong thơ Đỗ Phủ mang cái cảm giác lạnh lẽo, điêu tàn mà hắt hiu, cô quạnh:

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,

Vu Sơn, Vu Giáp khí tiêu sâm

(Lác đác rừng phong hạt móc sa, Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa) (Đỗ Phủ, Thu hứng)

Thu của Vương Duy khi thì mỏng manh như một làn sương ở Thu dạ khúc:

Quế phách sơ sinh thu lộ vi (trăng mới sinh, sương thu mỏng) khi lại trong

trẻo qua sự cảm nhận sắc trời vào một đêm thu u tịch trong Sơn cư thu minh:

Trang 38

Không sơn tân vũ hậu Thiên khí vãn lai thu

Núi cao vừa tạnh cơn mưa Hương trời bảng lảng giao mùa thu qua

Và trên thực tế, mối quan hệ giữa tình, ý và cảnh (tả cảnh – hứng tình

– ngụ ý) là sự khúc xạ đầy tính nghệ thuật và thấm đẫm cảm hứng nhân sinh của tác giả xuất phát từ các mối quan hệ với thiên nhiên, với xã hội và với chính con người mình Ở từng mối quan hệ, nhãn tuyến của tác giả lại hướng đến những sự lựa chọn nghệ thuật khác nhau tạo nên màu sắc riêng cho không

gian lữ thứ: với thiên nhiên là khát khao nhìn thấu bản tướng để mong một sự

chia sẻ, mong tìm thấy một người bạn gặp gỡ muộn mằn nhưng sớm coi nhau

là tri kỉ, mong đạt đến một sự an nhiên đạt đạo như một sự giải thoát và trên

hết là sự trở về với chính mình qua cách nhìn ngưỡng-phủ và vọng tứ phương

rất đặc trưng của mĩ quan trung đại Với xã hội là con mắt đầy trách nhiệm, suy tư, trăn trở với biết bao lo toan của một trí thức - quan liêu Bởi hầu như không có một nhà thơ Đường nào lại không từng làm quan, không bị day dứt

giữa lí tưởng và thực tế Vương Chiêu Quân vì thế trong mắt Lí Bạch đã hiện

lên với đầy sự cảm thương không phải chỉ vì đó là một người đẹp mà phải lưu lạc, đày ải mà còn là sự cảm thông của những con người “đồng bệnh tương lân” Với chính bản thân mình đó lại là cách nhìn nội giới để mong bảo toàn

nguyên tâm trong sáng ban đầu của mỗi con người Không gian lữ thứ là

không gian quy tụ vì nó được cảm nhận qua cách nhìn chủ toàn để chiếm lĩnh

vạn vật, vì nhà thơ đã trở lại trạng thái hồn nhiên của trẻ thơ để nhận thức vũ trụ và nhìn thấy trong bản thể của vũ trụ sự thống nhất hoàn hảo giữa “vật” và

“tâm” Và mức độ của sự thống nhất giữa vật và tâm ấy cũng góp phần tạo nên sự khu biệt trong phương thức xây dựng hình tượng của nhà thơ Bởi nếu

Trang 39

Vương Duy điển hình cho phương thức “vô ngã chi cảnh” (không phân biệt giữa ngã và vật) và đạt đến cảnh giới “vật ngã lưỡng vong”:

Thu sơn liễn dư chiếu,

Phi điểu trục tiền doanh

Phỉ thúy thời phân minh,

Tịch lam vô xứ sở

Núi thu ánh chiều tắt Chim bay theo từng đôi Xanh tím màu sắc cỏ Khói lam chiều chơi vơi (Vương Duy, Mộc Lan sài)

thì Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị lại là đại diện cho phương thức “hữu ngã

chi cảnh” Mặc dù đó vẫn là sự kết hợp hài hòa giữa tâm và vật, giữa vật và

ngã song thi nhân vẫn ý thức được sự tồn tại chủ quan của mình, chủ động đem cái tâm của “ngã” để di tình sang cái tâm của “vật” [29,tr.53] Và cảm

thức này đã được Lưu Hiệp khái quát thành “đăng sơn tất tình mãn vu sơn, quan hải tắc ý dật vu hải”(lên núi thì tình tràn ngập cả núi, nhìn biển thì ý chí lan tràn cả biển)

Với cách nhìn nhận như vậy, trong tư duy nghệ thuật xuất hiện hàng

loạt những phạm trù nói lên quan hệ giữa chủ thể và khách thể thẩm mĩ: xúc

cảnh sinh tình (nhân có cảnh mà động đến tâm tình của người), thác cảnh tỉ đức (thông qua cảnh để gửi gắm những đức tính tốt của người), ngụ chí vu cảnh, tá cảnh ngôn lý, tình cảnh giao dung (tình và cảnh hòa vào nhau làm

một), hư thực tương sinh (yếu tố hư và thực của tâm và cảnh hòa quyện, tạo nên sự hư ảo và chiều sâu của bài thơ), ngụ tình vu cảnh (ngụ tình trong cảnh, tình cảnh hòa quyện, ngoại cảnh cũng là tâm cảnh), tích cảnh trữ tình (mượn

cảnh để trữ tình,tình cảnh phân minh, trước tả cảnh sau tả tình hoặc ngược

lại), phú cảnh dĩ tình (lấy cái tình của con người “phổ”, “tặng” cho cảnh, làm cho cảnh cũng là người, người cũng là cảnh), dung cảnh nhập thần (hòa mình

vào trong cảnh nhằm để thấy hình bóng của mình và nắm được thần thái của

cảnh vật), tình cảnh tương dung (tình và cảnh dung hòa vào nhau)…Nhưng

Trang 40

tất cả những thủ pháp này chỉ tốn tại một sự phân chia mang tính tương đối

mà đan xen tùy ý mà tả cảnh, tùy cảnh mà tả tình, tùy vật mà phú hình

Bên cạnh đó, do có sự xâm nhập của yếu tố hội họa vào thơ nên các tầng lớp không gian xâm nhập lẫn nhau tạo nên độ sâu cho bài thơ, các lớp

không gian xuyên thấu và đồng hiện tạo nên sự phức hợp cho bức tranh lữ

thứ Không phải vô cớ và ngẫu nhiên khi mà hội họa ở Trung Quốc còn có

một tên gọi đặc biệt: “vô thanh thi” (thơ không tiếng) Hai ngành nghệ thuật

này cùng chịu sự chi phối của khá nhiều quy luật thẩm mĩ cơ bản như quan niệm về cái gọi là “nhập thần”, quan niệm về cái “hư”, cái “thực ” và sự kết hợp của hai yếu tố đó [55,tr.34] Nhận xét “thi trung hữu họa, họa trung hữu

thi” không chỉ đúng với Vương Duy mà ở một khía cạnh nào đó, nó còn đúng với thơ Đường nói chung Bởi họa vốn là tính bản thể của thơ, khi chữ viết Trung Hoa vốn mang tính tượng hình, vì thế mỗi tác phẩm nghệ thuật văn học bản thân nó đã nên thơ, đã chứa dựng nhiều cảm xúc của một tác phẩm hội họa Sự thâm nhập của hội họa vào thơ ca tạo cho không gian lữ thứ chiều thứ năm hư ảo, không gian trong thơ không chỉ mênh mang hơn, sâu lắng hơn, lớp lang hơn Ngoài hội họa, âm nhạc cũng để lại những dấu ấn của mình

trong thơ Nhịp điệu là âm nhạc, là nhạc tính của thơ Sự hội tụ của thơ –

nhạc – họa, tình –ý – cảnh đã làm cho Đường thi có những sắc thái riêng: ý tứ sâu đậm- cảm xúc tha thiết - hình ảnh sinh động và nhạc điệu trữ tình Để

đích đến cuối cùng của không gian lữ thứ với sự hội tụ và xuyên thấu không

gì khác là trạng thái vô ngôn, trạng thái thăng bằng khi cảm nhận vạn vật bằng cái nhìn của tuệ nhãn

Sự quy tụ và xuyên thấu của không gian lữ thứ đã làm nên vẻ đẹp của

Tĩnh dạ tứ, một thi phẩm nổi tiếng của thi tiên Lí Bạch:

Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương

Ngày đăng: 11/04/2013, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w