1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TRIỂN KHAI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG CÁC CHUYÊN ĐỀ NGỮ PHÁP TIẾNG ANH

27 294 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước là đào tạo ra những thế hệ công dân “ sử dụng ngoại ngữ thành thạo” để “tiếp thu những tri thức khoa học công nghệ tiên tiến…”, đò

Trang 1

MỤC LỤC

1 Cơ sở đề xuất giải pháp

1.1 Cơ sở lý luận ……….2

1.2 Cơ sở thực tiễn ……… 2

1.3 Lí do chọn bài dạy mẫu câu điều kiện loại 3(the 3 rd conditional)……….3

2 Nội dung giải pháp ……… 4

2.1 Sơ lược phương pháp giảng dạy chủ động tích cực………… 5

2.2 Áp dụng phương pháp dự án trong việc giảng dạy các chuyên đề ngữ pháp tiếng anh….……… 5

2.2.1 Thế nào là dạy học theo dự án……….5

2.2.2 Thuyết cơ sở của phương pháp dạy học theo dự án………5

2.2.3 Cách thức tổ chức ………5

2.2.4 Cách thức áp dụng phương pháp dạy học dự án trong việc dạy các chuyên đề ngữ pháp……… 7

2.2.5 Tính khả thi của đề tài………10

3 Hiệu quả áp dụng ……….14

3.1 Những điểm mới so với trước đây……….14

3.2 Kết quả đạt được ……… 14

3.3 Hạn chế ……… 16

3.3 Bài học kinh nghiệm thực tiễn khi áp dụng giải pháp ………17

4 Kết luận và đề xuất, kiến nghị ……… 18

4.1 Kết luận ……… 18

4.2 Đề xuất, kiến nghị ……… 18

5 Tài liệu tham khảo ……….20

6 Phụ lục……….………22

Trang 2

I CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

1.1 Cơ sở lý luận

Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, ngoại ngữ có thể giúp chúng ta tiếp cận với thế giới văn minh, trao đổi văn hóa và nối vòng tay hữu nghị toàn cầu Xuất phát từ mục tiêu đó tiếng Anh đã trở thành ngoại ngữ số một được dạy ở nước ta và việc dạy cũng như học tiếng Anh ở các trường THTP cũng đã có những chuyển biến rõ rệt Để đạt được mục tiêu: “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của người học” thì người học phải phát huy được năng lực tự học, sự chủ động, sáng tạo của mình Đây không phải là việc làm đơn giản, đặc biệt với đối tượng người học chưa được làm quen, cũng như chưa thích nghi kịp với phương pháp học mới Để đáp ứng được những yêu cầu nhiệm vụ mới của đất nước là đào tạo ra những thế hệ công dân “ sử dụng ngoại ngữ thành thạo” để “tiếp thu những tri thức khoa học công nghệ tiên tiến…”, đòi hỏi giáo viên dạy ngoại ngữ phải trang bị cho mình những phương pháp giảng dạy hiện đại, tiên tiến, chủ động, tích cực; đồng thời phải linh hoạt áp dụng các phương pháp ấy để phù hợp với từng chuyên đề của môn học trong giai đoạn hiện nay

1.2 Cơ sở thực tiễn:

Hầu hết các học sinh khi học ngữ pháp chỉ hiểu ngữ pháp chứ chưa biết vận dụng vào các tình huống thực tế Mục tiêu chính của một lớp học tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp là giúp học sinh có thể giao tiếp bằng ngoại ngữ ngày một

tự tin và hiệu quả hơn.Tuy nhiên, đây cũng chính là điều khiến nhiều giáo viên ngoại ngữ đau đầu vì làm thế nào để đạt được mục tiêu ấy lại là một câu hỏi không

dễ trả lời Như vậy khó khăn lớn nhất của học sinh chúng ta khi học tiếng Anh có lẽ

là do không có môi trường tiếng thực tế.Vì vậy điều then chốt là tạo ra một môi trường tiếng trong lớp học nơi khiến học sinh cảm thấy tự tin khi sử dụng tiếng Anh

Trong việc đổi mới phương pháp dạy học thì học sinh đóng vai trò trung tâm của các hoạt động dạy-học trên lớp, chất lượng giờ học phụ thuộc rất nhiều vào năng lực, tính chủ động, tích cực của các em.Tuy nhiên, một số các em còn chưa

Trang 3

nhận thức được tầm quan trọng của việc học tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập, do

đó các em rất thờ ơ với việc học, các em chưa chủ động, tích cực trong học tập Ý thức tự học, tự bồi dưỡng, rèn luyện còn thấp Trong thực tế hiện nay, còn nhiều học sinh học tập một cách thụ động, chưa có khả năng tự học, chỉ dựa vào những kiến thức do giáo viên truyền đạt, rồi học thuộc long Hs thường không thích các giờ học ngữ pháp do có nhiều thời gian trầm hơn các tiết khác Do vậy giáo viên cần linh hoạt lựa chọn các phương pháp tích cực và chủ động giúp các em nhớ bài một cách hiệu quả từ đó có thể vận dụng vào thực tế và nâng cao kết quả trong học tập

Là giáo viên tiếng Anh tôi luôn suy nghĩ làm thế nào để mang lại cho học trò những bài học thật thú vị, mới mẻ, kích thích sự ham học, tính chủ động của các em

từ khá giỏi đến yếu kém, làm sao sau mỗi bài học không chỉ giúp học sinh khắc sâu kiến thức, ấn tượng, nhớ mãi mà còn giúp các em tự tin, chủ động dần lên Có nhiều phương pháp dạy học được triển khai hàng năm nhằm nâng cao chất lượng

bộ môn nhưng chúng ta cần linh hoạt lựa chọn phương pháp dạy học tích cực để lôi cuốn được mọi đối tượng học sinh tham gia, làm cho các em tự tin hơn và đặc biệt còn kích thích được khả năng tự học, tự tìm tòi mở rộng kiến thức của các em Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy khả năng tiếp thu và vận dụng bài học của người học tăng lên khi được học tập chủ động với những phương pháp giảng dạy hiện đại Nhận thức được điều đó, tôi đã chọn chuyên đề: “áp dụng phương pháp dạy học theo dự án trong việc dạy các chuyên đề ngữ pháp” để thực nghiệm trong quá trình giảng dạy ngữ pháp với mong muốn góp phần giúp đồng nghiệp, học sinh hứng thú hơn với việc dạy và học các chuyên đề ngữ pháp tiếng anh

1.3 Lí do chọn bài dạy mẫu câu điều kiện loại 3(the 3 rd

Trang 4

trong giao tiếp, một phần do cũng không có nhiều cơ hội để thực hành, một phần

do các em chưa được tạo cơ hội để phát huy khả năng tự học nên khả năng tiếp thu

và vận dụng bài học chưa cao Do vậy, việc áp dụng phương pháp dự án kết hợp linh hoạt các phương pháp chủ động tích cực khác vào bài dạy mẫu câu điều kiện loại 3(the third conditional) sẽ giúp các học sinh hứng thú hơn với bài học, đồng thời có thể vận dụng câu điều kiện này một cách thuần thục và đầy tự tin trong giao tiếp Qua đó, phần nào giúp học sinh vận dụng tiếng anh nhuần nhuyễn ở tất cả bốn

kỹ năng nghe-nói-đọc-viết

II NỘI DUNG GIẢI PHÁP

2.1 Sơ lược các phương pháp giảng dạy chủ động & tích cực

Đã có không ít các tài liệu, công trình nghiên cứu về các phương pháp giảng dạy giúp người học có thể phát huy tính chủ động, tích cực trong quá trình học tập, như: Phương pháp tổ chức học tập theo dự án (Project-based learning), phương pháp học dựa trên vấn đề (Problem based learning), phương pháp động não (Brainstorming), phương pháp hoạt động nhóm (Group-based Learning), phương pháp sắm vai (Role playing), … Có thể gọi chung là cách giảng dạy chủ động

“Phương pháp giảng dạy chủ động (Active Teaching) là một thuật ngữ rút gọn,

được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học”1 Để đạt được mục tiêu đặt ra, giáo viên thường sử dụng đa dạng và linh hoạt các phương pháp dạy học chủ động, tích cực để làm tăng khả năng lĩnh hội tri thức

1 Nguyễn Thành Hải, Phùng Thúy Phượng, Đồng Thị Bích Thủy - Trung tâm Nghiên Cứu Cải Tiến Phương Pháp Dạy và Học ĐH -Trường ĐH Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Tp.HCM

Trang 5

2.2 Áp dụng phương pháp dự án trong việc giảng dạy các chuyên đề ngữ pháp 2.2.1 Thế nào là đạy học theo dự án

Dạy học theo dự án (mini project-based teaching method) là hình thức sư phạm lấy học sinh làm trung tâm, trong đó học sinh tham gia một dự án để xây dựng và phát triển kiến thức của mình Tất cả các học sinh đều đóng vai trò tích cực trong khi thực hiện dự án Kết thúc dự án học sinh được yêu cầu cho ra một sản phẩm cụ thể

2.2.2 Lý thuyết cơ sở của phương pháp dạy theo dự án

Theo nghiên cứu của John Dewey (1859 – 1952): nhà tâm lí học và triết học người Mỹ, ông là người khởi xướng việc dạy học tích cực đặt biệt là phương pháp tiếp cận dự án Theo Ông, cá nhân tự tìm cách phát triển một cách tự nhiên và tìm cách đạt được thành tích cá nhân ở một mức độ cao – nhà trường phải cung cấp các phương tiện để họ thực hiện được điều đó Học thuyết nổi tiếng của Ông là học bằng việc làm (learning by doing), học bằng cách làm chứ không phải bằng cách lắng nghe như trong sư phạm truyền thống, học sinh phải hành động, xây dựng các

dự án, tự thực hiện dự án đúng thời hạn, rút kinh nghiệm và học cách trình bày khoa học Theo Celestin Freinet (1896 – 1966): nhà giáo dục người Pháp; theo giáo viên này, làm cho học sinh học tích cực là quan trọng nhất trong giảng dạy Ông đã phát triển một hệ thống dựa trên 3 yếu tố:

 Lớp học được tổ chức như một hợp tác xã

 Các kiến thức được xây dựng dựa trên những dự án hay những nghiên cứu

 Trường sản xuất và phổ biến các công cụ làm việc riêng của mình (ví dụ như các tờ báo, diễn đàn của trường)

2.2.3 Cách thức tổ chức

Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm

 Tìm trong chương trình học tập các nội dung cơ bản có liên quan hoặc có thể ứng dụng vào thực tế

 Phát hiện những gì tương ứng đã và đang xảy ra trong cuộc sống Chú ý vào những vấn đề lớn mà xã hội và thế giới đang quan tâm

Trang 6

 Giáo viên phân chia lớp học thành các nhóm, hướng dẫn người học đề xuất, xác định tên đề tài Đó là một dự án chứa đựng một nhiệm vụ cần giải quyết, phù hợp với các em, trong đó có sự liên hệ nội dung học tập với hoàn cảnh thực tiễn đời sống xã hội Giáo viên cũng có thể giới thiệu một số hướng đề

tài để người học lựa chọn

Bước 2: Xây dựng đề cương dự án

 Giáo viên hướng dẫn người học xác định mục đích, nhiệm vụ, cách tiến hành, kế hoạch thực hiện dự án; xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí…

 Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách dựa vào chuẩn kiến thức và kĩ năng của bài học/chương trình, những kĩ năng tư duy bậc cao cần đạt được Việc xây dựng đề cương cho một dự án là công việc hết sức quan trọng vì

nó mang tính định hướng hành động cho cả quá trình thực hiện, thu thập kết quả và đánh giá dự án

Bước 3: Thực hiện dự án

 Các nhóm phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên

 Các thành viên trong nhóm thực hiện kế hoạch đã đề ra Khi thực hiện dự án, các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, thực tiễn xen kẽ và tác động qua lại với nhau; kết quả là tạo ra sản phẩm của dự án

 Học sinh thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi tổng hợp, phân tích

và tích lũy kiến thức thu được qua quá trình làm việc Như vậy, các kiến thức mà người học tích lũy được thử nghiệm qua thực tiễn

Bước 4: Thu thập kết quả

 Kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng dạng ấn phẩm (bản tin, báo, áp phích, thu hoạch, báo cáo…) và có thể được trình bày trên Power

Point, hoặc thiết kế thành trang Web…

 Tất cả học sinh cần được tạo điều kiện để trình bày kết quả cùng với kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án (theo nhóm hoặc cá nhân)

Trang 7

 Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm người học, giới thiệu trước lớp, trong trường hay ngoài xã hội

Bước 5: Đánh giá dự án, rút kinh nghiệm

 Giáo viên và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả dự án dựa trên những sản phẩm thu được, tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức trình bày của các em

 Giáo viên hướng dẫn người học rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo

 Kết quả dự án có thể được đánh giá từ học sinh hoặc các yếu tố bên ngoài

2.2.4 Cách thức áp dụng phương pháp dạy học dự án trong việc dạy các chuyên đề ngữ pháp

Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu, tôi lựa chọn và cố gắng áp dụng phương pháp dạy học theo dự án (mini-project-based learning) kết hợp với các phương pháp chủ động khác vào việc giảng dạy chuyên đề ngữ pháp bộ môn Tiếng anh của

mình (bài dạy mẫu câu điều kiện loại 3 -the 3rd conditional) Cụ thể các bước như sau:

Bước 1: Chọn đề tài, chia nhóm

 Giáo viên phân chia lớp học thành các nhóm

 Cho các nhóm bốc thăm nội dung, sau đó học sinh tự đặt tên nhóm cho mình Trong bài dạy mẫu - câu điều kiện loại 3(the third conditional), giáo viên chia 4 nhóm với 4 nội dung sau:

Nội dung 1: tìm 2 tình huống có nguyên nhân và kết quả đã xảy ra trong quá khứ (cause và effect), thảo luận thử và tìm cách để diễn đạt điều không thật của tình huống đó Chuẩn bị các tài liệu có liên quan để điều hành các nhóm khác cùng thảo luận

Nội dung 2: Luyện tập 1 Tìm các nguồn tài liệu có bài tập (khoảng 4-5 câu) liên quan đến câu điều kiện loại 3 Chọn bài tập phải ở mức độ nhẹ nhàng.(ví dụ: chia động từ trong ngoặc, hoặc điền vào chỗn trống, hoặc trắc nghiệm…)

Trang 8

Nội dung 3: Luyện tập 2 Tìm một vài tình huống nguyên nhân, kết quả trong quá khứ, biên tập lại thành bài tập viết lại câu (khoảng 4-5 câu)

Nội dung 4: Luyện tập 4 Chuẩn bị chuẩn bị trò chơi hay tình huống để cho các học sinh khác luyện nói(có thể theo cặp hoặc theo nhóm) Cần chuẩn bị ví dụ để minh họa cho các nhóm

Bước 2: Xây dựng đề cương dự án

 Giáo viên giúp đỡ các nhóm xây dựng hệ thống các vấn đề, cung cấp nguồn tài liệu tham khảo, cách thức tìm và nghiên cứu tài liệu

Trong bài dạy mẫu - câu điều kiện loại 3(the third conditional), giáo viên gợi ý cho học sinh một số trang web đáng tin cậy ví dụ:

Và một số tài liệu đáng tin cậy tham khảo thêm ví dụ:

English 10, nhà xuất bản giáo dục Việt Nam

F Irene & K Victoria Gateway(1998) Oxford University Press

Jill, H (2003) Intermediate game Longman

Kathy, G & Micheal D W (2002) Kickstart Oxford University Press

Nhóm 1: Tình huống 1 (tranh) & Tình huống 2 (đóng kịch)

Nhóm 2: Luyện tập 1(hội thoại và điền vào chỗ trống)

Nhóm 3: Luyện tập 2(Hs viết lại câu)

Nhóm 4: Luyện tập 4(ví dụ và chuẩn bị tình huống)

Bước 3: Thực hiện dự án

 Các nhóm phân công nhiệm vụ cho mỗi thành viên

Trang 9

Thành viên 1: nhóm trưởng(leader): là người chỉ đạo hoạt động của nhóm, lên

lịch, giao việc cho các thành viên trong nhóm, đôn đốc thực hiện nhóm làm và nộp bài đúng tiến trình, cùng tìm tài liệu và chọn lọc các tình huống với các thành viên khác

Thành viên 2 & 3: người điều hành hoạt động trước lớp (presenters), cùng tìm tài

liệu và chọn lọc các tình huống với các thành viên khác

Thành viên 4: phôt tô tài liệu phát cho các nhóm, kiểm soát lớp trong quá trình

điều hành hoạt động, cùng tìm tài liệu và chọn lọc các tình huống với các thành viên khác

Thành viên 5: người biên tập (editor) chỉnh sửa, đánh máy, đưa vào các slides,

cùng tìm tài liệu và chọn lọc các tình huống với các thành viên khác

 Các thành viên trong nhóm thực hiện kế hoạch đã đề ra Khi thực hiện dự án, các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực hành, thực tiễn xen kẽ và tác động qua lại với nhau; kết quả là tạo ra sản phẩm của dự án

 Học sinh thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau rồi chọn lựa, tổng hợp, phân tích và tích lũy kiến thức thu được qua quá trình làm việc

 Trong quá trình thực hiện dự án, đến hạn, các nhóm hẹn gặp giáo viên trực tiếp tại văn phòng bộ môn để có sự hướng dẫn và chỉnh sửa Điều này rất vất

vả cho người dạy, tuy nhiên, nếu chỉ hướng dẫn qua email thì rất khó để giáo viên thể hiện hết được những yêu cầu, cũng như vẫn có tình trạng người học không lĩnh hội được hết ý của giáo viên

Bước 4: Thu thập kết quả

 Sau 1 tuần, các nhóm trình bày kết quả thực hiện dự án trên Power Point hoặc bằng tài liệu phát cho các nhóm khác để luyện tập hoặc thảo luận

 Tất cả các nhóm được tạo điều kiện để trình bày và tổ chức trước lớp các hoạt động cùng với kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án

 Đến tiết học, nhóm học sinh phụ trách hoạt động nào sẽ được giao điều hành lớp theo tiến trình bài dạy của tiết học đó Nhóm điều hành có nhiệm vụ tổ chức cho lớp thảo luận, trả lời hay luyện tập về các vấn đề, tình huống đã

Trang 10

được chuẩn bị trước Việc điều hành phải tuân thủ yêu cầu: Nhiệm vụ phải được phân chia đồng đều cho các thành viên trong nhóm Tránh tình trạng nhóm sẽ ỉ lại một hoặc một số thành viên xuất sắc nhất Điều này sẽ không đạt được mục tiêu nâng cao kỹ năng thuyết trình, kỹ năng giao tiếp của người học

Bước 5: Đánh giá dự án, rút kinh nghiệm

 Giáo viên và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả dự án dựa trên sự tương tác với các nhóm khác, tính khúc chiết và hợp lý trong cách thức trình bày của các em

 Trước khi đánh giá kết quả và cho điểm, giáo viên hướng dẫn cho các nhóm được nhận xét về ưu, nhược điểm của nhóm chủ đạo để rút kinh nghiệm cho cho việc thực hiện các hoạt động tiếp theo của các nhóm sau

 Đánh giá kết quả và cho điểm: Trên cơ sở nhận xét của các nhóm cùng với tự đánh giá, giáo viên sẽ đưa ra một tổng điểm cho cả nhóm mà không cho điểm cào bằng giữa các thành viên Nhóm sẽ họp sau buổi học để chia điểm cho mỗi thành viên trên cơ sở công sức đóng góp và chất lượng tham gia của mỗi thành viên, cùng nhau quyết định điểm số của từng người, theo nguyên tắc “công bằng nhưng không cào bằng” Kết quả hoạt động nhóm của mỗi thành viên sẽ được giáo viên ghi nhận.( 2)

 Toàn bộ quá trình chuẩn bị cho đến khi lên điều hành lớp là một quá trình làm việc tích cực có trách nhiệm của các nhóm và mỗi thành viên

2.2.5 Tính khả thi của đề tài

Đề tài này sẽ mang tính khả thi cao nếu:

 Học sinh đã được giáo viên giới thiệu qua các điểm ngữ pháp trong các phần học trước của bài, có thể là trong tiết đọc hiểu (reading), tiết học nói (speaking) hoặc tiết học nghe (listening) Ví dụ trong bài dạy mẫu câu điều kiện loại 3(the third condition), học sinh đã được giáo viên dạy sơ qua cấu trúc và ý nghĩa cách sử dụng trong tiết học speaking

(2) Phụ lục 2

Trang 11

 Giáo viên linh hoạt kết hợp phương pháp dự án với các phương pháp chủ động, tích cực khác

- Lấy người học làm trung tâm, phát huy năng lực tự học, kết hợp với làm việc tập thể, người học là người làm chủ tri thức bằng cách chủ động tham gia trong quá trình học tập dưới sự hướng dẫn, hỗ trợ của người dạy

Trên cơ sở hướng dẫn của người dạy, người học phải phát huy năng lực tự học, tự khám phá, chủ động trong hoạt động học tập để có thể tạo thành một thói quen luôn hứng thú với việc học, coi việc học như là quyền lợi “được học”, hơn là nghĩa vụ “phải học” Để có thể tự học hiệu quả thì cần phải có sự kết hợp giữa học tập cá nhân với học tập từ bạn bè, học tập theo nhóm.Thông qua sự tương tác với bạn bè, thầy cô, các thành viên có cơ hội để lắng nghe, trao đổi, phản biện các vấn

đề, từ đó có thể bổ sung thêm kiến thức cho mình từ các thành viên khác Trong

cuốn “The Practical English Language Teaching”, Jeremy Harmer có đề cập đến

đặc điểm tâm lý lứa tuổi Ông phân tích từng lứa tuổi, trong đó lứa tuổi thanh thiếu niên được ông miêu tả là sẽ thể hiện khả năng học hỏi, tiềm năng sáng tạo và niềm đam mê với những thứ mà họ quan tâm Ngoài sự hướng dẫn của thầy cô, các em

sẽ tích cực thu nhận thêm kiến thức từ nhiều nguồn khác, và nếu đó là bạn bè của mình, với ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, các em sẽ cảm thấy dễ tiếp thu hơn vì “học thầy không tày học bạn” Đồng thời đó cũng là cơ hội để mọi người rèn luyện, phát huy các kỹ năng cần thiết khác cho công việc, cũng như cuộc sống

- Vai trò của người dạy:

+Phát huy năng lực tự học không có nghĩa là người thầy mất dần đi vai trò của mình, mà ngược lại, khi sử dụng những phương pháp giảng dạy hiện đại này đòi hỏi người thầy phải có tâm huyết, kiến thức sâu rộng mới có thể đồng hành hướng dẫn, góp ý, phân giải, động viên được cùng học sinh của mình trong suốt quá trình khám phá tri thức bằng cách gặp, hướng dẫn các nhóm trực tiếp tại văn phòng bộ môn theo lịch và góp ý qua thư điện tử

+Giáo viên đóng vai trò là người trọng tài trong quá trình tranh luận, giải quyết vấn đề của học sinh và nhóm học sinh, ghi nhận tính tích cực của từng học

Trang 12

sinh, nhóm học sinh bằng các điểm số tích cực trên lớp Đồng thời, giáo viên cũng

là người đưa ra kết luận cuối cùng về cách giải quyết các tình huống mà các nhóm

có quan điểm không thống nhất

Vì vậy, việc linh hoạt kết hợp phương pháp giảng dạy dự án cùng với các phương pháp chủ động khác sẽ tạo ra được sự khác biệt trong các tiết học ngữ pháp Cụ thể trong bài dạy mẫu, người dạy đã kết hợp phương pháp dự án với các phương pháp sau:

Kết hợp phương pháp dạy học dự án với một số phương pháp giảng dạy chủ động

khác đã được vận dụng trong tiết dạy mẫu

có liên quan để trình bày &

thảo luận trên lớp

- Kỹ năng làm việc theo nhóm

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng sử dụng công nghệ

vụ học tập

- Mỗi nhóm nhận một nhiệm

vụ học tập và cùng hợp tác để thực hiện

- Kỹ năng làm việc theo nhóm

- Kỹ năng giao tiếp

kiến mỗi người trong

thời gian tối thiểu tùy

vấn đề đưa ra để có

được tối đa những dữ

- GV nêu vấn đề cần giải quyết, quy định thời gian và cách thức làm việc

- SV làm việc cá nhân, liệt kê nhanh các ý tưởng

- Tư duy sáng tạo

- Giải pháp và đề xuất

Trang 13

sau đó trao đổi với

nhau một khoảng thời

- SV làm việc theo cặp, lắng nghe và trình bày ý kiến

- Cấu trúc giao tiếp

- HS được giao giải đáp “vấn đề” trên cơ sở cá nhân hoặc nhóm

- Xác định và hình thành vấn đề

- Đề xuất các giải pháp

- Trao đổi, phán xét, cân bằng trong hướng giải quyết

6 Phương pháp đóng vai

(Role-play teaching):

là phương pháp tổ chức

cho sinh đóng vai trong

đoạn hội thoại trong

- Tư duy suy xét, phản

biện

- Nhận biết về kiến thức, kỹ năng

Ngày đăng: 14/01/2019, 12:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w