1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa

98 575 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp nâng cao hoạt động trong hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật của cơ sở dịch vụ việc làm, trung tâm công tác xã hội và các cơ sở dạy nghề .... Hệ thống chính sách, pháp luậ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM THÁI ĐÀI

HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG,

TỈNH KHÁNH HÒA

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HÀ THỊ THƯ

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ công tác xã hội với đề tài: “Hỗ trợ việc làm

đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” là

nghiên cứu của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài luận văn này là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả luận văn

Phạm Thái Đài

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾTTẬT VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 12

1.1 Người khuyết tật: khái niệm và đặc điểm 12

1.2 Lý luận về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật 18

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật 25

1.4 Cơ sở pháp lý về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật 29

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA 33

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 33

2.2 Thực trạng việc làm và hoạt động hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật 36

2.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật 54

Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA 65

3.1 Biện pháp nâng cao năng lực của nhân viên hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 65

3.2 Biện pháp nâng cao hoạt động trong hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật của cơ sở dịch vụ việc làm, trung tâm công tác xã hội và các cơ sở dạy nghề 67

3.3 Biện pháp hỗ trợ người khuyết tật 69

3.4 Biện pháp nâng cao nhận thức gia đình người khuyết tật, cộng đồng và doanh nghiệp về vấn đề việc làm của người khuyết tật 71

3.5 Biện pháp về cơ chế, chính sách thúc đẩy hiệu quả hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật 74

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

LĐTBXH Lao động – Thương binh và Xã hội

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tương quan giữa người khuyết tật không tìm được việc làm và

khả năng lao động của người khuyết tật 38

Bảng 2.2: Ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm riêng của người khuyết tật

đến hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 54 Bảng 2.3: Ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên ngoài đến hỗ trợ việc làm

cho người khuyết tật 56 Bảng 2.4: Ảnh hưởng của yếu tố từ cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm

đến hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 58

Bảng 2.5: Ảnh hưởng của yếu tố năng lực của đội ngũ nhân viên hỗ trợ

việc làm đến hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật 59

Bảng 2.6: Ảnh hưởng của yếu tố cơ chế, chính sách đến hỗ trợ việc làm

cho người khuyết tật 61

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Tình trạng việc làm của người khuyết tật (Tỷ lệ %) 37 Biểu đồ 2.2: Nguyên nhân người khuyết tật không tìm được việc làm

(Tỷ lệ %) 38 Biểu đồ 2.3: Ý kiến của người khuyết tật về các mức độ cần thiết

của tư vấn việc làm (Tỷ lệ %) 40

Biểu đồ 2.4: Hình thức người khuyết tật được tư vấn việc làm (Tỷ lệ %) 41 Biểu đồ 2.5: Những thay đổi của người khuyết tật sau khi được tư vấn

việc làm (Tỷ lệ %) 42

Biểu đồ 2.6: Ý kiến của người khuyết tật về các mức độ cần thiết

của giới thiệu việc làm (Tỷ lệ %) 44

Biểu đồ 2.7: Hình thức người khuyết tật được giới thiệu việc làm

(Tỷ lệ %) 45 Biểu đồ 2.8: Ý kiến của người khuyết tật về các mức độ cần thiết

của đào tạo nghề (Tỷ lệ %) 48

Biểu đồ 2.9: Ý kiến của người khuyết tật về các mức độ phù hợp của

nghề được đào tạo với công việc (Tỷ lệ %) 50

Biểu đồ 2.10: Tình trạng vay vốn giải quyết việc làm của người khuyết tật

(Tỷ lệ %) 51

Biểu đồ 2.11: Nguyên nhân người khuyết tật không vay vốn (Tỷ lệ %) 52

Biểu đồ 2.12: So sánh các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm

đối với người khuyết tật 63

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, hiện nay Việt Nam

có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số Trong đó, có khoảng 28,9% người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng, 58% người khuyết tật là nữ, 28,3% người khuyết tật là trẻ em, 10,2% người khuyết tật là người cao tuổi, 61,5% người khuyết tật trong độ tuổi lao động và khoảng 10% người khuyết tật thuộc hộ nghèo [2] Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác người khuyết tật Hệ thống chính sách, pháp luật về người khuyết tật không ngừng được hoàn thiện, tạo môi trường pháp lý nhằm bảo vệ, chăm sóc, trợ giúp, hỗ trợ tạo việc làm để người khuyết tật phát huy khả năng của mình, vượt qua khó khăn, hòa nhập cuộc sống, vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật vào tháng 10/2007 và Quốc hội phê chuẩn Công ước vào tháng 11/2014 Việt Nam cam kết tham gia Chiến lược Incheon nhằm hiện thực hóa quyền cho người khuyết tật giai đoạn 2013-2022 được Liên Chính phủ cùng các tổ chức người khuyết tật các nước Châu Á – Thái Bình Dương thông qua ngày 01/11/2012 tại Incheon, Hàn Quốc Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1717/QĐ-TTg ngày 06/10/2015 về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về người khuyết tật Việt Nam

Trong quá trình thực hiện các chính sách và các hoạt động trợ giúp người khuyết tật thì hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật là một vấn đề khó khăn và bức xúc nhất của người khuyết tật Người khuyết tật rất khó tiếp cận việc làm, cơ hội tìm được việc làm của người khuyết tật rất hạn chế Việc làm và thu nhập của người khuyết tật còn nhiều rào cản Hiện nay, số người khuyết tật có việc làm chỉ chiếm 10-20% trong tổng số người khuyết tật [10], số người khuyết tật còn lại gặp nhiều khó khăn, hầu hết phải sống dựa vào gia đình Một bộ phận người khuyết tật tuy có việc làm, nhưng công việc không ổn định và thu nhập còn rất thấp

Trang 8

2

Thực tiễn tại thành phố Nha Trang, việc làm của người khuyết tật cũng gặp không ít khó khăn Theo số liệu thống kê, thành phố Nha Trang có 9.594 người khuyết tật, chiếm 2,41% dân số Trong đó, có 3.096 người khuyết tật trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và chỉ có 396 người khuyết tật có việc làm ổn định

Số người khuyết tật còn lại chủ yếu là phụ việc gia đình, việc làm bấp bênh hoặc không có việc làm Giải quyết nhu cầu việc làm của người khuyết tật đang là vấn đề quan tâm của thành phố [30]

Việc làm là một hoạt động rất quan trọng trong đời sống của con người, là phương tiện đảm bảo cuộc sống của mỗi cá nhân Đối với người khuyết tật, việc làm còn có ý nghĩa giúp người khuyết tật phát huy khả năng của mình, vượt qua khó khăn, hòa nhập cộng đồng, đáp ứng nhu cầu của cá nhân và vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội Quyền được làm việc của người khuyết tật là một những nội dung thể hiện trong Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật Vấn đề việc làm đối với người khuyết tật và lao động là người khuyết tật đã được pháp luật Việt Nam quy định trong nhiều luật: Luật người khuyết tật, Bộ luật lao động, Luật việc làm, Luật giáo dục nghề nghiệp

Hiện nay, có một số đề tài nghiên cứu vấn đề việc làm của người khuyết tật Tuy nhiên, đa số là các công trình nghiên cứu về cơ chế, chính sách việc làm cho người khuyết tật hoặc một số công trình nghiên cứu về hỗ trợ dạy nghề cho người khuyết tật Vì vậy, cần thiết có đề tài nghiên cứu về các hoạt động hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết

tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa” làm luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Abidi, Javed (2009) đã triển khai một nghiên cứu về việc làm của người khuyết tật [35] Tác giả đã mô tả một bức tranh tổng thể về vấn đề việc làm của người khuyết tật ở Ấn Độ Nghiên cứu đã đưa mô tả về các vấn đề như số lượng,

Trang 9

3

giới tính, các đặc điểm riêng của người khuyết tật, nhu cầu, mong muốn và thực trạng về vấn đề việc làm của người khuyết tật Nghiên cứu cũng nhấn mạnh những khó khăn và thách thức của người khuyết tật tại Ấn Độ về vấn đề việc làm

Nghiên cứu của Acemoglu và Joshua (2010) lại đề cập đến khía cạnh về các chương trình bảo vệ và hỗ trợ người khuyết tật trong vấn đề việc làm [36] Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm cũng như phân tích và đánh giá về các chính sách liên quan đến việc làm của người khuyết tật Từ đó đã có những đề xuất

và giải pháp định hướng cho việc xây dựng chính sách cho người khuyết tật trong lĩnh vực này

Tiếp cận theo hướng vĩ mô, Gladnet (2002) đã phân tích sự tác động của cơ chế chính sách đối với vấn đề việc làm của người khuyết tật [38] Tác giả chỉ ra rằng ngoài những nỗ lực của người khuyết tật và gia đình thì các chính sách hỗ trợ

là cực kỳ quan trọng Các chính sách ở đây không chỉ tập trung vào việc giúp người khuyết tật có việc làm mà còn cần phải nâng cao nhận thức, giảm kỳ thị về người khuyết tật để từ đó tạo ra việc làm hiệu quả và bền vững cho người khuyết tật Một cuộc nghiên cứu tổng thể về các vấn đề việc làm của người khuyết tật trong lĩnh vực hành chính công đã được Hirst (2004) triển khai [37] Trong nghiên cứu này tác giả đã thu thập số liệu và tập trung phân tích các vấn đề về việc làm của người khuyết tật dựa trên những số liệu và thông tin từ rất nhiều các nghiên cứu khác nhau, ở các lĩnh vực khác nhau

Tóm lại, nhiều công trình ở nước ngoài đã có nghiên cứu về vấn đề việc làm của người khuyết tật Những nghiên cứu này, cho thấy được những khó khăn, thách thức đối với việc làm của người khuyết tật; những hiệu quả tác động của chính sách, chương trình hỗ trợ việc làm dành cho người khuyết tật

2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề người khuyết tật dưới nhiều góc độ khác nhau từ vấn đề sức khỏe, chăm sóc y tế, chính sách pháp luật đối với người khuyết tật, quyền con người của người khuyết tật đến vấn đề xã hội như thái độ, hành vi đối với người khuyết tật, hòa nhập cộng đồng của người

Trang 10

- Cuốn sách chuyên khảo “Công tác xã hội với người khuyết tật” của Nhà xuất

bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2014 do tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) cùng các giảng viên nòng cốt giảng dạy Công tác xã hội với người khuyết tật tại các trường đại học hiện đang triển khai Chương trình đào tạo Công tác

xã hội tại Hà Nội với sự tài trợ của Tổ chức Hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam (VNAH) [11] Hiện nay, cuốn sách này là một giáo trình khá đầy đủ về lĩnh vực công tác xã hội với người khuyết tật Tác giả đã tổng quan về người khuyết tật và công tác xã hội với người khuyết tật từ một số vấn đề lý luận cơ bản, những hướng tiếp cận và quan niệm về người khuyết tật đến luật pháp, chính sách và các loại hình dịch vụ trợ giúp người khuyết tật Bên cạnh đó, tác giả đề cập đến những trải nghiệm khuyết tật với các nội dung khuyết tật và phát triển bản sắc của người khuyết tật, những trải nghiệm về sự kỳ thị và phân biệt đối xử với người khuyết tật, khả năng tiếp cận của người khuyết tật, tác động của khuyết tật đối với cá nhân người khuyết tật, tác động của tình trạng khuyết tật đối với các mối quan hệ và gia đình Cuốn sách có nội dung quan trọng về thực hành công tác xã hội với người khuyết tật đó là việc xây dựng mối quan hệ và sự tin tưởng, đánh giá thực hành công tác xã hội đến kế hoạch can thiệp trị liệu và các mô hình thực hành Tuy nhiên,

về nội dung hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật cuốn sách chỉ mới sơ lược mô hình hỗ trợ sinh kế và mô hình sống độc lập

- Cuốn sách “Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế” của

Nhà xuất bản Lao động – Xã hội xuất bản năm 2013 do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội biên soạn đã đề cập đến những vấn đề chung đối với các nhóm yếu thế, những rào cản, những nhu cầu và các đặc thù trong dạy nghề tạo việc làm bền vững cho một số nhóm đối tượng yếu thế trên thị trường lao động bao gồm: người khuyết tật, nông dân nghèo các vùng đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số và

Trang 11

5

lao động nữ [5] Cuốn sách đã nêu một số giải pháp nâng cao hiệu quả dạy nghề tạo việc làm bền vững cho người khuyết tật mà chủ yếu chỉ là nêu một số giải pháp chung về dạy nghề cho người khuyết tật

- Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam của Tổ chức Lao động Quốc tế (2011) [12] Báo cáo đã cho thấy một cách nhìn về các tổ chức của người khuyết tật, các tổ chức đại diện cho người khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho người khuyết tật Kết quả phân tích khảo sát của báo cáo cho rằng người khuyết tật tại Việt Nam rất ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như về phát triển doanh nghiệp Theo báo cáo, Chính phủ, nhiều tổ chức phi chính phủ

và chính người khuyết tật đều nhận thấy người khuyết tật cần có các dịch vụ đào tạo riêng (ít nhất theo học các lớp đào tạo riêng cho người khuyết tật), các dịch

vụ bố trí việc làm riêng và các kế hoạch và hoạt động phát triển kinh doanh riêng cho người khuyết tật

- Trong luận văn thạc sĩ công tác xã hội “Hoạt động tạo việc làm cho người

khuyết tật huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình” của tác giả Ngô Thị Bích Phượng (2013)

đã tiến hành khảo sát nghiên cứu tại hai cơ sở tư nhân trên địa bàn xã Yên Thắng và Khánh Thịnh [17] Tác giả chỉ ra được những đặc điểm của người khuyết tật như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng khuyết tật, hoàn cảnh kinh tế gia đình,

là một trong những yếu tố tác động đến quá trình học nghề và tìm kiếm việc làm Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến những yếu tố khác có tác động đến việc làm của người khuyết tật như yếu tố về môi trường, doanh nghiệp, chính sách Bên cạnh đó các giải pháp chủ yếu chỉ tập trung cho công tác tuyên truyền, cơ chế của nhà nước

- Luận văn thạc sĩ công tác xã hội “Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh

niên từ thực tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên” của tác giả Đào Thị Tỉnh (2015)

ngoài việc trình bày cơ sở lý luận về hỗ trợ giải quyết việc làm, tác giả cũng đã phân tích vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên [24] Đề tài đã khảo sát, đánh giá các thực trạng hỗ trợ giải quyết việc làm thông qua nhiều hình thức như hỗ trợ vốn vay, xuất khẩu lao động, dạy nghề

Trang 12

6

gắn với việc làm, cung cấp thông tin, tư vấn việc làm Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu là hỗ trợ việc làm đối với thanh niên mà thanh niên là nhóm đối tượng dễ dàng tiếp cận với việc làm hơn người khuyết tật rất nhiều

- Nghiên cứu “Việc làm cho người khuyết tật và người dễ bị tổn thương khác

tại Quảng Ninh, Hòa Bình và Lâm Đồng” do Ban Công tác xã hội – Trung ương

Hội chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện năm 2010 [1] Nghiên cứu đã chỉ ra các dạng khuyết tật, mức độ khuyết tật trong mối tương quan với các loại hình công việc Những khó khăn trong quá trình tìm việc và làm việc của người khuyết tật cũng được nhóm tác giả phân tích từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc làm cho người khuyết tật

- Tác giả Đoàn Thị Cẩm Vân (2015) trong đề tài luận văn thạc sĩ “Một số giải

pháp giải quyết việc làm cho người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh” đã đánh

giá thực trạng cung ứng việc làm nói chung và dành riêng cho người khuyết tật, các chính sách hỗ trợ người khuyết tật, mối liên kết giữa doanh nghiệp và người khuyết tật [32] Đề tài đã phân tích cơ hội việc làm cho người khuyết tật ngoài các yếu tố chính sách và thực thi của nhà nước, một số các yếu tố khác cần được xem xét như: cách nhìn xã hội trong đó có người tuyển dụng lao động người khuyết tật; trình độ

và khả năng làm việc của người khuyết tật; kênh thông tin tiếp cận của người khuyết tật đối với cơ hội nghề nghiệp Trên cơ sở các yếu tố trên tác giả nêu ra những giải pháp trong việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật Tuy nhiên đề tài chưa làm rõ các hoạt động để giải quyết việc làm cho người khuyết tật

Tóm lại, việc làm của người khuyết tật đã được nhiều đề tài trong nước nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau Nhóm các đề tài nghiên cứu về việc thực thi các chính sách hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật và từ đó đề xuất cải thiện một số chính sách phù hợp hơn Nhóm đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng một số hoạt động như dạy nghề cho người khuyết tật, tuyển dụng lao động người khuyết tật, từ

đó khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả những hoạt động này Nghiên cứu các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật hiện nay, từ tư vấn việc làm, giới

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

- Làm sáng tỏ các khái niệm về người khuyết tật, về việc làm và hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

- Phân tích đánh giá thực trạng về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

- Đề xuất một số biện pháp thúc đẩy hiệu quả hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

4.2 Phạm vi nghiên cứu

* Phạm vi về đối tượng

Nghiên cứu lý luận và thực trạng về hỗ trợ việc làm; cụ thể đó là hỗ trợ tư vấn việc làm, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tự tạo việc làm cho người khuyết tật

* Phạm vi về khách thể

Trang 14

8

Nghiên cứu trên tổng số 180 khách thể người khuyết tật Về cơ cấu tuổi bao gồm những người khuyết tật trong độ tuổi lao động (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi) Về mức độ khuyết tật và dạng tật bao gồm người khuyết tật nặng hoặc nhẹ và các dạng tật về vận động; nghe, nói; nhìn (ngoại trừ khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ và khuyết tật khác)

Đối với những người làm việc có liên quan đến vấn đề việc làm người khuyết tật: Nghiên cứu 15 khách thể gồm cán bộ quản lý, nhân viên làm công tác hỗ trợ việc làm, lãnh đạo các đơn vị, doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực việc làm của người khuyết tật

* Phạm vi về địa bàn: Nghiên cứu trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh

mở, chỉ đạo đều là những lý luận và nguyên lý có ý nghĩa phương pháp luận Mọi nguyên lý thế giới quan đều có tác dụng ấy, chúng hợp thành nội dung của phương pháp luận Phương pháp luận sẽ định hướng cho nghiên cứu, quyết định hướng tiếp cận vấn đề của nghiên cứu Vì thế nó có vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của một nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học nền tảng là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử Mọi hiện tượng,

sự kiện trong báo cáo đều được phân tích, nhìn nhận dưới góc độ lịch sử, đặt trong mối tương quan, liên hệ chặt chẽ với nhau Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận để lý giải các hiện tượng, các vấn đề xã hội Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, mỗi kết cấu vật chất có muôn vàn mối liên hệ qua lại với các sự vật và hiện tượng, quá trình

Trang 15

triển của nó

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài liệu

có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước Phương pháp này được áp dụng phân tích các tài liệu như:

- Tra cứu các tài liệu về Công ước quốc tế; các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về người khuyết tật và vấn đề việc làm đối với người khuyết tật ví dụ như Luật người khuyết tật, Bộ luật lao động, Luật việc làm, Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 - 2020, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP

- Nghiên cứu các tài liệu về báo cáo, thống kê, văn bản của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến vấn đề người khuyết tật và việc làm của người khuyết tật

- Nghiên cứu một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề việc làm đối với người khuyết tật

5.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Là phương pháp điều tra xã hội học nhằm thu thập thông tin bằng cách lập một bảng hỏi cho nhóm đối tượng cần nghiên cứu trong một không gian, thời gian nhất định

Đề tài sẽ điều tra bằng bảng hỏi 180 khách thể là người khuyết tật, trên 06 xã/phường trên 27 xã/phường thuộc thành phố Nha Trang, trong đó

02 xã/phường thuộc khu vực thành thị, 02 xã/phường thuộc khu vực ngoại ô và 02

xã/ phường thuộc khu vực nông thôn

Trang 16

10

5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu

và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực trạng, những mong muốn nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua chính ngôn ngữ, thái độ của người ấy

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu một số người khuyết tật, các nhà quản lý, cơ sở dạy nghề, trung tâm dịch vụ việc làm, ngân hàng chính sách xã hội và một số doanh nghiệp để tìm hiểu sâu hơn, lý giải nguyên nhân về các vấn đề nghiên cứu của đề tài Phương pháp tiến hành phỏng vấn sâu 20 đối tượng khách thể, trong đó gồm 5 người khuyết tật và 15 người là cán bộ quản lý, nhân viên, lãnh đạo các đơn vị, doanh nghiệp có liên quan đến vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

5.2.4 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là một phương pháp mang tính chọn lựa, có hệ thống và

có mục đích để nhìn và lắng nghe về một tương tác hay một hiện tượng khi nó xảy

ra Quan sát là một cách để thu thập dữ liệu sơ cấp

Trong đề tài, phương pháp quan sát được sử dụng để ghi lại những nguyện vọng, mong muốn, thái độ của bản thân người khuyết tật về vấn đề hỗ trợ việc làm; quan sát ghi lại những thái độ, hành vi, cách cư xử, trao đổi của nhân viên tư vấn, giới thiệu việc làm cho người khuyết tật

5.2.5 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích các số liệu điều tra, số liệu thống kê

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các

cơ sở nghiên cứu và đào tạo về công tác xã hội

Các phát hiện của nghiên cứu cho thấy rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

Trang 17

11

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Đối với người khuyết tật: Giúp khắc phục những vấn đề, khó khăn trong việc

hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật từ đó nâng cao số lượng và chất lượng giải quyết việc làm cho người khuyết tật Người khuyết tật sẽ ngày càng khẳng định được vai trò trong xã hội

- Đối với các cơ quan, trung tâm, tổ chức cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật: Các phát hiện và đề xuất của nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở từ đó nâng cao hiệu quả hỗ trợ người khuyết tật

- Đối với các cơ quan quản lý: Giúp các cơ quan quản lý có những chính sách hoạch định hiệu quả về vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

- Đối với xã hội: Việc giải quyết vấn đề việc làm cho người khuyết tật sẽ góp phần giải quyết các vấn đề chung của người khuyết tật, góp phần khẳng định nỗ lực trong việc thực hiện Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật

mà Việt Nam đã ký kết

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các biểu, bảng, luận văn gồm:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về người khuyết tật và hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

- Chương 2: Thực trạng về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

- Chương 3: Một số biện pháp thúc đẩy hiệu quả hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Trang 18

12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT

VÀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 Người khuyết tật: khái niệm và đặc điểm

1.1.1 Một số khái niệm

* Khái niệm người khuyết tật

Hầu như mọi người đều trải qua sự suy giảm sức khỏe, do vậy ai cũng có thể

bị khuyết tật về một mặt nào đó trong một thời điểm hay một thời gian dài Có nhiều loại khuyết tật và khuyết tật có ý nghĩa khác nhau trong từng bối cảnh cụ thể Phân loại quốc tế về Chức năng, Giảm khả năng và Sức khỏe (The international Classification of Functioning, Disability and Health – ICF) của Tổ chức Y tế thế

giới (WHO) cho rằng: “Khuyết tật là một thuật ngữ chung để chỉ sự khiếm khuyết,

giảm thiểu chức năng hoạt động và sự tham gia Nó bao hàm các quan điểm tiêu cực và sự tương tác giữa một cá nhân (với một điều kiện sức khỏe) với các yếu tố bao quanh cá nhân đó (yếu tố môi trường, yếu tố con người)” [6, tr.7] Như vậy có

thể hiểu khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động là hậu quả của sự khiếm khuyết nào đó

Người khuyết tật là người không bình thường về sức khỏe do các khuyết tật, hoặc do bệnh tật làm hủy hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc do hậu quả của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần được xã hội quan tâm giúp đỡ, bảo vệ Người khuyết tật là người bị mất toàn phần hay một phần khả năng, điều kiện để tự phục vụ mình, học tập và tham gia lao động Những người

bị khiếm khuyết tay hoặc chân, bị liệt toàn thân hay một phần, bị khiếm thị, khiếm thính, khuyết tật nói hoặc bị rối loạn chức năng cơ thể, là những người khuyết tật

do sự sai lệch rõ ràng so với thể trạng bình thường của một con người

Công ước của LHQ về quyền của người khuyết tật (2006) định nghĩa: “Người

khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có

Trang 19

13

thể cản trợ sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên cơ

sở bình đẳng với những người khác” [31, tr.143]

Công ước số 159 của ILO về phục hồi chức năng lao động và việc làm (của

người khuyết tật): “Theo Công Ước này, từ người khuyết tật dùng để chỉ một cá

nhân mà khả năng có một việc làm phù hợp, trụ lâu dài với công việc đó và thăng tiến với nó bị giảm sút đáng kể do hậu quả của một khiếm khuyết về thể chất và tâm thần được thừa nhận” [13]

Luật người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011 đã đưa ra cách giải thích thuật ngữ về người khuyết tật như sau:

“Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt,

h c tập gặp khó khăn [21] Như vậy, người khuyết tật phải đủ 3 điều kiện là:

(1) Phải có khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng;

(2) Khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng phải được biểu hiện dưới dạng tật (một hoặc nhiều dạng tật);

(3) Việc khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng là nguyên nhân làm cho người đó gặp khó khăn khi tham gia lao động, sinh hoạt, học tập Khái niệm người khuyết tật theo Luật người khuyết tật là khá đầy đủ, tương đối bao quát được các cách hiểu khác nhau, đồng thời phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta hiện nay Vì vậy, trong phạm vi Luận văn này sử dụng khái niệm người khuyết tật theo Luật người khuyết tật

* Các dạng khuyết tật

Phân loại các dạng tật và các mức độ khuyết tật có các quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu nhưng nói chung thường dựa trên tiêu chí của sự khiếm khuyết bộ phận cơ thể và mức độ suy giảm chức năng Ở Việt Nam, việc phân loại người khuyết tật dựa theo dạng tật và mức độ khuyết tật Theo đó các dạng tật bao gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn; khuyết tật thần

Trang 20

14

kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác Mỗi dạng khuyết tật này có những đặc điểm nhất định về tâm, sinh lý qua đó tác động đến các nhu cầu và sự hòa nhập của người khuyết tật Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP [7], xác định các dạng tật như sau:

- Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển

- Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói

- Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường

- Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường

- Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc

- Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp nêu trên

Trang 21

vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày nên cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc Vì vậy, người khuyết tật nặng cần có nhu cầu trợ giúp

- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp ở hai nội dung trên Người khuyết tật nhẹ chỉ cần sự trợ giúp nhỏ

1.1.2 Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật

* Một số đặc điểm tâm lý của người khuyết tật [9]

- Người khuyết tật là những người bị suy giảm chức năng (chức năng nhận thức, vận động, giao tiếp,…) Do đó, họ gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống, lao động, học tập, sinh hoạt hàng ngày Vì vậy, gia đình và xã hội cần có sự chăm sóc,

hỗ trợ như: chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, cung cấp thiết bị, dụng cụ trợ giúp, chỉnh hình, giáo dục đặt biệt,… Mặt khác, môi trường cộng đồng và gia đình cần được thích ứng với hoàn cảnh người khuyết tật như thiết kế các công trình công cộng, phương tiện sinh hoạt phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật

- Cơ chế bù trừ chức năng của các giác quan ở người khuyết tật được thể hiện

rõ nét Khi họ mất đi khả năng hoạt động của cơ quan cảm giác nào đó thì ở họ khả năng hoạt động của các cơ quan còn lại rất phát triển và sự nhận biết thế giới xung quanh thực hiện chủ yếu thông qua giác quan còn lại này Ví dụ như người khiếm thị thường rất nhạy cảm với các kích thích da, đôi tay; người khiếm thính nhạy cảm với kích thích rung động, biểu cảm phong phú Vì vậy, khi thực hiện các hoạt động đào tạo nghề cần vận dụng tối đa sự tham gia của các cơ quan cảm giác còn lại (như dạy nghề cho người khuyết tật nghe, nói cần tăng cường sử dụng hình ảnh trực quan, các động tác tay chân để mô phỏng; ngược lại với người khiếm thị thì phải tích cực hỗ trợ bằng các phương tiện nghe, sờ,…)

Trang 22

16

- Người khuyết tật thường có tâm lý mặc cảm, tự ti, sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người; họ cho rằng số phận mình không may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình Do đó, họ dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng khi bị phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng Cộng đồng và xã hội cần giáo dục mọi người tránh lời nói, cử chỉ, hành vi miệt thị, xa lánh; đồng thời, tạo điều kiện cho người khuyết tật hòa nhập vào cuộc sống xã hội như những người bình thường Nhân viên

tư vấn việc làm phải lưu ý đặc điểm này, khi giao tiếp tư vấn cho người khuyết tật cũng như đánh giá khả năng làm việc của họ

- Người khuyết tật gặp khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh

Họ có đời sống nội tâm rất nhạy cảm và tế nhị, dễ cảm thông với những người đồng cảnh ngộ và biết ơn khi được quan tâm, giúp đỡ Vì vậy, người khuyết tật là những người hoạt động rất tích cực trong nhóm tự giúp nhau, vượt qua khó khăn, chia sẽ kinh nghiệm trong cuộc sống, việc làm

- Một số người khuyết tật có ý chí, nghị lực cao, đặc biệt những người khuyết tật về vận động nhưng trí tuệ phát triển bình thường hoặc thậm chí rất tốt Họ thường cố gắng học tập, tìm kiếm việc làm để không phụ thuộc vào người khác Vì vậy, với sự hỗ trợ của gia đình và cộng đồng, họ sẽ đạt được nhiều thành công trong học tập và lao động sản xuất

- Trong mối quan hệ tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng, họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng, hay tự ái Do đó, người khuyết tật thường thiếu những kỹ năng xã hội cần thiết, ít tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ, các trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm, các cơ sở dạy nghề hoặc ngân hàng chính sách xã hội, thiếu thông tin từ các nhà tuyển dụng

- Nếu sống trong những gia đình khó khăn, người khuyết tật có cảm giác mình

bị bỏ rơi Đa số người khuyết tật chưa được đi học hoặc học nghề đến nơi, đến chốn

là do tâm lý gia đình ít quan tâm đến nhu cầu đi học, việc làm của người khuyết tật

* Nhu cầu của người khuyết tật [9]

Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được coi là thiết yếu cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác [29, tr.385]

Trang 23

17

Theo quan điểm của nhà tâm lý học A Maslow, con người có 5 bậc thang nhu cầu được xếp theo thứ tự từ nhu cầu vật chất cơ bản cần thiết đến nhu cầu tinh thần nâng cao như sau:

- Nhu cầu về sinh lý: đây là các nhu cầu cần thiết để con người sống và tồn tại

như ăn, uống, tình dục, không khí sạch,…khi các nhu cầu này được thoả mãn, thì con người có xu hướng tìm kiếm các đáp ứng nhu cầu cao hơn

- Nhu cầu về an toàn: đây là những nhu cầu giúp con người có cuộc sống an

toàn, bình yên, ổn định, được sống trong sự bình ổn về kinh tế, về pháp luật, về trật

tự xã hội, không bị đe dọa…, khi nhu cầu sinh lý được thỏa mãn mà nhu cầu an toàn chưa được đáp ứng, thì các nhu cầu an toàn sẽ là động lực điều khiển hành động của con người Con người mong muốn một thế giới bình yên, mọi sự mất ổn định đều làm cho người ta lo lắng sợ hãi

- Nhu cầu về xã hội: đây là nhu cầu được yêu thương, được kết bạn, được giao

tiếp, được tham gia vào các nhóm gắn bó về tình cảm Những nhu cầu này giúp con người có cuộc sống vui vẻ, hạnh phúc, con người thấy được giá trị của mình qua tương tác với những ngưới khác, và họ cũng học được qua người khác, hiểu và biết cách sống chung cùng người khác, biết hoà nhập với mọi người, với cộng đồng, xã hội

- Nhu cầu được tôn tr ng: đây là nhu cầu giúp con người sống bình đẳng, tự

tin vào khả năng, nhu cầu về vị thế, uy tín, tôn trọng phẩm giá, không bị coi thường, định kiến hoặc chối bỏ

- Nhu cầu được thể hiện mình: đây là nhu cầu về thăng tiến, phát triển Những

nhu cầu này giúp con người phấn đấu, vươn lên, hoàn thiện bản thân, tìm kiếm sự hoàn hảo

Các nhu cầu không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, gắn kết, phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau Trong cuộc sống, trước mắt con người mong muốn thỏa mãn những nhu cầu bậc thấp, sau đó mới vươn tới những nhu cầu bậc cao hơn

Trang 24

18

Người khuyết tật có tất cả các nhu cầu như người bình thường và nhu cầu là nguồn gốc thúc đẩy người khuyết tật hoạt động vươn tới những mục tiêu cho sự phát triển của bản thân Tuy nhiên, đối với người khuyết tật việc đáp ứng các nhu cầu đó thường gặp khó khăn hơn, vì họ bị khiếm khuyết

Vận dụng thuyết nhu cầu trong việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật sẽ giúp nhân viên xã hội nhận thức rằng dù là người khuyết tật nhưng họ cũng có những nhu cầu cơ bản như những người bình thường khác và một trong những nhu cầu đó là nhu cầu được hỗ trợ việc làm để ổn định cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng và phát triển trong xã hội Do đó sau khi hỗ trợ và đảm bảo những nhu cầu ở bậc thấp thì nhân viên xã hội cũng cần có kế hoạch và chiến lược để hỗ trợ người khuyết tật Ngoài ra vận dụng thuyết nhu cầu cũng rất hữu ích với nhân viên xã hội trong việc biện hộ để giúp người khuyết tật có được việc làm Cụ thể là không riêng

gì người khuyết tật mà cả những người bình thường như lãnh đạo trong các cơ sở tuyển dụng cũng sẽ có những nhu cầu này Vậy vận dụng thuyết này chúng ta sẽ hiểu lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp cũng sẽ có những nhu cầu như được thể hiện mình và được xã hội công nhận tôn trọng Do đó ngoài yếu tố pháp luật, nếu nhân viên xã hội khéo léo vận dụng việc biện hộ để đáp ứng những nhu cầu này của các doanh nghiệp thì khả năng người khuyết tật có được việc làm sẽ cao hơn nhiều

1.2 Lý luận về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

1.2.1 Một số khái niệm

* Khái niệm việc làm

Việc làm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mỗi người vì nhờ nó con người tạo thu nhập để đảm bảo các nhu cầu vật chất, tinh thần của mìnhvà các thành viên trong gia đình, đồng thời là điều kiện để con người tham gia vào các hoạt động

xã hội, quan hệ xã hội, qua đó khẳng định vai trò, giá trị xã hội của mình

Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13, các nhà thống kê về lao động của Tổ chức

Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: “Người

có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động

Trang 25

19

mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận tiền công hay hiện vật [3, tr.47] Theo pháp luật của Việt Nam quy định tại Khoản 1

Điều 9 Chương 2 của Bộ luật lao động cũng như tại Khoản 2 Điều 3 của Luật việc

làm, đều định nghĩa: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị

- Việc làm tự chủ: Những người làm các công việc tự làm hoặc các công việc gia đình để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho các công việc đó Việc làm tự chủ

là cơ hội kiếm sống chính cho người khuyết tật ở các nước thu nhập thấp

* Khái niệm tư vấn việc làm

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tư vấn là đóng góp ý kiến về những vấn đề được

hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định” [16, tr.457] Các hoạt động tư vấn trong

thực tế như tư vấn xây dựng, tư vấn pháp luật, tư vấn việc làm,

Tư vấn việc làm được xem như là hoạt động cung cấp thông tin về thị trường lao động, cho lời khuyên về học nghề, về công việc, trợ giúp những khó khăn tâm lí hay hướng dẫn cho người lao động khi họ có nhu cầu tìm việc làm

* Khái niệm giới thiệu việc làm

Giới thiệu việc làm là hoạt động trong đó các tổ chức hoặc cá nhân có những thông tin về chỗ việc làm còn trống và giới thiệu cho người tìm việc đến địa chỉ của người sử dụng lao động để tìm hiểu và có thể đi đến thỏa thuận về việc làm; hoặc thông tin về người có nhu cầu làm việc cung cấp cho người sử dụng lao động tiếp xúc và có thể đi đến những thỏa thuận tuyển dụng [33, tr.32]

Trang 26

20

* Khái niệm đào tạo nghề

Cuốn “Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam” của Viện Khoa học lao động và

Xã hội và Tổ chức GIZ phối hợp xây dựng đã định nghĩa: “Đào tạo nghề là việc

cung cấp kỹ năng, kiến thức một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho các cá nhân

có đủ khả năng thực hiện công việc, nghề nghiệp hoặc một nhóm công việc, nghề nghiệp phù hợp” [33, tr.29] Theo Luật giáo dục nghề nghiệp, đã có khái niệm:

“Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và h c nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và

thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người h c để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa h c để nâng cao trình độ nghề nghiệp [21] Khái

niệm “Đào tạo nghề nghiệp” theo Luật giáo dục nghề nghiệp là một khái niệm mới,

đầy đủ và bao quát nhất

* Khái niệm tự tạo việc làm

Bộ tài liệu Hướng dẫn phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của Tổ chức Y

tế thế giới (WHO) đưa ra khái niệm: “Tự tạo việc làm là một thuật ngữ chỉ các hoạt

động kinh tế ở cả các khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức do một cá nhân hoặc một nhóm sở hữu, tổ chức hoạt động và quản lý [34, tr.25] Khu vực kinh tế

chính thức được điều chỉnh bởi Chính phủ và bao gồm việc làm trong khu vực công

và tư nhân, ở đó người lao động được thuê dựa trên hợp đồng với mức lương cùng với những lợi ích như lương hưu và bảo hiểm y tế Khu vực kinh tế phi chính thức

là khu vực không được kiểm soát trong nền kinh tế quốc gia Khu vực kinh tế này bao gồm sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ, giao thương nhỏ, các công ty gia đình, các đơn vị kinh doanh nhỏ sử dụng một vài công nhân và nhiều hoạt động tương tự [34, tr.5]

Như vậy có thể hiểu, tự tạo việc làm là quá trình người khuyết tật tự tạo ra của cải vật chất để đáp ứng những nhu cầu cơ bản của người khuyết tật và gia đình họ Trong phần lớn trường hợp, người khuyết tật vẫn cần những sự hỗ trợ về chính sách, về vật chất, sự khích lệ về tinh thần để họ có khả năng tự tạo ra những việc làm phù hợp với bản thân

Trang 27

21

1.2.2 Nội dung của hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

Việc làm có thể là lao động chân tay, lao động trí óc hoặc có thể cả lao động chân tay và lao động trí óc Việc làm có thể là những công việc thủ công, truyền thống gia đình hoặc những công việc dựa vào công nghệ hiện đại, đòi hỏi trình độ kiến thức, chuyên môn kỹ thuật hoặc tay nghề cao Người khuyết tật có việc làm hưởng lương thông qua tuyển dụng của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp,

cá nhân; hoặc có việc làm tự chủ do bản thân người khuyết tật, gia đình người khuyết tật, nhóm người khuyết tật tổ chức hoạt động sản xuất, dịch vụ, thương mại tự tạo việc làm

Theo Từ điển Tiếng Việt, từ “hỗ trợ” được giải nghĩa là: “Giúp đỡ lẫn nhau,

giúp đỡ thêm vào” [16, tr.457] Hỗ trợ việc làm là các hoạt động trợ giúp để người

khuyết tật có việc làm Có nhiều hoạt động hỗ trợ việc làm cho người lao động nói chung cũng như cho người khuyết tật nói riêng Tuy nhiên, trong phạm vi Luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu 4 nội dung hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật là:

hỗ trợ tư vấn việc làm, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tự tạo việc làm

* Hỗ trợ tư vấn việc làm

Trong nhiều trường hợp vì nhiều lý do khác nhau nên người khuyết tật còn e ngại chưa quyết định xem có nên đi làm hay không Một số người khuyết tật còn chưa nắm được thông tin về loại hình công việc và tự kỳ thị về vấn đề khuyết tật của mình nên e ngại trong các vấn đề việc làm Hỗ trợ tư vấn việc làm nhằm giúp người khuyết tật lựa chọn nghề, trình độ đào tạo, nơi học phù hợp với khả năng và nguyện vọng; lựa chọn công việc phù hợp với khả năng và nguyện vọng; kỹ năng thi tuyển; tạo việc làm, tìm việc làm Do đó, hỗ trợ tư vấn việc làm rất quan trọng, trước hết là để xóa bỏ những mặc cảm khiến người khuyết tật còn chưa muốn tiếp cận với việc làm, thứ hai là để làm rõ các băn khoăn, thắc mắc cho người khuyết tật từ đó khích lệ, động viên người khuyết tật về quyền của họ trong các hoạt động việc làm

Trang 28

22

Trên thực tế hoạt động tư vấn việc làm hiện nay còn nhiều hạn chế do việc tư vấn đòi hỏi sự kiên nhẫn, nhiệt tình và nhiều kiến thức kỹ năng chuyên môn mà không phải cán bộ nhân viên nào cũng có Tuy nhiên nếu người khuyết tật không được tư vấn, không được gỡ bỏ những rào cản về tâm lý và những thiếu hụt về thông tin thì kể cả họ “được” đi làm thì cũng mang tính chất ép buộc, bị động và sẽ không duy trì được việc làm lâu dài

Với các nội dung của hoạt động tư vấn, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò người tạo sự thay đổi: Nhân viên xã hội bằng các kiến thức và kỹ năng chuyên môn sẽ đưa ra những can thiệp để giúp người khuyết tật nhận thức ra vấn đề để có những thay đổi theo chiều hướng tích cực Cụ thể là ở đây sẽ giúp người khuyết tật đưa ra quyết định tham gia vào các hoạt động việc làm

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho người khuyết tật về các vấn đề việc làm, làm việc với những nhà chuyên môn khác trong lĩnh vực này để giúp người khuyết tật có được những dịch vụ tốt nhất

- Vai trò là người tham vấn: Nhân viên xã hội trợ giúp gia đình và cá nhân tự mình xem xét vấn đề, và tự thay đổi Ví dụ như nhân viên xã hội tham gia tham vấn giúp người khuyết tật và gia đình giải quyết các khó khăn về tâm lý, gỡ bỏ những rào cản để họ có thể tiếp cận được tới dịch vụ hỗ trợ việc làm

* Hỗ trợ giới thiệu việc làm

Sau hoạt động tư vấn việc làm, hoạt động giới thiệu việc làm là công cụ rất hữu ích để hỗ trợ người khuyết tật có được việc làm Hỗ trợ giới thiệu việc làm nhằm giới thiệu người khuyết tật cần tìm việc làm với người sử dụng lao động cần tuyển lao động Trên thực tế, tư vấn để người khuyết tật có được tâm thế sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động đã khó Tuy nhiên việc sau đó giúp họ có được một công việc phù hợp và ổn định cũng là một thách thức không hề nhỏ vì trên thực

tế ngay cả người bình thường tìm được việc cũng đã khó Với rất nhiều rào cản còn đang tồn tại hiện nay thì việc người khuyết tật tự đi xin việc là rất khó khăn đối với

Trang 29

23

họ Do đó rất cần thiết phải có một “cầu nối” giữa doanh nghiệp và người khuyết tật

để các bên đến được với nhau

Để làm được việc này, cán bộ hỗ trợ cần phải nắm chắc được các thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp, hiểu được những nhu cầu, mong muốn, những đặc điểm riêng và năng lực của người khuyết tật để có thể giới thiệu họ tìm được những công việc phù hợp Trong nhiều trường hợp, ngay cả khi mong muốn của doanh nghiệp và nhu cầu của người khuyết tật chưa hoàn toàn khớp nhau thì cán bộ

hỗ trợ sẽ giúp khỏa lấp những lỗ hổng đó để người khuyết tật có thể hưởng được những lợi ích tốt nhất trong vấn đề việc làm

Với các nội dung của hoạt động giới thiệu việc làm, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người đánh giá, kết nối dịch vụ: Với vai trò này, nhân viên xã hội

sẽ đánh giá năng lực người khuyết tật, đánh giá về điều kiện, môi trường và tính chất công việc của các doanh nghiệp từ đó kết nối họ tới những cơ quan, doanh nghiệp phù hợp với khả năng của người khuyết tật Vai trò là người kết nối các dịch

vụ, chính sách và giới thiệu cho người khuyết tật các chính sách, dịch vụ, nguồn tài nguyên đang sẵn có

- Vai trò là người biện hộ: Là người bảo vệ quyền lợi cho người khuyết tật để

họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối Ví dụ như có một số doanh nghiệp không sẵn sàng tiếp nhận người khuyết tật hoặc trong quá trình làm việc lại không áp dụng những quy định về việc làm đối với người khuyết tật Như vậy nhân viên xã hội sẽ biện hộ những quyền lợi chính đáng của người khuyết tật

* Hỗ trợ đào tạo nghề

Hỗ trợ đào tạo nghề đóng vai trò rất quan trọng trong vấn đề hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật Trong thực tế, các cuộc nghiên cứu và khảo sát đều chỉ ra rằng phần lớn người khuyết tật thường có những hoàn cảnh khó khăn Họ sẽ bị hạn chế nhiều trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ xã hội Phần lớn người khuyết tật có trình độ học vấn không cao Đây cũng là một trong những rào cản khá lớn

Trang 30

24

trong việc tiếp cận các dịch vụ việc làm Thực tế sẽ khó có doanh nghiệp nào muốn thuê hoặc tuyển dụng một người không có năng lực chuyên môn và tay nghề Do đó nâng cao năng lực cho người khuyết tật thông qua các hoạt động đào tạo nghề để họ

có đủ khả năng tìm được những công việc phù hợp là rất quan trọng Tóm lại, mục đích của hoạt động đào tạo nghề là giúp nâng cao năng lực cho người khuyết tật, trang bị kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cho người khuyết tật để họ có đủ khả năng tham gia vào thị trường lao động

Với các nội dung của hoạt động đào tạo nghề, vai trò của nhân viên xã hội được thể hiện một cách cụ thể như sau:

- Vai trò là người tư vấn: Nhân viên xã hội tư vấn, cung cấp thông tin cho người khuyết tật về các vấn đề việc làm, làm việc với những nhà chuyên môn khác trong lĩnh vực này để giúp người khuyết tật có được những dịch vụ tốt nhất

- Vai trò là người tham vấn: Ngoài việc giúp người khuyết tật và gia đình giải quyết các khó khăn về tâm lý, gỡ bỏ những rào cản để họ có thể tiếp cận được tới dịch vụ đào tạo nghề Hơn nữa trong hoạt động này, nhân viên xã hội còn giúp tham vấn để giải quyết các vấn đề khó khăn nẩy sinh trong quá trình học nghề Ví dụ tham vấn giải quyết các vấn đề như mâu thuẫn với bạn bè, giáo viên dạy nghề hoặc những rào cản xuất phát từ sự kỳ thị từ cộng đồng

* Hỗ trợ tự tạo việc làm

Đây là hoạt động mà người khuyết tật bằng những nỗ lực cá nhân hay từ những nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài để tự tạo ra những công việc phù hợp với năng lực và khả năng của bản thân Việc tự tạo việc làm sẽ khiến người khuyết tật chủ động hơn, cảm giác được công nhận được nâng cao hơn và giúp họ tự tin hơn trong cuộc sống Tuy nhiên trên thực tế, người khuyết tật là nhóm đối tượng yếu thế và họ thường gặp phải nhiều khó khăn trong cuộc sống Do đó mặc dù người khuyết tật có mong muốn tự tạo việc làm nhưng cũng cần có những hỗ trợ từ bên ngoài Cụ thể là các hoạt động vay vốn tín dụng để người khuyết tật tự tạo việc làm và phát triển sản xuất là rất quan trọng Qua nghiên cứu có thể thấy một số địa phương đã tích cực tổ chức xây dựng mô hình tự tạo việc làm của người khuyết tật có hiệu quả như thông

Trang 31

- Vai trò là người tư vấn: Giống như vai trò trong hoạt động tư vấn việc làm, ở đây nhân viên xã hội cũng sẽ cung cấp kiến thức, đưa ra những lời tư vấn để giải đáp thắc mắc, gỡ bỏ những rào cản và khích lệ người khuyết tật trong hoạt động tự tạo việc làm

- Vai trò là người biện hộ: Nhân viên xã hội sẽ dựa trên quyền lợi chính đáng của người khuyết tật được quy định trong luật, các pháp lệnh và nghị định để đảm

bảo những lợi ích tối đa cho người khuyết tật trong lĩnh vực tự tạo việc làm

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

1.3.1 Yếu tố từ bản thân người khuyết tật

* Tự ti, mặc cảm: Là những người ngại hòa nhập với cộng đồng xã hội Phần

lớn người khuyết tật thường tự ti mặc cảm nên ngại đi học, ngại tiếp cận với mọi người cũng như ngại tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ việc làm Điều đó đã khiến cơ hội tiếp cận đến các dịch vụ giáo dục, y tế, việc làm của họ hạn chế từ đó khiến họ trở thành những người yếu thế trong xã hội Không những thế đại đa số người khuyết tật học nghề chưa đến nơi đến chốn vì gia đình không quan tâm đến nhu cầu

đi học và có việc làm của con, hoặc sợ con khổ, hoặc không tin con mình có thể làm việc được Chính điều này đã tạo ra một rào cản thật sự cho người khuyết tật trong việc tìm kiếm việc làm Họ rất khó vượt qua được điều này nếu như không có sự giúp đỡ, quan tâm của người khác và hơn hết là của toàn xã hội

* Sức khỏe: Hầu hết những người khuyết tật đều có sức khỏe không tốt Họ bị

khiếm khuyết về cơ thể nên sức khỏe không thể như người bình thường Đây cũng

là điều hạn chế rất lớn đến khả năng tìm được việc làm của người khuyết tật Họ

Trang 32

26

không thể nhanh nhẹn như những người khác nên hiệu quả công việc sẽ không bằng được người bình thường Mặt khác, họ cũng thường xuyên ốm đau nên rất cần có người kề bên để chăm sóc Chính những điều này đã tạo ra sự e ngại cho các nhà tuyển dụng khi tuyển lao động là người khuyết tật Đó cũng là một hạn chế ảnh hưởng khá lớn tới các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật

* Thiếu những kỹ năng xã hội cần thiết, thiếu thông tin: Họ không biết cách

tiếp cận với các chính sách hỗ trợ, các trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm, hoặc các nguồn vốn ưu đãi Thậm chí sau khi học nghề và có chứng chỉ của các trung tâm dạy nghề, người khuyết tật vẫn thiếu thông tin về nhà tuyển dụng, không biết đến chính sách việc làm cho người khuyết tật, hoặc không đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng Việc thiếu thông tin sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới cơ hội tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ việc làm cũng như các chính sách để họ tự tạo việc làm Do đó rất cần thiết phải có những quan tâm, giải pháp cho vấn đề này

1.3.2 Yếu tố từ môi trường bên ngoài

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm từ môi trường bên ngoài gần nhất với người khuyết tật là gia đình, người thân Xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ, tình yêu thương con cái hoặc ngại để mọi người xung quanh biết nên nhiều gia đình còn chưa tạo điều kiện và ngăn cản người khuyết tật tham gia vào các hoạt động việc làm và hỗ trợ việc làm Như vậy, đây là một trong những rào cản lớn cần phải có những biện pháp can thiệp

Các thành viên trong cộng đồng cũng có thể có một số người lệch lạc về cách nhìn thẩm mỹ, kỳ thị người khuyết tật, họ có thái độ kinh thường hoặc thiếu tôn trọng người khuyết tật, cho rằng đây là những người vô tích sự chẳng làm được gì Những điều này cũng là nguyên nhân khiến người khuyết tật cảm thấy mình thật lẻ loi giữa cuộc đời, cảm giác mặc cảm, tự ti lại càng tăng lên Họ không đủ tự tin để vượt qua được những định kiến khắc nghiệt của xã hội Một số người sử dụng lao động có thể kỳ thị, chưa tin vào khả năng của người khuyết tật cũng như chưa có được những công việc phù hợp với năng lực của người khuyết tật; cho rằng khả năng làm việc của người khuyết tật sẽ không có năng suất, hiệu quả so với người

Trang 33

27

bình thường, thời gian làm việc cũng không nhiều hơn, người khuyết tật không thể làm tăng ca do điều kiện sức khỏe Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần người kiêm được một lúc nhiều việc hoặc một số nghề đòi hỏi ngoại hình cũng hạn chế thị trường việc làm của người khuyết tật Còn những doanh nghiệp lớn thì nhu cầu tuyển dụng người khuyết tật lại càng ít Họ yêu cầu những người nhanh nhẹn, hoạt bát, có thể đi công tác xa, mà những điều này thì người khuyết tật không thể đáp ứng được Thực tế cũng có một vài trường hợp người khuyết tật vì nhiều lý do khác nhau nên còn chưa hoàn thành xuất sắc công việc Tuy nhiên mỗi người đều có những điểm mạnh và người khuyết tật cũng vậy Nếu các doanh nghiệp hiểu được điều đó và tạo điều kiện để người khuyết tật phát huy điểm mạnh của họ thì người khuyết tật sẽ luôn thực hiện tốt công việc của mình

Người khuyết tật có thể vượt qua được rào cản tâm lý về những khiếm khuyết của mình nhưng không thể vượt qua được những rào cản bằng bêtông của các công trình công cộng từ bậc tam cấp đến nhà vệ sinh không phù hợp, phương tiện giao thông công cộng (ví dụ như xe buýt thiếu bộ phận nâng xe lăn) Điều này làm cho người khuyết tật rất khó khăn trong việc đi lại, làm giảm rất đáng kể khả năng xin được việc làm của người khuyết tật Đó cũng là thực trạng khiến người khuyết tật khó khăn khi hòa nhập cộng đồng và tìm kiếm việc làm

1.3.3 Yếu tố từ cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm

Khi tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ việc làm, ngoài đội ngũ cán bộ làm việc trực tiếp thì môi trường và điều kiện từ các cơ sở cung cấp dịch vụ cũng có tác động lớn tới người khuyết tật Các yếu tố có thể kể đến là sự quan tâm không đúng mức của cán bộ quản lý tới hoạt động này dẫn đến thông tin cung cấp còn chưa đầy đủ Một

số cơ sở còn quá xa để người khuyết tật có thể tiếp cận và cũng không có cơ chế và giải pháp để giúp dịch vụ đến được với người khuyết tật Ngoài ra các yếu tố như thủ tục rườm rà cứng nhắc cũng được kể đến như là những rào cản ngăn trở việc người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ việc làm

Trang 34

28

1.3.4 Yếu tố từ năng lực nhân viên công tác xã hội

Nhân viên công tác xã hội thực hiện công việc hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật thực tế hiện nay bao gồm: đội ngũ nhân viên làm công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động tại các cơ sở dịch vụ việc làm; đội ngũ cộng tác viên công tác xã hội tại các xã, phường, thị trấn; đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại trung tâm công tác xã hội

Năng lực của đội ngũ nhân viên công tác xã hội ở đây có thể được hiểu ở ba khía cạnh là thái độ, kiến thức và kỹ năng hỗ trợ người khuyết tật trong các hoạt động, trong đó có việc làm Khác với những nhân viên hỗ trợ việc làm thông thường, những nhân viên ở đây khi làm việc với người khuyết tật ngoài những kiến thức và sự hiểu biết về các doanh nghiệp và các thông tin về việc làm thì họ cũng cần nắm rõ những đặc điểm của người khuyết tật, những nhu cầu, mong muốn và những khả năng của người khuyết tật để có những hỗ trợ phù hợp Hơn nữa như đã trình bày ở trên, có rất nhiều rào cản tâm lý cũng như những định kiến xã hội ngăn cản hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật Hỗ trợ người khuyết tật trong lĩnh vực này đòi hỏi sự kiên nhẫn, thái độ mềm mỏng và những kỹ năng đặc thù để

có thể đồng cảm, khích lệ họ trong các hoạt động tìm việc, học nghề cũng như tự tạo việc làm Tuy nhiên trên thực tế, đội ngũ nhân viên phần lớn là chưa có những bằng cấp chuyên môn phù hợp Điều đó sẽ hạn chế nhiều tới hiệu quả công việc Ngược lại, thực tế đã chứng minh với những nhân viên có trình độ chuyên môn và năng lực phù hợp sẽ thực hiện công việc của họ rất tốt Đây là một yếu tố mà các nhà quản lý lãnh đạo cần lưu tâm trong việc can thiệp toàn diện để có thể hỗ trợ người khuyết tật có được việc làm một cách hiệu quả nhất

1.3.5 Yếu tố từ cơ chế, chính sách

Cơ chế, chính sách cũng là yếu tố ảnh hưởng lớn tới các hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật Điều đó là hoàn toàn đúng vì ngay cả khi người khuyết tật gỡ bỏ được các rào cản tâm lý, doanh nghiệp đồng lòng, năng lực cán bộ tốt thì nếu không có hành lang pháp lý và những chính sách hỗ trợ thì người khuyết tật cũng như bản thân doanh nghiệp cũng sẽ gặp nhiều trở ngại trong quá trình hoạt

Trang 35

29

động Luật người khuyết tật hay Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 –

2020 đã và đang là những công cụ hữu ích và hiệu quả trợ người khuyết tật trong các hoạt động học nghề và tìm việc Tuy nhiên theo đánh giá của các chuyên gia và các nhà chuyên môn thì ngoài việc tiếp tục có những chính sách ưu tiên hỗ trợ cho người khuyết tật và các doanh nghiệp thì rất cần bổ sung thêm những chính sách liên ngành, phối hợp đồng bộ giữa các ban ngành Như vậy hiệu quả của hoạt động

này sẽ được nâng cao hơn nhiều

1.4 Cơ sở pháp lý về hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật

Vấn đề việc làm và hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật đã được nhà nước

ta rất quan tâm Từ các quyền được phục hồi chức năng lao động, quyền có việc làm đến các chính sách trợ giúp tạo cơ hội cho người khuyết tật tiếp cận dạy nghề, việc làm bình đẳng được thể hiện trong nhiều luật và các văn bản của Chính phủ Cơ sở pháp lý về hỗ trợ việc làm đối với NKT gồm một số nội dung cơ bản sau:

Hiến pháp năm 2013, hiến định Nhà nước có chính sách trợ giúp người khuyết tật (Khoản 2 Điều 59 của Hiến pháp) và chính sách tạo điều kiện để người khuyết tật học nghề (Khoản 3, Điều 61 của Hiến pháp) [19]

Nghị quyết số 84/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của người khuyết tật [23], trong đó có quyền lao động và việc làm của NKT được thể hiện trong Điều 27 của Công ước

Bộ luật lao động năm 2012 khẳng định: Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là NKT, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là NKT vào làm việc theo quy định của Luật người khuyết tật (theo Khoản 1 Điều 176) [18] Quyền làm việc của lao động khuyết tật là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực cho người khuyết tật tìm kiếm việc làm, có cơ hội khẳng định bản thân, tự lập trong cuộc sống, tạo ra thu nhập để không phải phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình, người thân

Luật việc làm có các quy định hỗ trợ việc làm đối với NKT, cụ thể: hỗ trợ người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động là NKT (theo Khoản 6 Điều 5); NKT được hưởng chính sách tín dụng ưu đãi tạo việc làm (theo Khoản 2 Điều 12)

Trang 36

30

Luật giáo dục nghề nghiệp có các quy định hỗ trợ giáo dục nghề nghiệp đối với NKT, cụ thể: chính sách đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp cho NKT (theo Điều 27), chính sách đối với NKT tham gia học nghề (theo Khoản 5 Điều 62) Luật người khuyết tật đã có những quy định cụ thể về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật Theo đó, Nhà nước đảm bảo, tạo điều kiện tối đa cho người khuyết tật được lựa chọn, tư vấn và học nghề, làm việc theo khả năng, sức khỏe của mình; cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề phải đảm bảo điều kiện dạy nghề;

cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, không được từ chối tuyển dụng những người lao động khuyết tật có đủ tiêu chuẩn Trong Luật người khuyết tật đã dành riêng Chương V để đề cập đến vấn đề dạy nghề và việc làm, cụ thể là:

- Về dạy nghề đối với người khuyết tật quy định tại Điều 32 của Luật người khuyết tật, với các nội dung: Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như người khác; Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề; Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; Người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật

- Về việc làm đối với người khuyết tật quy định tại Điều 33 của Luật người khuyết tật, với các nội dung: Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, được tư vấn việc làm miễn phí, có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của người khuyết tật; Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không được từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật; Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho người

Trang 37

31

khuyết tật; Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động là người khuyết tật phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là người khuyết tật; Tổ chức giới thiệu việc làm có trách nhiệm tư vấn học nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật; Người khuyết tật tự tạo việc làm hoặc hộ gia đình tạo việc làm cho người khuyết tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi để sản xuất kinh doanh, được hướng dẫn về sản xuất, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm theo quy định của Chính phủ

- Về vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật, Điều 34 của Luật người khuyết tật quy định rõ về việc sử dụng lao động là người khuyết tật của cơ sở sản xuất, kinh doanh: Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp

- Nhà nước cũng đã đưa ra chính sách để khuyến khích nhận người khuyết tật vào làm việc quy định tại Điều 35 của Luật người khuyết tật, cụ thể là: Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật được hưởng chính sách

ưu đãi theo quy định tại Điều 34 của Luật này Chính phủ quy định chi tiết chính sách khuyến khích cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhận người khuyết tật vào làm việc quy định tại khoản 1 Điều này

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ban hành Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012- 2020 (gọi tắt là Đề án 1019) với mục tiêu chung là nhằm

hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội Một trong những chỉ tiêu

cụ thể của Đề án 1019 là trong giai đoạn 2016-2020 có 300.000 người khuyết tật

Trang 38

32

trong độ tuổi lao động còn khả năng lao động được học nghề và tạo việc làm phù hợp Đề án đã đề ra 9 hoạt động chủ yếu, trong đó có hoạt động dạy nghề, tạo việc làm với các nội dung: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề và tư vấn viên việc làm cho người khuyết tật; Tư vấn học nghề, việc làm theo khả năng của người khuyết tật; Nghiên cứu xây dựng và nhân rộng mô hình dạy, học nghề gắn với tạo việc làm cho người khuyết tật; Xây dựng thí điểm mô hình phục hồi chức năng lao động cho người khuyết tật tại một số tỉnh; Dạy nghề, tạo việc làm phù hợp cho người khuyết tật

Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn đã trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về người khuyết tật và hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật Về vấn đề người khuyết tật làm rõ các khái niệm người khuyết tật, các dạng khuyết tật, các mức độ khuyết tật; phân tích đặc điểm tâm lý, nhu cầu của người khuyết tật Về vấn đề hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật đã làm rõ khái niệm việc làm, các khái niệm và nội dung của tư vấn việc làm, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề và tự tạo việc làm

Hoạt động hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật thông qua 4 hoạt động là: hỗ trợ tư vấn việc làm, hỗ trợ giới thiệu việc làm, hỗ trợ đào tạo nghề và hỗ trợ tự tạo việc làm Vì đây là tiền đề để người khuyết tật có thể tìm được việc làm và hòa nhập vào xã hội

Các yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật, từ các yếu

tố thuộc về bản thân người khuyết tật đến các yếu tố môi trường bên ngoài, yếu tố

từ cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm, yếu tố từ năng lực nhân viên công tác xã hội và yếu tố từ cơ chế chính sách

Hệ thống luật pháp và các chính sách, đề án hiện hành đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật Việc triển khai thực hiện đầy đủ pháp luật, chương trình, đề án về hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật sẽ góp phần thúc đẩy quyền của người khuyết tật tại Việt Nam

Trang 39

33

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ HỖ TRỢ VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ NHA TRANG,

TỈNH KHÁNH HÒA

2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Nha Trang là đô thị loại I, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội của tỉnh Khánh Hòa nằm ở vùng duyên hải Nam Trung bộ Nha Trang, một thành phố ven biển, có vịnh Nha Trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới, có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, là một trong những trung tâm du lịch và nghỉ dưỡng của cả nước Nha Trang có tổng diện tích đất tự nhiên là 252,6 km2, dân số 398.751 người, đơn vị hành chính cơ sở gồm 19 phường nội thành và 8 xã ngoại thành Thành phố Nha Trang có tiềm năng thế mạnh về phát triển dịch vụ, du lịch, công nghiệp, phát triển nông nghiệp ven đô Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 7,2% GDP bình quân đầu người khoảng 3.600 USD Cơ cấu kinh tế của các ngành dịch vụ - du lịch: 65%, công nghiệp-xây dựng: 31,5% và nông-lâm-thủy sản: 3,5%

Nha Trang có nguồn nhân lực dồi dào, số người trong độ tuổi lao động của thành phố có 266.769 người chiếm 67% dân số Bình quân mỗi năm nguồn lao động tăng thêm khoảng 5.000 người Đây là nguồn nhân lực bổ sung cho nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng là áp lực đối với vấn đề tạo việc làm và giải quyết các vấn đề

xã hội Phần lớn lao động tham gia hoạt động du lịch, thương mại, dịch vụ, sản xuất công nghiệp; lao động nông nghiệp có xu hướng giảm dần chuyển sang các ngành nghề phi nông nghiệp Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 45% trong đó được đào tạo nghề là 37% Đây chính là một lợi thế quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của thành phố

Trong lao động sản xuất, người dân Nha Trang giàu kinh nghiệm trong hoạt động thương mại, du lịch, thâm canh nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản Trong công cuộc đổi mới xây dựng quê hương đất nước, người dân

Trang 40

34

Nha Trang phát huy đức tính cần cù, năng động, sáng tạo, tiếp thu khoa học kỹ thuật, nhạy bén với kinh tế thị trường, vươn lên đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Đó là nguồn nội lực quan trọng tiếp tục đưa Nha Trang ngày càng phát triển đi lên trong tương lai

2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu

* Đặc điểm của đội ngũ nhân viên làm công tác hỗ trợ việc làm

Số nhân viên trực tiếp làm công tác hỗ trợ việc làm cho NKT của thành phố Nha Trang là 40 người, gồm: 27 cộng tác viên CTXH tại các xã, phường; 05 nhân viên tại Trung tâm DVVL và 08 nhân viên của Trung tâm CTXH Đội ngũ nhân viên làm công tác hỗ trợ việc làm cho NKT hầu hết là nữ chiếm tỷ lệ 67,5% và có

độ tuổi còn khá trẻ 47,5% từ 30 tuổi trở xuống, 45% từ trên 30 đến 40 tuổi, còn lại

số rất ít 7,5% là trên 40 tuổi Đây là nhóm tuổi mặc dù kinh nghiệm còn hạn chế nhưng lại thích ứng nhanh với những thay đổi, có khả năng tiếp thu kiến thức, kỹ năng mới và vận dụng tốt trong công việc Như vậy để đáp ứng tốt công việc và bù đắp việc thiếu kinh nghiệm thì rất cần nâng cao năng lực của nhân viên cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm cho NKT

Kết quả thống kê cho thấy 100% đội ngũ nhân viên có trình độ học vấn 12/12

Về chuyên môn, nhân viên có trình độ đại học, cao đẳng chiếm tỷ lệ cao nhất (42,2%), còn rất nhiều nhân viên chỉ có trình độ trung cấp, sơ cấp Mặc dù công việc hiện tại chưa đòi hỏi trình độ cao nhưng với định hướng chuyên nghiệp hóa trong các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật thì việc nâng cao trình độ chuyên môn

là rất quan trọng Như đã mô tả ở trên, đội ngũ nhân viên đa số còn trẻ, do đó cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn vẫn còn rộng mở Điều quan trọng là cần phải có cơ chế và kế hoạch đào tạo cho đội ngũ này và định hướng đào tạo chuyên ngành nào mang lại hiệu quả cao nhất trong công việc Có thể thấy đội ngũ nhân viên hỗ trợ việc làm được đào tạo về chuyên ngành công tác xã hội chiếm tỷ lệ 35,8% là cao hơn hẳn so với những chuyên ngành khác nhưng phần lớn là ở Trung tâm CTXH và cộng tác viên CTXH Trong Trung tâm DVVL lại rất hạn chế về chuyên ngành CTXH Do đó khi triển khai đào tạo cần quan tâm đến khía cạnh này

Ngày đăng: 07/10/2016, 14:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (1999), Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thống kê thông tin thị trường lao động ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – VNAH – CRS (2015), Dạy nghề/ việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam Chính sách và thực tiễn, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nghề/ việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam Chính sách và thực tiễn
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội – VNAH – CRS
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2015
5. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2013), Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạo việc làm bền vững cho lao động là đối tượng yếu thế
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2013
8. Cục Bảo trợ xã hội (2015), Tài liệu hướng dẫn thực hành công tác xã hội với người khuyết tật, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hướng dẫn thực hành công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: Cục Bảo trợ xã hội
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2015
11. Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) và các giảng viên (2014), Công tác xã hội đới với người khuyết tật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội đới với người khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) và các giảng viên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2014
12. ILO (2011), Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam,http://www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Publications/WCMS_157938/lang--vi/index.htm, 16/6/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam, "http://www.ilo.org/hanoi/Whatwedo/Publications/WCMS_157938/lang--vi/index.htm
Tác giả: ILO
Năm: 2011
13. ILO (2009), Công ước (số 159) và Khuyến nghị (số 168) về Phục hồi Chức năng Lao động và Việc làm (Người khuyết tật), http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/@asia/@ro-bangkok/@ilo-hanoi/documents/publication/wcms_157940.pdf, 01/01/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công ước (số 159) và Khuyến nghị (số 168) về Phục hồi Chức năng Lao động và Việc làm (Người khuyết tật)
Tác giả: ILO
Năm: 2009
14. ILO (2010), Để được tuyển dụng Cẩm nang Hướng dẫn Người khuyết tật tìm việc làm, http://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/---asia/---ro-bangkok/---ilo-hanoi/documents/publication/wcms_157941.pdf, 01/01/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để được tuyển dụng Cẩm nang Hướng dẫn Người khuyết tật tìm việc làm
Tác giả: ILO
Năm: 2010
15. NCCD (2012), Báo cáo thường niên năm 2012 về hoạt động trợ giúp người khuyết tật tại Việt Nam, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên năm 2012 về hoạt động trợ giúp người khuyết tật tại Việt Nam
Tác giả: NCCD
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2012
17. Ngô Thị Bích Phượng (2013), Hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động tạo việc làm cho người khuyết tật huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Ngô Thị Bích Phượng
Năm: 2013
24. Đào Thị Tỉnh (2015), Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên từ thực tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ giải quyết việc làm đối với thanh niên từ thực tiễn huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Đào Thị Tỉnh
Năm: 2015
28. Trung tâm Khuyết tật và phát triển (2015), Cẩm nang tư vấn việc làm cho người khuyết tật,http://www.drdvietnam.org/images/baiviet/An%20Pham/CamNangTuVanViecLamChoNguoiKhuyetTat(DRD-2015).pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang tư vấn việc làm cho người khuyết tật
Tác giả: Trung tâm Khuyết tật và phát triển
Năm: 2015
29. Trường Đại học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012), Từ điển xã hội h c OXFORD, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội h c OXFORD
Tác giả: Trường Đại học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2012
31. USAID, NCCD, VNAH (2015), Tài liệu tập huấn về chính sách trợ giúp người khuyết tật, quyền và các quy trình thực thi quyền của người khuyết tật, NXB Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về chính sách trợ giúp người khuyết tật, quyền và các quy trình thực thi quyền của người khuyết tật
Tác giả: USAID, NCCD, VNAH
Nhà XB: NXB Dân trí
Năm: 2015
32. Đoàn Thị Cẩm Vân (2015), Một số giải pháp giải quyết việc làm dành cho người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học công nghệ TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp giải quyết việc làm dành cho người khuyết tật tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Đoàn Thị Cẩm Vân
Năm: 2015
34. WHO (2014), Hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng – Hợp phần Sinh kế, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng – Hợp phần Sinh kế
Tác giả: WHO
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
Năm: 2014
36. Acemoglu, Daron and Joshua Angrist (2010), Consequences of Employment Protection? The Case for the Americans with Disabilities Act, Journal of Political Economy, 109 (5), pp. 915- 957 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consequences of Employment Protection? The Case for the Americans with Disabilities Act
Tác giả: Acemoglu, Daron and Joshua Angrist
Năm: 2010
38. Gladnet Collection (2002) Employment of People with Disabilities: The Impact of Legislation, Cornell University ILR School Sách, tạp chí
Tiêu đề: Employment of People with Disabilities: The Impact of Legislation
1. Ban Công tác xã hội – Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam (2010), Việc làm cho người khuyết tật dễ bị tổn thương khác tại Quảng Ninh, Hòa Bình và Lâm Đồng Khác
2. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Báo cáo tình hình thực hiện Luật người khuyết tật Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tương quan giữa người khuyết tật không tìm được việc làm - Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa
Bảng 2.1 Tương quan giữa người khuyết tật không tìm được việc làm (Trang 44)
Biểu đồ 2.4: Hình thức người khuyết tật được tư vấn việc làm (Tỷ lệ %) - Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa
i ểu đồ 2.4: Hình thức người khuyết tật được tư vấn việc làm (Tỷ lệ %) (Trang 47)
Biểu đồ 2.7: Hình thức người khuyết tật được giới thiệu việc làm (Tỷ lệ %) - Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa
i ểu đồ 2.7: Hình thức người khuyết tật được giới thiệu việc làm (Tỷ lệ %) (Trang 51)
Bảng 2.2: Ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm riêng của người khuyết tật - Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa
Bảng 2.2 Ảnh hưởng của yếu tố đặc điểm riêng của người khuyết tật (Trang 60)
Bảng 2.3: Ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên ngoài đến hỗ trợ việc làm - Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa
Bảng 2.3 Ảnh hưởng của yếu tố môi trường bên ngoài đến hỗ trợ việc làm (Trang 62)
Bảng 2.4: Ảnh hưởng của yếu tố từ cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm - Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa
Bảng 2.4 Ảnh hưởng của yếu tố từ cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ việc làm (Trang 64)
Bảng 2.5 cho thấy, trong những yếu tố kể trên, khả năng kết nối giữa NKT và  doanh nghiệp tuyển dụng là có mức độ ảnh hưởng lớn nhất tới NKT - Hỗ trợ việc làm đối với người khuyết tật từ thực tiễn thành phố nha trang, tỉnh khánh hòa
Bảng 2.5 cho thấy, trong những yếu tố kể trên, khả năng kết nối giữa NKT và doanh nghiệp tuyển dụng là có mức độ ảnh hưởng lớn nhất tới NKT (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w