Xuất phát từ những điều trình bày trên đây, tôi đã chọn đề tài:“Hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THANH HẰNG
HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ
VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI TÀN TẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trang 2KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ THANH HẰNG
HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ
VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI TÀN TẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM HỮU NGHỊ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Hữu Nghị
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Trang 4Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, Ban Chủ nhiệm và tất cả các thầy, cô trong Khoa Công tác xã hội - Học viện Khoa học xã hội Việt Nam, các giáo viên Học viện Xã hội Châu Á đã trang bị kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tại Học viện
Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo, cán bộ quản lý, giáo viên dạy nghề cùng các học viên khuyết tật của Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn !
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 9
1.1 Người khuyết tật, dạy nghề đối với người khuyết tật: Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu 9 1.2 Khái niệm, nhu cầu và nguyên tắc hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật 21 1.3 Nội dung hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật 23 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật 31 1.5 Chính sách pháp luật về hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1 Giới thiệu Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh 38 2.2 Thực trạng người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh 42 2.3 Thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh 45
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ - DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 67
3.1 Định hướng và mục tiêu hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật 67 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ-Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh 68
KẾT LUẬN 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1: Kết quả khảo sát đánh giá GV và nhân viên trung tâm
Biểu 2.2: Kết quả khảo sát những khó khăn của học viên
Biểu 2.3: Kết quả đào tạo nghề từ năm 2011-2015
Biểu 2.4: Kết quả đánh giá của học viên về bản thân sau thời gian học nghề Biểu 2.5: Kết quả đánh giá điều kiện phục vụ HV ở nội trú
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Người khuyết tật là vấn đề xã hội, tồn tại như một tất yếu đối với mọi chế độ
xã hội và mọi quốc gia trên thế giới NKT luôn là vấn đề đáng được quan tâm của
xã hội đặc biệt khi Việt Nam đang trên đường hội nhập với nền kinh tế thế giới Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009 do Tổng cục Thống kê tiến hành thì
số NKT trên phạm vi cả nước là 6,7 triệu người, chiếm khoảng 8% tổng dân số, trong đó khoảng 60% NKT trong độ tuổi lao động; 3,6 triệu là nữ và hơn 5 triệu người sống ở nông thôn; khoảng 1,2 triệu là trẻ em
Do bị khiếm khuyết nên NKT gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt, bị hạn chế về khả năng học tập, lao động và hòa nhập với cộng đồng, phần lớn NKT đều không có thu nhập, việc làm và chủ yếu sống bằng trợ cấp của xã hội và gia đình vì vậy các nước đều có chính sách trợ giúp đối với NKT Việc đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội đối với NKT là nghĩa vụ của gia đình, xã hội và nhà nước Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, với truyền thống nhân đạo của dân tộc, NKT luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta
Người khuyết tật từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học Trong y học, sức khỏe cộng đồng, thông tin điện tử, thiết kế kỹ thuật, NKT được quan tâm dưới góc độ làm giảm bớt ảnh hưởng của dạng tật để cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ bớt khó khăn hơn Trong các ngành xã hội học, công tác xã hội, NKT được hướng đến như những đối tượng yếu thế trong xã hội cần được hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng Trong đó, hỗ trợ dạy nghề đối với NKT là một vấn đề quan trọng
Dạy nghề là một nội dung quan trọng trong việc bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội nói chung và cũng bảo đảm yêu cầu giải quyết việc làm cho lao động Đối với NKT, dạy nghề là tiền đề tạo cơ hội việc làm và xúc tiến
Trang 9và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt trong công tác dạy nghề đối với NKT và được cụ thể bằng các chương trình đạo tạo nghề và tạo việc làm đối với NKT giúp
họ có công ăn việc làm và tăng thu nhập, giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội Tuy nhiên, sau nhiều năm áp dụng các chính sách vào thực tiễn vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và thiếu tính đồng bộ Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vẫn còn hạn chế khi nhận NKT vào làm mặc dù họ hoàn toàn có thể thực hiện tốt công việc Hỗ trợ NKT chỉ mang tính bền vững khi giải quyết được vấn đề việc làm cho họ Điều này
sẽ đảm bảo được quyền cơ bản của con người, quyền lao động, quyền sống hòa nhập với cộng đồng và các quyền lợi chính đáng khác của NKT Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với việc hỗ trợ NKT có được những nghề phù hợp với bản thân họ Công việc này trên thực tế khá khó khăn và đòi hỏi phải liên kết, huy động tất cả các nguồn lực để thực hiện, đồng thời người làm CTXH phải có tấm lòng yêu nghề, hiểu được nhu cầu, đặc điểm, khả năng của NKT
Xuất phát từ những điều trình bày trên đây, tôi đã chọn đề tài:“Hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ ngành công tác xã hội
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài
Người khuyết tật và các vấn đề liên quan đến dạy nghề đối với NKT đã được nghiên cứu của khá nhiều tác giả trong và ngoài nước, có thể điểm qua một vài nghiên cứu sau đây:
* Ở Việt Nam, Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, do PGS.TS
Nguyễn Thị Kim Hoa chủ biên, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014 Tác giả đã khái quát các vấn đề cơ bản về NKT, luật pháp, chính sách và các công
cụ hỗ trợ NKT Bên cạnh đó, tác giả đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần thiết đối với NV CTXH khi làm việc với NKT Về thực hành, tác giả trình bày các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình và các nguồn lực trợ giúp NKT
Trang 10Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2011), Báo cáo khảo sát về Đào tạo nghề
và Tạo việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam Báo cáo này cung cấp một cách
nhìn tổng thể về các tổ chức của NKT, các tổ chức đại diện cho NKT và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho NKT, đặc biệt tập trung vào các tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật Kết quả phân tích của báo cáo khảo sát này cho thấy tại Việt Nam NKT rất ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như về phát triển doanh nghiệp Chính phủ, nhiều tổ chức phi chính phủ và chính NKT đều nhận thấy NKT cần có các dịch
vụ đào tạo riêng (ít nhất theo học các lớp đào tạo riêng cho NKT), các dịch vụ bố trí việc làm riêng và các kế hoạch và hoạt động phát triển kinh doanh riêng cho NKT Pháp luật về đào tạo nghề và việc làm của Việt Nam không nêu rõ trong các hoạt động chủ đạo, và Chính phủ cũng chưa có chính sách khuyến khích đào tạo nghề hòa nhập riêng ngoài Chính sách Giáo dục hòa nhập Tuy nhiên, tất cả các TT trước đây đào tạo riêng cho NKT nay đều mở cửa đối với mọi sinh viên (trên thực tế các
TT này vẫn chủ yếu phục vụ NKT, trẻ mồ côi, cựu chiến binh và những người có hoàn cảnh không may mắn khác)
Lê Thị Kiều Oanh (2011), Luận văn thạc sỹ:“Giải pháp nâng cao chất lượng
dạy nghề cho người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả đã trình bày tương đối đầy đủ và hệ
thống được cơ sở lý luận về cách thức đánh giả chất lượng đào tạo, phân tích thực trạng chất lượng đào tạo và đề xuất các giải pháp giúp nâng cao chất lượng dạy nghề cho Trung tâm Bảo trợ dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật thành phố
Hồ Chí Minh
Lê Anh Đức (2010), Luận văn thạc sỹ: "Đề xuất phương pháp dạy học
mô-đun đồ họa ứng dụng cho người khuyết tật vận động” Luận văn đã trình khái quát
các lý thuyết về phương pháp dạy học và đặc điểm của NKT vận động Từ đó, xây dựng nội dung chương trình và áp dụng phương pháp dạy học thực hành phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của NKT vận động Bên cạnh đó, tác giả đã làm rõ về việc
Trang 11mô-đun đồ họa ứng dụng cho NKT vận động nhằm đảm bảo phù hợp đặc điểm nhận thức của người học
Nguyễn Thị Nguyên An (2005), Luận văn thạc sỹ:“Nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng học nghề của thanh thiếu niên khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Luận văn đã đạt được mục đích là nghiên cứu, phân tích,
khảo sát các yếu tố bên trong và bên ngoài, gây ảnh hưởng đến việc học nghề của thanh thiếu niên khuyết tật trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
* Ở nước ngoài, cuốn: “Quyền con người và vấn đề người khuyết tật”
(Human Right and Disability) của các tác giả - chủ biên Gerard Quinn và Theresia
Degener, do Liên hợp quốc xuất bản, tại Geneva - Thụy Sĩ (2002) Tác phẩm viết về việc áp dụng hiện tại và khả năng áp dụng trong tương lai các quy định của các văn
kiện quốc tế về quyền con người Hay cuốn: “Pháp luật, quyền và vấn đề người
khuyết tật” (Law, Right, and Disability) do Jeremy Cooper làm chủ biên Công trình
này đề cập đến thực trạng và những nỗ lực trong việc nâng cao vị thế của NKT ở Anh và trên thế giới Ngoài việc đề cập về quyền của NKT, tác giả còn đề cập đến vai trò quan trọng của chính NKT trong việc hiện thực hóa những cam kết toàn cầu
về quyền của NKT Tác phẩm: “Những quyền của người khuyết tật” (Disability
Right) do Justin Healey làm chủ biên, Úc Nội dung sách chủ yếu đưa ra các định
nghĩa về NKT; Luật chống phân biệt người khuyết tật và cơ chế khiếu nại vi phạm; các vấn đề thực tiễn về NKT như: hệ thống chăm sóc cộng đồng; NKT tại nơi làm việc; doanh nghiệp với vấn đề tuyển dụng NKT; tiếp cận bình đẳng về internet cho NKT…Từ việc phân tích đó, tác giả đưa ra nhận định cuối cùng rằng, NKT chiếm một bộ phận đáng kể trong dân số Úc, họ đòi hỏi việc loại bỏ những hình thức phân biệt đối xử trực tiếp và gián tiếp đối với việc tiếp cận những trợ giúp cơ bản, các
dịch vụ và thừa nhận của xã hội
Cuốn “Khuyết tật hoà nhập xã hội ở Ireland”, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011 (Disability and social inclusion in Ireland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011) Nghiên cứu đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hòa nhập xã
Trang 12Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trở NKT tham gia hoà nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày Tác giả còn chỉ ra sự khác biệt giữa NKT và người bình thường trong việc tham gia hoà nhập cộng đồng Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm của NKT Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu
tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự
kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT
Bên cạnh những công trình mang tính chất quy mô về NKT và các vấn đề có liên quan thì có rất nhiều bài viết phản ánh về những khó khăn thuận lợi của NKT trên đường hòa nhập cộng đồng; về cuộc sống, sinh hoạt vui chơi, tinh thần vượt khó vươn lên trong học tập, đạt những thành tựu cao trong công việc khiến nhiều người phải học hỏi, là tấm gương của nhiều NKT khác noi theo… Tuy nhiên, những bài viết chỉ dừng lại ở mức độ phản ánh và cung cấp những số liệu cụ thể chứ chưa là một công trình nghiên cứu, cũng như chưa bàn sâu đến vấn đề hỗ trợ dạy nghề đối với NKT Tuy rằng, các tác phẩm và bài viết đã nói về các giải pháp tối ưu cho NKT nói chung, nhưng cũng chưa có giải pháp cụ thể nào về hỗ trợ dạy nghề đối với NKT
Mặc dù các công trình nghiên cứu, bài viết trên chưa đề cập trực tiếp đến vấn
đề hỗ trợ dạy nghề đối với NKT, song đó là nguồn tài liệu quý báu để bản thân nghiên cứu, kế thừa, thiết thực góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài, nhất là việc làm rõ các khái niệm, phạm trù cơ bản nhất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hỗ trợ dạy nghề đối với NKT (thông qua đánh giá thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh), từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với NKT trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 13- Nghiên cứu vấn đề lý luận và chính sách pháp luật về hỗ trợ dạy nghề đối với NKT
- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
- Nêu định hướng, mục tiêu và đề xuất giải pháp hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố
Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Hỗ trợ dạy nghề đối với NKT từ thực tiễn Trung tâm
Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
- Khách thể nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu trên các khách thể sau: cán bộ
quản lý, giáo viên, học viên và phụ huynh
- Thời gian: Từ tháng 1/2016 đến tháng 4/2016
- Địa điểm: Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập thông tin và số liệu
- Dữ liệu thứ cấp: được thu thập từ tài liệu nghiên cứu, báo cáo của một số
cơ quan, ban, ngành có liên quan, báo cáo của Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
- Dữ liệu sơ cấp: được thu thập từ kết quả phỏng vấn sâu 05 cán bộ quản lý
và 10 GV tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh; phỏng vấn bằng bảng hỏi 50 HV khuyết tật có nhận thức tốt, khuyết tật nhẹ và 15 phụ huynh có con, em đang theo học nghề tại Trung tâm Bảo
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng
Bảng câu hỏi là công cụ nghiên cứu chính trong việc thu thập các thông số, chỉ báo, mức độ, tần suất các vấn đề nghiên cứu của đề tài Phương pháp phỏng vấn bằng bảng câu hỏi là phương pháp phỏng vấn, viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo một quy ước nào đó Qua phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi sẽ thu thập được nhiều thông tin theo chủ ý của người nghiên cứu, thông tin tập trung, có tính định lượng, dễ nhập liệu và xử lý
Thực hiện bảng hỏi đối với 50 HV khuyết tật nhẹ và có nhận thức tốt, chọn mẫu ở các lớp nghề đào tạo, 15 phụ huynh (không chọn những phụ huynh có con
em đã được phỏng vấn bảng hỏi) và 45 HV ở nội trú nhằm thu thập thông tin cần thiết để đánh giá thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại TT
5.3 Phương pháp nghiên cứu định tính
* Phương pháp phỏng vấn sâu
Song song với việc sử dụng phương pháp thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi định lượng, khi nghiên cứu đề tài chúng tôi cũng tiến hành thu thập thông tin bằng phương pháp phỏng vấn sâu Phương pháp phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin xã hội qua đối thoại theo một chủ đề nào đó giữa nhà nghiên cứu với khách thể nghiên cứu nhằm đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu Những thông tin thu được qua phương pháp phỏng vấn sâu sẽ mang tính định hướng cho việc nghiên cứu đề tài
Thực hiện phỏng vấn sâu với 05 cán bộ quản lý và 10 GV tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh Việc sử dụng phỏng vấn sâu trong nghiên cứu đề tài nhằm khảo sát sâu hơn những vấn đề
mà phương pháp bảng câu hỏi không thể hướng tới được Mặt khác, việc phỏng vấn sâu giúp cho những thông tin mang lại nhiều chiều, cán bộ quản lý và giáo viên sẽ cởi mở cung cấp thông tin hơn là trả lời những câu hỏi theo khuôn mẫu có sẵn trong bảng câu hỏi
Trang 15* Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được tiến hành song song cùng với phương pháp thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi và phương pháp phỏng vấn sâu Phương pháp quan sát nhằm mục đích xem xét và nhìn nhận thái độ và hành vi của người trả lời Cũng như bằng tri giác của mình thu thập thông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu thông qua các hoạt động của đối tượng mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu
* Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài sử dụng phân tích các thông tin có sẵn từ các cuộc nghiên cứu trước đó có nội dung gần với vấn đề mà đề tài nghiên cứu, các bài viết đăng trên tạp chí xã hội học, các bài báo, các báo cáo tổng kết của Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh, của các cơ quan có liên quan
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích tại các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo về vận dụng CTXH trong hỗ trợ dạy nghề đối với NKT
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn cung cấp cơ sở về lý thuyết và thực tiễn cho việc đề ra định hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục luận văn gồm có
03 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Chương 2: Thực trạng hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm cho người tàn tật thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Định hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật tại Trung tâm Bảo trợ - Dạy nghề và Tạo việc làm
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ DẠY NGHỀ
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1 Người khuyết tật, dạy nghề đối với người khuyết tật: Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu người khuyết tật
1.1.1.1 Khái niệm người khuyết tật
Theo TS Margaret Chan – Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Orgazination) “Hầu hết mỗi người chúng ta có thể mất khả năng hoạt động bình thường tạm thời hoặc vĩnh viễn tại một thời điểm nào đó”; như vậy giữa người bình thường và NKT hầu như không có ranh giới rõ rệt và hết sức mong manh
Trên thế giới
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 1999 có ba mức độ suy giảm là:
khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm
khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan
đến tâm lý hoặc/và sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động,
là hậu quả của sự khiếm khuyết Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi
của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ
Theo Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật do Quốc hội
Anh ban hành (Disability Discrimination Act – DDA), khi xét về mặt thời gian tác
động thì khiếm khuyết kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài mà ít hơn 12 tháng bình thường không được coi là khuyết tật, trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người có khiếm khuyết kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn toàn
Theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (Americans with
Disabilities Act of 1990 - ADA), định nghĩa NKT là người có sự suy yếu về thể chất
Trang 17cuộc sống Cũng theo ADA những ví dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc
và những khiếm khuyết cụ thể về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này
Tại Điều 1 của Công ước Quốc tế về quyền NKT ban hành năm 2006: “NKT bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”
Tại Việt Nam
Đối với đa số người Việt Nam, khuyết tật và tàn tật là hai từ để chỉ cùng một khái niệm, từ năm 2009 trở về trước người ta vẫn dùng song song chúng trên cả phương tiện truyền thông đại chúng và văn bản pháp quy Trong các Pháp lệnh trước đây của Nhà nước Việt Nam, tàn tật là cụm từ được chính thức sử dụng, song theo dự thảo năm 2009, từ khuyết tật nhiều khả năng sẽ được dùng để thay thế từ tàn tật trong các Bộ luật Năm 2010, Quốc hội Việt Nam đã chính thức sử dụng cụm
từ NKT thay cho người tàn tật trong các Bộ luật ban hành có liên quan
Căn cứ điều 2, Chương I, Luật Người khuyết tật được Quốc hội ban hành
ngày 17 tháng 6 năm 2010: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc
nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”
Từ khái niệm trên được tiếp cận bằng các phương pháp định nghĩa khác nhau song chúng đều chỉ ra những đặc điểm chung của NKT dưới các khía cạnh:
Thứ nhất, đối tượng: So với người bình thường có đầy đủ các bộ phận trên
cơ thể theo cấu tạo sinh học, khả năng nhận thức và điều chỉnh hành vi trong các quan hệ xã hội thì NKT là những người bị khiếm khuyết (thiếu, không có hoặc bị
Trang 18hạn chế hoặc không có khả năng nhận thức, tiếp thu các tư tưởng văn hóa và giáo dục như các chủ thể thông thường khác
Thứ hai, khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ: Nếu cùng có mặt bằng pháp
lý như nhau, nhìn chung khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ của NKT sẽ hạn chế hơn đối với những người bình thường Đây là một trong những hệ quả kéo theo của đặc điểm khiếm khuyết Do bị khiếm khuyết về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà những NKT sẽ khó khăn khi thực hiện các công việc lao động, học tập, sinh hoạt, vui chơi giải trí, tham gia các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội khác kém hiệu quả hơn các người bình thường
Thứ ba, đặc điểm khuyết tật: Cả Công ước về Quyền của NKT năm 2007 và
Luật Người khuyết tật năm 2010 đều chỉ ra những dạng khuyết tật cơ bản Mặc dù ngôn ngữ biểu đạt là khác nhau, song theo tinh thần chung, khuyết tật bao gồm:
1.1.1.2 Đặc điểm của người khuyết tật
Người khuyết tật trước hết là con người nên họ mang những đặc điểm chung
về mặt kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như mọi người khác trong xã hội Tuy nhiên, với những đặc điểm riêng về từng dạng khuyết tật nên nhóm NKT nói chung lại có những nét đặc thù so với nhóm người không khuyết tật và mỗi nhóm NKT dạng này lại có nét đặc thù tương đối so với nhóm NKT dạng khác Về phương diện pháp lý, làm rõ các đặc điểm của NKT là một trong những cơ sở, căn cứ khoa học tác động đến việc quy định, ban hành, thực thi, áp dụng pháp luật và chính sách với NKT Theo đó, các quy định pháp luật, chính sách của nhà nước phải đảm bảo điều chỉnh mối quan hệ của cái chung giữa NKT với các công dân bình thường khác
Trang 19NKT với cộng đồng còn lại của xã hội, cái đặc thù của những NKT với các dạng tật khác nhau của chính NKT Nói cách khác, về phương diện triết học điều chỉnh mối quan hệ giữa NKT với “phần còn lại” của xã hội và giữa NKT với nhau thì “cái chung” phải bao hàm “cái riêng” nhưng “cái riêng” thì bao giờ cũng phong phú hơn
“cái chung”
- Đặc điểm của người khuyết tật dưới góc độ kinh tế – xã hội
Trước hết NKT là nhóm cư dân đặc biệt phải chịu thiệt thòi về mặt kinh tế –
xã hội và nhân khẩu học: Những gia đình có NKT có xu hướng hoặc là thiếu nhân lực lao động (vì vậy có năng lực sản xuất thấp) hoặc có quá nhiều người sống phụ thuộc (gánh nặng về kinh tế) Học vấn của các thành viên trong những gia đình NKT thường không cao (chất lượng lao động thấp) Nhiều chủ hộ gia đình lại chính
là NKT có sức khỏe yếu Tài sản của gia đình NKT thường nghèo nàn, thu nhập ở mức thấp Vì vậy, điều kiện sống và sinh hoạt là không tốt, ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, sức khỏe, phúc lợi của các thành viên trong gia đình Ngoài ra, NKT từ 15 tuổi trở lên rất khó có việc làm, hầu hết NKT hoặc chưa bao giờ đi làm hoặc đã từng
đi làm nhưng lại bị thất nghiệp Khuyết tật là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất nghiệp của họ
Mặt khác, vì tình trạng do khuyết tật gây ra, NKT phải gánh chịu rất nhiều thiệt thòi trong mọi mặt cuộc sống: Khuyết tật là nguyên nhân chính gây ra nhiều khó khăn cho NKT trong việc thực hiện các công việc sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, việc làm, tiếp cận các dịch vụ y tế, kết hôn, sinh con và tham gia các hoạt động xã hội Để khắc phục những khó khăn này, NKT chủ yếu dựa vào gia đình, nguồn giúp đỡ chính đối với họ Những khó khăn càng trở nên trầm trọng hơn do thái độ tiêu cực của cộng đồng đối với NKT
Quan niệm của xã hội về NKT còn tiêu cực, dẫn đến sự kì thị và phân biệt đối xử: Điều này diễn ra dưới nhiều hình thức, ở nhiều bối cảnh khác nhau (gia đình, cộng đồng, trường học, bệnh viện, nơi làm việc và các tổ chức ở địa phương) Trong cộng đồng, nhiều dân cư coi NKT là “đáng thương”, không có cuộc sống
Trang 20không hề biết đến quy định của pháp luật về NKT Từ đó dẫn đến sự kỳ thị, phân biệt đối xử và nó diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực: Gia đình, nơi làm việc, giáo dục, hôn nhân gia đình, tham gia hoạt động xã hội, thậm chí sự kì thị từ chính NKT (hầu hết NKT cho rằng mình kém cỏi hơn, mặc cảm, thấy khó hòa nhập cộng đồng)
Hoạt động hỗ trợ cho NKT còn rất hạn chế, thực tế cho thấy có sự khác biệt lớn giữa nhu cầu của NKT và những giúp đỡ mà họ nhận được Sự hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng mang tính từ thiện nhiều hơn là phát triển con người Hầu hết NKT được hỗ trợ như bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương thực… nhưng lại ít được trợ giúp trong việc làm, dạy nghề và tham gia hoạt động xã hội
- Đặc điểm của NKT dưới góc độ dạng tật và mức độ khuyết tật
Khuyết tật được phân loại dựa theo các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu nhưng nói chung thường dựa trên tiêu chí của sự khiếm khuyết bộ phận
cơ thể hoặc suy giảm chức năng Ở Việt Nam, việc phân loại NKT dựa trên quy định về dạng tật và mức độ khuyết tật Theo đó các dạng tật bao gồm: Khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi loại khuyết tật này có những đặc điểm nhất định về tâm, sinh lý qua đó tác động đến các nhu cầu và sự hòa nhập của NKT
Khuyết tật vận động: Là những người có cơ quan vận động bị tổn thương,
biểu hiện dễ nhận thấy là có khó khăn trong ngồi, nằm, di chuyển, cầm, nắm…Do
đó, NKT vận động gặp rất nhiều khó khăn trong sinh hoạt cá nhân, vui chơi, học tập
và lao động Tuy nhiên, đa số NKT vận động có bộ não phát triển bình thường nên
họ tiếp thu được chương trình học tập, làm được việc có ích cho gia đình, bản thân
và xã hội NKT về vận động cần được sự hỗ trợ về phương tiện đi lại (xe lăn, gậy chống…) và đặc biệt là không gian cần thiết, thuận tiện, phù hợp để di chuyển khi làm việc, đảm bảo các nhu cầu cuộc sống bình thường của con người và tham gia các hoạt động xã hội
Khuyết tật nghe, nói (khuyết tật ngôn ngữ): NKT nghe, nói là người có khó
khăn đáng kể về nói và/hoặc về đọc viết làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giao
Trang 21đến giao tiếp từ đó làm hạn chế sự làm việc, học tập, hòa nhập cộng đồng của họ Điều này làm họ dễ cảm thấy mất tự chủ, thiếu tự tin trong giao tiếp với người xung quanh – nếu như khiếm khuyết của họ thay vì nhận được sự cảm thông lại vấp phải thái độ giễu cợt hoặc thiếu kiên nhẫn của người nghe
Khiếm thính: Theo quan điểm y tế (lâm sàng) thì người khiếm thính là những
người bị mất hoặc suy giảm về sức nghe kéo theo những hạn chế về phát triển ngôn ngữ nói cũng như khả năng giao tiếp Đặc điểm của những người khó khăn về nghe (khiếm thính) là những người bị phá hủy cơ quan thính giác ở các mức độ khác nhau dẫn đến việc người khiếm thính không có khả năng tri giác thế giới âm thanh đặc biệt ngôn ngữ âm thanh Hỗ trợ cần thiết với họ là phát hiện, chẩn đoán, chữa trị sớm; cung cấp phương tiện trợ giúp (máy trợ thính); giao tiếp tổng hợp
Khuyết tật nhìn (khuyết tật thị giác, khiếm thị): Là những người có tật về mắt
như: hỏng mắt, không đủ sức nhận biết thế giới hữu hình bằng mắt hoặc nhìn thấy không rõ ràng Tổ chức Y tế Thế giới (1992) còn đưa ra các khái niệm để phân biệt mức độ khuyết tật nhìn khác nhau: Khiếm thị, nhìn kém, mù (hoàn toàn) NKT nhìn
có trí tuệ phát triển bình thường, có hai cơ quan phân tích thường rất phát triển: thính giác và xúc giác, nếu được huấn luyện sớm và khoa học hoàn toàn có thể thay thế cơ quan thị giác bị phá hủy Ngôn ngữ, tư duy, hành vi, cách ứng xử của những người này cũng giống người bình thường Tuy nhiên, cũng có những tồn tại nhất định như ngôn ngữ thiếu hình ảnh, không thể viết và đọc bằng chữ phẳng Ít di chuyển nên thể lực giảm sút, cơ bắp thiếu linh hoạt nên dễ tự ty và thiếu niềm tin ở bản thân Môi trường cần thiết với họ là tránh tiếng ồn, đảm bảo đủ ánh sáng, dùng những màu tương phản, hợp lý trong sinh hoạt và các hoạt động khác, cung cấp thiết bị phóng đại hình ảnh, công cụ di chuyển hỗ trợ thông minh, lối đi thuận tiện
và dễ nhận biết
Khuyết tật trí tuệ: Xét về mức độ, đây là nhóm khuyết tật thường chịu nhiều
sự thiệt thòi và khó khăn trong cuộc sống Khuyết tật về trí tuệ được xác định khi: i)
Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình (chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn
Trang 22nhất là hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng,
kỹ năng học đường, làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn; iii) Tật xuất hiện trước
18 tuổi NKT về trí tuệ có nhiều hạn chế làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường
của họ và người thân cả về trí tuệ (phần lớn chỉ dùng ở mức độ tư duy trực quan cụ thể, mức độ, nhịp độ tư duy của các thành phần không giống nhau); về trí nhớ (gặp
khó khăn về trí nhớ cả ngắn hạn và dài hạn, khó khăn trong việc nhớ những gì mang tính trừu tượng hay có quan hệ logic, dễ quên những gì gần gũi với cuộc sống và
không gắn với nhu cầu bản thân); về chú ý (phần đông NKT có khó khăn khi phải
tập trung và duy trì sự chú ý vào một công việc nào đó, đặc biệt là chú ý đến lời nói
Do duy trì chú ý kém nên việc tiếp nhận thông tin và xử lý thông tin của NKT
thường gặp khó khăn); về kỹ năng giao tiếp xã hội (đa phần NKT trí tuệ yếu kém về các kỹ năng xã hội, rất ít thậm chí không có nhu cầu giao tiếp); cuối cùng là về hành
vi (NKT trí tuệ thường có những hành vi làm cho họ khó hòa nhập: hành vi tự lạm
dụng, quá hiếu động, quá ù lì…)
Trên đây là những nhóm NKT chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng số NKT Xét ở góc độ đặc điểm về tâm sinh lý cho thấy tính đa dạng của khuyết tật và rõ ràng việc đảm bảo các quyền của họ dưới phương diện pháp lý cũng cần tính đến yếu tố đặc thù của các dạng khuyết tật khác nhau
Ngoài các nhóm trên còn có những nhóm NKT như: người bị rối loạn hành
vi cảm xúc, người mắc hội chứng tự kỉ, người bị rối loạn ngôn ngữ, người đa tật…
1.1.1.3 Nhu cầu của người khuyết tật
Nhu cầu của NKT là những đòi hỏi cần được đáp ứng để tồn tại và phát triển NKT cũng có những nhu cầu cơ bản như mọi người trong xã hội và nhu cầu là nguồn gốc thúc đẩy NKT hoạt động vươn tới những mục tiêu cho sự phát triển của bản thân
Theo quan điểm của nhà tâm lý học A.Maslow, con người có 5 loại nhu cầu
cơ bản được sắp xếp từ thấp tới cao:
Trang 23+ Nhu cầu về an toàn
+ Nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được giao tiếp, được tham gia vào các nhóm gắn bó tình cảm
+ Nhu cầu được tôn trọng
+ Nhu cầu về lao động, thăng tiến, phát triển
NKT thường là đối tượng khó khăn nhất trong bất kỳ xã hội nào và họ có nhu cầu được sống và làm việc như những người bình thường nhưng do vì họ gặp phải khuyết tật nên trong sinh hoạt hàng ngày, hoặc trong việc tìm kiếm sinh nhai
họ gặp không ít khó khăn; nhưng họ vẫn là con người vì vậy những nhu cầu của một con người họ đều có (cụ thể 5 loại nhu cầu cơ bản theo A.Maslow) nhưng việc đáp ứng các nhu cầu đó thường gặp khó khăn nhất định nên khát vọng của họ lại càng rất cao
Thực tế cho thấy, hiện nay một số nhu cầu bậc cao của NKT ít có cơ hội để hiện thức hóa, NKT cần sự trợ giúp từ phía gia đình, cộng đồng, xã hội để họ có thêm cơ hội đáp ứng các nhu cầu, giúp họ có cuộc sống bình thường, được phát triển và hòa nhập Một vài điểm cần chú ý:
- Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của NKT có thể bị giảm sút, họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập…Vì vậy, mà NKT cần được hỗ trợ, ưu tiên đặc biệt về: chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, làm tay chân giả, cung cấp xe lăn, máy trợ thính, thiết bị tiện nghi, nhà ở,… cần có được các dịch vụ giáo dục đặc biệt dành cho NKT;
- Do bị bệnh tật, khó khăn trong việc đi lại hoặc giao tiếp hạn chế nên hoạt động lao động, giao lưu khó khăn hơn so với người bình thường nếu không có hỗ trợ xã hội thì phạm vi quan hệ xã hội ở NKT sẽ bị thu hẹp Gia đình, cộng đồng và
xã hội cần tạo điều kiện cho NKT hòa nhập vào cuộc sống xã hội của những người bình thường và môi trường cộng đồng, gia đình cũng cần được thích ứng với hoàn cảnh của NKT;
- NKT cần được học văn hóa, học nghề phù hợp với dạng tật và có nhu cầu
Trang 24công đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn có thể phù hợp với họ, việc làm vừa đem lại niềm vui trong lao động vừa giúp cho họ có thu nhập… điều này giúp họ giảm bớt tâm lý
bị phụ thuộc vào kinh tế, tâm lý bị bỏ đi…;
- Sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động nên NKT thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng nảy… họ cần được chấp nhận, tôn trọng của cộng đồng và xã hội;
- Họ cần được động viên khuyến khích, phát huy những mặt tích cực Họ là người rất giàu về nghị lực để vượt qua khó khăn của tật nguyền Mặt khác, họ là người có đời sống nội tâm rất nhạy và tế nhị, họ rất thông cảm với những khó khăn của người khác hơn cả so với người bình thường Chính vì vậy, họ là những người hoạt động rất có hiệu quả trong các nhóm tự giúp
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu dạy nghề đối với người khuyết tật
1.1.2.1 Khái niệm dạy nghề/đào tạo nghề đối với người khuyết tật
Trước hết, cần làm rõ các khái niệm “đào tạo” và “nghề”
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một
con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống, chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người”
Nói cách khác, Đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn
Nghề được hiểu là một dạng xác định của hoạt động lao động trong hệ thống
phân công lao động xã hội; là tổng hợp của những kiến thức, kỹ năng và thái độ trong lao động mà con người tiếp thu được (do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm trong quá trình làm việc) được chuyển hóa trong hoạt động
Trang 25Theo Thuật ngữ Đào tạo nghề của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), dạy
nghề/đào tạo nghề là những hoạt động chủ yếu nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và
thái độ cần cho việc làm trong một nghề, nhóm nghề có liên quan hoặc cho việc thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực nào đó của hoạt động kinh tế Việc đào tạo ở đây bao gồm: đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến công việc chuyên môn hóa
Theo Điều 5, Chương I, Luật Dạy nghề: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học
nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”
Như vậy, dạy nghề là một quá trình tác động có mục đích, có ý thức của con
người nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (nhân cách) của họ (thể hiện trên 2 mặt: kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp), phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia
Theo Điều 68, Luật Dạy nghề: “Đào tạo nghề cho NKT nhằm giúp họ có năng
lực thực hành nghề phù hợp với khả năng lao động của mình để tự tạo việc làm hoặc tìm được việc làm ổn định đời sống, hòa nhập cộng đồng” Luật Dạy nghề chủ yếu đề cập đến mục đích của hoạt động đào tạo nghề cho NKT, từ đây có thể thấy một số dấu hiệu sau:
- Hoạt động đào tạo nghề cho NKT diễn ra trong mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học;
- Mục đích của hoạt động đào tạo nghề cho NKT là trang bị cho NKT những điều kiện để họ thực hiện một nghề theo sự phân công lao động xã hội Đó là hệ thống các kiến thức nghề nghiệp (gồm kiến thức chung và kiến thức chuyên biệt); các kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghề nghiệp và thái độ đối với nghề nghiệp (say mê, yêu nghề, tâm huyết với công việc,…);
- Việc đào tạo nghề cho NKT phải phù hợp với đặc điểm của đối tượng đào tạo là NKT
Như vậy, có thể khái quát đầy đủ: Dạy nghề đối với NKT là hoạt động dạy và
Trang 26thiết, phù hợp với tình trạng khuyết tật và sức khỏe của NKT, tạo điều kiện để họ có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học
1.1.2.3 Đặc điểm dạy nghề đối với người khuyết tật
NKT được coi là đối tượng đặc thù Họ có thể bị khiếm khuyết ở những chức năng khác nhau Vì vậy, có sự khác biệt rất lớn giữa dạy nghề cho NKT và người bình thường (về môi trường học nghề, làm nghề, phương pháp dạy học, tiếp cận…), chúng ta không thể đem tư duy hàn lâm về dạy nghề cho người bình thường áp vào cho NKT (Tác giả Nguyễn Đình Liêu – Chủ tịch Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ
mồ côi Việt Nam), dạy nghề cho NKT không thể áp dụng phương pháp dạy nghề thông thường mà đòi hỏi phải có những phương pháp dạy nghề phù hợp với từng dạng tật Chúng ta có thể nói giáo dục hòa nhập NKT nhưng dạy nghề hòa nhập NKT là rất khó, phát sinh nhiều vấn đề (trình độ, thời gian, nguyên liệu, sản phẩm…)
Giáo viên dạy nghề cho NKT cũng phải có chuyên môn, kỹ năng phương pháp phù hợp với NKT, có kiến thức cơ bản về NKT, nắm được những đặc điểm, tâm lý và nhu cầu của NKT, có tâm huyết, lòng bao dung, sự công bằng GV dạy nghề cho NKT đòi hỏi phải kiên trì, và mất nhiều công sức hơn so với GV giảng dạy cho những người bình thường, dạy nghề cho NKT trước hết cần phải kiên nhẫn, hướng dẫn, cầm tay chỉ việc từ từ, NKT có tiếp thu được bài học hay không là nhờ rất nhiều vào GV Rất nhiều NKT dễ tự ti, mặc cảm với chính mình nên chỉ cần một lời nói hay cử chỉ bất thường là NKT tự ái ngay Đối với một số dạng tật, GV còn phải học và nắm bắt được ngôn ngữ đặc thù của NKT Thực tế cho thấy việc dạy nghề cho NKT rất vất vả và khó khăn nên rất ít GV muốn dạy nghề cho NKT
Sự khác nhau về bệnh tật (khiếm thính, khiếm thị, thiểu năng trí tuệ, khuyết tật vận động, nhiễm chất độc da cam ) ảnh hưởng rất lớn đến việc dạy nghề, tiếp thu kiến thức của NKT Có người học ba năm đã đạt, có người phải mất tới sáu năm mới có được một nghề Do đó, chương trình giảng dạy cho NKT phải được biên soạn phù hợp với NKT về nội dung, số tiết thực hành và lý thuyết,… Đôi khi GV tự
Trang 27Bên cạnh đó, về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác dạy nghề cho NKT cũng phải được trang bị phù hợp với NKT
1.1.2.4 Nhu cầu dạy nghề đối với người khuyết tật
Trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, các chi phí cho nhóm yếu thế luôn luôn là “gánh nặng” của ngân sách quốc gia Một đất nước có nhiều người thuộc nhóm yếu thế thì các khoản chi cho an sinh xã hội càng lớn; ngược lại, nếu nhóm yếu thế ít thì số tiền này sẽ giảm đi và được chi dùng cho những hoạt động đầu tư phát triển đất nước Dạy nghề cho các nhóm yếu thế có vai trò quan trọng đối với an sinh xã hội.[31, tr.24]
Theo quy định của Luật Người khuyết tật Việt Nam, Nhà nước bảo đảm để NKT được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với điều kiện sức khỏe và dạng khuyết tật Tuy nhiên, số lượng NKT được dạy nghề và được tạo việc làm sau đào tạo nghề còn ít, chủ yếu là tự tạo nghề cho mình NKT chủ yếu làm những công việc không ổn định, lao động thủ công, làm việc trong các cơ sở nhân đạo, từ thiện Phần lớn bản thân NKT chưa đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của các cơ quan, doanh nghiệp Hậu quả khi NKT không tiếp cận được dịch vụ dạy nghề và việc làm: không có cơ hội việc làm; không có điều kiện và môi trường phù hợp để đóng góp sức lực và phát huy khả năng sáng tạo cho xã hội; sự chênh lệch
về thu thập giữa NKT và người bình thường là khá lớn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ; hạn chế về vấn đề hôn nhân và cuộc sống gia đình; từ đó có thể làm mài mòn ý chí và nghị lực vươn lên của người họ
Nhận thức của xã hội về giáo dục, dạy nghề, việc làm cho NKT tuy đã có sự thay đổi tích cực, NKT đã từng bước tham gia vào mọi hoạt động của đời sống kinh
tế xã hội, việc dạy nghề theo hướng hòa nhập cho NKT được nhiều địa phương, cơ
sở dạy nghề thực hiện Thông qua các hoạt động dạy nghề NKT sẽ được trang bị những kỹ năng nghề phù hợp Qua đó, họ có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm phù hợp với nghề được đào tạo và từ đó có thu nhập hoặc nâng cao thu nhập Hay nói cách khác, NKT tham gia tích cực hơn vào thị trường lao động, họ linh hoạt hơn
Trang 28trong lực lượng lao động, thay đổi cơ cấu lao động trong nền kinh tế và do vậy tác động tích cực đến hệ thống an sinh xã hội.[31, tr.25]
1.2 Khái niệm, nhu cầu và nguyên tắc của hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
1.2.1 Khái niệm và nhu cầu hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Khái niệm hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Hỗ trợ dạy nghề đối với NKT là hoạt động trợ giúp NKT học nghề một cách đầy đủ về mọi mặt vật chất, tinh thần, xã hội nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết, phù hợp với dạng tật của NKT học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học
Nhu cầu hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Nhu cầu về việc làm của NKT là rất cần thiết, có việc làm họ sẽ có được thu nhập để cải thiện nâng cao cuộc sống, có việc làm họ sẽ cởi bỏ tâm lý mặc cảm, tự
ti, vị thế của họ được nâng lên, bình đẳng với mọi thành viên khác trong xã hội nhưng muốn có được việc làm thì họ phải có nghề NKT rất cần được hỗ trợ để họ thành thạo một nghề phù hợp với họ và đáp ứng được thị trường lao động dành cho
họ
Đa phần người khuyết tật ít có cơ hội để tiếp cận trong việc học nghề do những khiếm khuyết của bản thân, họ chỉ có thể học được một số nghề phù hợp với khả năng và tình trạng khuyết tật của họ Ngay cả trong thời gian học nghề, họ cũng rất cần sự quan tâm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi từ phía cơ sở dạy nghề, giáo viên, cán bộ quản lý, gia đình và xã hội Hỗ trợ dạy nghề, tạo việc làm đối với người khuyết tật không chỉ có nghĩa là mở mang thêm các dạng việc làm mới phù hợp với NKT để tạo ra của cải vật chất cho xã hội làm tăng thêm cho thu nhập quốc dân, góp phần nâng cao đời sống chung của dân cư, trong đó có NKT, mà còn tạo ra một mối quan hệ tốt đẹp, tạo ra môi trường xã hội lành mạnh, một môi trường mà trong
đó con người sống nhân ái, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, hiểu biết và cảm thông với nhau hơn, mang ý nghĩa nhân văn rất lớn
Trang 291.2.2 Nguyên tắc hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
Mỗi lĩnh vực, mỗi ngành nghề cũng như mỗi kế hoạch, mỗi hoạt động đều có những nguyên tắc nhất định Nguyên tắc này là kim chỉ nam định hướng cho người thực hiện trong từng lĩnh vực, từng công việc cụ thể Và hoạt động hỗ trợ dạy nghề đối với NKT cũng có những nguyên tắc riêng buộc chúng ta phải tuân theo khi làm việc với NKT
Nguyên tắc tôn trọng người khuyết tật
NKT cần được tôn trọng trong cộng đồng và xã hội Tôn trọng NKT là thái
độ không phán xét, không xem thường miệt thị hoặc quá chú tâm đến sự khuyết tật của họ Trong quá trình hỗ trợ dạy nghề đối với NKT tôn trọng NKT cần được thể hiện ở việc để NKT tự quyết định ngành nghề mình sẽ theo học đồng thời hỗ trợ đầy đủ về cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu, GV…để NKT học nghề có hiệu quả tốt nhất
Nguyên tắc chấp nhận sự cá biệt
Đây là nguyên tắc quan trọng khi làm việc với NKT bởi bản thân NKT đã là
sự cá biệt NKT có hoàn cảnh sống, nhu cầu, cảm xúc, mong muốn và cả những ưu điểm, nhược điểm khác nhau Do đó, trong quá trình hỗ trợ NKT học nghề đòi hỏi
ta luôn cần sáng tạo trong cách tiếp cận giúp đỡ từng NKT
Nguyên tắc lắng nghe người khuyết tật
Có thể nói “lắng nghe là một nghệ thuật” Sự lắng nghe một cách chân thành người đối diện mới nói, mới bộc lộ tâm tư của họ, mới hiểu nhau, mới thông cảm và hợp tác tốt được Trong hỗ trợ dạy nghề đối với NKT, việc lắng nghe NKT thể hiện thái độ tôn trọng, lắng nghe để nắm bắt được khó khăn của NKT, tìm ra nguyên nhân để có cách hỗ trợ họ Các yếu tố giúp lắng nghe NKT có hiệu quả:
- Tập trung chú ý khi trò chuyện với NKT: không làm gì khác việc tập trung chú ý vào NKT mà mình đang trò chuyện, nhìn thẳng vào mắt hơi nghiêng người về phía họ, bày tỏ sự đồng tình bằng cách gật đầu, thể hiện mình đang sẵn sàng nghe
họ nói;
Trang 30- Chú tâm để hiểu chứ không phải để biết: tập trung để hiểu quan điểm và cả
ý nghĩa đằng sau lời nói của NKT;
- Phản hồi để hiểu thêm thông tin, ý kiến và cảm xúc: Đặt câu hỏi khuyến khích NKT cung cấp thêm thông tin, đặt lại vấn đề từ góc nhìn của người nghe
Nguyên tắc tin vào khả năng tự giải quyết của người khuyết tật
Trong hỗ trợ dạy nghề đối với NKT, nguyên tắc tin vào tính tự quyết của NKT là nguyên tắc rất quan trọng bởi hơn ai hết chính bản thân họ mới hiểu về hoàn cảnh, suy nghĩ, cảm xúc những ưu khuyết điểm của mình, vì vậy họ chính là người tự giải quyết vấn đề của mình Tuy nhiên, không phải chúng ta bỏ mặc NKT,
mà chúng ta cần giúp đối tượng nhận ra điểm mạnh của mình, phân tích, tìm ra những giải pháp khác nhau, những nguồn hỗ trợ khác nhau để đối tượng có thể tự mình quyết định giải pháp giải quyết vấn đề của mình Đồng thời cần chú ý trước khi để họ tự quyết định hãy nói rõ những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức
để họ tự quyết định vấn đề của mình
Trong quá trình thực hiện nguyên tắc này, cần cân nhắc và can thiệp trong những trường hợp xét thấy quyết định của thân chủ gây tổn thương nghiêm trọng cho chính thân chủ hoặc cho người khác hoặc thân chủ không có khả năng tự đưa ra quyết định (NKT về trí tuệ)
Ngoài những nguyên tắc làm việc trên thì nguyên tắc rất quan trọng khi làm việc với NKT đó là sự trung thực và tính công bằng nhất là trong vấn đề hỗ trợ dạy nghề đối với NKT
1.3 Nội dung hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
1.3.1 Hỗ trợ tư vấn, định hướng nghề nghiệp; tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật
Nghề nghiệp, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một tập hợp các công
việc liên quan với nhau hoặc một loại công việc lao động chân tay hoặc trí óc mà dựa vào đó để có thể kiếm sống, dù được thực hiện theo hình thức làm thuê hoặc tự tạo việc làm
Trang 31Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong
Định hướng nghề nghiệp là một khái niệm giáo dục toàn diện và liên tục
được thiết kế để cung cấp cho các cá nhân ở cấp trung học với các thông tin và kinh nghiệm để chuẩn bị cho họ sống và làm việc trong điều kiện luôn thay đổi của nền kinh tế, xã hội và môi trường
Việc làm, đứng dưới mỗi góc độ khác nhau, có những cách hiểu khác nhau
về việc làm Nếu xem xét dưới góc độ kinh tế - xã hội và góc độ pháp lý thì ta có thể tóm tắt khái niệm việc làm như sau:
- Dưới góc độ kinh tế - xã hội: Việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận Việc làm trước hết là vấn
đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của cá nhân Con người vì muốn thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động lao động nhất định Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉ những người hiện đang tham gia các hoạt động đó
Tùy theo mức độ tham gia và thu nhập từ những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là: người có việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ Tuy nhiên, con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động của sản xuất
xã hội Do đó, bên cạnh ý nghĩa là vấn đề cá nhân, việc làm còn là vấn đề của cộng đồng, của xã hội
- Dưới góc độ pháp lý: Theo Điều 13, Bộ luật Lao động của Nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam “mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không
bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Theo định nghĩa này các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:
+ Tất cả các hoạt động tạo ra của cải vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật;
Trang 32+ Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những công việc không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật
Ở bất kì quốc gia nào, việc làm đã, đang và luôn là vấn đề gay cấn, nhạy cảm, nếu không được giải quyết có thể dẫn đến những “điểm nóng” và trở thành vấn đề chính trị Trên bình diện pháp lý, việc làm là phạm trù thuộc quyền cơ bản của con người Quyền này đã được thừa nhận trong hiến pháp, luật và các công ước quốc tế Vấn đề việc làm còn gắn liền với chế độ pháp lý lao động, là cơ sở hình thành, duy trì và là nội dung của quan hệ lao động
Giới thiệu việc làm là một quá trình trong đó người giới thiệu việc làm đã có
thông tin về chỗ làm việc trống và cung cấp các thông tin đó cho người lao động để người lao động có thể tìm hiểu và thỏa thuận về việc làm với người sử dụng lao động, hoặc người giới thiệu việc làm có thể cung cấp thông tin cần thiết về người lao động cho chủ sử dụng lao động để họ có thể tiếp xúc với người lao động và có thể đi đến các thỏa thuận về tuyển dụng lao động khi thấy phù hợp Theo khái niệm này thì giới thiệu việc làm có thể được cụ thể hóa trong các nhiệm vụ sau:
+ Giới thiệu việc làm là thực hiện nhiệm vụ cầu nối trung gian giữa người sử dụng lao động và người lao động, trực tiếp bố trí người tìm việc vào các công việc hiện có (chỗ làm trống);
+ Thiết lập hoặc tăng cường các chương trình thu thập, phân tích, lưu giữ và cung cấp thông tin; tư vấn về các hội chợ việc làm, nghề nghiệp cho người lao động
và người sử dụng lao động; đào tạo, tự tạo việc làm cho người lao động;
+ Cung cấp cho người lao động những thông tin và yêu cầu của người sử dụng lao động về lĩnh vực cần tuyển lao động, những đòi hỏi về trình độ chuyên môn – kỹ thuật, cũng như về các mức tiền công có thể nhận được, giúp cho người
sử dụng lao động tuyển được lao động theo đúng yêu cầu;
+ Hoạt động giới thiệu việc làm có thể tham gia đào tạo nghề để tự tạo việc làm cho người lao động
Trang 33Tư vấn là góp ý kiến về một vấn đề được hỏi nhưng không có quyền quyết
định (Theo Từ điển Hoàng Phê) Tư vấn là một tiến trình tương tác nhằm giúp thân chủ hiểu được vấn đề của mình và khơi dậy tiềm năng để thân chủ tự quyết định vấn
đề của mình
Tư vấn cho NKT trong định hướng nghề nghiệp và giới thiệu việc làm là một điều tối cần thiết Với NKT, kể cả bẩm sinh hay thứ phát, nếu không được tư vấn hướng nghiệp, thì sự yếu thế của họ còn tăng lên gấp bội so với người bình thường
do những thiếu hụt cơ bản như: thiếu hụt năng lực tiếp cận cơ sở vật chất; thiếu hụt năng lực tiếp cận thông tin thị trường lao động; thiếu hụt năng lực tiếp cận thể chế
và dịch vụ xã hội…(Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa và Nguyễn Thu Trang, 2014) Việc đi sai hướng trong nghề nghiệp sẽ mang đến nhiều bất lợi trong cuộc sống sau này Do vậy, NKT rất cần được hỗ trợ tư vấn trong lựa chọn ngành nghề của họ, chuẩn bị cho họ một tâm thế tốt để tích cực và chủ động tham gia lao động
1.3.2 Xây dựng chương trình đào tạo nghề và liên kết đào tạo nghề cho người khuyết tật
Theo Từ điển Giáo dục học, chương trình đào tạo được hiểu là: “Văn bản
chính thức quy định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, quy định phương thức và phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo”
Tác giả Tyler (1949) cho rằng: Chương trình đào tạo về cấu trúc phải có 4
phần cơ bản: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp hay quy trình đào tạo, cách đánh giá kết quả đào tạo
Chương trình đào tạo không chỉ phản ánh nội dung đào tạo mà là một văn bản hay bản thiết kế thể hiện tổng thể các thành phần của quá trình đào tạo, điều kiện, cách thức, quy trình tổ chức, đánh giá các hoạt động đào tạo để đạt được mục tiêu đào tạo
Trang 34Chương trình đào tạo phù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo Không có chương trình đào tạo sẽ không có các căn cứ để xem xét đánh giá bậc đào tạo của các đối tượng tham gia đào tạo và việc đào tạo sẽ diễn ra tự phát không theo một tiêu chuẩn thống nhất
Như vậy, chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu của các cơ sở dạy nghề nhất là dạy nghề cho NKT Hiện nay, Nhà nước chưa ban hành chương trình khung đào tạo nghề cho NKT Vì thế, trên cơ sở chương trình đào tạo nghề cho người bình thường và từ kinh nghiệm của bản thân trong việc dạy nghề cho NKT,
GV phải tự xây dựng chương trình đào tạo với nội dung và kết cấu giữa lý thuyết với thực hành thật phù hợp với tình trạng khuyết tật và đặc điểm của NKT
Liên kết là một mô hình trong giáo dục nhằm tạo cơ hội học tập cho toàn xã
hội Liên kết đào tạo không phải là một hình thức mới trong ngành giáo dục và nó đang ngày càng phát triển do nhu cầu học tập của các cá nhân đang ngày càng cao Trong lĩnh vực dạy nghề đối với NKT thực hiện liên kết sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho NKT được học tập những ngành nghề phù hợp với tình trạng khuyết tật, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
1.3.3 Hỗ trợ về cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ học nghề cho người khuyết tật
Cơ sở vật chất, kỹ thuật đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng giáo dục Bởi vì nó là thành tố của quá trình sư phạm, nó có quan hệ tương hỗ với các thành tố khác của quá trình dạy học Cơ sở vật chất, kỹ thuật là điều kiện thiết yếu của quá trình sư phạm vì nó là phương tiện để tác động đến thế giới tâm hồn của học sinh
Cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ
thuật cần thiết được GV và HV sử dụng để hoạt động dạy và học đạt được mục tiêu giảng dạy đã đặt ra Cơ sở vật chất, kỹ thuật được nhắc đến ở đây là hệ thống trường lớp, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác dạy nghề đối với NKT
Trang 35Phương tiện giảng dạy là những đối tượng mang nội dung dạy học, được sử
dụng trực tiếp vào quá trình dạy học để chuyển biến nội dung hướng đến mục tiêu dạy nghề Trong mối quan hệ giữa các thành tố tham gia quá trình dạy nghề, phương tiện chở thông điệp từ GV theo một phương pháp giảng dạy nào đó
Phương tiện có thể đóng nhiều vai trò trong quá trình đào tạo Các phương tiện dạy học thay thế cho những sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HV không thể tiếp cận trực tiếp được Chúng giúp cho GV phát huy tất cả các giác quan của HV trong quá trình truyền thụ kiến thức, do đó giúp cho HV nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng và tái hiện được những khái niệm, quy luật, làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức
đã tạo vào thực tế sản xuất
Sơ đồ mối quan hệ giữa thông điệp và phương tiện, phương tiện chở thông điệp đi (Phương tiện dạy học, Tô Xuân Giáp)
Máy móc, trang thiết bị thực hành cũng là một trong những yếu tố rất quan
trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của một cơ sở đào tạo nghề, đặc biệt là các cơ sở đào tạo nghề thuộc lĩnh vực kỹ thuật
Quá trình học tập, đào tạo diễn ra thì trước hết cần có địa chỉ, địa chỉ ở đây chính là những lớp học nghề, là xưởng thực hành tại đây GV dạy nghề sẽ truyền đạt kiến thức lý thuyết, kỹ năng thực hành, kỹ xảo làm việc cho NKT, giúp NKT tiếp cận được với nghề một cách nhanh nhất và dễ dàng nhất
Cơ sở vật chất, kỹ thuật đóng vai trò hỗ trợ tích cực cho quá trình Dạy – Học
vì cơ sở vật chất, kỹ thuật tốt thì chúng ta mới có thể tổ chức được quá trình dạy học
THẦY GIÁO
HỌC SINH Phương tiện Thông điệp
Phương pháp
Trang 36khai thác và tiếp nhận tri thức dưới sự hướng dẫn của người dạy một cách tích cực
Cơ sở vật chất, kỹ thuật phải đủ và phù hợp mới triển khai được các phương pháp dạy học một cách hiệu quả Do vậy, cơ sở vật chất, kỹ thuật là bộ phận quan trọng của nội dung và phương pháp, chúng có thể vừa là phương tiện để nhận thức, vừa là đối tượng chứa nội dung cần nhận thức Đặc biệt, đối với NKT thì cơ sở vật chất, kỹ thuật phải được thiết kế đặc biệt phù hợp với tình trạng, đặc điểm NKT và điều cần lưu ý phải sắp xếp bố trí chỗ ăn, ở, học tập, vệ sinh thích hợp cho NKT hạn chế trong việc di chuyển và thuận tiện cho việc quản lý
1.3.4 Hỗ trợ cho người khuyết tật lao động sản xuất gắn dạy nghề
Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân, Điều 55 của Hiến
pháp năm 1992 đã quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà
nước và xã hội có kế hoạch ngày càng tạo nhiều việc làm cho người lao động” Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Đối với NKT thì không có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để tham gia lao động bên ngoài cũng như thực hành nghề Việc hỗ trợ cho NKT được lao động sản xuất sẽ giúp cho NKT có thể rèn luyện thêm kỹ năng nghề góp phần nâng cao tay nghề, là hình thức lao động trị liệu cho NKT trí tuệ, cũng là nơi
để NKT được lao động, tạo ra thu nhập, tự tin hơn vào bản thân bước đầu chuẩn bị hành trang để NKT tham gia lao động bên ngoài
1.3.5 Vận động nguồn lực hỗ trợ cho người khuyết tật
Nguồn lực, theo nghĩa hẹp nguồn lực được hiểu là các nguồn lực vật chất cho
phát triển (Ví dụ: tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền) Theo nghĩa rộng nguồn lực được hiểu gồm tất cả các lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nhất định (Ví dụ: giảm nghèo và phát triển an sinh xã hội)
Nguồn lực hỗ trợ cho NKT được hiểu là các hình thức vốn tự nhiên vật chất bằng tiền, vốn nhân lực, thực lực mà xã hội có được từ các nguồn khác nhau, ngân
Trang 37sách trung ương và địa phương đầu tư vào tín dụng từ các cá nhân và tổ chức, từ dân cư và cộng đồng, nguồn tài trợ cho biếu tặng
Vận động là hàng loat các hành động hướng tới những người ra quyết định
để họ ủng hộ cho một vấn đề hay chính sách nào đó
Như vậy, vận động nguồn lực hỗ trợ cho NKT là các cách thức, hành động
nhằm tìm kiếm, khai thác các nguồn lực của cá nhân, tổ chức để họ ủng hộ cho hoạt động phục vụ NKT một cách có lợi nhất
1.3.6 Hỗ trợ vay vốn, chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật
Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại Nó
có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính
Theo Wikipedia tiếng Việt, “Vốn tài chính là tiền được sử dụng bởi
các doanh nhân và doanh nghiệp để mua những gì họ cần để làm ra sản phẩm của
họ hoặc để cung cấp dịch vụ của họ cho khu vực của nền kinh tế khi mà hoạt động
của họ là dựa trên, chẳng hạn như bán lẻ, công ty, hoạt động ngân hàng đầu tư, …”
Theo quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa về
sức khỏe của con người: “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tâm
thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật”
Y tế hay Chăm sóc sức khỏe, là việc chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa
bệnh, bệnh tật, thương tích, và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người (Theo Wikipedia tiếng Việt)
Đối với NKT, do có những đặc trưng về tình trạng bệnh, tật, nên với họ, khó
có thể đạt được những trạng thái thoải mái với tiêu chuẩn của người bình thường Bởi lẽ, mong muốn lớn nhất của họ có lẽ là được khôi phục, hỗ trợ khôi phục hoặc được thực hiện những kỹ năng để ổn định sức khỏe, có thể tự thực hiện được những hoạt động sinh hoạt, phục vụ cho chính bản thân, gia đình và xã hội, nhằm tiến đến
hòa nhập cộng đồng Vì thế, sức khỏe của NKT là tình trạng ổn định toàn diện về
thể chất, tâm thần, xã hội Theo đó, việc chăm sóc sức khỏe của NKT vẫn quan tâm hợp lý đến cả ba mặt: Sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần và sức khỏe xã hội
Trang 38Chăm sóc sức khỏe NKT bao gồm chăm sóc y tế, chăm sóc ngoài y tế Sự
chăm sóc này được hiểu trong mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại giữa các yếu
tố môi trường bên ngoài (thức ăn, nước uống…) với yếu tố môi trường bên trong (di truyền, gen…); giữa các hoạt động đề phòng sự phát sinh ra bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật đến việc điều trị kịp thời, phục hồi sức khỏe cho NKT
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với người khuyết tật
1.4.1 Năng lực đội ngũ giáo viên và nhà quản lý
Hiệu quả hỗ trợ dạy nghề đối với NKT trước hết được quy định bởi chất lượng của đội ngũ GV và cán bộ quản lý của TT Bởi lẽ, họ vừa là chủ thể, vừa là khách thể quản lý
Đội ngũ GV dạy nghề nếu có kiến thức chuyên môn sâu rộng, tay nghề cao, khả năng sư phạm tốt và có tư duy khoa học sáng tạo, sẽ giúp họ thực hiện tốt chức năng giảng dạy, tổ chức các hình thức dạy học, trực tiếp góp phần hình thành ở HV kiến thức vững vàng, năng lực tự học và khả năng thích ứng tốt với công việc Bên cạnh yêu cầu trình độ chuyên môn nghiệp vụ phải đạt chuẩn do Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định, thì GV dạy nghề cho NKT cần phải có thêm kiến thức cơ bản về tâm lý - giáo dục, năng lực giao tiếp đa dạng (như ngôn ngữ giao tiếp bình thường, ngôn ngữ ký hiệu, ngôn ngữ cơ thể,…), để họ có thể tiếp cận với NKT một cách dễ dàng, không bị xa cách
Số lượng GV trên tổng số HV cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác đào tạo
Để quá trình đào tạo đạt chất lượng cao nhất, phải đảm bảo tỷ lệ GV và HV phù hợp; đảm bảo số giờ dạy chuẩn của GV và tổ chức tốt quá trình nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ GV Một cơ sở đào tạo có đội ngũ GV tốt, thành thạo chuyên môn, nghiệp vụ của nghề đào tạo, có phương pháp sư phạm tốt, am hiểu tâm lý NKT, sẽ là tài sản vô giá giúp cho sự tồn tại và phát triển bền vững của đơn vị
Bên cạnh đó, một ngôi trường hoạt động hiệu quả không thể thiếu người quản lý; vì vậy, phẩm chất, năng lực của họ đóng góp rất quan trọng trong việc đảm bảo chất
Trang 39đào tạo hợp lý, phát huy tối đa khả năng của GV, có sự đầu tư về cơ sở vật chất đúng nơi, đúng lúc, nắm được thực lực của đơn vị để khắc phục những khó khăn, biết cách làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả, sẽ là yếu tố quyết định đến hiệu quả quản lý của TT
1.4.2 Nội dung chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo là điều kiện không thể thiếu của các cơ sở dạy nghề
Nội dung chương trình đào tạo là tập hợp hệ thống các kiến thức về văn hóa - xã hội,
khoa học - công nghệ, các chuẩn mực thái độ - nhân cách, các kỹ năng lao động chung và chuyên biệt cần thiết để hình thành phẩm chất và năng lực nghề nghiệp phù
hợp với một loại hình lao động nghề nghiệp cụ thể
Đây là yếu tố rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả dạy nghề Nội dung chương trình đào tạo tốt phải đảm bảo được sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành; các môn học có thời lượng phân bổ hợp lý và phải có sự hỗ trợ tương đối với nhau, kết quả cuối cùng phải hình thành được kiến thức, kỹ năng và thái độ tốt cho
HV Trong dạy nghề đối với NKT, không có chương trình đào tạo chung cho các nghề mà từng nghề đều có chương trình riêng Do vậy, có nhiều chương trình nếu như dạy nhiều nghề Mỗi chương trình đào tạo bao gồm phần lý thuyết và phần thực hành, tương ứng với mỗi nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau về lượng nội dung cũng như thời gian học
Giáo trình là những quy định cụ thể hơn của chương trình về từng môn cụ thể trong đào tạo Nội dung giáo trình phải tiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức mới và phải đi đôi với thiết bị thì việc đào tạo mới sát thực tế và hiệu quả dạy nghề mới cao; trong đó phần dạy thực hành rất quan trọng vì nó sẽ hình thành kỹ năng cho người học; đặc biêt giáo trình dành riêng cho NKT phải phù hợp tùy theo tình trạng khuyết tật của họ
Đặc thù dạy nghề cho NKT là “cầm tay chỉ việc”, hướng dẫn HV nhiều lần
một việc tạo thành thói quen nên mất nhiều thời gian Do đó, trong quá trình giảng dạy, GV cũng phải kiên trì đứng lớp hướng dẫn, tạo cho HV niềm yêu thích, hứng
Trang 401.4.3 Cơ sở vật chất, kỹ thuật
Trong thực tế cho ta thấy, nơi nào có cơ sở vật chất đầy đủ, trường, lớp khang trang, sạch đẹp, mô phạm thì nơi ấy chất lượng giảng dạy cũng như các hoạt động khác trong nhà trường tăng lên rõ rệt Thực tiễn giáo dục của các nước trên thế giới cũng như ở nước ta cho thấy không thể đào tạo con người phát triển toàn diện theo yêu cầu phát triển của xã hội nếu không có những cơ sở vật chất tương ứng
Đặc biệt đối với NKT thì cơ sở vật chất, kỹ thuật là yếu tố rất cần thiết để quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức và thực hành kỹ năng nghề nghiệp của NKT đạt hiệu quả Một cơ sở vật chất, kỹ thuật tốt sẽ khiến kết quả đào tạo rất khả quan, sản phẩm của quá trình đó là những người khuyết tật có trình độ chuyên môn, vững vàng trong nghề đã được đào tạo, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc Nếu
cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu đặt ra thì quá trình học lý thuyết và thực hành có những hẫng hụt, việc học tại các cơ sở dạy nghề có những khoảng cách lớn với việc làm trong thực tế, từ đó làm giảm hiệu quả của công tác đào tạo, gây lãng phí chi phí cho quá trình đào tạo
Phương tiện dạy học đóng vai trò rất quan trọng trong giáo dục Đối với HV khuyết tật cần có sự hỗ trợ các phương tiện giáo dục đặc biệt như: chữ nổi, sách nói, ngôn ngữ khiếm thính, giáo cụ trực quan, Trang thiết bị lạc hậu, không đủ hoặc không phù hợp sẽ là trở ngại rất lớn cho việc giảng dạy cũng như học tập, rèn luyện
kỹ năng nghề Để đào tạo ra đội ngũ lao động có kỹ năng nghề vững chắc, thì các cơ
sở đào tạo nghề phải luôn đầu tư cơ sở vật chất, cập nhật, đổi mới trang thiết bị thực hành, phù hợp với NKT
Tuy nhiên, cũng cần nhận thức một cách sâu sắc rằng cơ sở vật chất, kỹ thuật
có tầm quan trọng và khả năng to lớn đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, nhưng hiệu quả của chúng trong phạm vi đáng kể còn phụ thuộc vào trình độ và đào tạo nghề nghiệp của GV Có thể nói rằng cơ sở vật chất, kỹ thuật không thể thay thế cho các phương tiện dạy học truyền thống và đặc biệt là không thể thay thế vị trí của người GV trên lớp