1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh.DOC

64 1,4K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Quản lý xã hội
Thể loại bài luận
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 407,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3

1 Tổng quan về tình hình nghiện ma túy ở Việt Nam 3

1.1 Các khái niệm liên về ma túy 3

1.1.1 Ma túy 3

1.1.2 Nghiện ma túy và đôi nét về lịch sử nghiện ma túy ở Việt Nam 4

1.2.3 Người nghiện ma túy 9

2 Công tác phòng chống ma túy ở nước ta 9

2.1.Về công tác giảm cung ma túy 10

2.2 Công tác giảm cầu ma túy 11

2.3 Công tác giảm hại ma túy 17

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ, DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 18

1 Sự cần thiết tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện 18

1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh 18

1.1.1 Đặc điểm kinh tế: 18

1.1.2 Đặc điểm xã hội: 19

1.2 Thực trạng về tình hình nghiện ma túy và công tác cai nghiện tại thành phố Hồ Chí Minh 20

1.2.1 Tình hình nghiện ma túy trên địa bàn Thành phố 20

1.2.2 Hạn chế công tác cai nghiện phục hồi đến năm 2002 21

2 Cơ sở pháp lý của công tác tổ chức, quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành phố Hồ Chí Minh 22

2.1 Sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các bộ ngành trong việc thực hiện NQ16 23

2.2 Sự quan tâm, kiểm tra giám sát thực hiện của Ủy ban nhân dân Thành phố 25

Trang 2

3 Một số kết quả về công tác tổ chức quản lý, dạy nghề và đào tạo việc làm cho

người sau cai nghiện tại TP.HCM 26

3.1 Tại các Trung tâm chữa bệnh giáo dục- lao động xã hội 26

3.1.1 Tiếp nhận và Tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện 27

3.1.2 Công tác dạy nghề 28

3.2.3 Tổ chức việc làm cho người sau cai nghiện 30

3.1.3 Công tác dạy văn hóa 33

3.1.4 Một số hoạt động bổ sung việc tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện 35

3.2 Tại các doanh nghiệp sử dụng lao động sau cai nghiện 41

3.2.1 Tình trạng việc làm 41

3.2.2Về tiền lương và thu nhập 42

3.2.3.Hợp đồng lao động 44

3.2.4 Một số yếu tố khác ảnh hưởng quá trình làm việc của người lao động 45

3.2.5 Về phía các doanh nghiệp sử dụng lao động sau cai nghiện 47

4 Nhận xét đánh giá và bài học kinh nghiệm 48

4.1 Những mặt làm được 48

4.2 Khó khăn, vướng mắc: 49

4.3 Đánh giá chung 49

4.4 Bài học kinh nghiệm 52

CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG MỤC TIÊU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ 54

1 Phương hướng, nhiệm vụ 54

1.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động 54

1.2 Tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm 55

2 Mục tiêu 56

3 Kiến nghị 56

KẾT LUẬN 58

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Nghiện ma tuý và tội phạm ma túy đã và đang hoành hành ở mọi nơi trênkhắp thế giới, bất kể thành phố hay nông thôn, ở vùng núi hay đồng bằng, ởcác nước tư bản giàu có hay các nước chậm phát triển Trong vòng 15 nămqua, mặc dù đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xãhội góp phần tạo nên những thay đối đáng kể trong đời sống vật chất và tinhthần cũng như tạo cho con người nhiều nếp sống hiện đại, nhưng rất đôngnhững người còn lại, đặc biệt là giới trẻ, còn thiếu việc làm, lười lao động, đãrơi vào tình cảnh bế tắc và tìm đến với ma túy Bên cạnh đó, không ít gia đìnhgiàu có sẵn sàng cung cấp tiền bạc cho các cô cậu ấm mà không biết tiền đótiêu vào việc gì và chính những đối tượng này đã trở thành con mồi cho bọnbuôn bán ma túy

Tệ nạn ma túy đã trở thành quốc nạn với nhiều nước, gây cản trở lớn đốivới phát triển kinh tế, xã hội; gây ra tác hại to lớn đối với mọi mặt của cuộcsống, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục của dân tộc và cần được lên

án, loại bỏ Trong đó, nghiện ma túy là mối đe dọa đến hạnh phúc của mọingười, mọi gia đình Với những tác hại vô cùng to lớn mà ma túy đem lại Thành phố Hồ Chí Minh, một trọng điểm kinh tế - xã hội ở phía Namkhông chỉ có những thành tựu vượt bậc về mặt kinh tế mà còn phải đối mặtgiải quyết với nhiều tệ nạn xã hội, trong đó có nghiện ma túy Số lượng30.000 con nghiện ma túy hiện nay đang tập trung trong các trường, trung tâmcai nghiện của thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM )đã nói rõ sự thật trớ trêu

ấy Việc đấu tranh chống hiểm họa ma túy và giúp người cai nghiện có hiệuquả để tái hòa nhập cộng đồng là một nhiệm vụ cấp bách nặng nề không chỉcủa riêng TP HCM Sau một thời gian tổ chức cai nghiện tập trung 2 năm chohàng vạn người nghiện, tỷ lệ tái nghiện còn rất cao (90%), TP.HCM đã đưa rasáng kiến và được Quốc hội ra Nghị quyết thực hiện đề án sau cai nghiện, kéo

Trang 5

dài từ 2-3 năm, giúp họ có đủ điều kiện đoạn tuyệt với ma túy, hòan thiệnnhân cách, có nghề nghiệp để hòa nhập cộng đồng Thành phố Hồ Chí Minh

là địa phương đi đầu trong cả nước về việc tổ chức quản lý, dạy nghề và tạoviệc làm cho người sau cai nghiện ma túy được Quốc hội phê duyệt tại kỳ họpthứ 3, khóa 11 tháng 11/2003

Là sinh viên thực tập tại Phòng chính sách 06 (Phòng chính sách cainghiện và phục hồi ), Cục phòng, chống tệ nạn xã hội, thuộc Bộ Lao động –

Thương binh và xã hội, em xin nêu “ Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố

Hồ Chí Minh” Đề tài của em sẽ là phần tham khảo, đóng góp ý kiến giúp các

nhà quản lý xã hội và các nhà hoạch định chính sách tìm ra các giải pháp khảthi để giải quyết tình trạng người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh, từ

đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các địa phương trên cả nước

Báo cáo gồm ba phần chính:

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Thực trạng về công tác tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việclàm cho người sau cai nghiện tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương III: Phương hướng, mục tiêu và một số giải pháp kiến nghị

Để hoàn thành báo cáo này, em đã sử dụng một số phương pháp nghiêncứu :

- Phương pháp thu thập, thống kê, đánh giá tài liệu

- Phương pháp so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp

Em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo, góp ý nhiệt tình của cô giáo HồThị Bích Vân cũng như sự hướng dẫn, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện của các chú,các cô và anh chị, toàn thể cán bộ, công chức của Phòng chính sách 06, Cụcphòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã giúp em

Trang 6

hoàn thành báo cáo này!

NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Tổng quan về tình hình nghiện ma túy ở Việt Nam.

1.1 Các khái niệm liên về ma túy.

1.1.1 Ma túy

Con người đã phát hiện và sử dụng các chất ma túy từ cách đây 6000năm Việc trồng và sử dùng các cây có chứa hoạt chất ma túy tự nhiên đã trởthành thói quen và tập tục của nhiều dân tộc trên thế giới Từ thời thượng cổ,người Ba tư và người Ai Cập đã biết dùng nhựa mủ cây thuốc phiện để hút,tạo cảm giác say sưa và dễ chịu cho con người Đến sau đó, cây cần sa đượctrồnng nhiều ở khu vực Nam Á ( Ấn Độ, I Ran, Thổ Nhĩ Kỳ…) Ma túy đãtồn tại tư rất lâu đời, bởi vậy tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về ma túy: Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO ) thì “Ma túy là bất kì chất gì khi đưavào cơ thể sống có thể thay đổi một hay nhiều chức năng sinh lý của cơ thể”.(1)

Theo các chuyên gia về ma túy của Liên Hiệp Quốc thì “Ma túy lànhững chất có nguồn gốc tự nhiên và nhân tạo, khi thâm nhập vào cơ thể conngười sẽ làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệthuộc vào ma túy gây nên những tổn thương cho cá nhân và cộng đồng”.(2)Nhưng theo cách hiểu chung nhất thì ma túy là các chất hóa học cónguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, có khả năng ức chế thần kinh, có tính chấtgây nghiện và khi đưa vào cơ thể quá liều thì sẽ làm thay đổi các chức năngsinh lý, tâm lý bình thường của con người

Trang 7

1.1.2 Nghiện ma túy và đôi nét về lịch sử nghiện ma túy ở Việt Nam.

Trước hết, ta cần phân biệt giữa việc sử dụng ma túy, lạm dụng ma túy

và vấn đề nghiện ma túy:

- Sử dụng ma túy là việc dùng ma túy với mục đích chữa bệnh, đúngliều lượng, đúng lúc theo hướng dẫn chỉ định của bác sỹ Việc sử dụng ma túynhư vậy mang lại một số lợi ích cho sức khỏe của người dùng

- Lạm dụng ma túy là sử dụng ma túy một cách quá liều hoặc khôngtheo sự hướng dẫn của chuyên gia, bác sỹ để nhằm mục đích tiêu khiển, cóhại đối với cơ thể

- Khái niệm về nghiện ma túy cũng được nhìn nhận ở nhiều góc độ khácnhau:

Nghiện ma túy từ góc độ y học được tổ chức Y tế thế giới định nghĩa là “Trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần, một chất

độ tự nhiên hay tổng hợp nào đó Sự nhiễm độc này thể hiện ở sự tăng dần liềudùng và sự lệ thuộc tâm sinh lý của người dùng vào tác dụng của chất đó ”.( 1)Theo quan điểm xã hội thì “ Nghiện ma túy là tệ nạn xã hội làm tổn hạiđến sức khỏe, nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt và trật tự antoàn xã hội ”.(15)

Tóm lại, nghiện ma túy là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác và tinhthần vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫnđến mất khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma túy, có hại cho cánhân và cho xã hội Quá trình nghiện ma túy diễn ra với các mức độ ngàycàng tăng, đầu tiên là những khoái cảm hoàn toàn mang tính cá nhân, rồi đếnnhững khổ sở, đau đớn vật vã, của chính cá nhân người nghiện và cuối cùng

là những hành vi gây nguy hiểm cho gia đình và xã hội Chính vì vậy, nghiện

Trang 8

ma túy đã bị coi là tệ nạn xã hội cần phải lên án và loại bỏ.

Quá trình hình thành nghiện ma túy ở Việt Nam:

Lịch sử nghiện hút các chất ma túy ở Việt Nam đã có từ rất lâu đời Táchại của việc dùng ma túy cũng được phát hiện từ năm 1665, đã có đạo luậtcấm trồng cây anh túc.(15)

Năm 1802, trước tình trạng lộn xộn do việc hút thuốc phiện gây ra, luậtphòng, chống ma túy đầu tiên ra đời Sau đó, Thực dân Pháp khi xâm lượcnước ta nhận thấy món lợi kếch xù do ma túy đem lại, chúng đã khuyến khíchdân ta nhổ lúa trồng thuốc phiện Từ Cách Mạng tháng Tám trở đi, với những

nỗ lực của Chính phủ, diện tích trồng cây thuốc phiện đã bị thu hẹp nhiều Trước kia, người nghiện ma tuý chủ yếu tập trung ở vùng núi phía Bắc, nơiđồng bào có tập tục trồng cây thuốc phiện và hút thuốc phiện với tổng số khoảng30.000 người Miền Nam dưới chế độ cũ, tệ nạn ma tuý phát triển tràn lan; theothống kê, vào trước năm 1975, có khoảng 170.000 người nghiện và tập trung ởcác thành phố, thị xã Sau ngày hoà bình lập lại ở Miền Bắc năm 1954, và giảiphóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, dưới chủ trương, đường lối,chính sách của Đảng, Nhà nước, nền kinh tế phát triển theo hướng kế hoạch hoátập trung, xã hội được quản lý nghiêm ngặt, do đó tệ nạn ma tuý được đẩy lùi rõrệt Năm 1980, cả nước chỉ còn 30.000 – 40.000 người nghiện

Từ cuối nhưng năm 1980 đến nay, nước ta chuyển từ kinh tế kế hoạchhoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đãmang lại nhiều thành tựu to lớn về kinh tế và xã hội Tuy nhiên những nămgần đây, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, trong xã hội đã có nhiềubiến đổi nhất định, phát sinh một số vấn đề xã hội đáng quan tâm, đặc biệt là

tệ nạn nghiện ma tuý Tình hình nghiện ma túy không ngừng gia tăng và ngàycàng phức tạp đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và hiểu sâu hơn về vấn đề

Trang 9

này Nghiện ma túy ở Việt Nam hiện nay mang một số đặc điểm sau:

- Số lượng người nghiện ma túy ngày càng tăng qua các năm Qua sốliệu thống kê của các tỉnh, thành phố trong cả nước từ năm 1994 đến nay, sốlượng người nghiện liên tục gia tăng Năm 1994, cả nước mới chỉ có 55.445người nghiện, đến nay có trên 130.000 người, bình quân mỗi năm tăng hơn7.000 người nghiện, chiếm 13,5% Đặc biệt là năm 2000 cho đến nay, mỗinăm số người nghiện tăng trên 10.000 người Theo số liệu báo cáo tình hìnhnghện ma túy từng năm của Cục phòng, chống tệ nạn xã hội thì số ngườinghiện có hồ sơ quản lý đã tăng nhanh từ năm 2000 đến nay Cụ thể ở bảngsau:

Số đối tượng 92.682 101.408 116.112 127.776 130.387 129.054 130043

Bảng số liệu trên cho thấy, số đối tượng nghiện ma túy đã tăng 37.376đối tượng từ năm 2000 đến năm 2006, tức là tăng 40,31% Tính đến tháng11/2007, con số này là 198.000 đối tượng Đây có thể coi là con số đáng báođộng về tệ nạn nghiện ma túy ở nước ta

- Tỷ lệ tái nghiện cao Theo số liệu của Cục phòng, chống tệ nạn xã hộithì có hơn 90% số người đã cai nghiện rồi mắc nghiện lại

- Vào những năm đầu thập kỷ 90 người nghiện chủ yếu tập trung ở cáctỉnh miền núi phía Bắc và một số thành phố lớn: Theo số liệu năm 1994, cảnước có 49/53 tỉnh, thành phố có người nghiện

- Số người nghiện chủ yếu ở lứa tuổi thanh thiếu niên Năm 1994, sốngười nghiện ở độ tuổi dưới 30 tuổi chiếm 42% trong số người nghiện thì đếnnay tính trong cả nước những người nghiện ở độ tuổi từ 18-30 chiếm tớikhoảng trên 75% tổng số người nghiện Một số tỉnh, thành phố như: Hà Nội,Quảng Ninh, Hải Phòng, Hải Dương … tỷ lệ người nghiện dưới 30 tuổi chiếm

Trang 10

từ 80 – 90% Con số này cho thấy mối quan hệ giữa người nghiện lứa tuổithanh thiếu niên với lực lượng lao động của xã hội Ta dễ dàng thấy, với tỷ lệmắc nghiện ở đối tượng thanh thiếu niên như trên thì xã hội sẽ mất đi một lựclượng lao động đông đảo phục vụ cho sản xuất và phát triển kinh tế đất nước

- Đa dạng về chủng lọai ma túy được sử dụng Nếu như trước kia, thuốcphiện là dạng ma túy phổ biến thì ngày nay ma túy tồn tại ở nhiều dạng khácnhau: từ Heroin, cocain, hồng phiến, bạch phiến, thuốc an thần, thuốc ngủ, matuý tổng hợp ATS… với những tác dụng kích thích rất khác nhau Năm 1994,

có 85% số người nghiện sử dụng thuốc phiện, đến nay có 70% đã chuyểnsang dùng Hêroin, 2% sử dụng ma tuý kích thích thần kinh như Amphêtamin,Estasy… Một số địa phương có số người sử dụng Hêroin rất cao như: HảiPhòng, Quảng Ninh, Hải Dương…trên 90% sử dụng Hêroin

- Người nghiện ma tuý dùng bằng đường tiêm chích ngày càng phổbiến, đó là nguyên nhân làm gia tăng các bệnh lây truyền qua đường máu nhưbệnh viêm gan B, HIV/AIDS Qua điều tra khảo sát, năm 1994, tỷ lệ ngườinghiện tiêm chích ma tuý là 28%, đến nay, tỷ lệ đó là 28%

- Đa dạng về thành phần xã hội của các đối tượng nghiện Hiểm họa matúy không loại trừ bất kỳ ai, bất kỳ gia đình nào, từ thành thị đến nông thôn,

từ tội phạm, gái mại dâm đến công nhân, viên chức hay ngay cả học sinh, sinhviên

- Nghiện ma túy gắn với tội phạm ngày càng tăng

Với những đặc điểm như trên, ma túy đã và đang gây những tác hại tolớn đến mọi mặt của đời sống xã hội:

- Về mặt kinh tế: Nghiện ma tuý làm tăng nhiều khoản chi phí xã hội.Theo khảo sát của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, bình quân mộtngười nghiện tiêu tốn cho việc mua ma tuý là 120.000đ/ ngày, một năm nước

Trang 11

ta có gần 130.000 người nghiện thì tiêu tốn hết trên 1.000 tỷ đồng cho việcdùng ma tuý Bên cạnh đó, hàng năm nhà nước tiêu tốn một khoản lớn choviệc khắc phục hậu quả do ma tuý để lại Nghiện ma tuý hàng năm làm giảmlực lượng lao động, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, môi trường dulịch dẫn đến giảm thu ngân sách

Tệ nạn ma túy khiến hàng năm nhà nước phải dành một khoản ngânsách khá lớn cho công tác phòng chống ma túy:

+ Chi phí cho công tác tuyên truyền giáo dục phòng chống ma túy

+ Chi phí cho công tác vận động tuyên truyền xóa bỏ cây thuốc phiện+ Chi phí cho công tác tổ chức cai nghiện cộng đồng, xây dựng và quản

lý các trung tâm cai nghiện

+ Chi phí cho hoạt động kiểm soát ma túy ở biên giới, điều tra truy tố,xét xử tội phạm về ma túy

+ Chi phí cho hoạt động hợp tác quốc tế về phòng chống ma túy

+ Chí phí về giam giữ cải tạo số người phạm tội về ma túy

- Tệ nạn ma túy ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.Qua số liệu báo cáo cho thấy, trên 70% số vụ phạm tội hàng năm là do ngườinghiện ma túy gây nên

- Về mặt xã hội, tệ nạn ma túy làm tăng số người bị nhiễm HIV/AIDS,gần 70% số người nhiễm HIV là do nghiện ma túy

Tệ nạn ma túy làm tăng tệ nạn mại dâm, làm tăng tai nạn giao thông,trong đó nhiều người nghiện ma túy không làm chủ được tốc độ gây ra Tệnạn ma túy lan rộng trong thế hệ trẻ làm sói mòn về đạo đức, thuần phong mỹtục của dân tộc, phá vỡ hạnh phúc gia đình, gây tác động xấu đến lối sống,sức khỏe, tri thức của hàng vạn thanh niên………

Trang 12

1.2.3 Người nghiện ma túy.

Người nghiện ma túy là người sử dụng các chất ma túy, thuốc gâynghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như hút, hít, tiêmchích, và bị lệ thuộc vào các chất này

Người nghiện ma túy có một số đặc điểm:

- Có sự ham muốn không kìm chế được và phải sử ma túy với bất kỳgiá nào Luôn có những bức xúc về mặt tâm lý muốn sử dụng lại ma túy

- Có khuynh hướng tăng dần liều dùng

- Tâm sinh lý bị lệ thuộc và chịu tác động của ma túy Khi ngừng sửdụng ma túy sẽ gây ra hội chứng cai, khiến người nghiện đau đớn, vật vã vàmột số phản ứng sinh lý khác, bị lệ thuộc thể xác và tinh thần nên dễ bị mấtkhả năng kiểm soát, có thể làm bất cứ điều gì để có ma túy dùng

- Người nghiện ma túy gây nguy hiểm cho gia đình và đe dọa đến xã hội

2 Công tác phòng chống ma túy ở nước ta.

Trước tác hại to lớn của tệ nạn ma túy đến mọi mặt của đời sống xã hội,Đảng và Nhà nước nhận thức sâu sắc vấn đề này, coi buôn bán ma túy là tộiphạm, còn nghiện ma túy là tệ nạn xã hội, chính vì vậy mà nhiều sách lượctrong việc phòng chống và ngăn chặn tệ nạn này Việc phòng chống ma túyđược coi là nhiệm vụ của toàn xã hội Đảng và nhà nước đã nhận định rằngđấu tranh giải quyết tội phạm ma túy và tệ nạn ma túy là cuộc đấu tranh lâudài, gian khổ là trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và củatoàn thể xã hội, tham gia phòng chống tội phạm ma túy và sử dụng đồng bộcác biện pháp kinh tế, pháp luật, văn hóa, xã hội, nghiệp vụ, tuyên truyền, vậnđộng nhân dân, cán bộ, công chức và chiến sĩ thuộc lực lượng vũ trang nhândân tham gia phòng, chống tệ nạn ma túy, kết hợp với phòng, chống các lọaitội phạm HIV/AIDS với các tệ nạn xã hội khác

Trang 13

Để phòng, chống tệ nạn ma túy, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồngthời ba công tác chính: công tác giảm cung ma túy, công tác giảm cầu ma túy

và công tác giảm hại ma túy Cho đến nay, chúng ta mới tổ chức thực hiện haicông tác đầu, công tác thư ba đang trong giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm

2.1.Về công tác giảm cung ma túy.

Đến nay, nhà nước ta đã ban hành nhều văn bản pháp luật cũng nhưnhiều biện pháp để ngăn chặn việc sản xuất, tàng trữ, buôn bán và vận chuyểntrái phép các chất ma túy:

- Năm 1991, cuộc vận động, tuyên truyền nhân dân phá bỏ không trồngcây thuốc phiện Bằng nhiều hình thức khác nhau giúp người dân hiểu tác hại

to lớn của ma túy cũng như hậu quả nghiêm trọng của nghiện ma túy đến mọimặt đời sống

- Năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 06/CP về tăng cườngcông tác chỉ đạo phòng chống và kiểm soát ma túy

- Năm 1994, Cục phòng chống tệ nạn xã hội có quyết định thành lậphình thành các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tệ nạn xã hội, trong đó

“ Tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn của toàn xã hội, gây tác hại cho sứckhỏe, làm suy thái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc giađình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốcgia” Tại điều 36, chương V quy định quản lý nhà nước về phòng chống matúy đã nêu:

Trang 14

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, chủ trương, chính sách,

kế hoạch về phòng, chống ma túy;

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật vềphòng, chống ma túy;

- Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về phòng, chống ma túy;

- Ban hành, sửa đổi, bổ sung, công bố danh mục chất ma túy, tiền chất,thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;

- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy;

- Quyết định thành lập, giải thể cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc; cấp thuhồi giấy phép hoạt động của các cơ sở khác về cai nghiện ma túy; tổ chức vàquản lý việc cai nghiện ma túy và hòa nhập cộng đồng cho người đã cainghiện ma túy;

- Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy;

- Thực hiện thống kê nhà nước về phòng, chống ma túy;

- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vềphòng, chống ma túy;

- Tổ chức tuyên truyền giáo dục về phòng, chống ma túy;

- Hợp tác quốc tế về phòng, chống ma túy;

- Kiểm tra thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm phápluật phòng, chống ma túy;

2.2 Công tác giảm cầu ma túy

Để thực hiện công tác giảm cầu về ma túy, Đảng và nhà nước ta đã banhành đồng bộ các biện pháp nhằm phòng, chống các đối tượng nghiện ma túycũng như các đối tượng tái nghiện Cho đến nay, đã thực hiện các chươngtrình sau:

Trang 15

Tại điều 25, chương IV của Luật phòng chống ma túy đã nêu rõ “Nhànước có chính sách khuyến khích việc tự nguyện cai nghiện ma túy; áp dụngchế độ cai nghiện đối với người nghiện ma túy, tổ chức các cơ sở cai nghiện

ma túy bắt buộc và khuyến khích cá nhân gia đình và các cơ quan, tổ chức thựchiện các hình thức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng; khuyến khíchcác tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài hỗ trợ hoạt động cai nghiện matúy” Qua đó đã thể hiện nhận thức sâu sắc và đúng đắn của Đảng và nhà nướcđối với tệ nạn ma túy nói chung và với người nghiện ma túy nói riêng Côngtác cai nghiện cũng là một công việc khó khăn và phức tạp đòi hỏi phải có sựphối hợp hoạt động của các cấp, các ngành và toàn thể cộng đồng

Bên cạnh việc thi hành Luật phòng chống ma túy, Chính phủ đã banhành nhiều văn bản pháp luật khác nhằm tạo hành lang pháp lý để thực hiệncai nghiện cho các đối tượng nghiện ma túy

- Nghị định số 135/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/6/2004 quyđịnh chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt độngcủa sơ sở chữa bệnh

Trong đó quy định cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật phòng, chống matúy và cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được gọichung là Trung tâm – Chữa bệnh - Giáo dục- Lao động xã hội (gọi tắt là cáctrung tâm) là nơi chữa trị, học tập và lao động phục hồi đối với người nghiện

ma túy, người bán dâm bị xử lý bằng cách đưa vào các cơ sở chữa bệnh,người nghiện ma túy và người bán dâm chưa thành niên nhưng tự nguyện vào

cơ sở chữa bệnh để cai nghiện, chữa trị

Nghị định cũng đã quy định tổ chức hoạt động của trung tâm

Chức năng, nhiệm vụ:

- Tiếp nhận phân loại, tổ chức chữa trị, phục hồi sức khỏe cho người vào

Trang 16

trung tâm; tổ chức lao động trị liệu, lao động sản xuất; tổ chức học tập, giáodục, dạy nghề, bảo đảm các điều kiện vật chất, sinh hoạt tinh thần cho nhữngngười đưa vào trung tâm.

- Nghiên cứu thực hiện mô hình, quy trình chữa trị cai nghiện phục hồi;

tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ công chức, nhân viêncủa trung tâm

- Quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí theo quy định, giữ gìn an ninhtrật tự an toàn xã hội tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội

- Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan để tổ chức, quản lý,chữa bệnh, giáo dục, lao động, dạy nghề và hướng nghiệp cho các đối tượngvào trung tâm

Điều 32 tại Nghị định này còn quy định về chế độ lao động đối với cácđối tượng ở trung tâm như sau:

- Người bị áp dụng các biện pháp đưa vào trung tâm phải tuân thủ chế

độ làm việc, thời gian làm việc theo quy định của pháp luật lao động và đượctrang bị bảo hộ lao động, bảo đảm vệ sinh an toàn lao động theo quy định

- Các đối tượng này cũng được hưởng tiền công lao động theo định mứclao động và kết quả công việc hoàn thành

Tổ chức cai nghiện ma túy tại các trung tâm cũng là một hoạt động quantrọng góp phần làm giảm tình hình tội phạm ma túy cũng như tệ nạn xã hội.Tuy nhiên, việc thực hiện triển khai các hình thức cai nghiện phục hồi còn tồntại nhiều hạn chế dẫn đến tỷ lệ tái nghiện khá cao do:

- Hiện nay, do chất lượng công tác cai nghiện, phục hồi ngày càng đượcnâng cao và chú trọng thực hiện nên số đối tượng nghiện ma túy đã giảm.Mặc dù vậy tỷ lệ tái nghiện vẫn còn ở mức khá cao (trên 90%) do do đặcđiểm của nghiện ma túy đó là sự lệ thuộc hoàn toàn về thể xác và tinh thần

Trang 17

vào ma túy nên thời gian cai nghiện tại trung tâm là không đủ để đối tượngđoạn tuyệt hoàn toàn với ma túy

- Bên cạnh đó, công tác hướng nghiệp, dạy nghề và dạy nghề cho ngườisau cai nghiện chưa được chú ý, do đó đối tượng sau cai nghiện không có đủđiều kiện hòa nhập cộng đồng và dễ bị tái nghiện

- Môi trường còn nhiều ma túy, không trong sạch tạo điều kiện thuận lợi

để bọn tội phạm ma túy lôi kéo và ép buộc các đối tượng sau cai nghiện

Các khái niệm công cụ liên quan việc quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện.

Một là, khái niệm về quản lý.

Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý:

- Quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi nhữngcon người kết hợp với nhau trong nhóm, tổ chức nhằm đạt những mục tiêuchung

- Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xãhội của lao động

Vai trò của quản lý:

- Quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất lý trí trong tổ chức

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý (cánhân, tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tuợng quản lý, đây làmối quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc

- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con nguời

Với những vai trò trên thì quản lý là việc làm cần thiết đối với những đốitượng sau cai nghiện vì:

Trang 18

- Trước đây, quy trình cai nghiện ma túy có 5 giai đoạn liên hoàn nhưng

đa số các trung tâm mới chủ yếu mới dừng lại ở giai đoạn cắt cơn, chưa chú ýgiai đoạn phục hồi, chức năng của cơ thể, đặc biệt là công tác quản lý sau caitại cộng đồng bị bỏ trống Bởi vậy, tỷ lệ tái nghiện gần như 100% đối tượng

- Việc phân công quản lý nhà nước về cai nghiện ma túy chưa tốt nên địabàn cơ sở sau cai nghiện không được giám sát chặt chẽ

Tái nghiện sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng vô cùng to lớn bởimức độ sẽ nặng hơn trước và khả năng cai nghiện khó khăn phức tạp hơnnhiều lần Điều này đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư hơn nữa vào công tácquản lý, giám sát sau cai nghiện Hiệu quả công tác này càng cao thì tỷ lệngười tái nghiện càng giảm

Hai là, dạy nghề và tạo việc làm:

Nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lýthuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhấtđịnh, như nghề mộc, nghề cơ khí…

Dạy nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp

vụ cho nguời lao động, để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định

Dạy nghề là đào tạo nhân lực kĩ thuật trực tiếp trong sản xuất và dịch vụ,

có năng lực thực hành nghề tuơng xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức,luơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong trong công nghiệp, sứckhỏe, nhằm tạo điều kiện cho nguời học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việclàm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệphóa hiện đại hóa đất nuớc

Việc làm theo tổ chức Lao động quốc tế ILO “ Việc làm là những laođộng được xã hội đánh giá và trả công Người có việc làm là người làm mộtviệc gì đó được trả công, thu lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hay

Trang 19

những người tham gia vào những hoạt động mang tính chất tự tạo vì lợi ích haythu nhập cho bản thân, gia đình mà không nhận tiền công hay hiện vật ” Theo Bộ luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì “Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật cấm ”.(5)Tầm quan trọng của việc dạy nghề và tạo việc làm cho đối tượng sau cainghiện ma túy:

- Đối với nguời sau cai nghiện ma túy, chúng ta cần thiết phải xem xétvấn đề dạy nghề và tạo việc làm cho họ một cách hợp lý Bởi vì những đốituợng này sau thời gian dài sử dụng các chất ma túy đã bị hạn chế nhiều hơn

về mặt nhận thức, tâm lý, sức khỏe, mất cân bằng nghiêm trọng vả về thể chấtlẫn tinh thần Trong thời gian sử dụng ma túy, người nghiện đã mất hết nhữngthói quen tốt hàng ngày, lười biếng, ngại khó, ngại khổ; thêm vào đó là tâm lý

tự tin, cô độc, ngại giao tiếp

- Quá trình cai nghiện chỉ giúp họ loại bỏ phần nào hội chứng nghiện và

sự mất cân bằng chứ không xóa sạch được sự lệ thuộc vào tâm lý và ý thứccủa người sau cai nghiện

- Mặt khác, dù được trở về với cuộc sống cộng đồng nhưng họ vẫn mangnhững mặc cảm, tự ti sợ mọi người kỳ thị, xa lánh Do đó, sử dụng lại ma túy

là điều khó tránh khỏi Không tìm được việc làm cũng là một trong nhữngnguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tái nghiện cao ở nước ta

- Bên cạnh đó, phần lớn những đối tượng đưa vào cai nghiện ma túy cótrình độ văn hóa thấp và nghề nghiệp không ổn định

Do đó, việc tổ chức dạy nghề và tạo việc làm cho nguời sau cai nghiện

ma túy phải phù hợp với điều kiện sức khoẻ, khả năng, sở thích… để tạo sựyêu thích đối với công việc, tạo ra động lực quan trọng giúp họ có thêm nghịlực và quyết tâm để đoạn tuyệt với ma túy cũng như giúp họ có thêm cơ hộilàm lại cuộc đời

Trang 20

Lao động giúp người sau cai nghiện phục hồi tính nhân bản của mỗi conngười mà đối tượng đã mất trong giai đoạn dùng ma túy, tạo nếp sống vị tha,

vì mọi người, sống có kỷ cương và trách nhiệm với bản thân, mọi người vàvới công việc

Khi lao động, các đối tượng sẽ thấy mình tạo ra được các giá trị mớitrong cuộc sống từ vật chất đến tinh thần, họ tự hào về công việc, mình đanglàm thông qua kết quả lao động, giúp họ giải quyết khủng hoảng về tinh thần,biết quý trọng đồng tiền, quý trọng sức lao động và sống có ý thức hơn

Tạo việc làm còn giúp người sau cai nghiện hàn gắn lại uy tín với xã hội,tạo lập cuộc sống tốt đẹp hơn, giúp họ dễ dàng hòa nhập với cộng đồng

2.3 Công tác giảm hại ma túy.

Thực tế cho thấy, các nước trên thế giới đã tiến hành các biện pháp canthiệp giảm hại rừ rất lâu và ở các mức độ khác nhau song còn rất mới ở VệtNam Hệ thống các văn bản pháp luật hầu như không đề cập đến công tácgiảm tác hại trong phòng, chống mại dâm, ma túy để phòng ngừa lây truyềnHIV/AIDS

Có nhiều biện pháp can thiệp nhằm giảm hại của ma túy Tôi chỉ xin nêumột giải pháp thay thế trong cai nghiện: đó là phương pháp sử dụngMethadone cho chăm sóc người cai nghiện đang được thực hiện thí điểm tạiHải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh Đây được xem như một liệu pháphiệu quả nhằm giảm hại cho người nghiện ma túy Methadone là một lọai matúy được dùng cho người nghiện để thay thế heroin, giúp người nghiện có thểdần quên và không phải mua, sử dụng heroin, không cần tiêm chích ma túy,giảm nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và giảm nguy cơ với cộng đồng

Ở Việt Nam, phương pháp này mới chỉ thực hiện thí điểm và thực hiệnchưa đồng bộ, kể cả về cơ sở pháp lý cũng như các yếu tố khác

Trang 21

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ, DẠY NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI SAU CAI NGHIỆN

Thành phố chính là hạt nhân kinh tế trọng điểm phía nam, đóng gópGDP là 66,1% vào tổng GDP của vùng Nam Bộ Đây cũng là nơi thu hút vốnđầu tư nước ngoài mạnh nhất cả nước, số dự án đầu tư chiếm khoảng 1/3 tổng

số dự án nước ngoài trên cả nước

Bên cạnh đó, Thành phố cũng đạt tổng thu ngân sách lớn nhất cả nướcmặc dù gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, TP HCM cũng là thành phố cảng lớnnhất cả nước, là trung tâm xuất nhập khẩu Kim ngạch xuất nhập khẩu ngàycàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch của cả nước Đến nay, kimngạch xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố đạt 14,2 tỷ USD, tăng 25% TP.HCM cũng là trung tâm tài chính, ngân hàng lớn nhất cả nước, dẫn đầu về sốlượng ngân hàng và doanh số quan hệ tài chính tín dụng Doanh thu của hệthống ngân hàng Thành phố chiếm 1/3 tổng doanh thu các ngân hàng trêntoàn quốc Về thị trường chứng khoán, đã có trên 50 công ty được niêm yếthoạt động, tổng số vốn cổ phần niêm yết trên 2000 tỷ đồng

Trang 22

Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập, TP HCM luôn tỏ ra làmột trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, dịch vụ lớn nhất cả nước Làđộng lực cho công cuộc công phát triển kinh tế xã hội ở Nam Bộ và phục vụcông cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

1.1.2 Đặc điểm xã hội:

Song song với sự phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế, tình hình xã hội nóichung trên địa bàn Thành phố cũng có những bước phát triển tích cực Đờisống vật chất tinh thần của các tầng lớp dân cư trên địa bàn thành phố đượccải thiện rõ rệt Mức tiêu dùng hàng hóa dịch vụ của dân cư hàng năm tăngtrên 10% Số hộ có mức sống nghèo khó ngày một giảm Cơ sở hạ tầng đượcnâng cấp qua các năm tăng lên, nhất là các huyện ngoại thành, trên 50% số xã

đã có đường ôtô đi đến trung tâm xã; 100% số xã có điện lưới quốc gia vớitrên 55% số hộ đã được dùng điện; 100% số xã có trạm y tế có trường tiểuhọc; khoảng 85% số xã có trường trung học cơ sở…

Hiện nay, Thành phố đã dành 15% ngân sách địa phương cho sự nghiệpphát triển giáo dục nên đã tăng số lượng học sinh học phổ thông và đại học

Từ năm 1995, Thành phố đã đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ và phổ cập tiểu học

Sự nghiệp y tế phát triển mạnh, đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu chămsóc và bảo vệ sức khỏe của người dân tại thành phố và dân cư các địa phươngkhác đến Thành phố

Có thể nói, TP HCM là một trung tâm kinh tế xã hội lớn của cả nước.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế xã hội, Thànhphố cũng phải đối mặt với tình hình tội phạm ngày càng phức tạp và gia tăng

cả về số lượng và quy mô, trong đó có tệ nạn ma túy Chính hạn chế này gâyảnh hưởng lớn đến sự phát triển về mọi mặt của Thành phố và gây nhiều bứcxúc đối với trong nhân dân

Trang 23

1.2 Thực trạng về tình hình nghiện ma túy và công tác cai nghiện tại thành phố Hồ Chí Minh.

1.2.1 Tình hình nghiện ma túy trên địa bàn Thành phố.

Thành phố Hồ Chí Minh có số dân cao nhất cả nước, với gần 7 triệu người

và gần 2 triệu người nhập cư Thành phố có hàng ngàn cơ sở kinh doanh nhạycảm như karaoke, massage, bia ôm, nhà hàng, khách sạn, hớt tóc nam nữ và rấtnhiều địa bàn đã nổi tiếng phức tạp Theo báo cáo chưa đầy đủ năm 1994, toànthành phố có trên 5.000 người nghiện và đến nay có khoảng 36.000 ngườinghiện có hồ sơ quản lý, tăng gần 31.000 người, tăng trên 600%

Đa số đối tượng còn rất trẻ, phần lớn trong lứa tuổi thanh niên, tỷ lệ ngườinghiện hút trong lứa tuổi từ 18 – 25 là 52% và từ 26 – 35 chiếm 37,75% …

Về trình độ học vấn, tuyệt đại đa số người nghiện có trình độ học vấn rấtthấp Tỷ lệ người mù chữ chiếm khoảng 13%; số người mới học bậc tiểu học

từ lớp 1 đến lớp 5, trong đó không ít người đã tái mù chiếm khoảng 23,6%

Số người học bậc trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 43%, trong đó có khoảng 10 –12% đã học hết cấp nhưng không có chứng chỉ như học bạ, giấy chứng nhậnkhẳng định họ đã học bậc học này Chỉ có 18,7% học viên cai nghiện khaiđang học trung học phổ thông Rất ít người tốt nghiệp tú tài Tóm lại, cókhoản 70% số người cai nghiện tập trung không đủ trình độ học vấn tối thiểu

để theo học một nghề kỹ thuật

Về trình độ nghề nghiệp, có tới 43% tổng số người nghiện không có mộtnghề kiếm sống khi vào trung tâm Có khoảng 35% tổng số người cai nghiện

là lao động phổ thông, chưa từng được đào tạo một ngành nghề cơ bản nào

Số người cai nghiện từng là công nhân viên chức chiếm khoảng 1,6% và 9,2%

là học sinh, sinh viên

Bên cạnh đó, rất đông trong số này chuyên đi trộm cắp cướp giật.Khoảng 38% số con nghiện có tiền án, tiền sự, và hàng năm, số người chết vàinghiện ma túy ngày một tăng

Trang 24

Tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, tiêu cực của đời sống xã hội nảysinh, sự gia tăng tệ nạn nghiện ma túy tạo nên nhiều bất an cho đời sốngngười dân.

- Tệ nạn tiêm chích ma túy, mại dâm bùng nổ, mỗi năm xảy ra hơn

16000 vụ phạm pháp hình sự, trong đó tỷ lệ phạm tội ở lứa tuổi thanh thiếuniên nghiện ma túy ngày càng tăng

- Số đối tượng cai nghiện tại cộng đồng và các cơ sở chữa bệnh với thờigian 3 – 6 – 12 tháng, sau đó hồi gia hầu hết đã tái nghiện với tỷ lệ 95 – 97%,cùng với số lượng người nghiện ma túy gia tăng, tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDStăng cao

1.2.2 Hạn chế công tác cai nghiện phục hồi đến năm 2002

Tình hình tội phạm ma túy diễn ra phức tạp như trên, Thành phố đã tổchức nhiều chương trình và các hoạt động khác nhau nhằm đấu tranh chống tệnạn xã hội Điển hình của công tác này là Chương trình mục tiêu 3 giảm

“Giảm tội phạm, ma túy và mại dâm” ban hành ngày 1/11/ 2001 của Ủy bannhân dân Thành phố Đây chỉ là một trong 12 công trình trọng điểm củaThành phố về phòng, chống tệ nạn xã hội Với nguồn kinh phí thực hiện gần

500 tỷ đồng, chương trình 3 giảm đã thu được nhiều thành quả Công tác bắtgiữ tội phạm đã có nhiều chuyển biến tích cực làm giảm đáng kể các vụ viphạm ma túy và mại dâm Lực lượng cảnh sát được sự ủng hộ giúp đỡ nhiệttình của người dân, đã triệt phá nhiều tụ điểm buôn bán và sử dụng ma túy.Điển hình là vụ vận chuyển ma túy do tên John Nguyễn (quốc tịch Mỹ) cầmđầu,thu 1822 viên ma túy tổng hợp; vụ Trần Vĩnh Lâm, bắt 6 đối tượng, thugiữ 1,2 kg heroin; vụ Chu Đức Hải, thu giữ 1,3 kg heroin, 431 viên ma túytổng hợp…

Song song những biện pháp quyết liệt chống tội phạm buôn bán ma túy,Thành phố cũng đã quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện cho những người sa

Trang 25

vào con đường nghiện ngập có thể cắt cơn, phục hồi nhân phẩm, và sức khỏe

để tái hòa nhập cộng đồng Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn cho thấy, tỷ lệtái nghiện sau khi cắt cơn trở về hòa nhập cộng đồng là rất cao, trên 95% Qua việc triển khai hình thức cai nghiện bắt buộc cho thấy thời gian cainghiện từ một đến hai năm đối với các đối tượng mắc nghiện là quá ngắn, rất

dễ dẫn đến tình trạng tái nghiện và không tạo được những kỹ năng và kiếnthức cần thiết để có thể tìm việc làm, sống cuộc sống ổn định, bên cạnh cácnguyên nhân chủ yếu như:

- Người nghiện ma túy thường chích thẳng vào tĩnh mạch, chất gâynghiện đã tác động và lưu lại trong vùng khoái cảm của não bộ Muốn cainghiện hoàn toàn phải loại bỏ vùng khoái cảm đó trong não bộ, đó là việckhông thể thực hiện, trừ một số đối tượng thật sự có ý chí cao và được sự giúp

đỡ tận tình của cộng đồng thì mới thắng được sự thèm khát ấy

- Thêm vào đó, bọn tội phạm buôn bán ma túy vẫn hiện diện khắp nơi,cung cấp hàng chục kg heroin thì rất khó ngăn chặn tình trạng tái nghiện cũngnhư ngăn ngừa những đối tượng mới mắc nghiện

- Chưa chú ý đến hướng nghiệp, dạy nghề và giải quyết việc làm chongười sau cai nghiện nên khi trở lại cộng đồng dễ bị tái nghiện

- Công tác quản lý người sau cai nghiện chưa chặt chẽ, đối tượng không

có việc làm ổn định cuộc sống nên quay trở lại với ma túy

2 Cơ sở pháp lý của công tác tổ chức, quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Xuất phát từ thực tế trên, theo tờ trình của Chính phủ, tại kỳ họp 3, Quốchội khoá 11 đã thông qua Nghị Quyết số 16/2003/QH11 (gọi tắt là NQ 16)

“Về thực hiện thí điểm về tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm chongười sau cai nghiện ma tuý ở TPHCM và một số tỉnh, thành phố khác trựcthuộc Trung ương”

Trang 26

Nghị quyết 16 đề cập đến các nội dung chủ yếu sau:

- Giao Chính phủ chỉ đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thànhphố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố khác trực thuộc Trung Ương thựchiện thí điểm tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người saucai nghiện ma túy, chuẩn bị các điều cần thiết để tái hòa nhập cộng đồng

- Quy định các đối tượng được áp dụng các biện pháp tổ chức quản lý,dạy nghề và giải quyết việc làm

- Thời gian áp dụng là từ 1 – 2 năm, trường hợp cần thiết có thể kéo dàinhưng không quá 3 năm

- Chính phủ xem xét phê duyệt Đề án tổ chức quản lý, dạy nghề và tạoviệc làm của Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố khác trựcthuộc Trung ương Trong đó cũng quy định cụ thể sự phối hợp thực hiện củacác bộ, ngành và các đơn vị liên quan

2.1 Sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các bộ ngành trong việc thực hiện NQ16

Để thực hiện tốt NQ16, Đảng và Nhà nước tiếp tục quan tâm, tăng cườngviệc chỉ đạo thông qua việc ban hành các văn bán pháp luật như sau:

a - Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 146/2004/NĐ-CP ngày17/4/2004 quy định thủ tục, thẩm quyền quyết định đưa người vào cơ sở quản

lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy Nghịđịnh này bao gồm 4 chương, 26 điều, quy định cụ thể các đối tượng áp dụngvào các cơ sở biện pháp đưa vào cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm tạiđiều 2 của Nghị quyết:

- Người đã kết thúc thời gian cai nghiện tập trung tại các cơ sở cainghiện bắt buộc, theo quy định tại điều số 28 của Luật phòng chống ma túy

đủ 18 tuổi mà tự nguyện vào cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm

Trang 27

- Người đã kết thúc thời gian cai nghiện tập trung không tự nguyện vàocác cơ sở dạy nghề và giải quyết việc làm nhưng có khả năng tái nghiện caonếu được đưa trở lại cộng đồng Người có khả năng tái nghiện cao là nhữngngười:

Đã bị cai nghiện bắt buộc tại trung tâm Chữa bệnh- Giáo dục – Laođộng xã hội từ lần thứ hai trở lên

Trong thời gian cai nghiện có hành vi vi phạm nội quy của trung tâm,

bị thi hành kỷ luật lần thứ hai trở lên

Không có cam kết của gia đình, cơ quan, đơn vị doanh nghiệp, nhàtrường về việc đảm bảo việc tiếp tục trở lại cộng đồng

b - Trình Quốc hội cho phép áp dụng một số chế độ ưu đãi về thuế thunhập doanh nghiệp cho các cơ sở và doanh nghiệp sử dụng lao động là ngườisau cai nghiện trong thời gian thực hiện NQ16 Về vấn đề này, Thường trực

Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách và Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội với

đề nghị của Chính phủ về việc cần thiết áp dụng một số chế độ ưu đãi về thuếthu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động là ngườisau cai nghiện và các doanh nghiệp này còn gặp một số khó khăn trong việc

sử dụng lao động đặc biệt này Việc áp dụng một biện pháp hỗ trợ thể hiện sựquan tâm, động viên của Nhà nước đối với các doanh nghiệp sẽ góp phầnquan trọng để công tác phòng chống ma tuý và cai nghiện đạt kết quả tốt hơn.Theo dự tính, mỗi năm cần khoảng 10 tỷ đồng hỗ trợ cho doanh nghiệp này,Chính phủ có thể sử dụng từ nguồn quỹ an sinh xã hội, nguồn quỹ dự trữ tàichính, hoặc ngân sách dự phòng để giải quyết

c - Quyết định số 212/2006 – TTg ngày 20/9/2006 về “Tín dụng với các

cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng lao động làngười sau cai nghiện ma túy”

Trang 28

d - Thông tư liên tịch số 13/2007/TTLT – BLĐTBXH – BNV – BTCngày 28/8/2007 giữa Bộ Lao động – Thương binh xã hội, Bộ Nội vụ và BộTài chính hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp đối với cán bộ, viên chức làmviệc tại các cơ sở quản lý người nghiện ma túy, người bán dâm và người saucai nghiện ma túy.

e - Thông tư số 05/2007/ TT- BTC ngày 18/01/2007 của Bộ Tài chính vềmột số nội dung của Quyết định số 212/2006 ở trên về tín dụng đối với các cơ

sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng lao động là ngườisau cai nghiện

2.2 Sự quan tâm, kiểm tra giám sát thực hiện của Ủy ban nhân dân Thành phố.

Thành phố đã xây dựng và ban hành 23 văn bản hướng dẫn cụ viểctriển khai thực hiện NQ16 cũng như các quy chế về công tác quản lý, dạynghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện Ngoài ra, ban hành cácchế độ, chính sách chăm lo cán bộ, nhân viên, và thu hút các doanh nghiệpđầu tư dạy nghề, giải quyết việc làm cho các đối tượng sau cai tại các trungtâm; giải quyết tái hòa nhập cộng đồng, và ban hành quy định quản lý, giúp

đỡ người tái hòa nhập tại địa phương Nghiên cứu soạn thảo tài liệu, giáotrình để giảng dạy, giáo dục cho học viên như: Giáo dục ý thức pháp luật, đạođức truyền thông, lý tưởng cho thanh niên, giáo dục sức khỏe, thể chất, tinhthần; tài liệu tập huấn cho cán bộ, kỹ năng tư vấn người nghiện và gia đình…Như vậy, trong 4 năm qua, TP HCM đã có được một hệ thống các vănbản khá hoàn thiện, đồng bộ để thực hiện, thể chế hóa NQ16 của Quốc hộiđồng thời hướng dẫn việc triển khai các Nghị định, Quyết định của Chính phủ

và Thủ tướng chính phủ

Thêm vào đó, để đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác chữa trị,

Trang 29

giáo dục dạy nghề và giải quyết việc làm cho học viên và người sau cainghiện, Thành phố đã đầu tư nâng cấp và xây mới 20 trung tâm cùng với đầu

tư thêm cơ sở hạ tâng kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục và dạynghề Tại các trường, trung tâm đầu tư thêm 30 xưởng trường với diện tích30.000m2 đủ sức tập trung, quản lý, chữa bệnh, dạy nghề và tạo việc làm cho30.000 lượt học viên và người sau cai

Nhằm nâng cao nhận thức và tạo sự đồng thuận trong hệ thống chính trị

và vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia, hưởng ứng thực hiệnNQ16, Thành phố đã phát hành rộng rãi các tài liệu tuyên truyền về phòng,chống ma túy Các trường, trung tâm đẩy mạnh hoạt động, tư vấn, tuyêntruyền, động viên học viên hoàn thành giai đoạn cai nghiện và tham gia tưnguyện quản lý sau cai

3 Một số kết quả về công tác tổ chức quản lý, dạy nghề và đào tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại TP.HCM

3.1 Tại các Trung tâm chữa bệnh giáo dục- lao động xã hội

Tại các trung tâm cai nghiện tập trung hiện có khoảng 75 cơ sở sản xuấtcủa các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng, hoạt động sản xuất kinh doanhtheo nhiều hình thức đa dạng khác nhau Một số doanh nghiệp tư nhân, hợptác xã liên doanh với các trung tâm cai nghiện, thực hiện một số công đoạntrong toàn bộ dây chuyền sản xuất; đặt hàng gia công theo mẫu mã và hướngdẫn của chủ đầu tư Ngoài ra các trung tâm được nhà nước cấp kinh phí xâydựng xưởng trường có đủ chỗ cho khoảng 10.000 học viên cai nghiện laođộng trị liệu, nâng cao tay nghề và gia công nhiều loại hàng hóa tiêu dùng.Các trung tâm cũng tích cực, chủ động xây dựng các cơ sở sản xuất bằng vốn

tự có hoặc sử dụng máy móc – thiết bị được các quận huyện, Mặt trận và các

tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hỗ trợ để tổ chứcsản xuất sản phẩm sử dụng trong ngành và sử dụng cho vệc dạy nghề

Trang 30

3.1.1 Tiếp nhận và Tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện

Các trung tâm tiếp nhận đối tượng sau cai nghiện bằng nhiều hình thức:

- Các trung tâm có cả hai chức năng cai nghiện và quản lý sau cai nghiệnthì chuyển tiếp giai đoạn ngay trong trung tâm đó

- Các trung tâm chuyên quản lý sau cai nghiện thì tiếp nhận người đãhoàn thành cai nghiện từ các trung tâm cai nghiện khác trở về

Bảng 1: Số đối tượng tiếp nhận vào các trung tâm

Đơn vị: ngườin v : ngị: người ườiiĐến 7/2004 Đến 6/2005 Đến 10/2006

Số đối tượng sau cai vào

trung tâm

Có thể thấy, số đối tượng được tiếp nhận vào các trung tâm tăng lên rấtnhanh sau khi Nghị quyết số 16 của Quốc hội ban hành Chỉ trong vòng nửanăm đầu 2004, số đối tượng được đưa vào trung tâm là khoảng 7.700 người,

và một năm sau cũng là khoảng 6.500 người, nhưng trong khi đó, từ tháng6/2005 đến tháng 10/2006( trong vòng 16 tháng), chỉ có 2.600 đối tượng đượcđưa vào các trung tâm Điều này chứng tỏ rằng số lượng này sẽ còn tiếp tụcgiảm do số đối tượng tái nghiện và số lượng người nghiện mới thấp dần

Qua 3 năm số đối tượng vào các trung tâm lên đến hơn 16.800 người,trong khi số ra khỏi trung tâm mới chỉ hơn 9.400 người Tính đến giữa năm

2007, số đối tượng sau cai nghiện đang chịu tập trung quản lý ở các trung tâm

là trên 10.000 người Bởi vậy, trong những năm tiếp theo, khi các đối tượngkết thúc giai đoạn tập trung ở các trung tâm thì số đối tượng hòa nhập cộngđồng sẽ tăng lên rất nhanh, đây là một áp lực rất lớn đối với công tác tăngcường quản lý người sau cai nghiện ở các cấp chính quyền địa phương

Trang 31

Các đối tượng rất đa dạng và có những đặc điểm khác nhau, nhưng khitiếp nhận, các trung tâm chỉ phân bổ theo hai đặc tính là phân khu nam nữ vàtheo thời hạn vào.

Các đối tượng được bố trí nơi ở gọn gàng, sạch sẽ, thoáng mát, cácphòng được trang bị đầu máy video Bình quân diện tích, ở mỗi đối tượngđược hưởng 3-4m2, mỗi phòng lớn lớn được kết nối với phòng nhỏ của cán

bộ để tiện cho công tác quản lý, giám sát Qua khảo sát cho thấy, không cótrung tâm nào ở tình trạng kém, chỉ có 1 trung tâm ở mức trung bình, còn lại 3trung tâm ở điều kiện tốt

Tổ chức bếp ăn tập thể và vệ sinh thực phẩm tꦾong các trung tâm đượcthực hiện tốt, chưa có trường hợp ngộ độc thức ăn tập thể tại các trung tâm,nhà ăn được xây dựng thoáng mát, bàn ghế sạch sẽ, khay đĩa luôn được vệsinh sạch sẽ Người có sức khỏe phải tự tăng gia sản xuất để bảo đảm đủ suấtăn.Việc tổ chức trồng rau xanh, chăn nuôi tại các trung tâm đã tự túc 70-80%nhu cầu rau, 50-60% nhu cầu thực phẩm nên đã góp phần đáng kể vào giá trịdinh dưỡng của các bữa ăn Bên cạnh đó, nhiều trung tâm đã tổ chức sản xuấttiểu thủ công nghiệp, gia công chế biến thực phẩm như sản xuất bánh mỳ, đậuphụ, sữa đậu lành…cũng góp phần nâng cao chất lượng bữa ăn

3.1.2 Công tác dạy nghề

Tất cả các trung tâm đều rất quan tâm tổ chức dạy nghề cho người cainghiện ngay khi họ mới tập trung Dạy nghề cho các đối tượng là một nộidung quan trọng trong việc tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm chongười sau cai nghiện vì có đến 50% số đối tượng trước khi đi cai nghiệnkhông có chuyên môn kỹ thuật Ban lãnh đạo các trung tâm đã rất năng độngsáng tạo, tìm mọi cách, mọi biện pháp, mọi nguồn có thể tổ chức các lớphướng dẫn dạy nghề cho đối tượng này Một số nghề được đào tạo tại trungtâm như:

Trang 32

Nghề dài hạn: Tiện, hàn, điện máy, điện lạnh, điện tử, điện công nghiệp,công nghệ thông tin.

Nghề ngắn hạn: May công nghiệp, mộc, một số nghề khác( nghề thủcông mỹ nghệ )

Theo số liệu của TP HCM, đến hết năm 2005, các trung tâm đã tổ chứcnhiều lớp với loại hình khóa đào tạo khác nhau cho gần 24.600 lượt đối tượng

và hết năm 2006 con số này lên tới 32.981 lượt người, và có 11.507 ngườiđược cấp chứng chỉ Tuy nhiên số liệu báo cáo không tách riêng cho học viênđang cai nghiện và sau cai nghiện nên không có số liệu cụ thể đánh giá đốitượng sau cai nghiện Vì vậy, số đối tượng thực hiện Nghị quyết 16 thấp hơnrất nhiều

Việc đăng ký tham gia học nghề là tự nguyện theo những nghề sẵn cótrong trung tâm Trung tâm sẽ thống kê trình độ, sức khỏe của đối tượng để tưvấn chọn nghề phù hợp và sắp xếp các lớp học phù hợp

Tuy nhiên, có 20% đối tượng không tham gia học nghề do nhiều nguyên nhân:

Đã có trình độ trung học chuyên nghiệp hoặc bằng dài hạn trở lên, đã có chứng chỉnghề ngắn hạn, do sức khỏe yếu, và một số ít học viên không thấy phù hợp

Hiện nay số nghề đào tạo trong các trung tâm có 5- 6 nghề, khóa đào tạochủ yếu từ 2-3 tháng đối với các nghề kỹ thuật Phần lớn các học viên đượcđào tạo dưới hình thức kèm cặp đối với các công việc không đòi hỏi trình độ

kỹ thuật cao Vì vậy kế hoạch đào tạo nghề dài hạn là khó thực hiện Cáctrung tâm chỉ đứng ra tổ chức và quản lý công tác dạy nghề, việc giảng dạyđược ký kết với các cơ sở dạy nghề ở ngoài nhằm đa dạng hóa về các nghềkhác nhau, đáp ứng một phần nhu cầu rất khác nhau của các đối tượng Nhìnchung các đối tượng được dạy nghề đánh giá cao hiệu quả của công tác họcnghề tại trung tâm

Ngày đăng: 07/09/2012, 14:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo từ năm 2000 đến 2007 về tình hình tội phạm ma túy và công tác cai nghiện tại TP. HCM và cả nước Khác
2. Cục phòng, chống tệ nạn xã hội . Bộ Lao động thương binh xã hội - Luật phòng chống ma túy và một số văn bản hướng dẫn thi hành về cai nghiện phục hồi. – NXB Lao động xã hội – 2007 – Hà Nội Khác
3. Cục phòng, chống tệ nạn xã hội. Bộ Lao động thương binh xã hội - Một số mô hình điển hình phòng, chống mại dâm và cai nghiện ma túy – NXB Lao động xã hội – 2005- Hà Nội Khác
4. Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội – Tài liệu tập huấn công tác chữa trị phục hồi cho người nghiện – NXB Lao động xã hội – Hà Nội Khác
5. Khoa Khoa học quản lý - Khoa học tổ chức và quản lý. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn – NXB Khoa học kỹ thuật -2008 - Truờng Đại học Kinh tế quốc dân Khác
6. Làm thế nào để ngăn chặn nạn ma túy trong giới trẻ - NXB Công an nhân dân – 1997 – Hà Nội Khác
7. Lưu Minh Trị- Hiểm họa ma túy, nhận biết và hành động- NXB Văn hóa thông tin – 2000 - Hà Nội Khác
8. Phan Thị Mai Hương - Thanh niên nghiện ma túy. Nhân cách và hoàn cảnh xã hội - NXB Khoa học xã hội – 2008 – Diễn đàn phát triển Việt Nam/ Khác
9. Truờng Đại học Kinh tế quốc dân - Giáo trình kinh tế lao động - Tác giả Bộ môn kinh tế lao động - NXB Giáo dục Khác
10. TS Trần Thu, TS Hồ Bá Thâm - Quản lý dạy nghề và giáo dục phục hồi nhân cách cho người sau cai nghiện. Vấn đề và kinh nghiệm ở Thành phố Hồ Chí Minh - NXB Lao động xã hội –2008 – Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng trên cho thấy, trình độ văn hóa của các đối tượng đã được cải thiện đáng kể. Số mù chữ và chỉ có trình độ tiểu học giảm mạnh và thay vào đó là - Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh.DOC
Bảng tr ên cho thấy, trình độ văn hóa của các đối tượng đã được cải thiện đáng kể. Số mù chữ và chỉ có trình độ tiểu học giảm mạnh và thay vào đó là (Trang 37)
Bảng 5: Thu nhập bình quân/ tháng của lao động sau cai nghiện - Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh.DOC
Bảng 5 Thu nhập bình quân/ tháng của lao động sau cai nghiện (Trang 45)
Bảng 6: Số liệu thống kê về tình hình ký hợp đồng lao động: - Một số công tác để thực hiện tổ chức quản lý, dạy nghề và tạo việc làm cho người sau cai nghiện tại Thành Phố Hồ Chí Minh.DOC
Bảng 6 Số liệu thống kê về tình hình ký hợp đồng lao động: (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w