Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HÀ
TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI XÃ QUẤT ĐỘNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HÀ
TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI XÃ QUẤT ĐỘNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh Các số liệu trong nghiên cứu hoàn toàn trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm trước những kết quả đã nghiên cứu - điều tra trong luận văn này
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, để tôi đạt được mục tiêu đề ra trong đề tài nghiên cứu; tôi đã nhận được sự chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ và hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh cùng các thầy cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Bên cạnh
đó, là nhờ có sự cộng tác giúp đỡ của tập thể cán bộ chính quyền và người dân xã Quất Động, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội cùng các doanh nghiệp hỗ trợ dạy nghề cho người khuyết tật trên địa bàn
Nhân dịp này tôi chân thành gửi lời cảm ơn tới PGS.TS Nguyễn Tuấn Anh, các thầy cô trong Khoa Xã hội học - Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn; tập thể cán bộ chính quyền và người dân xã Quất Động, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội cùng các doanh nghiệp hỗ trợ dạy nghề cho người khuyết tật đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này một cách thuận lợi nhất
Trong phạm vi của công trình nghiên cứu, cũng như bản thân tác giả còn hạn hẹp về kinh nghiệm Vì vậy, nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của quý thầy cô cùng toàn thể bạn đọc Chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hà
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 9
6 Câu hỏi nghiên cứu .10
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16
1.1 Một số khái niệm công cụ 16
1.1.1 Khái niệm truyền thông dựa vào cộng đồng 16
1.1.2 Khái niệm dạy nghề, việc làm 19
1.1.3 Khái niệm người khuyết tật 20
1.2 Lý thuyết vận dụng 21
1.2.1 Lý thuyết hệ thống 21
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu Maslov 23
1.2.3 Lý thuyết vai trò 26
1.3 Cơ sở pháp lý của hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT 28
1.3.1 Một số quy định quốc tế về dạy nghề và tạo việc làm cho NKT 28
1.3.2 Một số quy định trong nước về dạy nghề và tạo việc làm cho NKT30 1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 33
Tiểu kết Chương 1 35
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TRONG DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT XÃ QUẤT ĐỘNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN, TP HÀ NỘI 36
Trang 62.1 Khái quát về NKT và hoạt động dạy nghề - tạo việc làm cho NKT tại
xã Quất Động 36
2.1.1 Đặc điểm về NKT tại xã Quất Động 36
2.1.2 Dự án dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại xã Quất Động đang triển khai 40
2.2 Nhận thức về hoạt động truyền thông trong dạy nghề và tạo việc làm cho NKT 43
2.3 Truyền thông đại chúng về hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT 53 2.4 Truyền thông về hoạt động dạy nghề và tạo việc làm tại cơ sở dạy nghề 61
2.5 Truyền thông về hoạt động dạy nghề và tạo việc làm tại nơi làm việc 69 2.6 Truyền thông về hoạt động dạy nghề và tạo việc làm qua sinh hoạt cộng đồng 75
2.7 Những thuận lợi, khó khăn của NKT trong tiếp cận thông tin truyền thông dạy nghề và tạo việc làm 80
2.7.1 Thuận lợi của NKT trong tiếp cận thông tin truyền thông dạy nghề và tạo việc làm 80
2.7.2 Khó khăn của NKT trong tiếp cận thông tin truyền thông dạy nghề và tạo việc làm 83
2.7.3 Ý nghĩa của việc tiếp cận hoạt động dạy nghề và tạo việc làm đối với NKT 85
Tiểu kết Chương 2 87
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CTXH TRONG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TRONG DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NKT 89
3.1 Vai của NVCTXH trong truyền thông đại chúng 89
3.2 Vai trò của NVCTXH trong truyền thông tại cơ sở dạy nghề 92
3.3 Vai trò của NVCTXH trong truyền thông tại nơi làm việc 95
3.4 Vai trò của NVCTXH trong truyền thông qua sinh hoạt cộng đồng 97
Trang 73.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội bằng phương pháp
truyền thông dựa vào cộng đồng .102
3.5.1 Người khuyết tật .105
3.5.2 Nhân viên công tác xã hội .106
3.5.3 Gia đình, bạn bè, hàng xóm người khuyết tật .108
3.5.4 Cơ sở đào tạo nghề .108
3.5.5 Chính quyền địa phương .109
3.5.6 Doanh nghiệp địa phương .109
Tiểu kết Chương 3 109
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC 117
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Nghề NKT theo học và làm việc 39
Bảng 2.2 Các cơ sở dạy nghề cho NKT tại xã Quất Động 68
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1.Kênh cập nhật thông tin dạy nghề và tạo việc làm của NKT 44 Biểu đồ 2.2.Kênh truyền thông NKT tiếp cận hiệu quả nhất 46 Biểu đồ 2.3 Đánh giá về tầm quan trọng của hoạt động truyền thông dạy nghề
và tạo việc làm cho NKT 49 Biểu đồ 2.4.Tác động của các kênh truyền thông địa phương đối với hoạt động học nghề và tạo việc làm của NKT 51
Biểu đồ 2.5 Mức độ cập nhật thông tin học nghề và tạo việc làm của NKT qua kênh truyền thông đại chúng 54
Biểu đồ 2.6 Lợi ích của kênh truyền thông đại chúng đối với NKT khi tham gia học nghề và tạo việc làm 57 Biểu đồ 2.7 Mức độ thiết thực của các thông tin dạy nghề và tạo việc làm của kênh truyền thông đại chúng 59 Biểu đồ 2.8 Mức độ cập nhật thông tin học nghề và tạo việc làm của NKT qua kênh truyền thông tại cơ sở dạy nghề 61 Biểu đồ 2.9.Lợi ích của kênh truyền thông tại cơ sở dạy nghề đối với NKT khi tham gia học nghề và tạo việc làm 64 Biểu đồ 2.10 Mức độ thiết thực của các thông tin dạy nghề và tạo việc làm của kênh truyền thông tại cơ sở dạy nghề 67 Biểu đồ 2.11 Mức độ cập nhật thông tin học nghề và tạo việc làm của NKT qua kênh truyền thông tại nơi làm việc 70 Biểu đồ 2.12 Lợi ích của kênh truyền thông tại nơi làm việcđối với NKT khi tham gia học nghề và tạo việc làm 72
Trang 10Biểu đồ 2.13 Mức độ thiết thực của các thông tin dạy nghề và tạo việc làm của kênh truyền thông tại nơi làm việc 74 Biểu đồ 2.14 Mức độ cập nhật thông tin học nghề và tạo việc làm của NKT qua kênh truyền thông trực tiếp 75 Biểu đồ 2.15 Lợi ích của kênh truyền thông trực tiếp đối với NKT khi tham gia học nghề và tạo việc làm 77 Biểu đồ 2.16 Mức độ thiết thực của các thông tin dạy nghề và tạo việc làm của kênh truyền thông trực tiếp 79 Biểu đồ 2.17 Những thuận lợi của NKT khi tiếp cận thông tin truyền thông dạy nghề và tạo việc làm 81 Biểu đồ 2.18 Những khó khăn của NKT khi tiếp cận thông tin truyền thông dạy nghề và tạo việc làm 84 Biểu đồ 2.19 thể hiện ý nghĩa của việc học nghề và tạo việc làm đối với NKT86 Biểu đồ 3.1 Đánh giá của NKT về vai trò của NVCTXH trong hoạt đồng truyền thông dạy nghề và tạo việc làm 99
Sơ đồ 3.2: Mô hình hoạt động hỗ trợ người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, TP.Hà Nội dưới góc nhìn và vai trò của công tác xã hội 104
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật từ lâu đã được
xã hội quan tâm, có khá nhiều dự án, chương trình hỗ trợ người khuyết tật học nghề và tạo việc làm cho họ Trên thực tế, người khuyết tật phải đối diện với nhiều khó khăn trong vấn đề học nghề, ví dụ như để được đào tạo nghề phù hợp, phải có sự đầu tư cả về dạy và học để vững chuyên môn, giỏi tay nghề thì mới đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng Tuy nhiên, những đơn vị doanh nghiệp tự nguyện thực hiện đào tạo người khuyết tật vẫn còn ít vì những nguyên nhân như: người khuyết tật không chịu được áp lực công việc cao, điều kiện đi lại, sức khỏe… Chính vì lẽ đó mà các doanh nghiệp còn đắn
do trong việc tuyển dụng người khuyết tật tham gia học nghề và tạo việc làm cho họ [24]
Ở nước ta, truyền thông ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi nhận thức xã hội và tạo ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của công chúng Việc lựa chọn ngôn từ, hình ảnh và thông điệp trong truyền thông có thể giúp hình thành định hướng nhận thức, thái độ và hành vi của mỗi thành viên trong cộng đồng đối với các vấn đề xã hội nói chung, trong đó
có hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật nói riêng
Thời gian qua, thông tin về các hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật
đã nhận được sự quan tâm trong xã hội: nhận thức của người dân về các vấn
đề liên quan đến người khuyết tật không ngừng được cải thiện Mặc dù vậy, vẫn còn một số bộ phận người dân chưa nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, vai trò của hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật Nhiều hoạt động truyền thông vẫn chưa thực sự có hiệu quả trong việc tham gia, khích lệ cộng đồng chung tay hỗ trợ hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật Đó là những thiếu hụt quan trọng trong nhận thức và hành động thực tiễn của đại bộ phận người dân
Trang 12nhất là ở những vùng nông thôn còn chưa phát triển Vì vậy, vai trò của truyền thông sẽ góp phần quan trọng giúp người khuyết tật xóa bỏ tự ti mặc cảm, thấy được vai trò của mình trong xã hội, gia đình, tự khẳng định bản thân, tích cực tham gia lao động ổn định đời sống bản thân, góp phần đảm bảo
an sinh xã hội và cung cấp cho xã hội cái nhìn đúng đắn về hoạt động hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật
Ở Việt Nam, tạo việc làm người khuyết tật cũng luôn được Đảng và Nhà nước ưu tiên, tạo mọi điều kiện để người khuyết tật có việc làm nuôi sống bản thân giảm áp lực cho gia đình và xã hội Điều đó được thể hiện trong hàng loạt văn bản pháp lý quan trọng như Luật người khuyết tật, Luật dạy nghề, Bộ luật Lao động, các Quyết định, Đề án trợ giúp người tàn tật… Đứng trước sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế trí thức, người Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn thách thức mới cần được huy động tối đa nguồn nhân lực có trí tuệ, phẩm chất, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng thích ứng để thực hiện tốt các mục tiêu của xã hội hiện đại Tuy nhiên, có một thực tế cần khẳng định đó là một số lượng lớn những người khuyết tật (NKT) đang tồn tại
ở tất cả các quốc gia từ những quốc gia phát triển đến những quốc gia kém phát triển, trong đó, có nhiều người khuyết tật còn khả năng lao động Vậy, làm thế nào tạo việc làm cho người khuyết tật để họ được học nghề, có việc làm, tăng thu nhập,tự chủ được về kinh tế, thông qua đó người khuyết tật được khẳng định mình trong xã hội, được hòa nhập cộng đồng, có cơ hội thăng tiến và trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời tăng thêm niềm lạc quan, yêu đời, xóa tự ti, mặc cảm [24]
Từ thực tế trên, công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay đang hướng tới việc tạo lập việc làm, xây dựng những hoạt động mang tính chất công bằng xã hội để khẳng đinh vai trò và vị trí của người khuyết tật trong xã hội Công tác
xã hội với người khuyết tật hiện nay chủ yếu hướng tới vấn đề việc làm cho
Trang 13người khuyết tật nhằm giúp họ có được việc làm kiếm được thu nhập tự nuôi sống bản thân, thực hiện tính công bằng xã hội và đảm bảo an sinh xã hội Tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội, số lượng người khuyết tật là 225 người, trong đó riêng khuyết tật vận động là 110 người Trong giai đoạn vấn đề phát triển kinh tế xã hội, vấn đề an sinh xã hội đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, thì dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật vật động là vấn đề quan trọng, không chỉ giúp thu nhập kinh tế xã hội của địa bàn tăng lên mà còn đẩy mạnh vấn đề an sinh xã hội, hòa nhập cộng đồng cho người khuyết tật [28] Nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật tại địa phương nhằm giải quyết vấn
đề việc làm, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao mức sống cho người dân địa phương, chính quyền huyện Thường Tín đã có những hoạt động tích cực nhằm tạo việc làm cho người khuyết tật tại địa phương như dạy nghề, truyền thông nhằm tìm kiếm việc làm cho người khuyết tật Tuy nhiên, những hoạt động này hiện còn gặp nhiều khó khăn và chưa mang lại hiệu quả cao
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Truyền thông dựa
vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật
tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” để nghiên cứu
nhằm nhận diện thực trạng hoạt động hỗ trợ người khuyết tật của địa phương,
và dùng những phương pháp của công tác xã hội nhằm xây dựng giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động hỗ trợ người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tính, thành phố Hà Nội
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề việc làm cho người khuyết tật hiện đang là vấn đề được xã hội quan tâm, với nhiều những công trình nghiên cứu về người khuyết tật cũng như những chính sách, những hoạt động nhằm hỗ trợ người khuyết tật học nghề và tìm kiếm việc làm Những nghiên cứu này đã chỉ ra được những chính sách hỗ trợ người khuyết tật, những hoạt động hỗ trợ và vai trò của các
Trang 14tổ chức trong việc hỗ trợ người khuyết tật tìm kiếm việc làm Dưới đây là một
số nghiên cứu về vấn đề dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật mà tác giả tìm hiểu được trong qua trình nghiên cứu
Đề tài “Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính
sách, chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho NKT” của Bộ Lao
động – Thường binh và Xã hội (1993) là nghiên cứu đáng lưu ý Nghiên cứu
đã bàn về việc xây dựng các chương trình, quyền cho người khuyết tật, đặc biệt đưa ra những giải pháp hỗ trợ về dạy nghề và tạo việc làm Giúp họ tìm được công việc phù hợp với nhu cầu, mong muốn và điều kiện của bản thân
Tổ chức Lao động quốc tế (2010) “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề
và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam” là một trong những báo cáo đã
cung cấp tổng thể về các tổ chức đại diện cho người khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho người khuyết tật, đặc biệt tập trung vào các tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật [25]
Báo cáo cũng phân tích kết quả khảo sát người khuyết tật ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như phát triển doanh nghiệp Rất nhiều
tổ chức trong và ngoài nước cũng nhận thấy việc đào tạo nghề và các dịch vụ
bố trí việc làm cho người khuyết tật là rất quan trọng Vì vậy, báo cáo đề xuất Chính phủ cần có những chính sách riêng khuyến khích các hoạt động đào tạo nghề cho người khuyết tật Báo cáo cũng nêu lên thực trạng hiện nay cũng có một số trung tâm dạy nghề dành riêng cho người khuyết tật được thành lập, nhưng chỉ phục vụ các khu vực thành thị, các vùng nông thôn việc tiếp cận đào tạo nghề rất bị hạn chế Các dịch vụ bố trí việc làm thường gắn liền với
cơ sở đào tạo nghề Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp kiếm được việc làm sau đào tạo còn khá thấp và phần lớn những học viên tốt nghiệp chủ yếu tìm được việc làm tại các cơ sở dành riêng cho người khuyết tật chứ không phải các doanh nghiệp thông thường
Trang 15Tác giả Nguyễn Văn Đồng trong bài viết “Hoạt động hỗ trợ người
khuyết tật tại gia đình của Trung tâm Sống độc lập” Tạp chí Người cao tuổi
(2013), số 60 đã khái quát về hoạt động chăm sóc, trợ giúp NKT tại gia đình
và những trợ giúp của NVCTXH trong quá trình can thiệp trợ giúp NKT, ngoài ra bài viết còn phân tích sự tham gia hoạt động lao động sản xuất của NKT đang tham gia sinh hoạt tại trung tâm [10]
Giáo trình “Công tác xã hội với người khuyết tật” nhà xuất bản Đại
học Quốc gia Hà Nội (2014), giáo trình đã nêu khái quát chung về tình hình người khuyết tật, phân loại và cách chăm sóc trợ giúp người khuyết tật như thế nào, vai trò của nhân viên Công tác xã hội với người yếu thế nói chung và người khuyết tật nói riêng Cách thực hành với người khuyết tật về các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc gia đình [13]
Cuốn tài liệu “Hướng dẫn phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng” của
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phát hành năm 2008 đã cung cấp cho tình nguyện viên Chữ thập đỏ tầm quan trọng của phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật, phục hồi chức năng tại cộng đồng, giới thiệu bộ phiếu điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng[11] Cuốn sách gồm 4 phần: Phần một thông tin chung về tình hình khuyết tật tại Việt Nam, thiệt thòi của người khuyết tật, khái niệm và phân loại khuyết tật, nguyên nhân khuyết tật, phòng khuyết tật, mục đích, ý nghĩa và vai trò phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật, phục hồi chức năng tại cộng đồng Hội Chữ thập đỏ tham gia các hoạt động phát hiện sớm khuyết tật và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; Phần hai giới thiệu cách viết phiếu điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng; Phần ba hướng dẫn các bước tiến hành quy trình điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng; Phần bốn cuốn sách giới thiệu một số dạng khuyết tật thường gặp trong cộng đồng
Tài liệu “Hướng dẫn Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm
xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật” được Viện
Trang 16Nghiên cứu Dư luận Xã hội - Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu với các bộ, ban ngành liên quan đến người khuyết tật tháng 3 năm 2013 Tài liệu được biên soạn trong khuôn khổ Dự án Giảm Kỳ thị với Người Khuyết tật do Quỹ Ford tài trợ Cuốn tài liệu cung cấp các thông tin cơ bản về người khuyết tật cũng như sự kỳ thị, phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật; định hướng các nội dung chính trong công tác thông tin, giáo dục và truyền thông, đưa ra các nguyên tắc chủ chốt đồng thời giới thiệu một số phương pháp và kỹ năng tiến hành hoạt động Thông tin – Giáo dục – Truyền thông nhằm giảm thiểu kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động giáo dục truyền thông khác cho cán bộ và nhân dân Phần phụ lục của tài liệu cung cấp một số những thông tin cơ bản về người khuyết tật ở Việt Nam, các thông tin hỗ trợ cho việc xây dựng nội dung hoạt động chống kỳ thị và phân biệt đối xử, tóm tắt các văn bản pháp lý về người khuyết tật và một số thông tin hữu ích khác [31]
Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam xuất bản
“Bộ công cụ trợ giúp cộng đồng khuyến khích trẻ khuyết tật hòa nhập” - Dự
án “Tạo tác động thuận lợi thông qua phương tiện truyền thông” [1] năm
2008 dưới sự tài trợ của tổ chức Handicap International tại Việt Nam Cuốn sách đưa ra tình hình người khuyết tật tại Việt Nam, cung cấp thông tin về các văn bản pháp lý và chính sách liên quan đến trẻ khuyết tật, các văn bản quốc
tế liên quan đến trẻ khuyết tật, một số gợi ý giúp trẻ khuyết tật và gia đình [30]
“Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay” của
tác giả Vũ Thị Thu Ngà được nhà xuất bản Trường Đại học Quốc Gia xuất bản năm 2008 Cuốn sách hệ thống hóa những căn cứ khoa học và luật pháp
về người khuyết tật, chỉ ra vai trò quan trọng của báo chí trong việc góp phần
Trang 17nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của xã hội đối với người khuyết tật Trên cơ sở khảo sát của các báo Thanh Niên, Hà Nội Mới, Nhân đạo và Đời sống, tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến 7/2008 để thấy rõ thực trạng tuyên truyền về người khuyết tật trên báo hiện nay Nghiên cứu những tác động của báo chí trong việc phản ánh về lĩnh vực người khuyết tật đối với công chúng Đưa ra một số định hướng, giải pháp xây dựng chuyên mục cố định, phân công nhóm phóng viên chuyên trách theo dõi, tạo dựng đội ngũ cộng tác viên, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan tổ chức của người khuyết tật nhằm nâng cao chất lượng phản ánh của báo chí về lĩnh vực này [18]
Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc
làm và bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 26/09/2007 do Trung tâm Nghiên cứu
Châu Á – Thái Bình Dương (Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) tổ chức tại Trung tâm thư viện trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn bao gồm nhiểu tham luận liên quan đến người khuyết tật 20 tham luận của các nhà khoa học, nhà hoạt động
từ thiện, xã hội trong và ngoài nước được trình bày tại hội thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, ổn định đời sống và có đóng góp cho xã hội, lý giải cho cách dùng khái
niệm “người khuyết tật” thay thế cho khái niệm “người tàn tật” [23]
Nhìn chung, những nghiên cứu trên đã chỉ ra được thực trạng việc dạy nghề và hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, những nghiên cứu trên cũng chưa đi sâu vào vấn đề truyền thông dựa vào cộng đồng để nâng cao cơ hội tìm kiếm việc làm cho người khuyết tật Các đề tài, dự án nghiên cứu mới chỉ đề cập tới thông tin chung về người khuyết tật, việc dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyêt tật; các giải pháp
hỗ trợ người khuyết tật hòa nhập cộng đồng; vai trò của nhân viên Công tác
xã hội đối với việc học nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật… Nhưng
Trang 18những dự án, đề tài được đưa ra vẫn chưa xuất phát từ nguyện vọng, nhu cầu học nghề và tạo việc; các ngành nghề phù hợp với người khuyết tật vận động Từ thực tế xã hội và những nghiên cứu nêu trên, với cương vị là một
nhân viên công tác xã hội, tác giả tiến hành nghiên cứu với đề tài “Truyền
thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”
nhằm đánh giá thực tế và đưa ra những giải pháp dưới góc độ công tác xã hội để hỗ trợ người khuyết tật tại địa bàn có cơ hội tiếp cận nghề nghiệp cao hơn sau khi tốt nghiệp những lớp dạy nghề dành cho người khuyết tật, đồng thời giúp người khuyết tật có cơ hội hòa nhập cộng đồng và trở thành những người có ích cho xã hội
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở vận dụng hệ thống lý thuyết và hệ thống các khái niệm vào việc mô tả, phân tích, luận giải về thực trạng và tác động của truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT trên địa bàn xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội Thông qua nghiên cứu, hệ thống các khái niệm về NKT, truyền thông dựa vào cộng đồng, hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT sẽ được làm sáng tỏ hơn Đồng thời, phát hiện những triết lý cơ bản trong hoạt động truyền thông trợ giúp NKT tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm; trên
cơ sở kết quả đạt được cùng những tồn tại, hạn chế, đề xuất vai trò chuyên nghiệp của NVCTXH trong hoạt động trợ giúp NKT để NKT tiếp cận chính sách đào tạo nghề và tiếp cận việc làm một cách hiệu quả hơn
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ những phát hiện chính trong nghiên cứu, sẽ góp phần cung cấp những
cơ sở tổng quan về thực trạng hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT; những ý kiến chia sẻ, đánh giá của NKT hiện đang tham gia hoạt động dạy
Trang 19nghề và tạo việc làm Từ đó, đánh giá, đo lường được hiệu quả hoạt động và tác động của truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở phản ánh nhu cầu của NKT khi tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm
Bên cạnh đó, những kết quả thu được từ nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo, cung cấp những luận cứ, cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý để đưa ra những quan điểm chỉ đạo nhằm xây dựng hệ thống chính sách, mô hình hỗ trợ tạo việc làm cho NKT một cách bền vững Phát triển mạng lưới nghề CTXH với NKT, đặc biệt là các mô hình can thiệp - trợ giúp NKT dựa vào cộng đồng
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu các hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng trong lĩnh vực dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín Từ đó đánh giá vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng trong lĩnh vực dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đánh giá các hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật
và các hoạt động truyền thông tại cộng đồng trong lĩnh vực dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật để từ đó rút ra những thiếu hụt cần phải bù đắp Xác định các hệ thống nguồn lực truyền thông trợ giúp NKT khi tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật
Trang 20- Chính quyền địa phương xã Quất Động, huyện Thường Tín, TP Hà Nội
- Các cơ sở dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, TP Hà Nội
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành tại xã Quất
Động - huyện Thường Tín - thành phố Hà Nội
Phạm vi thời gian nghiên cứu: khảo sát thực địa trong nghiên cứu này
được tiến hành từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2017
Phạm vi nội dung nghiên cứu: Trong nghiên cứu này tác giả tập trung
nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của truyền thông qua cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật, đánh giá các nguồn lực truyền thông của cộng đồng, mong muốn, năng lực tham gia vào truyền thông dựa vào cộng đồng, đánh giá của cộng đồng về hiệu quả thực tế của các biện pháp truyền thông hiện nay ở địa phương Từ đó đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu rút ra những thiếu hụt còn tồn tại trong công tác truyền thông của địa phương Trên những cơ sở đó, triển khai xây dựng mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề cho người khuyết tật phù hợp với thực tiễn tại cộng đồng
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng trong dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội như thế nào?
Trang 21Vai trò của NVCTXH trong hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng trong lĩnh vực dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội ra sao?
Để làm tốt công tác truyền thông dựa vào cộng đồng trong dạy nghề và tạo việc làm cho NKT cần làm gì?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện tại công tác truyền thông dựa vào cộng đồng về dạy nghề và tạo việc làm cho NKT xã Quất Động đang được thực hiện có hiệu quả, song cần
có sự điều chỉnh và định hướng nhằm phục vụ tốt hơn cho hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tại địa phương
Vai trò của NVCTXH đối với truyền thông đại chúng, truyền thông tại
cơ sở dạy nghề, truyền thông tại nơi làm việc và truyền thông qua sinh hoạt cộng đồng
Để làm tốt công tác truyền thông dựa vào cộng đồng trong dạy nghề và tạo việc làm cho NKT xã Quất Động cần có sự phối hợp giữa các đơn vị dạy nghề, thông tin cơ sở sử dụng lao động khuyết tật phối hợp với các cơ quan đoàn thể địa phương, chính quyền địa phương và người dân trong địa phương trong hoạt động truyền thông; lồng ghép các thông tin truyền thông về dạy nghề và tạo việc làm cho NKT với các thông tin truyền thông khác tại địa phương
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu dựa vào cộng đồng
Ứng dụng cách tiếp cận từ dưới lên dựa vào cộng đồng làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu.Tiếp cận từ dưới lên là tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân, tìm hiểu nội lực của người dân, để người dân tự mình tham gia và quyết định các hoạt động của chính họ Cách tiếp cận từ dưới lên chỉ ra rằng trong khi có những khác biệt trong cách thay đổi đời sống của một cộng đồng, chúng không hoàn toàn dị biệt và khác nhau Mặc dù có sự khác biệt, tất cả các cách tiếp cận tập trung vào: củng cố nguồn lực trong một cộng đồng, phát
Trang 22triển sự liên quan và tiếp cận nguồn lực cho các thành viên cộng đồng, phát triển năng lực của các thành viên cộng đồng để sử dụng các nguồn lực [8]
Ứng dụng cách tiếp cận “bottom-up” theo Angelika Kruger (2009) vào
đề tài với mục đích tìm hiểu nhu cầu và nguồn lực của người dân đối với hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật Cách tiếp cận này tập trung hướng tới tìm hiểu thực tế địa phương, đánh giá nhu cầu và nhận diện vấn đề, đánh giá các nguồn lực tại địa phương đó là tất cả các tiểu hệ thống trong cộng đồng, tìm ra điểm mạnh của các tiểu hệ thống đó, đánh giá và liên kết các nguồn lực lại với nhau nhằm xây dựng một mô hình truyền thông phòng ngừa hiệu quả nhất [8]
Ưu điểm của cách tiếp cận này là bám sát tình hình thực tế cộng đồng, tìm hiểu nhu cầu và nguồn lực dựa trên tình hình thực tế, văn hóa, tôn giáo của cộng đồng, liên kết được tất cả các thành viên trong cộng đồng lại thành nguồn sức mạnh tổng hợp, từ đó đạt được mục tiêu đề ra
8.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Là phương pháp phân tích những nghiên cứu trước đó, những chính sách, báo cáo có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu để nhận diện được vấn đề dưới nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, giúp cho nghiên cứu đảm bảo được tính đa chiều và khách quan
Trong nghiên cứu, tác giả tiến hành phân tích những báo cáo, kế hoạch của địa phương về vấn đề dạy nghề và tạo lập việc làm cho người khuyết tật, đặc biệt là những báo cáo về hoạt động truyền thông trong việc dạy nghề cho người khuyết tật để nắm được thực trạng hỗ trợ người khuyết tật tại địa phương, đồng thời phân tích những công trình nghiên cứu đi trước về vấn đề việc làm cho người khuyết tật, đặc biệt là vấn đề truyền thông trong dạy nghề
và tạo việc làm cho người khuyết tật
Trang 23Dựa trên những tài liệu thu thập được tiến hành hồi cứu các tài liệu nhằm hệ
nghiên cứu, tác giả tiến hành thu thập và phân tích tổng hợp các báo cáo về hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật, các nghiên cứu về truyền thông nói chung nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật và đặc biệt là các nghiên cứu về truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ người khuyết tật được gia học nghề
8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Mục đích chính của vận dụng phương pháp phân tích tài liệu chính là quá trình phân tích những số liệu, dữ liệu thành từng cụm, từng lĩnh vực, từng chi tiết cụ thể để tìm ra những ý nghĩa của số liệu đó; tiến hành tổng hợp, đưa ra nhận định và những bình luận, góp phần luận giải và làm sáng
tỏ các quan điểm cần chứng minh trong nghiên cứu Phương pháp này hết sức quan trọng trong nghiên cứu, bởi việc thu thập số liệu chưa có tính quyết định, mà điều cốt lõi chính là những số liệu đó phản ánh điều gì, những tài liệu trước đó đã đề cập tới vấn đề gì? chưa đề cập tới vấn đề gì của nghiên cứu mà tác giả đang tiến hành Chính việc phân tích tài liệu sẽ cung cấp những cơ sở và luận cứ khoa học quan trọng cho nghiên cứu mà tác giả đang tiến hành
Để thu thập thông tin định tính phục vụ nghiên cứu, trong đề tài này tác giả tiến hành 12 phỏng vấn sâu, đại diện của 4 nhóm đối tượng, cụ thể gồm: Cán bộ phụ trách mảng thông tin truyền thông - chính sách xã hội; cán
bộ Hội chữ thập đỏ; gia đình NKT; đại diện các cơ sở dạy nghề và tạo việc làm cho NKT… đây là những đối tượng sẽ cung cấp thông tin định tính phục vụ nghiên cứu Cơ cấu đối tượng phỏng vấn như sau:
Trang 24Đối tượng phỏng vấn Số lượng
Cán bộ phụ trách mảng thông tin truyền thông - chính sách xã hội 1 người
Đại diện các cơ sở dạy nghề và sử dụng lao động NKT 4 người
8.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích của việc sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu định lượng Đề tài xây dựng bộ công
cụ bảng hỏi dành cho khách thể nghiên cứu là NKT có khả năng tham gia học nghề và tạo việc làm tại xã Quất Động, với các câu hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc tổng hợp số liệu, lượng hóa thông tin phục vụ nghiên cứu, với hệ thống câu hỏi nhằm thu thập các thông tin liên quan nhằm trả lời cho câu hỏi nghiên cứu và chứng minh các giả thuyết nghiên cứu đặt ra Bảng hỏi được xây dựng cơ cấu gồm các phần như: Thông tin người được phỏng vấn: giới tính, độ tuổi, dạng tật, sức khỏe…; Những thông tin về điều kiện học tập, khó khăn, thuận lợi và mong muốn của người khuyết tật sau khi hoàn thành chương trình học; thực trạng hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT; sự tham gia của NKT vào hoạt động dạy nghề và tạo việc làm…
* Công cụ nhập liệu và xử lý số liệu: Phần mềm xử lý số liệu SPSS 18.0
* Dung lượng mẫu khảo sát: Số phiếu khảo sát là 100 phiếu
* Cơ cấu mẫu khảo sát: Cỡ mẫu 100 NKT đang tham gia hoạt động dạy
nghề và tạo việc làm tại xã Quất Động, phân theo nghề NKT theo học, cụ thể như sau:
Trang 25Nghề NKT theo học và làm việc Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 26Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Một số khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm truyền thông dựa vào cộng đồng
1.1.1.1 Truyền thông:
Truyền thông là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh như: ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác: thông qua điện tử, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên Truyền thông yêu cầu các bên giao tiếp chia sẻ một khu vực dành riêng cho thông tin được truyền tải Quá trình giao tiếp được hoàn thành khi người nhận hiểu thông
điệp của người gửi [6]
Khi đặt truyền thông vào trong quá trình truyền đạt thông tin giữa bên cho và bên nhận, khái niệm truyền thông đã được xem xét ở ý nghĩa rất rộng của nó Khái niệm “truyền thông”, tương ứng với thuật ngữ “communication” trong tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một xã hội nào mang tính xã hội Truyền thông thường được xem xét như một quá trình truyền đạt thông tin được thực hiện qua ngôn ngữ hoặc các cử chỉ, điệu bộ hoặc các hành vi biểu lộ cảm xúc, vì thế, một số nghiên cứu đã phân biệt truyền thông với hai loại hình là truyền thông bằng ngôn từ (verbal) và truyền thông không bằng ngôn từ (non-verbal) Theo tác giả Nguyễn Văn Dững với cách hiểu chung nhất truyền thông là hoạt động được xác định là truyền tải và chia sẻ thông tin Quá trình này diễn ra liên tục trong đó có tri thức, tình cảm, kỹ năng liên kết với nhau, đay là quá trình phức tạp, qua nhiều mắt khâu Các mắt khâu ấy chuyển đổi tương đối linh hoạt để hướng tới sự thay đổi nhận thức và hành vi của các cá nhân và các nhóm Quá trình đó dẫn
đến việc hình thành một dạng “tính nhân quả của thông tin” [17]
Trang 27Theo tác giả Nguyễn Văn Dũng “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến đến điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội [7] Xem truyền thông gắn liến với sự ý thức của con người, Nguyễn Thị Oanh trong cuốn “Tâm lý truyền thông và giao tiếp” đã đề cập tới “Truyền thông không phải là một hành động đơn giản, riêng lẻ Đây là một sự việc diễn ra liên tục trong cuộc sống của mỗi chúng
ta Chúng ta luôn tiếp nhận những kích thức từ bên ngoài (âm thanh, sắc màu, mùi, cảm giác từ sự tiếp xúc với vật thể ) và luôn luôn tự lý giải những kích thích ấy” [19]
1.1.1.1 Nguồn lực truyền thông:
Phát triển cộng đồng dựa vào tài sản và nguồn lực trong cộng đồng khởi điểm các tài sản và sức mạnh hiện có của cộng đồng, đặc biệt sức mạnh vốn
có trong các hội, nhóm cộng đồng và mạng lưới xã hội trong cộng đồng Nguồn lực cộng đồng được xem như là một trong những lựa chọn các phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu để phát triển
Vậy nguồn lực truyền thông tham gia vào phát triển cộng đồng đó là toàn bộ nguồn lực vật chất và tinh thần, nhân lực và vật lực tham gia vào quá trình truyền thông
1.1.1.3 Kênh truyền thông:
Kênh truyền thông chính là các phương tiện kỹ thuật và phương thức truyền tải thông tin tương ứng, trong đó, những phương thức truyền tải thông tin phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng tiếp nhận thông tin bằng các giác quan nào
Các nhà nghiên cứu về truyền thông cho biết, phần lớn (83%) thông tin được tiếp nhận qua thị giác, còn lại là thính giác (11%), khứu giác (3%) và vị giác (1%) Như vậy, từ cơ sở khoa học này, trong công tác truyền thông dựa
Trang 28vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật, có thể vận dụng vào thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất [17]
1.11 4 Dựa vào cộng đồng:
Cộng đồng là một tập hợp xã hội trong đó các thành viên của nó chia sẻ các giá trị và có các mối liên hệ thuộc tính chặt chẽ với nhau Đồng thời tất cả các cá nhân đều có những liên hệ chặt chẽ với tổng thể cộng đồng, tức là họ
có cảm giác thuộc về tập hợp xã hội đó
Dựa vào cộng đồng là khởi điểm từ các nguồn lực và sức mạnh hiện có của cộng đồng, đặc biệt sức mạnh vốn có trong các hội, nhóm cộng đồng và mạng lưới xã hội trong cộng đồng Dựa vào cộng đồng được xem như là một trong những lựa chọn các phương pháp tiếp cận dựa vào nhu cầu để phát triển Chìa khóa của phát triển cộng đồng là chỉ dựa vào sự kết nối cộng đồng (cá nhân, tổ chức, hội, …) chứ không phải được thúc đẩy bới những ảnh hưởng bên ngoài
Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới: Dựa vào cộng đồng là lấy cộng đồng làm định hướng trao quyền kiểm soát việc quyết định nguồn lực cho các nhóm cộng đồng Những nhóm này thường hợp tác dưới hình thức đối tác với các tổ chức cung cấp, hỗ trợ căn cứ theo yêu cầu và các bên cung cấp dịch vụ trong đó gồm chính quyền địa phương, khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước cấp Trung ương [27]
Vận dụng vào đề tài nghiên cứu truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, tôi lựa chọn khái niệm thứ nhất vì nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xã Quất Động, vì để tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng hiệu quả cần dựa trên nhu cầu, nguồn lực và sức mạnh hiện có của chính các hệ thống trong cộng đồng, từ đó liên kết nguồn lực các tiểu hệ thống đó lại với nhau
1.1.1.5 Truyền thông dựa vào cộng đồng:
Trang 29Căn cứ vào khái niệm truyền thông và khái niệm dựa vào cộng đồng, tôi
đề xuất khái niệm truyền thông dựa vào cộng đồng như sau:
Truyền thông dựa vào cộng đồng là quá trình truyền thông khởi điểm từ sức mạnh nội lực và nguồn lực của cộng đồng để tăng cường và phát huy vai trò của cộng đồng; chìa khóa của phát triển cộng đồng là dựa trên sự kết nối cộng đồng, thông qua các nguồn lực tồn tại từ các tiểu hệ thống trong cộng đồng; tiến hành kết nối các nguồn lực trong cộng đồng thông qua vai trò của người làm đầu mối kết nối và các tình huống để kết nối
Truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT là quá trình truyền thông khởi điểm từ sức mạnh nội lực và nguồn lực của cộng đồng để tăng cường và phát huy vai trò của cộng đồng trong việc dạy nghề và tạo việc làm cho NKT; chìa khóa của truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT là dựa trên
sự kết nối cộng đồng, thông qua các nguồn lực tồn tại từ các tiểu hệ thống trong cộng đồng; tiến hành kết nối các nguồn lực trong cộng đồng thông qua vai trò của người làm đầu mối kết nối và các tình huống để kết nối nguồn lực
1.1.2 Khái niệm dạy nghề, việc làm
1.1.2.1 Dạy nghề:
Theo Luật Dạy nghề (2006), dạy nghề được hiểu là “hoạt động dạy và học
nhằm trang bị kiến thức kỹ năng, thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi học xong” [20]
Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế Quốc dân
thì khái niệm đào tạo nghề được tác giả trình bày là: “Đào tạo nguồn nhân
lực là quá trình trang bị kiến thực nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định” [9]
Theo tài liệu của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội xuất bản năm
2002 thì khái niệm đào tạo nghề được hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động
nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao
Trang 30động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội” Như vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về dạy nghề/đào tạo nghề nhưng trong luận văn của tôi, tôi áp dụng khái niệm dạy nghề theo luật Dạy nghề [3]
1.1.2.2 Việc làm:
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm chính thức được ghi nhận trong văn bản pháp luật trong Bộ luật Lao động vào năm 2012 Cụ thể điều 9 Bộ luật Lao
động việc làm được hiểu là “Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập và
không bị pháp luật cấm” [22] Hoạt động lao động nói chung được hiểu là sự
tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm và dịch vụ
Theo quan điểm của Mác: “Việc làm là để chỉ trạng thái phù hợp giữa
sức lao động và điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó” Như vậy, trong luận văn này tôi sử dụng khái niệm
việc làm theo điều 13 Bộ luật Lao động (2012)
1.1.3 Khái niệm người khuyết tật
Từ “khuyết tật” có nguồn gốc từ disability trong tiếng Anh Theo nguyên nghĩa này có nghĩa là sự hàm ý hạn chế hoặc thiếu khả năng thực hiện một hoạt động gì đó do có khiếm khuyết Phân biệt vơi unability là mất khả năng Trên thế giới cũng như tại Việt Nam tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về người khuyết tật:
Trước đây, trong các văn bản quốc tế cũng như của Việt Nam thường sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” Theo Tuyên ngôn về quyền của người khuyết
tật được đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 9/12/1975 thì “Người
tàn tật có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần những sự cần thiết của một cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh trong những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ” [14]
Trang 31Theo Công ước Quốc Tế về quyền Người khuyết tật: “Người khuyết tật là
người có khiếm khuyết các bộ phận cơ thể gây giảm chức năng hoạt động hoặc hạn chế trong các mặt sinh hoạt, lao động, học tập và đời sống xã hội” [16]
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, “Thuật ngữ khuyết tật được dùng
để chỉ rất nhiều dạng khiếm khuyết khác nhau về vận động, giác quan, trí tuệ hoặc về tâm lý – xã hội và những khiếm khuyết này có thể có ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng tới khả năng thực hiện các hoạt động thường ngày, cả việc làm” [24]
Theo Luật Người khuyết tật (2010), “Người khuyết tật là người bị khiếm
khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới tạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [21]
Như vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về “Người khuyết tật”, trong
nghiên cứu này, tôi lựa chọn cách hiểu về người khuyết tật theo quy định của Luật Người khuyết tật (2010)
Lý thuyết hệ thống có hai nhóm là lý thuyết hệ thống chung và lý thuyết hệ thống sinh thái, lý thuyết hệ thống ứng dụng các khái niệm về hệ thống nói chung coi mỗi hệ thống có một ranh giới nhất định; một hệ thống có thể bao gồm các hệ thống phụ và nằm trong một hệ thống lớn hơn, các hệ thống có thể trao đổi với nhau (hệ thống mở) hay khép kín (hệ thống đóng); một tác động đầu vào sẽ dẫn tới một sản phẩm đầu ra qua hệ thống; một hệ
Trang 32thống có thể ổn định hay biến động Lý thuyết hệ thống nhấn mạnh yếu tố xã hội, lý thuyết này được sử dụng để làm việc với các cá nhân, nhóm và cộng đồng, quan tâm chính của nó là làm thế nào cho các cá nhân, nhóm và cộng đồng có hành vi phù hợp với xã hội [32]
Hệ thống tự nhiên hoặc không chính thức: gia đình, bạn bè, nhóm người
khuyết tật…
Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức đoàn, đội, công đoàn,
Hội chữ thập đỏ, Hội bảo trợ NKT…
Hệ thống xã hội: bệnh viện, trường học, cơ sở đào tạo nghề cho NKT…
Công tác xã hội theo lý thuyết hệ thống nhằm giúp cho NKT phù hợp hơn với xã hội (môi trường) bằng cách giảm bớt tác nhân gây căng thẳng, tăng cường các nguồn lực cá nhân và xã hội và sử dụng các nguồn lực này tốt hơn để có những chiến lược đương đầu tốt hơn với môi trường đáp ứng tốt hơn nhu cầu của NKT
Mô hình hệ thống sinh thái bao gồm: Cộng đồng, gia đình cha mẹ, gia
đình, cá nhân, các hệ thống bên trong
Quan điểm cá nhân trong môi trường: Có một hệ thống trật tự cơ bản
của đời sống; Trật tự xã hội là bền vững và tiến trình động; Mọi hành vi con người đều có tính mục đích; Mọi mô hình tổ chức xã hội đều biểu hiện sự tự duy trì và các đặc điểm phát triển; Mọi tổ chức xã hội đều mạnh, lớn hơn việc tổng hợp các bộ phận
Quan điểm của cá nhân trong môi trường: Phúc lợi là bản chất của con
người và các tổ chức xã hội (đây là nền tảng quan điểm sức mạnh); Mọi tổ chức xã hội đều được mô tả, nghiên cứu giống như các hệ thống xã hội; Quan
hệ xã hội là nền tảng cho mọi hệ thống xã hội; Tiến trình trợ giúp được nhìn nhận trong sự hình thành một tiến trình xã hội tự nhiên
Xã hội càng hiện đại thì càng nảy sinh những áp lực cuộc sống: Sự
chuyển đổi cuộc sống ví dụ như các giai đoạn phát triển, sự biến đổi về vị thế
Trang 33và vai trò, tái cấu trúc không gian cuộc sống Những áp lực về môi trường; ví
dụ như: những cơ hội bất bình đẳng những điều khắt khe và những tổ chức không phản hồi Các tiến trình cá nhân ví dụ việc khám phá, kỳ vọng trái ngược nhau
Quan niệm xã hội về vị thế và vai trò; các chức năng và cấu trúc của cơ
sở xã hội; các luận điểm về mặt chuyên môn; tăng cường khả năng xây dựng
và giải quyết vấn đề cho nhóm đối tượng
Như vậy, từ nội dung lý thuyết nêu trên tác giả vận dụng vào nghiên cứu; trong quá trình nghiên cứu, phân tích thực trạng hoạt động truyền thông dựa vào cộng đồng có ảnh hưởng đến việc học nghề vào tạo việc làm cho NKT như thế nào, lý thuyết này sẽ góp phần lý giải những hệ thống bên trong và bên ngoài cộng đồng, nó có tác động đến NKT đang sinh hoạt trong mô hình; những hệ thống nguồn lực trợ giúp NKT khi tham gia hoạt động học nghề và tạo việc làm tại xã Quất Động: Cán bộ địa phương và cán bộ chính quyền đoàn thể, cán bộ nhân viên các doanh nghiệp đang hỗ trợ NKT tại địa phương và các tiểu hệ thống như: những NKT khác cùng tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm, gia đình của NKT, những nhóm bạn bè NKT hay chia sẻ và tiếp xúc Từ đó, hiểu được các hệ thống đó có tác động và ảnh hưởng tới sự tham gia của NKT; để có biện pháp điều chỉnh, định hướng các
hệ thống có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới NKT [32]
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu Maslov
Để hiểu rõ hơn về “Truyền thông dựa vào cộng đồng trong hoạt động
dạy nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội”, vận dụng lý giải của A.Maslov về nhu cầu
của con người trong cuộc sống Theo A.Maslow thì nhu cầu của con người
được chia làm hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs) con người luôn có những nhu cầu nhất định từ nhu cầu sơ
cấp đến các nhu cầu cao cấp Chính vì vậy, mà theo A.Maslow thì con người
Trang 34dù có khác nhau về nhiều khía cạnh, nhiều đặc điểm riêng nhưng đều có các nhu cầu trên, các nhu cầu đó được sắp xếp từ thấp đến cao, khi một nhu cầu được thỏa mãn thì các nhu cầu khác tạm thời lắng xuống và khi nhu cầu này được thỏa mãn thì nhu cầu khác lại xuất hiện
Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con
người như nhu cầu ăn uống, ngủ nghỉ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là đối với những nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương trong
xã hội như nhóm NKT, bởi họ bị hạn chế nhiều hoạt động và các chức năng
xã hội bị thiếu hụt Maslow quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa
Nhu cầu về an toàn: An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường
không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người Bởi thế an toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp,
an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự… Đây là những nhu cầu khá cơ bản và phổ biến của con người, đối với NKT nhu cầu
đó đóng vai trò rất quan trọng, giúp giảm thiểu các rủi ro trong đời sống đối với NKT, việc tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm giúp NKT được sống trong môi trường được chia sẻ, họ cảm thấy được thoải mái, an toàn do nhận được sự quan tâm, chăm sóc và trợ giúp của cán bộ các đoàn thể, từ cộng đồng, từ những NKT khác
Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận: Do con người là thành
viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị
cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin,
Trang 35lòng trung thành giữa con người với nhau Nội dung của nhu cầu này bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Và đối với NKT nhu cầu này càng trở nên cần thiết, rất cần tạo điều kiện để họ tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm, đó như một môi trường mới để họ thể hiện bản thân
và được cộng đồng thừa nhận vai trò của họ
Nhu cầu được tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: lòng
tự trọng và được người khác tôn trọng: Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng
muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự
tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện bản thân Nhu cầu
được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận,
được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó, nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người đối với NKT họ với những vốn kinh nghiệm, quan hệ xã hội đã tạo dựng họ mong muốn bản thân được người khác tôn trọng, coi trọng và trợ giúp họ, đáp ứng nhu cầu này sẽ tăng cường được lòng tin và sự tham gia của NKT
Nhu cầu tự thể hiện: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách
phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào
đó Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân, những nhu cầu này được thể hiện rất mạnh mẽ trong tất cả hoạt động của NKT khi tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm, hoạt động lao động - sản xuất để chứng minh khả năng của bản thân
Trang 36Vận dụng lý thuyết này trong nghiên cứu sẽ góp phần lý giải, phân tích những nhu cầu cơ bản của NKT khi tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm, đánh giá được những nhu cầu từ thấp đến cao của NKT, từ nhu cầu về vật chất: ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp đến những nhu cầu cơ bản ở bậc cao hơn như: nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, được khám chữa bệnh, được tiếp cận các chính sách trợ giúp, dịch vụ khi tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm NKT có được thỏa mãn những nhu cầu đó hay không? Khi NKT tìm cách thỏa mãn những nhóm nhu cầu này cũng là khi họ gặp phải những thuận lợi, khó khăn có tác động trực tiếp tới bản thân họ; lý thuyết góp phần chỉ ra nhu cầu chung và những nhu cầu cốt lõi về hoạt động học nghề và tạo việc làm của NKT tại xã Quất Động, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội; những ảnh hưởng của công tác truyền thông dựa vào cộng đồng đến hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT; các cơ quan đoàn thể, tổ chức địa phương và cộng đồng đã có những hoạt động can thiệp, trợ giúp như thế nào
để đáp ứng những nhu cầu của NKT [32]
1.2.3 Lý thuyết vai trò
Thuyết vai trò cho rằng mỗi cá nhân đều chiếm giữ các vị trí nào đó trong xã hội và tương ứng với các vị trí đó là các vai trò Vai trò bao gồm một chuỗi các luật lệ hoặc các chuẩn mực như là một bản kế hoạch, đề án chỉ đạo hành vi Những vai trò chỉ ra cụ thể cách thức nhằm đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời chỉ ra những nội dung hoạt động cần thiết đòi hỏi phải có trong một bối cảnh hoặc tình huống cho sẵn Thuyết cũng cho rằng, một phần các hành vi xã hội hàng ngày quan sát được chỉ đơn giản là những việc mà con người thực hiện trong vai trò của họ [32]
Lý thuyết này còn khẳng định rằng, hành vi con người chịu sự chỉ đạo của những mong muốn của cá nhân họ hoặc từ mong muốn của những người khác Những mong muốn cho mỗi vai trò thì khác nhau nhưng phù hợp với vai trò mà cá nhân thực hiện hoặc trình diễn trong cuộc sống hàng ngày của
Trang 37họ Lý thuyết này đề cập rằng, với cùng một hành vi, có thể chấp nhận ở vai trò này nhưng lại không được chấp nhận ở vai trò kia Khi vai trò phù hợp với khả năng của cá nhân thì người đó đảm trách tốt vai trò được phân công Thuyết này cũng cho rằng muốn thay đổi hành vi của một cá nhân, cần tạo cơ hội cho họ thay đổi vai trò của mình Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng lý thuyết vai trò để phân tích, đánh giá vai trò của của NVCTXH trong việc biện
hộ, kết nối, truyền thông vận đồng nguồn lực trợ giúp nhóm NKT xã Quất Động, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội đang tham gia hoạt động dạy nghề và tạo việc làm tại địa phương [32]
Thông qua việc tìm hiểu về các vai trò kỳ vọng, vai trò chủ quan và vai trò khách quan, trong nghiên cứu này tác giả xác định như sau:
Vai trò kỳ vọng: Là những mong đợi về vai trò, về các hoạt động kết nối
của NVCTXH, nhằm trợ giúp nhóm NKT xã Quất Động có thể dễ dàng tiếp cận với hoạt động dạy nghề và tạo việc làm tại địa phương, tiếp cận các doanh nghiệp hỗ trợ NKT tại địa phương
Vai trò chủ quan: Là sự đánh giá của chính NVCTXH, họ là những
người trực tiếp tham gia vào các hoạt động can thiệp, truyền thông, giáo dục biện hộ, vận động, kết nối tổ chức các hoạt động trợ giúp, tập huấn nâng cao nhận thức cho NKT
Vai trò khách quan: Là sự đánh giá của NKT, gia đình NKT, cộng đồng
về các hoạt động mà NVCTXH đã và đang triển khai trợ giúp cho NKT trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm Nhằm mục đích thông qua các hoạt động truyền thông, vận động trợ giúp NKT tại địa phương có thể thuận lợi hơn trong việc tiếp cận những nguồn lực trợ giúp, những thông tin kiến thức – kỹ năng nghề nghiệp để có thể tham gia thị trường lao động [32]
Như vậy, trong nghiên cứu này tác giả sử dụng lý thuyết vai trò nhằm vận dụng phân tích vai trò của NVCTXH, nghiên cứu đề xuất vai trò chuyên nghiệp của NVCTXH trong hoạt động trợ giúp nhằm trang bị các kiến thức –
Trang 38kỹ năng nghề nghiệp cho NKT, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, đoàn thể tại địa phương để trợ giúp NKT hiệu quả hơn Vì vậy, vai trò của NVCTXH trong nghiên cứu này giữ vai trò chủ đạo, là vai trò hạt nhân để phát triển các hoạt động trợ giúp xuyên suốt cho NKT, gia đình NKT
1.3 Cơ sở pháp lý của hoạt động dạy nghề và tạo việc làm cho NKT
1.3.1 Một số quy định quốc tế về dạy nghề và tạo việc làm cho NKT
Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật: Công ước này được
Đại hội đồng Liên Hiệp quốc nhất trí thông qua ngày 13/12/2007 tại kỳ họp lần thứ 61 tại New York, Hoa Kỳ Các quốc gia trên toàn thế giới đăng ký tham gia và phê chuẩn [16]
Mục đích của Công ước này là thúc đẩy, bảo hộ và đảm bảo người khuyết tật được hưởng thụ một cách đầy đủ và bình đẳng quyền con người và các quyền tự do cơ bản và nâng cao sự tôn trọng nhân phẩm vốn có của người
khuyết tật Các quốc gia của công ước “Thừa nhận tầm quan trọng của việc
tiếp cận với môi trường thể chất, xã hội, kinh tế và văn hóa, với y tế, giáo dục
và thông tin liên lạc trong việc giúp người khuyết tật hưởng đầy đủ các quyền
và tự do cơ bản của con người” [16]
Điều 2 của Công ước đưa ra định nghĩa “giao tiếp” với người khuyết tật
bao gồm: “ngôn ngữ, văn bản, chữ Braille, giao tiếp bằng xúc giác, chữ khổ lớn, các phương tiện truyền thông dễ tiếp cận cũng như ngôn ngữ viết, nghe – nói, ngôn ngữ tối giản, đọc tiếng người và các cách thức, phương tiện và dạng giao tiếp tăng cường hoặc thay thế, kể cả công nghệ thông tin liên lạc để tiếp cận”
Để nâng cao nhận thức của người dân về người khuyết tật, tại điểm c khoản 2 điều 8 Công ước đã quy định các quốc gia “khuyến khích các cơ quan truyền thông đưa tin về người khuyết tật theo cách thức phù hợp với mục đích của công ước” Điều 9 Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền của người khuyết tật nêu rõ: “các quốc gia thành viên sẽ thực hiện các biện pháp thích hợp để đảm bảo người khuyết tật tiếp cận, bao gồm các công nghệ và hệ
Trang 39thống thông tin và truyền thông, trên cơ sở bình đẳng với những người khác” Các biện pháp nâng cao khả năng tiếp cận của người khuyết tật, giúp người khuyết tật có thể sống độc lập và tham gia vào mọi khía cạnh của cuộc sống, trước hết hướng đến sự bình đẳng trong môi trường vật chất, giao thông, thông tin liên lạc, khuyến khích người khuyết tật tiếp cận thông tin và công nghệ, hệ thống liên lạc mới, trong đó có internet
Điều 21 của công ước quy định “Các quốc gia thành viên tiến hành mọi biện pháp thích hợp để bảo đảm rằng người khuyết tật có thể thực hiện quyền
tự do biểu đạt và tự do chính kiến, trong đó có tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và ý kiến trên cơ sở bình đẳng với những người khác và bằng bất kỳ hình thức giao tiếp nào họ chọn” Các cách đó là:
Cung cấp thông tin dành cho quảng đại quần chúng cho người khuyết tật dưới các hình thức và công nghệ họ có thể tiếp cận được, thích hợp với các dạng khuyết tật khác nhau, một cách kịp thời và không thu thêm phí; Chấp nhận và tạo điều kiện cho việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, chữ Braille, các hình thức giao tiếp tăng cường hoặc thay thế, và mọi phương tiện, cách thức, dạng giao tiếp dễ tiếp cận khác tùy theo sự lựa chọn của người khuyết tật trong mọi trao đổi chính thức; Kêu gọi các cơ sở tư cung cấp dịch vụ cho quảng đại quần chúng, kể cả qua Internet, cung cấp thông tin và dịch vụ dưới các dạng dễ tiếp cận và dễ sử dụng cho người khuyết tật; Khuyến khích các
cơ quan truyền thông đại chúng, kể cả nhà cung cấp thông tin qua Internet, làm dịch vụ của họ trở nên dễ tiếp cận đối với người khuyết tật; Thừa nhận và thúc đẩy việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu [16]
Khuôn khổ hành động Thiên niên kỷ BIWACO: Khuôn khổ hành động
Thiên niên kỷ BIWACO hướng tới một xã hội hòa nhập, không rào cản và dựa trên quyền của người khuyết tật khu vự Châu Á – Thái Bình Dương đã được thông qua tại Hội nghị cấp cao Liên chính phủ kết thúc Thập kỷ người khuyết tật khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tại thành phố Otsu (tỉnh
Trang 40Shiga, Nhật Bản) tháng 10 năm 2002, và được coi như định hướng chính sách cho Thập kỷ mới Liên chính phủ kết thúc Thập kỷ người khuyết tật khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương (2002), Khuôn khổ hành động Thiên niên kỷ
BIWACO, Quyết định của Hội nghị cấp cao, Nhật Bản [15]
Khuôn khổ hành động Thiên niên kỷ Biwaco đã xác định bảy lĩnh vực
ưu tiên, bao gồm: Tổ chức tự lực của người khuyết tật và những hiệp hội phụ huynh và gia đình của người khuyết tật; phụ nữ khuyết tật; phát hiện sớm, can thiệp sớm và giáo dục trẻ khuyết tật; đào tạo và tạo việc làm, gồm cả việc người khuyết tật tự tạo việc làm; tiếp cận các môi trường xây dựng và giao thông công cộng; tiếp cận thông tin và viễn thông, bao gồm các công nghệ thông tin, viễn thông và trợ giúp; xóa đói giảm nghèo thông qua nâng cao năng lực, an sinh xã hội và các chương trình ổn định cuộc sống bền vững [15]
Trong mỗi một lĩnh vực đều nêu rõ những vấn đề then chốt, các mục tiêu với khung thời gian thực hiện và các hành động cụ thể Trong lĩnh vực
thứ 6, “Tiếp cận thông tin và viễn thông, bao gồm các công nghệ thông tin,
viễn thông và trợ giúp” nhằm thúc đẩy sự tham gia của chính phủ các nước
ban hành các chính sách hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận được với các loại hình truyền thông, làm giảm khoảng cách giữa người khuyết tật với người không khuyết tật [15]
1.3.2 Một số quy định trong nước về dạy nghề và tạo việc làm cho NKT
Tùy từng thời kỳ phát triển của xã hội, Nhà nước luôn có những chính sách, chế độ tạo điều kiện thuận lợi cho người khuyết tật có cơ hội có được việc làm thể hiện trong hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 Chính phủ cũng
đã ban hành thông tư 51/Ttg ngày 17/5/1965, thông tư 202/CP ngày 26/11/1966; nghị quyết 196/CP ngày 16/10/1972, quyết định 284/CP ngày 23/12/1974 và sau đó liên Bộ đã có nhiều thông tư liên tịch hướng dẫn cụ thể các ngành, các cấp, các chính quyền địa phương về trợ giúp và tạo việc làm cho người khuyết tật trong các nhà máy, cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước,