1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Câu hỏi thảo luận phần III, phần chủ nghĩa xã hội khoa học năm 2018

26 520 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 610,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Hãy phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay? Câu 2: Trình bày tính tất yếu ra đời và các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa? Nêu sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay? Câu 3: Nêu bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa? Liên hệ quá trình dân chủ hoá ở nước ta hiện nay? Câu 4: Vì sao giai cấp công nhân phải xây dựng khối liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức? Ý nghĩa của khối liên minh công, nông, trí thức đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam?

Trang 1

CÂU HỎI THẢO LUẬN- PHẦN III - PHẦN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC NĂM 2018

Câu 1: Hãy phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân? Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay?

I Khái niệm giai cấp công nhân

1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin

C.Mác và Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về GCCN như: giai cấp vô sản, giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình, lao động làm thuê ở thế kỉ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp như những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị một khái niệm: GCCN - con đẻ của nền đại công nghiệp TBCN, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến, cho phương thức sản xuất hiện đại

Cũng theo C.Mác và Ăngghen, GCCN luôn mang hai thuộc tính cơ bản sau:

• Về phương thức lao động, phương thức sản xuất: đó là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao

• Về vị trí trong quan hệ sản xuất TBCN: đó là người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột về giá trị thặng dư Thuộc tính thứ hai này nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế

độ TBCN nên C.Mác và Ăngghen còn gọi là giai cấp vô sản

2 Định nghĩa giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực lượng lao động cơ bản tiên tiến trong các quy trình công nghệ, dịch vụ công nghiệp, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện nay

Tại các nước tư bản, GCCN là những người không có hoặc về cơ bản không có tư liệu sản xuất, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư Còn ở các nước xã hội chủ nghĩa, GCCN là người đã cùng nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu, là giai cấp lãnh đạo xã hội trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

II Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

1 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

GCCN là giai cấp tiên tiến nhất GCCN - con đẻ của nền sản xuất công nghiệp hiện đại, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; có lợi ích trực tiếp đối kháng với lợi ích của giai cấp

tư sản và thống nhất với lợi ích lâu dài của các tầng lớp nhân dân lao động khác; có hệ tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, có đảng tiên phong của mình là Đảng cộng sản; có tinh thần cách mạng triệt để; có tính tổ chức kỷ luật cao - điều kiện sản xuất tập trung và trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, cơ cấu tổ chức sản xuất chặt chẽ đã tôi luyện cho giai cấp công nhân hiện đại tính tổ chức

và kỷ luật cao; là giai cấp có bản chất quốc tế

* Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Trong sự chuyển biến từ hình thái kinh

tế xã hội TBCN lên hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, GCCN là giai cấp trung tâm, có nhiệm vụ phải thoả mãn các điều kiện: là giai cấp đại diện cho một phương thức sản xuất tiên tiến;

là giai cấp có hệ tư tưởng độc lập; giai cấp này phải tiến hành thuyết phục tập hợp và tổ chức quần

Trang 2

chúng làm cách mạng Và hai nhiệm vụ quan trọng nhất đó là: tiến hành xoá bỏ chế độ cũ, xây dựng hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn

Thực chất nội dung sứ mệnh lịch sử của GCCN đó là:

• Trong lĩnh vực kinh tế: GCCN tiến hành xoá bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nâng cao năng suất lao động, thoả mãn từng bước nhu cầu phát triển của nhân dân

• Trong lĩnh vực chính trị: GCCN phải trở thành giai cấp thống trị trong xã hội Muốn vậy nhiệm vụ đặt ra là phải đập tan chính quyền tư sản, xây dựng nền chuyên chính vô sản mà thực chất là để đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân

• Trong lĩnh vực xã hội: GCCN phải tiến hành xoá bỏ giai cấp bóc lột, phải xoá bỏ giai cấp nói chung, tạo ra sự bình đẳng trong quan hệ giữa người với người

GCCN có vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử toàn nhân loại Họ chính là lực lượng lãnh đạo các sự nghiệp: sự nghiệp giải phóng giai cấp; sự nghiệp giải phóng xã hội và dân tộc; sự nghiệp giải phóng người lao động và sự nghiệp giải phóng con người Do đó sứ mệnh lịch sử của GCCN phải được thực hiện trên toàn thế giới

Điều kiện khách quan đã trao cho GCCN sứ mệnh lịch sử ấy là do địa vị kinh tế - xã hội, GCCN là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới CNTB, là con đẻ của nền đại công nghiệp Nền đại công nghiệp ngày càng làm cho GCCN trưởng thành hơn về học vấn, về ý thức tổ chức kỷ luật và về đoàn kết đội ngũ Nền sản xuất đại công nghiệp cũng làm cho mâu thuẫn cơ bản của CNTB ngày càng gay gắt, đó là mâu thuẫn QHSX dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân với LLSX hiện đại và XH hóa ngày càng cao Chế độ chiếm hữu tư nhân chỉ phù hợp với tính chất sản xuất cá thể, trình độ sản xuất thủ công Với LLSX hiện đại và xã hội hóa cao thì họ không chấp nhận chế độ chiếm hữu này cho nên dẫn đến mâu thuẫn Mâu thuẫn này biểu hiện ra bên ngoài là giữa giai cấp tư sản và GCCN, để giải quyết mâu thuẫn này thì chỉ có con đường đấu tranh cách mạng Và như vậy GCCN là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất TBCN

Bên cạnh đó còn những điều kiện chủ quan (điều kiện quyết định) về SMLS GCCN đó là GCCN luôn vươn lên, hoàn thiện ba tố chất đó là trình độ học vấn, đặt mình và kỷ luật và xây dựng khối đoàn kết Điều kiện chủ quan thứ hai là GCCN có Đảng cộng sản vững mạnh, toàn dân Đảng phải vững mạnh trên 4 mặt đó là tư tưởng (xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lenin), chính trị (xây dựng đường lối, chính sách đúng đắn), tổ chức (chọn đúng người vào các vị trí, nhiệm vụ), và đạo đức Khi Đảng đã vững mạnh thì Đảng mới xứng đáng là đội tiên phong của GCCN, xứng đáng là lãnh tụ chính trị của GCCN và xứng đáng là bộ tham mưu chiến đấu của GCCN

2 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời đại ngày nay

Trước hết, GCCN phải là giai cấp thống trị về chính trị; là giai cấp quyết định xu hướng phát triển của lịch sử; cầm quyền ở một số quốc gia trên thế giới Hơn nữa, GCCN là động lực và

là lực lượng lãnh đạo cuộc đấu tranh nhằm thủ tiêu mọi sự áp bức bóc lột và sự tha hoá con người, sáng tạo ra xã hội mới Thủ tiêu áp bức bóc lột và mọi hình thức tha hoá, thực hiện sự giải phóng con người đòi hỏi GCCN trước hết phải giành lấy dân chủ, giành lấy chính quyền Sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, GCCN trở thành lực lượng lãnh đạo, tổ chức và thực hiện quá trình xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và CSCN trên phạm vi mỗi dân tộc và trên toàn thế giới, thực hiện sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người GCCN là lực lượng lãnh đạo toàn bộ cuộc đấu tranh để thủ tiêu hoàn toàn các giai cấp Thực hiện sứ mệnh lịch sử của GCCN không phải nhằm duy trì GCCN mà vì mục tiêu giải phóng con người Ngày nay trước sự biến đổi không ngừng của thế giới, khi mà CNTB đang thắng thế, phong trào cách mạng trên thế giới đang tạm thoái trào và đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học

Trang 3

công nghệ đang diễn ra với một tốc độ chóng mặt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì bản thân GCCN cũng đang có nhiều thay đổi

Trước hết là những thay đổi về mặt chất của đội ngũ công nhân trên toàn thế giới Ngày nay trình độ tay nghề chuyên môn của giai cấp công nhân đã được nâng lên rõ rệt Công nhân ngày càng được nâng cao trình độ, tay nghề thêm vào đó là xu hướng "trí thức hoá" công nhân đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu Đây là một xu thế tất yếu khách quan bởi nó xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn sản xuất Đời sống của công nhân không ngừng được cải thiện Tại các nước phát triển GCCN đang được trung lưu hoá, được quan tâm không chỉ về mặt vật chất mà còn cả về mặt tinh thần Bản thân GCCN thế giới cũng có nhiều chuyển biến tích cực về giác ngộ cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin Các phong trào đấu tranh của công nhân về vấn đề dân sinh dân chủ đang diễn ra mạnh mẽ

Bên cạnh đó GCCN hiện nay cũng có những chuyển biến mạnh mẽ về mặt lượng Số lượng công nhân thế giới không ngừng tăng lên, họ trở thành lực lượng lao động đông đảo, chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong xã hội Không những vậy GCCN còn đang biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu chủ yếu theo hướng: giảm số lượng lao động giản đơn, lao động trong những ngành nghề truyền thống - tăng số lượng lao động phức tạp, lao động trong các ngành nghề hiện đại

Ngày nay, kẻ thù của chủ nghĩa xã hội khoa học và một số kẻ cơ hội đang phủ nhận học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của GCCN Theo họ giai cấp công nhân ngày càng “teo đi“, “tan biến” vào các giai cấp, tầng lớp xã hội khác Nhưng thực tế đã chứng minh đó là ý kiến hoàn toàn sai lầm, vì GCCN hiện nay tuy có sự biến đổi về mặt số lượng hoặc dịch chuyển vào các giai cấp khác, chất lượng công nhân không ngừng được năng cao nhưng bản chất của công nhân và GCCN không hề thay đổi Mặt khác, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lòng chế độ TBCN đang diễn ra hết sức gay gắt Tuy đã đạt được một số thành tựu nhưng CNTB vẫn không sao giải quyết được những mâu thuẫn nội tại trong lòng nó Nền kinh tế TBCN có khả năng phát triển nhưng thường xuyên phải đương đầu với các cuộc khủng hoảng nặng nề, với nhiều cơn suy thoái và nạn thất nghiệp Phong trào đấu tranh của GCCN tuy đang đứng trước những thách thức to lớn, nhưng sự phát triển LLSX thế giới vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho GCCN thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình Ở những nước tư bản phát triển, tuy đời sống của một bộ phận không nhỏ trong GCCN đã được cải thiện, họ được "trung lưu hoá", được nắm cổ phần trong các nhà máy, xí nghiệp Song điều đó không có nghĩa là công nhân

ở các nước này không còn bị bóc lột giá trị thặng dư Một số công nhân có cổ phần, cổ phiếu trong công ty nhưng điều đó không hề làm thay đổi một sự thật là toàn bộ tư liệu sản xuất TBCN vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản Do đó GCCN về cơ bản vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư và bị bóc lột nhiều hơn trước Mặt khác, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ ngày nay cũng là một trong những biện pháp "hoàn hảo" và "tinh vi" giúp giai cấp tư sản tiếp tục bóc lột giá trị thặng dư của công nhân Cũng có quan điểm cho rằng thời đại ngày nay là thời đại của nền “văn minh trí tuệ”, của “kinh tế tri thức”, do đó tri thức mới là lực lượng tiên phong, có vai trò lãnh đạo cách mạng Tất nhiên, trí thức có vai trò quan trọng trong mọi thời đại Song trí thức không thể đóng vai trò lãnh đạo thay thế vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp công nhân Bởi lẽ trong xã hội trí thức chỉ là một tầng lớp, họ chưa bao giờ và không bao giờ là một giai cấp Mặt khác, trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với lợi ích của giai cấp tư sản chính vì vậy mà trí thức không

có tinh thần cách mạng triệt để như giai cấp công nhân

Những phân tích trên đã làm rõ những cơ sở khách quan để khẳng định GCCN có sứ mệnh lịch sử là đấu tranh để thủ tiêu chế độ TBCN và từng bước xây dựng thành công xã hội mới - xã hội CSCN với giai đoạn đầu là xã hội XHCN trên phạm vi toàn thế giới Và dù lịch sử thế giới có thay đổi như thế nào, GCCN có những bước chuyển biến ra sao thì sự thực đó là sứ mệnh lịch sử

Trang 4

của GCCN không thay đổi và GCCN sẽ thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình khi thời

cơ đến

III Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

1 Sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam

Cuối thế kỷ XI, đầu thế kỷ XX, nước ta là một nước thuộc địa nữa phong kiến với nền kinh

tế nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu GCCN nước ta không phải là sản phẩm của nền đại công nghiệp

mà do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và là giai cấp có lợi ích trực tiếp đối kháng với tư bản thực dân Pháp Cùng với quá trình phát triển của cách mạng, GCCN nước ta sớm trở thành một bộ phận của GCCN quốc tế Song do điều kiện KTXH và hoàn cảnh ra đời nên GCCN

VN ngoài những đặc điểm chung của GCCN quốc tế, còn mang những đặc điểm riêng Ra đời sau cách mạng tháng mười Nga, GCCN nước ta là giai cấp thuần nhất về tư tưởng, sớm tập trung về lực lượng, sớm giác ngộ cách mạng, tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lenin và tổ chức chính Đảng của mình Hơn nữa GCCN VN được thừa kế truyền thống đấu tranh anh hùng, bất khuất của dân tộc, lại phải chị ba tầng áp bức nặng nề nên họ có tinh thần cách mạng cao Đa số công nhân xuất thân

từ nông dân và các tầng lớp lao động khác nên có mối liên hệ khăng khít, thường xuyên, chặt chẽ với giai cấp nông dân, tầng lớp tri thức cũng như những giai tầng khác trong xã hội Là một bộ phận của GCCN quốc tế nhưng với những đặc điểm vừa phân tích, SMLS của GCCN VN cũng có những nội dung khác so với SMLS của GCCN thế giới nói chung

Trong giai đoạn những năm 30 của thế kỷ XX, ta có thể khẳng định SMLS của GCCN VN

đó là lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của mình là ĐCSVN đánh đuổi bè lũ thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lại độc lập tự do cho dân tộc

Trong giai đoạn hiện nay, khi mà đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc đổi mới trên tất cả các lĩnh vực thì GCCN VN phải “tự mình trở thành dân tộc”, tiêu biểu cho quyền lợi dân tộc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyền lợi giai cấp, giữ vững bản chất cách mạng, bản lĩnh chính trị của mình, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh để phấn đấu

và đặc biệt là trở thành lực lượng đi đầu trong công cuộc CNH-HDH, xây dựng đất nước thời kỳ đổi mới

NQ 20 NQ/TW hội nghị lần thứ sáu BCH TW Đảng khóa X khẳng định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong

là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng

2 Thực trạng giai cấp công nhân Việt Nam

NQ 20 NQ/TW hội nghị lần thứ sáu BCH TW Đảng khóa X, qua hơn 20 năm đổi mới, cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến quan trọng, tăng nhanh về số lượng, đa đạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành ngày càng đông đảo bộ phận công nhân trí thức; đang tiếp tục phát huy vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế; có nhiều cố gắng để phát huy vai trò là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giai cấp công nhân đã đóng góp trực tiếp to lớn vào quá trình phát triển của đất nước, cùng với các giai cấp, tầng lớp và thành phần xã hội khác, giai cấp công nhân nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc của Đảng và Nhà nước

Trang 5

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc làm và đời sống của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện

Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng,

cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản

lý giỏi, công nhân lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa phần công nhân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống Một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường Địa vị chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy

đủ Giai cấp công nhân còn hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế Tỉ lệ đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp Một bộ phận công nhân chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội Nhìn tổng quát, lợi ích một bộ phận công nhân được hưởng chưa tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và nhưng đóng góp của chính mình; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang có nhiều khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận công nhân lao động giản đơn tại các doanh nghiệp của tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Tình hình trên bắt nguồn từ các nguyên nhân: Quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội

đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển của giai cấp công nhân; tuy nhiên những hạn chế, yếu kém trong phát triển kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống và tư tưởng, tình cảm của công nhân Đảng có chú trọng xây dựng giai cấp công nhân; nhưng quan tâm chưa đầy đủ, chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của giai cấp công nhân trong thời kỳ mới Nhà nước ban hành nhiều chính sách, pháp luật xây dựng giai cấp công nhân; nhưng những chính sách, pháp luật này vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập Công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác có nhiều đóng góp tích cực vào việc xây dựng giai cấp công nhân; nhưng hiệu quả chưa cao, còn nhiều yếu kém Bản thân giai cấp công nhân đã có nhiều nỗ lực vươn lên; nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Các doanh nghiệp và người

sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế đóng góp tích cực vào tạo việc làm và thu nhập cho công nhân; nhưng không ít trường hợp còn vi phạm chính sách, pháp luật đối với người lao động

3 Những phương hướng, giải pháp xây dựng GCCN VN

NQ 20 NQ/TW hội nghị lần thứ sáu BCH TW Đảng khóa X, mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân đến năm 2020 là:

Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, có giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị vững vàng; có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tiêu biểu cho tinh hoa văn hoá của dân tộc; nhạy bén và vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và những biến đổi của tình hình trong nước; có tinh thần đoàn kết dân tộc, đoàn kết, hợp tác quốc tế; thực hiện

sứ mệnh lịch sử của giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam Nói chung, trong các doanh nghiệp đều có tổ chức cơ sở đảng, công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam

Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, phát triển nhanh về số lượng, nâng cao chất lượng,

có cơ cấu đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; ngày càng được trí thức hoá: có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao, có khả năng tiếp cận và làm chủ khoa học - công nghệ tiên tiến, hiện đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức; thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và

Trang 6

hội nhập kinh tế quốc tế; có giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng, có tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động cao

Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX ĐCSVN đặc biệt chú trọng phương hướng xây dựng GCCN VN trong quá trình CNH-HĐH đất nước theo định hướng XHCN như sau: “Đối với GCCN, coi trọng việc phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình

độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện “trí thức hóa công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất cao, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong CNH, HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kì mới Bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của GCCN trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường Tăng cường đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lí và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú, tăng cường thành phần công nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành”

Để thực hiện được phương hướng trên, Hội nghị BCHTW lầ thứ sáu khóa X, Đảng đã đưa

ra một số giải pháp sau:

Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hoá giai cấp công nhân Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân

Kết luận: SMLS của GCCN là xóa bỏ CNTB, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải

phóng mình, giải phóng nhân dân lao động và toàn thể nhân loại thoát khỏi sự áp bức bóc lột, xây dựng thành công XH CSCN Là một bộ phận của GCCN thế giới, GCCN VN cũng mang trên mình

sứ mệnh lịch sử ấy nhưng ngoài ra trong giai đoạn hiện nay khi mà Đảng và Nhà nước đang đẩu nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước thì GCCN VN cần: “Coi trọng việc phát triển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, thực hiện “trí thức hóa công nhân”, nâng cao năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất cao, chất lượng và hiệu quả ngày càng cao, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong quá trình CNH-HĐH đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kì mới”

Câu 2: Trình bày tính tất yếu ra đời và các giai đoạn phát triển của hình thái kinh tế cộng sản chủ nghĩa? Nêu sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa

xã hội ở nước ta hiện nay?

1 Khái niệm hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

C.Mác và Ph.Ăngghen đã vận đụng một cách triệt để quan điểm duy vật về lịch sử để nghiên cứu xã hội loài người, từ đó đã xây dựng nên học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, phân tích một cách khoa học sự chuyển biến từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội cao hơn và khẳng định lịch sử xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các hình thái kinh

tế - xã hội phát triển từ thấp đến cao diễn ra như “một quá trình lịch sử - tự nhiên”

Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa là chế độ xã hội phát triển cao nhất, có quan

hệ sản xuất dựa trên sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, thích ứng với lực lượng sản xuất ngày

Trang 7

càng phát triển, tạo thành cơ sở hạ tầng có trình độ cao hơn so với cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản; có kiến trúc thượng tầng tương ứng thực sự là của nhân dân với trình độ xã hội hoá ngày càng cao

2 Xu thế tất yếu ra đời hình thái kinh tế CSCN

Sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử tự nhiên của sự thay thế các hình thái kinh tế xã hội từ thấp đến cao Lịch sử xã hội loài người trải qua các hình thái kinh tế xã hội: cộng xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và tiến tới là cộng sản chủ nghĩa Sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa như một quá trình lịch sử tự nhiên C Mác và Ph Ăng ghen đã luận giải làm rõ sự ra đời của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản là hoàn toàn tất yếu mang tính quy luật

Thứ nhất, đó là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây cũng là tất yếu về kinh tế của sự ra đời của một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, nó sẽ tạo ra sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất

Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một mức nào đó thì quan hệ sản xuất cũ sẽ không còn phù hợp, gây cản trở cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn đó sẽ được giải quyết bằng việc phá vỡ quan hệ sản xuất cũ, hình thành quan hệ sản xuất mới tiến bộ, phù hợp kéo theo

sự thay đổi của phương thức sản xuất nói riêng và của hình thái kinh tế - xã hội nói chung Một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ hơn sẽ ra đời Từ giữa thế kỷ XIX, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, lực lượng sản xuất ngày càng có quy mô lớn, hiện đại, xã hội hóa nhờ hàng loạt phát minh trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật Tuy nhiên, quan hệ sản xuất thống trị vẫn là quan hệ dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã trở thành lực cản lớn đối với lực lượng sản xuất ngày càng phát triển và xã hội hóa rộng lớn Mâu thuẫn cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trước hết từ mâu thuẫn kinh tế này kéo theo hàng loạt mâu thuẫn khác về chính trị, xã hội dẫn đến sự ra đời của một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn hình thái kinh tế xã hội vốn có Đó chính là hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa được C Mác và Ph Angghen đã luận giải

Thứ hai, quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Chính trị là phản ánh của kinh tế, cơ sở hạ tầng là các quan hệ kinh tế do lực lượng sản xuất quy định sẽ tác động đến kiến trúc thượng tầng của xã hội Khi lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thì kiến trúc thượng tầng của xã hội tư bản mà nòng cốt là Nhà nước tư sản cũng phải bị thay thế bằng cách mạng Cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản sẽ diễn ra và tiến trình cách mạng sẽ dẫn đến sự ra đời của chính quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thay thế Nhà nước chỉ đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản, các tập đoàn tư bản

Một quy luật khác cũng tác động dến sự ra đời và phát triền của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa, đó là quy luật cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời và phát triền dựa trên kết quả lao động sáng tạo của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ tri thức và các lực lượng lao động khác Vai trò tham gia với ý thức tự giác, sáng tạo của nhân dân sẽ quyết định những nhân tố quyết định cho sự ra đời, tồn tại

và phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Sự tác động của các quy luật trên cho thấy, hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa ra đời là tất yếu, song đây là quá trình rất lâu dài, gian khó, phức tạp Để hình thái KTXH CSCN trở thành hiện thực trên thế giới đòi hỏi trước hết các ĐCS và đảng công nhân các nước phải luôn kết hợp lý luận với thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển, hoàn thiện lý luận, kết hợp cái phổ biến

và cái đặc thù trong quan niệm về XH XHCN và con đường đi lên CNXH phù hợp với đặc điểm

Trang 8

lịch sử cụ thể của từng quốc gia, dân tộc Xây dựng hình thái KTXH CSCN phải bắt đầu từ xây dựng và hoàn thiện CNXH từ các quốc gia, dân tộc

Hai giai đoạn phát triên của hình thái kinh tế - Xã hội cộng sản chủ nghĩa

Xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triền qua hai giai đoạn cơ bản: C.Mác gọi các giai đoạn đó

là giai đoạn đầu hay giai đoạn thấp và giai đoạn sau hay là giai đoạn cao V.I.Lênin gọi giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội hay xã hội cộng sản chủ nghĩa, giai đoạn cao là chủ nghĩa cộng sản xã hội cộng sản chủ nghĩa

Hai giai đoạn phát triền trong một xã hội thống nhất do đó có điểm giống nhau về bản chất

Sự giống nhau về kinh tế là cùng tồn tại trên cơ sở chế độ công hữu tư liệu sản xuất, sự giống nhau

về chính trị là người lao động làm chủ Sự khác nhau về kinh tế thể hiện tập trung là ở giai đoạn đầu thực hiện “phân phối theo lao động" giai cao “phân phối theo nhu cầu” Sự khác nhau về chính trị là ở giai đoạn đầu còn sự khác giai cấp và còn nhà nước; ở giai đoạn không còn sự khác giai cấp, không còn nhà nước

Hai giai đoạn cùng trong một hình thái kinh tế-xã hội, do đó giống nhau về bản chất, khác nhau ở trình độ phát triển Từ giai đoạn thấp phát triển sang giai đoạn cao chỉ là quá trình chín muồi dần của các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội V.I.Lênin viết: “sự khác nhau về mặt khoa học giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản chỉ là ở chỗ: danh từ trên thì chỉ giai đoạn đầu của xã hội mới, lọt lòng từ chủ nghĩa tư bản; còn danh từ dưới thì chỉ giai đoạn sau đó, giai đoạn cao hơn của xã hội đó”

V.I.Lênin còn chi rõ: “Nhưng, về mặt khoa học, thì sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thật là rõ ràng Cái mà người ta thường gọi là chủ nghĩa xã hội, thì Mác gọi là giai đoạn “đầu” hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa” Đồng thời V.I.Lênin chi rõ sự giống nhau giữa hai giai đoạn để chúng ta có thể gọi giai đoạn đầu là xã hội cộng sản chủ nghĩa ở lĩnh vực kinh tế là chế độ công hữu

Cơ sở phân chia xa hội cộng sản chủ nghĩa thành hai giai đoạn là lý luận về sự tiến hóa Theo C.Mác, mỗi sự vật đều có quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện, sự phát triển của xã hội cộng sản chủ nghĩa cũng không nằm ngoài quy luật tiến hóa ấy C.Mác còn chỉ rõ giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa, tức là xã hội xã hội chủ nghĩa, là giai đoạn xã hội vừa mới lọt lòng, thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa sau những cơn đau đẻ kéo dài

XH XHCN thì có 5 đặc trưng cơ bản:

• Đặc trưng về chính trị: Giải phóng con người khỏi áp bức chính trị Xây dựng chế

độ dân chủ XHCN mà thực chất là xây dựng nhà nước mà tất cả quyền hành thuộc

• Đặc trưng về văn hóa: Xóa bỏ hệ tư tưởng/nền văn hóa cũ, làm cho chủ nghĩa lenin trở thành nền tảng tinh thần CNXH

Mác-• Đặc trưng đối ngoại: Quan hệ hợp tác, hòa bình, bình đẳng với tất cả các nước

Trang 9

Như vậy XH XHCN là một xã hội triệt để giải phóng con người, con người hoàn toàn tự

do Con người làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ chính bản thân mình Chế độ này sớm muộn gì cũng trở thành hiện thực vì nó đáp ứng được mong muốn của toàn nhân loại

Sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay

Sau khi giành được chính quyền năm 1945, xã hội VN về cơ bản là xã hội phong kiến, khi

đó sứ mệnh xóa bỏ giai cấp phong kiến thuộc về giai cấp tư sản Tuy nhiên giai cấp tư sản nước ta thời kỳ đó còn yếu, vì vậy Đảng và Bác Hồ đã quyết định xây dựng CNXH ở VN mà bỏ qua chế

độ TBCN Điều này cũng phù hợp quy luật khách quan, vì không nhất thiết các nước phải đi tuần

tự qua hết các PTSX để tiến lên CNCS mà giai đoạn đầu của nó là CNXH, họ có thể bỏ qua một hoặc một số bước Điều này đã diễn ra ở một số nước như Mỹ, Trung Quốc, Cu Ba…Điều kiện để một PTSX bị bỏ qua là khi nó đã bị lỗi thời Ví dụ đối với VN, CNTB khi ấy đã lỗi thời vì nó bị phủ định bởi cách mạng tháng 10 Nga, cho nên chúng ta đã quyết định bỏ qua hình thái TBCN Điều kiện thứ hai để chúng ta có thể bỏ qua CNTB là vì chúng ta có LLSX mới, đó là giai cấp công nhân và có chính đảng của giai cấp công nhân Điều kiện thứ ba là chúng ta có được sự ủng

hộ của các nước XHCN anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới

Năm đặc điểm về con đường đi lên CNXH ở nước ta đó là độc lập dân tộc kết hợp CNXH; Đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước gắn phới phát triển nền kinh tế tri thức định hướng XHCN; Không thể nóng vội, chủ quan duy ý chí, làm việc cần phải có lộ trình; Đi lên CNXH cần phải qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn; và tiếp tục đổi mới phát triển đất nước theo định hướng XHCN

Tại Đại hội XII, Đảng ta khẳng định tiếp tục kiên định con đường đi lên CNXH ở VN

“Con đường đi lên CNXH ở nước ta là phù hợp với thực tiễn của VN và xu thế phát triển của lịch sử” Phát triển theo định hướng XHCN là một sự lựa chọn hợp quy luật và là xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại

Theo cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta đã xác định 8 đặc trưng của xã hội XHCN ở nước ta: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: (1) Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; (2) do nhân dân làm chủ; (3) có nền kinh tế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và quan hệ sản xuất (QHSX) tiến bộ phù hợp; (4) có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; (5) con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; (6) các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; (7) có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; (8) có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”

Đồng thời Đại hội XII Đảng ta tiếpp tục khẳng định 8 phương hướng cơ bản nhằm thực hiện thành công các mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta bao gồm: (1) Đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường; (2) Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (3) Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; (4) bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; (5) Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; (6) Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; (7) Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; (8) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững

và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn Đại hội XII, Đảng đã chỉ ra 9 mối quan hệ lớn cần phải tiếp

Trang 10

tục quán triệt và xử lý tốt: (1) Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; (2) Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (3) Quan hệ giữa kinh tế thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; (4) Quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; (5) Quan hệ giữa nhà nước và thị trường; (6) Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; (7) Quan hệ giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; (8) Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (9) Quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

Câu 3: Nêu bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa? Liên hệ quá trình dân chủ hoá ở nước ta hiện nay?

1 Khái niệm dân chủ

Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là chủ thể của quyền lực

Theo quan niệm của Lênin: Dân chủ là sự thống trị của đa số thì có thể hiểu dân chủ được nhìn nhận như một quyền lực mà tất cả quyền lực thuộc về đa số người dân chứ không phải của một nhóm người, quyền lực này được nhân dân giao cho nhà nước của mình, là người đại diện cho mình Dân chủ được nhìn nhận như là một hình thức tổ chức nhà nước, trong đó thừa nhận sự tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước để thực hiện sự thống trị đối với thiểu số những kẻ vi phạm dân chủ của nhân dân Mức độ, phạm vi tham gia thật sự của quần chúng nhân dân vào công việc quản lý nhà nước phản ánh trình độ phát triển của nền dân chủ, phản ánh những vấn đề cốt lỗi nhất của dân chủ

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản, nội dung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: "Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước" Sự khẳng định trên đây đã chỉ rõ: Nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, vì vậy, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là vấn đề quan trọng xuyên suốt trong quá trình cách mạng của nước ta

Trong lịch sử phát triển với tư cách là một nhà nước một chế độ chính trị thì có ba nền dân chủ đó là: nền dân chủ chủ nô, gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ; nền dân chủ tư sản, gắn với chế

độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, gắn với chế độ xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên muốn biết một nhà nước dân chủ có thực sự dân chủ hay không phải xem xét nhà nước ấy dân là

ai và bản chất của chế độ xã hội ấy như thế nào Như vậy thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện khi trước

đó đã tồn tại ba yếu tố: nhân dân, quyền lực công cộng và mối quan hệ giữa chúng Thực ra các yếu tố cấu thành nội dung của khái niệm dân chủ đã tồn tại suốt chiều dài lịch sử (trừ chế độ nguyên thuỷ), nhưng bản chất của dân chủ không nằm trong các yếu tố đó mà nằm trong mối quan

hệ xác định giữa chúng: quan hệ sở hữu và chi phối quyền lực công cộng từ phía nhân dân

Ngoài các nghĩa trên dân chủ còn được hiểu là một nguyên tắc tổ chức, phương thức sinh hoạt của một tổ chức chính trị- xã hội, một cộng đồng dân cư, theo nguyên tắc thiểu số phục tùng

đa số

Khi xã hội phân chia thành giai cấp và có nhà nước thì không có dân chủ chung chung, dân chủ phi giai cấp, siêu giai cấp, dân chủ thuần tuý Trái lại, dân chủ mang bản chất giai cấp thống trị xã hội Dân chủ còn là một phạm trù chính trị vì nó thể hiện bản chất của chế độ chính trị, của giai cấp thống trị mà ở đó nó tồn tại, phản ánh bản chất và lợi ích của giai cấp thống trị

Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu ra những quan niệm cơ bản về dân chủ như sau: Thứ nhất, dân chủ là sản phẩm tiến hóa của lịch sử, là nhu cầu khách quan của con người Với tư cách là quyền lực của nhân dân, dân chủ là sự phản ánh những giá trị nhân văn, là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của nhân dân chống lại áp bức, bóc lột, bất công Thứ hai, dân chủ với tư cách là một

Trang 11

phạm trù chính trị gắn với một kiểu nhà nước và một giai cấp cầm quyền thì sẽ không có "dân chủ phi giai cấp”, "dân chủ chung chung" Trong xã hội có giai cấp, việc thực hiện dân chủ cho những tập đoàn người này là đã loại trừ hay hạn chế dân chủ của tập đoàn người khác Mỗi chế độ dân chủ gắn với nhà nước đều mang bản chất của giai cấp thống trị Thứ ba, dân chủ còn được hiểu với tư cách là một hệ giá trị phản ánh trình độ phát triển cá nhân và cộng đồng xã hội trong quá trình giải phóng xã hội, chống áp bức, bóc lột và nô dịch để tiến tới tự do, bình đẳng Theo V.I.Lênin, dân chủ là bình đẳng Rõ ràng là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản để giành quyền bình đẳng có một ý nghĩa rất lớn, nghĩa là phải hiểu bình đẳng cho đúng, hiểu theo nghĩa xóa bỏ giai cấp Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, quyền lực của nhân dân được thể chế hóa bằng chế

độ nhà nước, pháp luật và cũng từ khi xã hội có giai cấp, dân chủ được thực hiện dưới hình thức mới - hình thức nhà nước với tên gọi là "chính thể dân chủ" hay "nền dân chủ"

Nền dân chủ hay chế độ dân chủ là hình thái dân chủ gắn với bản chất, tính chất của nhà nước; là trạng thái được xác định trong những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội có giai cấp Nền dân chủ do giai cấp thống trị đặt ra được thể chế hóa bằng pháp luật V.I.Lênin cho rằng: "Chế độ dân chủ là một hình thức nhà nước, một trong những hình thái của nhà nước Cho nên, cũng như mọi nhà nước, chế độ dân chủ là việc thi hành có tổ chức, có hệ thống sự cưỡng bức đối với người ta"1 Do đó, nền dân chủ luôn gắn với nhà nước như là cơ chế để thực thi dân chủ và mang bản chất giai cấp của giai cấp thống trị

Các nhà nước dân chủ đều có điểm chung đó là thừa nhận quyền thuộc về nhân dân, đó là quyền bầu ra nhà nước, quyền giám sát nhà nước và quyền được bãi nhiệm những người được bầu

mà không đạt yêu cầu

2 Những đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Phân tích thực tiễn quá trình xuất hiện, tồn tại và phát triển của các nền dân chủ trong lịch

sử, đặc biệt là những quy luật của nền dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: đấu tranh cho dân chủ là một quá trình lâu dài và không thể dừng lại ở dân chủ tư sản Sự tất yếu diễn ra và thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa cùng là

sự tất yếu ra đời của một nên dân chủ mới - dân chủ xã hội chủ nghĩa Quá trình đó gắn liền với quá trình ra đời của chủ nghĩa xã hội

Sự hình thành dân chủ xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước phát triển mới về chất của dân chủ Lần đầu tiên trong lịch sử, đã hình thành chế độ dân chủ cho tuyệt đại đa số nhân dân

Tuy nhiên, sự hình thành và phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình lâu dài Cách mạng xã hội chủ nghĩa tạo ra những điều kiện cần thiết để giải phóng quần chúng nhân dân lao động, để mở rộng dân chủ và trên cơ sở đó cách mạng xã hội chủ nghĩa cũng lôi cuốn nhân dân lao động vào công cuộc cải tạo xã hội, xây dựng nền dân chủ mới

Chính vì vậy, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa và dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ được hình thành, phát triển dần dần, từng bước phù hợp với quá trình phát triển của kinh tế, chính trị và văn hóa, xã hội

Trong quá trình hình thành và phát triển, dân chủ xã hội chủ nghĩa có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Một là, với tư cách là chế độ nhà nước được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm mọi quyền lực đều thuộc

về nhân dân Nhà nước xã hội chủ nghĩa là thiết chế chủ yếu thực thi dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó Nhà nước bảo đảm thỏa mãn ngày càng cao các nhu cầu và lợi ích của nhân dân, trong đó có lợi ích của giai cấp công nhân Đây chính là đặc trưng bản chất chính trị của dân chủ xã hội chủ nghĩa Điều đó cho thấy, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc

Trang 12

Hai là, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội Chế độ sở hữu đó phù hợp với quá trình xã hội hóa ngày càng cao của sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu không ngừng tăng lên về vật chất và tinh thần của tất cả quần chúng nhân dân lao động Đây là đặc trưng kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Đặc trưng này được hình thành và bộc lộ ngày càng đầy đủ cùng với quá trình hình thành và hoàn thiện của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Đó là quá trình cải tạo và xây dựng lâu dài kể từ khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cho đến khi chủ nghĩa xã hội thực sự trưởng thành

Ba là, trên cơ sở của sự kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích của toàn

xã hội (do nhà nước của giai cấp công nhân đại diện), nền dân chủ xã hội chủ nghĩa có sức động viên, thu hút mọi tiềm năng sáng tạo, tính tích cực xã hội của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng

xã hội mới Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tất cả các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể

và mọi công dân đều được tham gia vào công việc của nhà nước (bằng thảo luận, góp ý kiến xây dựng chính sách, hiến pháp, pháp luật ) Mọi công nhân đều được bầu cử, ứng cử và đề cử vào các cơ quan nhà nước các cấp

Bốn là, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cần có và phải có những điều kiện tồn tại với tư cách

là một nền dân chủ rộng rãi nhất trong lịch sử nhưng vẫn là nền dân chủ mang tính giai cấp Thực hiện dân chủ rộng rãi với đông đảo quần chúng nhân dân, đồng thời hạn chế dân chủ và thực hiện trấn áp thiểu số những thế lực phản động chống phá chủ nghĩa xã hội Trong nền dân chủ đó, chuyên chính và dân chủ là hai mặt, hai yếu tố quy định lẫn nhau, tác động, bổ sung cho nhau Đây chính là chuyên chính kiểu mới và dân chủ theo lối mới trong lịch sử

Năm là, nếu dân chủ xã hội chủ nghĩa không ngừng được mở rộng cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội; hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế hoạt động và trình độ dân trí

3 Bản chất của dân chủ XHCN

a) Bản chất chính trị

Dưới sự lãnh đạo duy nhất của một đảng của giai cấp công nhân mà trên mọi lĩnh vực xã hội đều thực hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện qua các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người, thoả mãn ngày càng cao hơn các nhu cầu và các lợi ích của nhân dân Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ rõ: Bản chất chính trị của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua đảng của nó đối với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ để thực hiện quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, mà chủ yếu là để thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thì bao nhiêu quyền lực đều là của dân, bao nhiêu sức mạnh đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân… Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước xã hội chủ nghĩa…

do đó về thực chất là của nhân dân, do nhân dân vì nhân dân Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khác với các cuộc cách mạng trước đây là ở chỗ nó là cuộc cách mạng của số đông, vì lợi ích của

số đông nhân dân V.I Lênin còn nhấn mạnh rằng: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ mà nhân dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc nhà nước Với ý nghĩa đó, V.I Lênin đã diễn đạt một cách khái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa rằng: đó là nền dân chủ “gấp triệu lần dân chủ tư sản” Do vậy, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi và tính dân tộc sâu sắc

b) Bản chất kinh tế

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học – công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động

Trang 13

Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ… của nhà nước xã hội chủ nghĩa

Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dù khác về bản chất kinh tế của các chế

độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công, nhưng cũng như toàn bộ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nó là

sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kìm hãm… của các chế độ kinh tế trước đó, nhất là bản chất tư hữu, áp bức bóc lột, bất công… đối với đa số nhân dân

c) Bản chất tư tưởng – văn hoá

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác-Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới (như văn học nghệ thuật, giáo dục, đạo đức, lối sống, văn hoá, xã hội, tôn giáo …) Đồng thời, dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng – văn hoá, văn minh, tiến bộ xã hội… mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc…

Do đó, đời sống tư tưởng – văn hoá của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

3 Liên hệ quá trình dân chủ hoá ở nước ta hiện nay?

Qua các kỳ đại hội, Đảng ta đều nhấn mạnh việc củng cố và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới nhiều hình thức dân chủ khác nhau Để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhiều phương hướng, giải pháp đã được Nghị quyết Đại hội XII đưa ra nhằm thúc đẩy việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách toàn diện

Quan điểm về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục tiêu cao cả mà Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới,

quyết tâm biến nó thành hiện thực Đại hội XI của Đảng đã khẳng định mục tiêu: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ ” Trong đó có hai điểm mới quan trọng được bổ sung và phát triển

so với Nghị quyết Đại hội X của Đảng: Một là, đưa cụm từ dân chủ lên trước cụm từ công bằng, văn minh Điều đó cho thấy Đảng ta đã xác định rõ vị trí của dân chủ và thực hành dân chủ trong quá trình phát triển xã hội Để có xã hội dân giàu, nước mạnh, trước hết phải bảo đảm trong xã hội

có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và phải thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách thực chất,

vì đó là điều kiện tiên quyết, là cơ sở thiết yếu để xây dựng xã hội công bằng, văn minh Hai là, khẳng định đặc trưng quan trọng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là xã hội do nhân dân làm chủ, thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội ở Việt Nam hiện nay

Trong văn kiện Đại hội XII, sự nhấn mạnh vai trò, ý nghĩa của việc phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được thể hiện ở chỗ, Đảng ta bổ sung thêm cụm từ “dân chủ xã hội chủ nghĩa” vào tiêu đề Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội XII của Đảng

Dân chủ xã hội chủ nghĩa còn là động lực của sự phát triển đất nước, là nhân tố thúc đẩy phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; bởi lẽ, khi nhân dân đã nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc thực hành dân chủ và thực sự phát huy quyền dân chủ thì đó sẽ là nguồn sức mạnh

to lớn cho sự phát triển đất nước Mở rộng dân chủ là một trong những quan điểm phát triển được Đảng ta nêu trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020(1); còn trong Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng,

Ngày đăng: 22/11/2018, 22:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w