1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết lạnh lùng của nhất linh

49 248 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 779 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN --- ĐỖ THỊ QUỲNH NGA THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LẠNH LÙNG CỦA NHẤT LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: V

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

ĐỖ THỊ QUỲNH NGA

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ

THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LẠNH

LÙNG CỦA NHẤT LINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN -

ĐỖ THỊ QUỲNH NGA

THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ

THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LẠNH

LÙNG CỦA NHẤT LINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS THÀNH DỨC BẢO THẮNG

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành nhất tới TS GVC Thành

Đức Bảo Thắng Thầy đã tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất

về mọi mặt để tôi hoàn thiện khóa luận này

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các Thầy (Cô) trong tổ Văn học ViệtNam đã tận tâm dạy bảo và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn khích lệ, cổ vũ, trợ giúp tôitrong thời gian qua

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Đỗ Thị Quỳnh Nga

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, cótham khảo tài liệu, trang web, ấn phẩm có liên quan đến nội dung nghiên cứu

từ những người đi trước dưới sự hướng dẫn tỉ mỉ, cẩn trọng của TS GVC

Thành Đức Bảo Thắng.

Hà Nội, ngày 17 tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Đỗ Thị Quỳnh Nga

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 6

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của khóa luận 6

7 Cấu trúc khóa luận 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 8

1.1 Tác giả Nhất Linh 8

1.1.1 Thân thế 8

1.1.2 Cuộc đời 9

1.2 Vị trí của tiểu thuyết Lạnh lùng trong sự nghiệp sáng tác của Nhất Linh11 1.3 Thời gian nghệ thuật 13

1.3.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 13

1.3.2 Các dạng thức của thời gian nghệ thuật 14

1.4 Không gian nghệ thuật 17

1.4.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 17

1.4.2 Các dạng thức của không gian nghệ thuật 18

* Tiểu kết 22

Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LẠNH LÙNG 23

2.1 Biểu hiện thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng 23

2.1.1 Thời gian hiện thực 23

2.1.2 Thời gian tâm lí 29

Trang 6

2.2 Biểu hiện không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng 31

2.2.1 Không gian thiên nhiên 31

2.1.2 Không gian tâm lí 35

KẾT LUẬN 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Những năm ba mươi của thế kỉ XX, bạn đọc Việt Nam biết tới cái tên

Tự lực văn đoàn - một nhóm văn chương tiến bộ Văn chương của họ đã thể

hiện tư tưởng mới mẻ, dám nghĩ, dám làm mà không phải thời đại hay nhàvăn nào cũng có thể làm được Điểm mấu chốt trong văn chương của họ làphản đối những định kiến lạc hậu của Nho giáo, đòi quyền lợi cho tự do, khát

vọng và hạnh phúc của cái tôi cá nhân… Tự lực văn đoàn ra đời đã tìm được

những cây bút thực sự tài năng gồm có tám người, được gọi là “bát tú” - támngôi sao: Nhất Linh - tinh tế, mực thước; Hoàng Đạo - mưu lược linh hồn;Thạch Lam - tài hoa, gần gũi, bình dân; Khái Hưng - cậu ấm làm văn chương;Thế Lữ “đa sự”; Tú Mỡ - cười nửa miệng; Trần Tiêu - thuần hậu nét quê vàXuân Diệu - sao hôm, sao mai Trong đó Nhất Linh được coi là cha đẻ sản

sinh ra nhóm Tự lực văn đoàn, có công đưa văn xuôi Việt Nam chuyển mình sang giai đoạn mới- văn học hiện đại Những tác phẩm của Tự lực văn đoàn

đã trải qua những biến động mạnh mẽ của thời gian nhưng vẫn “lóng lánh nhưnhững hạt ngọc” trên diễn đàn văn học Việt Nam

Trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đã có những định hướng đổi mới tiến

bộ phù hợp với tư tưởng văn học và văn hóa Tiểu thuyết ra đời nhằm mụcđích truyền bá tư tưởng chống đối nho phong hủ bại mà trực tiếp là chống lạichế độ Nho giáo của Khổng Tử đã thống trị suốt hàng ngàn năm qua Đặc biệt

trong sáng tác của Nhất Linh, cùng với Đoạn tuyệt, Lạnh lùng là tác phẩm

hướng tới tố cáo, phủ định quyết liệt, mạnh mẽ, không khoan nhượng vàokhuôn phép, gia phong của Nho giáo Sự thành công của tác phẩm ở cả giá trịnội dung và hình thức nghệ thuật, với ngòi bút điêu luyện nhằm hướng tớicuộc đời, số phận của người phụ nữ trẻ tuổi Đi nghiên cứu “Thời gian và thời

không nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng” chính là làm sáng tỏ đóng góp

về phương diện nghệ thuật và tài năng của ông

Trang 8

Là sinh viên khoa Ngữ văn - một nhà giáo tương lai, thực hiện đề tài

“Thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất

Linh” có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu sau này

Với những lí do như trên, chúng tôi chọn đề tài “Thời gian và khônggian nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh”

Trước đây, khi đề cập đến vai trò cách tân của Tự lực văn đoàn trong

địa hạt tiểu thuyết, một số nhà nghiên cứu thường chỉ đi sâu phân tích khai

thác những đóng góp của Tự lực văn đoàn vào hiện đại hóa nền tiểu thuyết Việt Nam chủ yếu ở phương diện ngôn ngữ Với tiểu thuyết Lạnh lùng, các

nhà nghiên cứu đi sâu khai thác trên phương diện tác giả, nghệ thuật miêu tảtâm lý nhân vật hoặc hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm chứ chưanghiên cứu cụ thể về thời gian và không gian nghệ thuật Ở bài nghiên cứunày, chúng tôi đưa ra đưa ra những đánh giá nổi bật về thời gian và khônggian nghệ thật trong tiểu thuyết của Nhất Linh

Trang 9

Năm 1939, cuốn sách Dưới mắt tôi ra đời, Trương Chính đã dùng ngòi

bút của mình chuyên chú nghiên cứu các tác phẩm mới, tiến bộ, thể hiện cáchnhìn mới mẻ của các nhà văn về cuộc đời và con người Khi bàn về tác phẩm

Lạnh lùng ông cho rằng đó là “mũi tên độc thứ hai” mà Nhất Linh bắn vào

Khổng giáo vì: “Trong Lạnh lùng, nạn nhân của chế độ cũ đáng thương nhưLoan, Nhung một người đàn bà trẻ tuổi, góa bụa, nhưng không đi lấy chồng,hay không thể, không dám đi lấy chồng vì Luân lí, vì Đạo đức, vì Danh dự”[2; tr,630] Hơn nữa, ông cũng khẳng định khi đánh giá về nội dung của tiểu

thuyết Lạnh lùng: “Đọc Lạnh lùng, ta cũng thấy cần đạp đổ những chế độ

nặng nề, eo hẹp, trong đó Nhung mà có lẽ cả ta nữa đương rãy rụa, đang ngấpngoải… Đến trang cuối cùng, ta có một cảm giác rùng rợn, khủng khiếp Cảmgiác ấy là cảm giác của Nhung khi nàng nghĩ đến tương lai hắc ám, ghê sợ” [2;tr,633]

Những công trình nghiên cứu, đánh giá của Chương Trính trong cuốn

Dưới mắt tôi, ông đã tìm hiểu kĩ giá trị hiện thực trong sáng tác của nhà văn

Nhất Linh: phê phán sự thối nát của chế độ đại gia đình mục ruỗng Đồng thờiông còn ghi nhận sự tiến bộ trong sáng tác của Nhất Linh khi phơi bày sự ápbức, bóc lột, giả dối đang ẩn sau những luân lí, danh dự, đạo đức

Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đưa đánh giá của riêng mình đã xếp Nhất Linh vào Tiểu thuyết luận đề Đặc biệt ông chủ yếu

nghiên cứu những ảnh hưởng của khuôn phép, lễ giáo hà khắc: “Ông là mộttiểu thuyết gia muốn trừ bỏ những cái xấu trong gia đình và trong xã hội, màbất kì ở giai cấp nào chứ không phải hạng thợ thuyền và dân quê, ông là mộtnhà văn viết về những phong tục xấu của người Việt Nam và có cái tư tưởngkhuyến người ta sửa đổi” [21; tr,300]

Thời kì này giới nghiên cứu đề cao sáng tác của Nhất Linh Các côngtrình nghiên cứu, chủ yếu đề cập đến nội dung chống hủ tục lạc hậu, đòiquyền tự do cá nhân Vì vậy tiểu thuyết của ông được coi là sự tiến bộ của tưtưởng mới, về đổi mới ở ngôn từ, lời văn

Trang 10

2.2 Sau năm 1945

Có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hơn tới tiểu thuyết của Nhất Linh

Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: Lược thảo lịch sử của văn học Việt

Nam tập 3 (từ giữa thế kỉ XX đến năm 1945, 1957) (Lê Quý Đôn), Bình giảng

về Tự lực văn đoàn (1958) (Nguyễn Văn Xung), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập 3 (1960) (Phạm Thế Ngũ), Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho văn xuôi Việt Nam hiện đại (1997) (Trịnh Hồ Khoa) đã đánh giá

một cách khái quát về những đóng góp mới của tiểu thuyết Nhất Linh cho văn

xuôi nước nhà Tiểu thuyết Lạnh lùng chủ yếu được nhiều nhà nghiên cứu

phân tích, đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau

- Ở miền Nam

Trong cuốn Bình giảng về Tự lực văn đoàn, chú ý tới nghệ thuật miêu

tả nhân vật của Nhất Linh, Nguyễn Văn Xung cho rằng: “Nhất Linh khôngphải tả cảnh như Khái Hưng nhưng là để móc vào đấy những biến đổi uyểnchuyển trong tình cảm của nhân vật.” [31; tr,65] Bên cạnh đó, Phạm Thế Ngũ

đã rất chính xác và tinh tế khi khẳng định tài năng miêu tả tâm lí qua nhân vậttrung tâm của tác phẩm - Nhung: “tâm lý ái tình được ghi nhận và được diễnđạt một cách khá vi diệu (…) Người ta thấy ảnh hưởng của Prust và Frendnữa trong cái bút pháp của tác giả mô tả ái tình, dục tình, trỗi dậy trong lòngNhung” [20; tr,463] Chú ý khám phá và diễn tả đời sống nội tâm phức tạpcủa con người trở thành đích vươn tới của nhà văn và đây cũng là bướcchuyển đánh dấu sự đổi mới tư duy trong cách viết, cách nhìn về nhân vật

- Ở Miền Bắc

Lạnh lùng của Nhất Linh cũng được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến,

dường như có sự gặp gỡ khi chú ý tới yếu tố tâm lí nhân vật của cây bút này.Phải kể đến nhận xét xác đáng của nhóm Lê Quý Đôn: “Nhất Linh thành công

ở cách bố trí truyện và cách sử dụng cảnh vật xung quanh để làm nổi bật tâm

Trang 11

lí nhân vật” [5; tr,331] Càng về sau, yếu tố này được nhấn mạnh và coi đó làthế mạnh, tạo nên sức hấp dẫn trong ngòi bút Nhất Linh Trên tinh thần ấy,

tác giả của giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại đã khẳng định: “Nhất Linh

ngó sâu vào mâu thuẫn trong tâm hồn; tấn bi kịch âm ỉ, đôi lúc bùng ra, luônluôn có sức hấp dẫn” [22; tr,107] Điều đó không thể phủ nhận khi một lần

nữa, Nhất Linh lại thành công trong tiểu thuyết Bướm trắng khi miêu tả thành

công thế giới tâm lí dao động, khó nắm bắt qua nhân vật của mình

Bước vào giai đoạn sau Đại hội VI (1986), trong xu thế đổi mới nhằmđáp ứng nhu cầu của xã hội, một số hiện tượng văn học được nhìn nhận mộtcách khoa học và toàn diện hơn, trong đó có Nhất Linh Những công trình

nghiên cứu về tiểu thuyết Nhất Linh thời kì này có: Phan Cự Đệ (Tự lực văn

đoàn - con người và văn chương), Trương Chính (Vấn đề đánh giá Tự lực văn đoàn), Nguyễn Trác - Đái Xuân Ninh (Về Tự lực văn đoàn), Vũ Gia (Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học)… đã chỉ ra những đóng góp tiêu

biểu của Nhất Linh trong tư tưởng và nghệ thuật - đặc biệt là nghệ thuật miêu

tả tâm lí nhân vật Đồng thời cũng khách quan chỉ ra những hạn chế của ôngtrong từng chặng đường văn học Tiêu biểu Vũ Thị Khánh Dần cho rằng

“Tiểu thuyết của Nhất Linh còn một số hạn chế mang tính lịch sử, một sốnhân vật thiếu sức sống lâu bền, do tính cách chưa sắc cạnh, tâm lý nhân vậtcòn đơn giản” [3; tr,11] Hay Dương Thị Hương cũng chỉ ra một số điểm hạnchế trong nghệ thuật xây dựng nhân vật “Nhân vật được miêu tả trong thế giới

cô lập, khép kín, vì vậy quá trình tâm lí hoặc các trạng thái tâm lí của nó đượcnhìn nhận bởi cái nhìn chủ quan của tác giả và nhân vật nhiều hơn bởi sự tácđộng của hoàn cảnh” [10; tr,14]

Hơn nửa thế kỉ qua, việc đánh giá tiểu thuyết Nhất Linh là một quá trìnhphức tạp, nhưng ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu mới đi dần đến sựxứng đáng hơn với đóng góp của ông Đó là cái nhìn nhận đúng những thành

Trang 12

công về nghệ thuật tiểu thuyết cho nền văn học Việt Nam hiện đại Với tác

phẩm Lạnh lùng, Nhất Linh đã rất thành công về nghệ thuật miêu tả tâm lí

nhân vật, nhân vật bộc lộ tâm trạng của mình bằng ngôn từ trong sáng, giản

dị, giàu chất thơ Ở những bài phê bình ở thời kì trước, các nhà nghiên cứuphần nào chỉ ra một số đặc điểm thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểuthuyết của Nhất Linh Kế thừa thành tựu nghiên cứu từ thời kì trước, chúngtôi tiếp tục bổ sung, tiếp tục đi sâu nghiên cứu cụ thể vào thời gian và không

gian nghệ thuật trong Lạnh lùng.

3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận hướng tới tìm hiểu và phân tích “Thời gian và không gian

nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh”.

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là “Thời gian và không gian

nghệ thuật trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh”.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu “Thời gian và không gian nghệ thuật

trong tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh” Để làm rõ các yếu tố nghệ thuật

trên, chúng tôi có tham khảo các tác phẩm khác của ông và một số cây bútcùng thời

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi linh hoạt vận dụng các phương phápnghiên cứu sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp tiếp cận hệthống; phương pháp so sánh Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng một sốphương pháp như phương pháp khảo sát, phương pháp thống kê Các thao tácgiải thích, chứng minh, bác bỏ, bình luận cũng được sử dụng làm thao tác hỗtrợ

6 Đóng góp của khóa luận

Trang 13

Khóa luận nghiên cứu sâu về thời gian và không gian nghệ thuật trong

tiểu thuyết Lạnh lùng của Nhất Linh Trên cơ sở đó khẳng định thành tựu và

tài năng của Nhất Linh trong nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật

Trang 14

Khóa luận có thể làm nguồn tài liệu hỗ trợ đắc lực cho người nghiêncứu khi tìm hiểu về Nhất Linh.

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Thư mục và Tài liệu tham khảo; khóaluận gồm có 2 chương:

Chương 1: Giới thuyết chung

Chương 2: Biểu hiện thời gian và không gian nghệ thuật trong tiểu

thuyết Lạnh lùng

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 1.1 Tác giả Nhất Linh

1.1.1 Thân thế

Nhất Linh tên khai sinh là Nguyễn Tường Tam, ông cất tiếng khóc chàođời vào ngày 27 tháng 5 năm 1906 tại phố huyện nghèo Cẩm Giàng, tỉnh HảiDương, nơi giao thoa giữa hai vùng văn hóa: quan họ Kinh Bắc và khoa cử xứĐông Ông nội Nguyễn Tường Trấp (hay còn gọi là Tiếp), trưởng nam và làmtri huyện tại Cẩm Giàng và được người dân ở đây thường gọi bằng sự kính nểlà: Huyện Giám Ông Huyện Giám Nguyễn Tường Tiếp có ba người vợ và cóbốn người con, trong đó có Nguyễn Tường Chiếu, tục gọi là Nhu sinh năm

1881 làm tới chức Thông phán tòa sứ, nên thường được gọi là Thông Nhu hayPhán Nhu Ông Nhu kết hôn với bà Lê Thị Sâm, con gái cả viên quan võ LêQuang Thuật Thành quả của cuộc hôn nhân này là sự ra đời của 7 người con,sáu trai một gái, ai cũng tài giỏi Nhất Linh là con thứ ba của gia đình ông bàNhu Ông Thông Nhu mất bên Lào vào năm 1918, gia đình lâm vào cảnh túngquẫn, nghèo khổ Đây là thời điểm đánh dấu những ngày tháng thống khổ và

có ý nghĩa to lớn trong cuộc đời họ Bà Nhu khi ấy 37 tuổi, đó là độ tuổi hồixuân của đời người vậy mà bà phải tần tảo khuya sớm nuôi bảy người con,trong hoàn cảnh các con mới đang ở độ tuổi thơ ấu và niên thiếu

Gia đình ông sống ở phố huyện Cẩm Giàng nghèo đói, chịu sự càn quétcủa bọn Tây Để nuôi được các con ăn học bà Nhu đã can đảm vượt qua thửthách, kiếm sống bằng các nghề như: buôn gạo, nấu thuốc phiện… Bà NguyễnThị Thế kể lại trong hồi ức: “Gia đình mẹ tôi xưa nghèo, và trở thànhkhốn quẫn sau khi ông (tức ông Nhu - TG chú thích) mất bên Lào Bà buônbán tảo tần nuôi bảy người con ở cái phố huyện buồn thiu… Các anh em trai

đi học, mẹ tôi là con gái độc nhất ở nhà thay mẹ lo việc nội trợ…” [32; tr,261].Cuộc sống

Trang 16

nghèo khổ mà ông đã từng chứng kiến được ăn vào nếp nghĩ, tiềm thức vàhằn sâu trong tâm hồn các con (đặc biệt là Nhất Linh và Thạch Lam), để saunày những sự kiện, biến cố được nếm trải ấy lại được kí thác thành nhữngnhân vật văn học trong các sáng tác của họ.

Tạp chí, một ấn phẩm vào loại sang thời ấy Dường như, đây là tác phẩm đầu

tiên song chưa thật sự nổi bật, tuy nhiên tác phẩm này cũng dự báo tương laitươi sáng và đầy hi vọng cho sự nghiệp văn chương của nhà văn, nhà chính trịsau này

Năm 17 tuổi ông đỗ bằng Cao tiểu, nhưng chưa đủ tuổi vào trường Caođẳng, nên ông xin làm ở Sở Tài chính Hà Nội, nhờ sự quen thân với Tú Mỡcùng viết cho tờ Nam Phong Cũng vào năm đó nhà báo quyết định kết hônvới bà Phạm Thị Nguyên

Năm 18 tuổi ông tiếp tục học ngành Y Năm 19 tuổi trường Cao đẳng

Mỹ Thuật được thành lập dưới sự bảo hộ của nhà nước, ông quyết định thi và

đỗ đầu bảng Năm 1924, ông cho ra đời tập truyện Nho phong (1924) Những

năm 1925-1926 phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi cộng với bức tranh cuộcsống thôn quê mà ông được thị giác thấy qua những đợt đi trải nghiệm, tập vẽphong cảnh thực tế với họa sĩ “Tạc” đã cổ vũ lòng nhiệt huyết đối với đấtnước Năm 20 tuổi, ông vào Nam, gặp Trần Huy Liệu và Vũ Đình Di vì haiông này cùng có chí hướng làm báo Nhưng vì tham dự đám tang Phan ChuTrinh nên hai người này bị bắt, nhà văn bị liên lụy phải trốn sang Lào, tựkiếm tiền để lo trang trải cuộc sống bằng nghề vẽ thuê phông rạp và tìmđường sang Pháp du học

Trang 17

Năm 21 tuổi, giấc mơ sang Pháp du học của ông đã trở thành hiện thực.

Ở đó ông trau dồi kiến thức, nghiên cứu sâu về báo chí xuất bản Năm 24 tuổi,ông đậu bằng Cử nhân Khoa học và cùng thời gian đó ông trở lại Việt Nam

Năm 1930, ông trở về nước làm giáo sư tại trường tư thục Thăng Long

- Hà Nội, kết bạn với Khái Hưng cùng dạy ở đây Tại mảnh đất Hà Thành ôngcùng hai em ruột của mình là Hoàng Đạo và Thạch Lam xin ra tờ báo trào

phúng Tiếng cười, nhưng không có đủ để xuất bản thì giấy phép hoạt động hết

hạn, bị tước bỏ

Năm 1932, ông cùng với một số người khác mua lại tờ báo Phong Hóa.

Nội dung của báo có tư tưởng tân tiến, mới mẻ là “duy tân cấp tiến, đả phá hủtục”, khích lệ vươn tới cái tươi sáng, văn minh Ngày 22-9-1932, số báo

Phong Hóa đầu tiên ra đời do Nhất Linh làm chủ bút với mục đích là ủng hộ

cho phong trào thơ mới: “Thơ ta phải mới, mới văn thể, mới ý tưởng”.

Năm 1933, ông đi đầu và làm chủ soái thành lập nhóm Tự lực văn đoàn.

Thời kì này bên cạnh việc bao quát tòa soạn, cầm bút sáng tác cho văn đoàn,Nhất Linh cũng đã dành rất nhiều thời gian, nhiệt huyết cho việc sáng tác vàthúc đẩy hoạt động của văn đoàn tiến lên một bước mới Đến năm 1934, ông

đã sáng tác được Anh phải sống (viết với Khái Hưng, 1932-1933), Gánh hàng

hoa (viết với Khái Hưng, 1934), Đời mưa gió (viết với Khái Hưng, 1934), Nắng thu (1934).

Ngày 30-1-1935, ra tờ Ngày Nay số 1 bán giá 10 xu Vì phải nuôi hai tờ báo cùng một lúc, không có đủ tiền trang trải nên tờ báo Ngày nay ra được 13

số bị phá sản chỉ còn tờ Phong Hóa Chỉ sau một năm khi có hàng loạt bài báo đích danh chĩa thẳng vào nhà cầm quyền, tờ Phong Hóa chính thức bị đóng

cửa sau ba năm hoạt động Giai đoạn này Nhất Linh cũng đã sáng tác được

Lạnh lùng (1935-1936), Đôi bạn (1936-1937), Bướm trắng (1938-1939), Đi Tây (1935), Hai buổi chiều vàng (1934-1937), Thế rồi một buổi chiều (1934-

1937)

Trang 18

Năm 1939 Nhất Linh từ một nhà văn, nhà báo đã chuyển sang lĩnh vựcchính trị Ông thành lập Đảng Hưng Việt rồi làm Tổng thư kí Đảng Đại việt

dân chính Vì có ý thức chống Pháp nên một số thành viên của Tự lực văn

đoàn như Khái Hưng, Hoàng Đạo… bị bắt và đi đày ở Sơn La Nhất Linh

sang Hồng Công với ý định dựa vào Nhật để chống Pháp Ông từng bị bắtgiam bốn tháng ở nhà tù Liễu Châu năm 1942 Sau nhờ có Nguyễn Hải Thần,Nghiêm Kế Tổ bảo lãnh, nên ông được tự do, nhưng không trở về nước màsống cuộc đời lưu vong lần thứ nhất tại Trung Quốc Cuối năm 1945 đầu năm

1946, ông về Hà Nội và tham gia đại biểu Quốc hội khóa I Ông được cửtrong phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau (Pháp) nhưng không đi,

mà bỏ sang Trung Quốc tháng 5 năm 1946

Năm 1950, ông trở về nước, tuyên bố không hoạt động chính trị, kếtthúc 11 năm cống hiến cho Đảng Năm 1951, Nhất Linh cùng người anh cả làNguyễn Tường Thụy vào Nam Thời kì này, ông tiếp tục sáng tác, đồng thờicho in ấn lại các tác phẩm cũ Năm 1955, ông quyết định ở Đà Lạt với niềmyêu thích cây cảnh và khiếu vẽ tranh Sau đó, ông cho ra đời các tác phẩm:

Dòng sông Thanh Thủy (1960-1961), Ba người bộ hành, Chi bộ hai người, Vong quốc, dịch phẩm: Đỉnh gió hú của Emily Bronte (đăng báo 1960, xuất

bản 1974), Thương chồng (1961), khảo luận: Viết và đọc tiểu thuyết

(1952-1961) Tháng 7 năm 1963, Nhất Linh quyên sinh để chống lại việc phán sửcủa Tòa án quân sự khi bị kết tội: “xâm phạm an ninh Quốc gia”

Là người đam mê chính trị, say mê văn học nghệ thuật, trong cuộc đờicủa mình, Nhất Linh đã nhận thấy thất bại khi làm chính trị và chỉ còn ở ông-một nhà văn với khát vọng đổi mới

1.2 Vị trí của tiểu thuyết Lạnh lùng trong sự nghiệp sáng tác của Nhất

Linh

Ngay từ khi ra đời, Tự lực văn đoàn đã có những hướng đi đúng đắn,

góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới tiểu thuyết ở Việt Nam nửa đầu

Trang 19

thế kỉ XX, đó là mở ra cho tiểu thuyết hướng đi sâu vào khai thác tâm lí nhân

vật Những nhân vật từ Nhung (Lạnh lùng), Tuyết (Đời mưa gió), đến Lan, Ngọc (Hồn bướm mơ tiên), Dũng (Đôi bạn), Trương (Bướm trắng) phần lớn

là những nhân vật tâm lí Nhất Linh đã thành công khám phá ra con ngườitâm lí, nội tâm của nhân vật cũng đã chi phối kết cấu cũng như mạch vậnđộng của truyện Không gian nghệ thuật thu gọn lại trong những “vòng tròntâm lý hướng tâm” Việc từ bỏ lối kết cấu chương hồi, chuyển sang lối kết cấu

tâm lí, tiểu thuyết của Nhất Linh đặc biệt là tiểu thuyết Lạnh lùng đã làm đảo

lộn toàn bộ thi pháp tiểu thuyết của các nhà văn lớp trước, chi phối trong cáckhâu sáng tạo nghệ thuật, từ việc lựa chọn tình huống, miêu tả tâm trạng nhânvật đến bố cục tác phẩm cũng như cách tổ chức không gian, thời gian Để phùhợp với việc miêu tả nội tâm nhân vật không gian và thời gian nghệ thuật thuhẹp dần từ hướng ngoại sang hướng nội Trong tiểu thuyết Nhất Linh chủ yếu

là không - thời gian thiên về những cảm xúc nội tâm, không gian thi vị, diễm

lệ phù hợp với cái nhìn chủ quan, duy cảm

Giữa Đoạn tuyệt và Bướm trắng thì Lạnh lùng nằm ở trung gian Với

Đoạn tuyệt ông chủ trương miêu tả tâm lí của Loan, nhưng là tâm lí đơn lập,

một chiều, dù trong đau buồn hay vui vẻ Loan cũng hành động một cách tích

cực Bước sang Lạnh lùng, Nhất Linh bắt đầu len lỏi vào diễn biến tâm lí

phức tạp, hỗn loạn của con người, cuộc đấu tranh giằng xé trong cuộc sống

-đặc biệt là Nhung Lạnh lùng là dấu mốc quan trọng trong nghệ thuật của

Nhất Linh vừa phê phán xã hội vừa thể hiện tâm lí nhân vật Không phải tâm

lí một chiều như Đoạn tuyệt, Lạnh lùng miêu tả trạng thái phức tạp, dao

động, tâm lí ấy bị chi phối nhiều hoàn cảnh, có ý thức đi sâu vào khám phá

đời sống tâm lí Những năm 30 của thế kỉ XX, vị chủ súy trong cuốn Viết và

đọc tiểu thuyết cho rằng: “Những cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tả đúng

sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài Diễn tả được một cách linh động các trạngthái phức tạp của cuộc

Trang 20

đời, đi thật sâu vào sự sống với tất cả những chuyển biến mong manh tế nhịcủa tâm hồn” Quan niệm tiểu thuyết phải đi sâu vào miêu tả thế giới bên trongtâm hồn con người đã chi phối quan niệm sáng tác của nhà văn Với tư tưởngmới mẻ, cách lựa chọn thời gian và không gian nghệ thuật hợp lí, ngôn ngữtrong sáng dễ hiểu vì thế đã tạo nên sự say mê, lôi cuốn, sự “say sưa thấm

vào tận đáy lòng”, làm cho tất cả những gì mà “cơn bão” Tố Tâm gây ra trước đó đi vào quên lãng Chính vì vậy mà ở Lạnh lùng tác giả đã rất thành

công trong việc nghiên cứu những trạng thái tâm lí phức tạp, khó nắm bắt củangười phụ nữ trẻ tuổi, tiêu biểu là Nhung - nhân vật trung tâm của tác phẩm

“Thời gian và không gian nghệ thuật trong Lạnh lùng” được xem là

nguyên tố không thể thiếu tạo nên giá trị tác phẩm và khẳng định tài năngsáng tạo của nhà văn

1.3 Thời gian nghệ thuật

1.3.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật

Đ.X Likhachép trong cuốn Thi pháp văn học Nga cổ cho rằng:

“Thời gian là đối tượng, là chủ thể, là công cụ miêu tả - là sự ý thức và cảmgiác về sự vận động và đổi thay của thế giới trong các hình thức đa dạng củathời gian xuyên suốt toàn bộ văn học” [15; tr,209- 210] GS Trần Đình Sử

trong cuốn giáo trình Dẫn luận thi pháp học cho rằng: “Thời gian nghệ thuật là

thời gian mà ta có thể nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với tính liên tục

và độ dài của nó, với nhịp độ nhanh hay chậm, với các chiều dài thời gian hiệntại, quá khứ hay tương lai Thời gian nghệ thuật do được sáng tạo ra nên mangtính chủ quan, gắn với thời gian tâm lí Nó có thể kéo dài hay rút ngắn thờigian thực tế Nó có thể đảo ngược hay vượt tới tương lai Nó có thể dừng lại.Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, sản phẩm sáng tạo của tác giảbằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người thưởng thức cảm nhậnđược: hoặc hồi hộp chờ đợi, hoặc thanh thản vô tư, hoặc đắm chìm vào quákhứ” [25; tr,23]

Trang 21

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thời gian nghệ thuật là hình thức nội

tại của hình tượng nghệ thuật có tính chỉnh thể của nó Cũng như không giannghệ thuật, sự miêu tả trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuấtphát từ một điểm nhìn nhất định trong thế giới Và cái được trần thuật bao giờcũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật Sự phối hợphai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệchỉ có trong thế giới nghệ thuật” [8; tr,322]

Hay trong cuốn giáo trình Một số vấn đề Thi pháp học hiện đại của Gs.

Trần Đình Sử viết rằng: “Cũng như không gian nghệ thuật, thời gian nghệthuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại vàtriển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới thực tại chỉ tồn tại trong khônggian và thời gian, thì cũng như thế, thế giới nghệ thuật chỉ tồn tại trong khônggian và thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật là cái thời gian được cảmnhận bằng tâm lí, qua chuỗi liên tục các biến đổi (biến cố) có ý nghĩa thẩm

mỹ xảy ra trong thế giới nghệ thuật Là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí

và mang ý nghĩa thẩm mỹ nên thời gian nghệ thuật khác với thời gian kháchquan đo bằng lịch và đồng hồ, nó có thể đảo ngược, từ hiện tại hồi tưởng lạiquá khứ.” [25; tr,62] Thời gian nghệ thuật được nghiên cứu dưới góc độ thipháp học, được coi là phạm trù yếu điểm nhất, bởi vì nó kích thích triệt đểđược sự say mê, sáng tạo của tác giả Nhà văn có thể chọn kể ngắn trong vàiphút hay kể dài hơi hơn trong một năm, hai năm, có thể tự do lựa chọn độ dàimột chi tiết, hình ảnh hay một sự kiện nổi bật Thời gian thể hiện cái nhìn mới

mẻ, tinh tế về quan niệm nghệ thuật của nhà văn Tìm hiểu thời gian nghệthuật sẽ giúp người đọc chiếm lĩnh được nội dung và hình thức của tác phẩm

1.3.2 Các dạng thức của thời gian nghệ thuật

Nếu trong ngôn ngữ học, người ta chia ra làm hai dạng: cái biểu đạt vàcái được biểu đạt thì trong văn học cũng vậy, người ta phân thời gian ra làmhai loại: thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật

Trang 22

1.3.2.1 Thời gian trần thuật

“Thời gian trần thuật là thời gian của người kể, của sự kể… Nó có thểsắp xếp lại trật tự thời gian của sự việc vào trật tự trước sau của nó Nó có thểđem cái xảy ra sau kể trước và ngược lại, đem cái xảy ra trước kể sau” [21;tr,65]

Thời gian trần thuật được xem là thời gian chuyển động đơn tuyến, mộtchiều, tác giả có thể kể lại một đời người hay miêu tả một gia phả dòng họ…của tác phẩm văn học Có người nói rằng: “văn học là nghệ thuật thời gian bởi

vì văn học diễn đạt các sự vật, hiện tượng theo trật tự của thời gian của lời nóiliên tục từ câu đầu cho đến câu cuối cùng không thể đảo ngược” Trong tiểu

thuyết Lịch sử Tôm Giôn của Anh PhinĐinh, người con rơi nhắc nhở độc giả:

“Nếu trong sách này bạn đọc tìm thấy những chương chỉ viết có một ngày, lại

có những chương viết về hàng năm, lại có lúc câu chuyện chúng tôi dừng lại,

có lúc lại vượt lên phía trước, thì xin các bạn chớ có lấy làm lạ”

Thời gian thực tại hiếm khi trùng khớp với thời gian nghệ thuật trongvăn học, điều này có nghĩa rằng thời gian nghệ thuật được sáng tạo theo cáinhìn chủ quan của tác giả Thời gian nghệ thuật là sự góp nhặt từ các quan hệ,các sự kiện, các đoạn thời gian của sự kiện mà còn được tạo bởi thời gianmiêu tả

“Thời gian trần thuật là một hiện tượng nghệ thuật, chỉ có trong sáng tácnghệ thuật, bởi nó nhằm tạo ra cảm giác thời gian và dòng thời gian trong tâmhồn người đọc” Đây là vấn đề liên quan đến nghệ thuật kể chuyện của nhàvăn, thể hiện thực chất sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ

1.3.1.2 Thời gian được trần thuật

“Thời gian được trần thuật là thời gian của sự kiện được nói tới” [21;

tr,66] Bao gồm: thời gian sự kiện và thời gian nhân vật

Thời gian được trần thuật là thời gian diễn ra các sự kiện được miêu tảtrong tác phẩm Chắc hẳn cũng có những bạn đã và đang là phan cuồng của

Trang 23

những tập truyện, những cuốn tiểu thuyết đã biết ít nhiều về thời gian nghệthuật Tuy nhiên, lúc đó ta chỉ biết có thời gian đang diễn ra trong truyện, màtạm quên đi thời gian thực tại (vật lý) như: đang nấu ăn để thức ăn cháy, đangchăn trâu để trâu ăn lúa, quên hẳn thời gian đang diễn ra trong hiện tại, khôngbiết sáng hay tối…

Người ta cảm nhận được thời gian từ những đổi thay, biến cố trong tựnhiên: theo mùa (xuân, hạ, thu đông), đời người (lọt lòng, thời thơ ấu, niênthiếu, trưởng thành, già và chết), theo buổi (sáng, trưa, tối), trong phong tục

xã hội (các ngày lễ hội, các phiên chợ), trong đời sống chính trị (đời vua nào,trước cách mạng, sau giải phóng…) Mọi cảm nhận về biến đổi gợi cảm giácthời gian:

“Ôi sáng, xuân nay xuân 41Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về Im lặng Con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ”

(Theo chân Bác - Tố Hữu)

Thời gian không chỉ được đo đếm bằng thời gian vật lý mà còn đo đượcbằng cảm nhận từ cảm xúc của nhân vật, thông qua các sự kiện biến đổi liêntục có ý nghĩa xảy ra trong tác phẩm Là thời gian được cảm nhận bằng tâm lí

và mang ý nghĩa thẩm mỹ nên thời gian nghệ thuật khác với thời gian thực tại

đo bằng lịch sử và đồng hồ Vì nó được cảm nhận bằng tình cảm, cảm xúc củacon tim, bằng lăng kính chủ quan của chủ thể, đối tượng tiếp nhận

Có không ít những nhà thơ, nhà văn của chúng ta rất sợ thời gian chảytrôi qua mà chưa được tận hưởng trọn vẹn vị ngọt cuộc đời Phải kể đến ônghoàng thơ tình Xuân Diệu luôn cuống cuồng, sửng sốt trước cảm giác có hạncủa thời gian Chính vì vậy, trong rất nhiều bài thơ, Xuân Diệu luôn khao khátđược yêu, được đắm mình trong tình yêu Thời gian nghệ thuật trong thơ

Trang 24

Xuân Diệu là thời gian đời tư, thời gian tâm trạng, thời gian của quỹ đạo cánhân Nó thường được đo bằng những đơn vị nhỏ nhất như một phút, mộtgiây, hay một chớp, một thoáng hoặc một chút:

“Không có cánh nhưng vẫn thêm bay bổng;

Đi trong sân mà nhớ chuyện trên trời:

Trút ngàn năm trong một phút chơi vơi;

Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ…”

(Cảm xúc - Xuân Diệu)

Trong văn học, các nhà nghiên cứu đã tìm ra các hình thức thời giannghệ thuật khác nhau Tùy vào mục đích sử dụng và cá tính sáng tạo, mỗi nhàvăn chọn lựa một hình thức phù hợp cho riêng mình

1.4 Không gian nghệ thuật

1.4.1 Khái niệm không gian nghệ thuật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, không gian nghệ thuật là “hình thức

bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu

tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn, diễn

ra trong một trường nhìn nhất định, qua đó thế giới nghệ thuật cụ thể, cảmtính bộc lộ toàn bộ quảng tính của nó: cái này bên cạnh cái kia, liên tục, cáchquãng, tiếp nối, cao, thấp, xa, gần, rộng, dài, tạo thành viễn cảnh nghệ thuật.Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủquan Ngoài không gian vật thể, có không gian tâm tưởng Do vậy, khônggian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địalí” [8; tr,162]

Không gian nghệ thuật có vai trò quan trọng trong việc hình thànhnhững sợi dây liên kết các yếu tố thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti, trật tự.Không gian nghệ thuật còn cho thấy cảm quan nghệ thuật về thế giới vànhững khám phá, nhận thức mới mẻ của tác giả hay của một giai đoạn văn

Ngày đăng: 11/09/2019, 11:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Xuân Bảo (1972), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Xuân Bảo
Nhà XB: NXB Sài Gòn
Năm: 1972
2. Trương Chính (1939), Dưới mắt tôi, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dưới mắt tôi
Tác giả: Trương Chính
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 1939
4. Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
5. Nhóm Lê Quý Đôn (1957), Lược thảo văn học sử Việt Nam, NXB Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược thảo văn học sử Việt Nam
Tác giả: Nhóm Lê Quý Đôn
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 1957
6. Hà Minh Đức (Chủ biên) (1993), Giáo trình Lí luận văn học, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Vănhóa
Năm: 1993
7. Vũ Gia (1995), Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học
Tác giả: Vũ Gia
Nhà XB: NXBVăn hóa
Năm: 1995
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2004) Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Lê Cẩm Hoa (biên soạn) (2000), Nhất Linh - con người và tác phẩm, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhất Linh - con người và tác phẩm
Tác giả: Lê Cẩm Hoa (biên soạn)
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
10. Dương Thị Hương (2001), Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Luận án TS, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật trong tiểuthuyết Tự lực văn đoàn
Tác giả: Dương Thị Hương
Năm: 2001
11. Đoàn Thị Hương (2015), Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồnbướm mơ tiên
Tác giả: Đoàn Thị Hương
Năm: 2015
12. Trịnh Hồ Khoa (1997), Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho văn xuôi Việt Nam hiện đại, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đóng góp của Tự lực văn đoàn cho vănxuôi Việt Nam hiện đại
Tác giả: Trịnh Hồ Khoa
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1997
13. Nguyễn Hoành Khung (1979), Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945, tập 1, NXB Khoa học - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945,tập 1
Tác giả: Nguyễn Hoành Khung
Nhà XB: NXB Khoa học - Xã hội
Năm: 1979
15. Đ.X. Likhachép, Thi pháp văn học Nga cổ, Matsxcơva, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp văn học Nga cổ
16. Nhất Linh (1961), Viết và đọc tiểu thuyết, NXB Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết và đọc tiểu thuyết
Tác giả: Nhất Linh
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
Năm: 1961
17. Nhất Linh (2006), Lạnh lùng, NXB Văn hóa Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lạnh lùng
Tác giả: Nhất Linh
Nhà XB: NXB Văn hóa Sài Gòn
Năm: 2006
18. Khúc Hà Linh (2017), Anh em Nguyễn Tường Tam Nhất Linh ánh sáng và bóng tối, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh em Nguyễn Tường Tam Nhất Linh ánh sángvà bóng tối
Tác giả: Khúc Hà Linh
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2017
19. Phương Lựu (1997), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
20. Phạm Thế Ngũ (1965), Việt Nam văn học sử giảm ước tân biên, Tập 3, Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử giảm ước tân biên
Tác giả: Phạm Thế Ngũ
Năm: 1965
21. Vũ Ngọc Phan (1994), Nhà văn hiện đại, tập 2, NXB Khoa học - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại, tập 2
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: NXB Khoa học - Xã hội
Năm: 1994
22. Trần Đăng Suyền (2012), Văn học Việt Nam hiện đại tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại tập 1
Tác giả: Trần Đăng Suyền
Nhà XB: NXB Đại họcSư phạm
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w