- Nghiên cứu sự phân bố của các hệ sinh thái đất ngập nước nội địa.. Có 3 hệ thống phụ trong hệ thống đất ngập nước ngọt là: * Đất ngập nước thuộc sông Hệ thống sông là hệ thống nhất quá
Trang 1Mục lục
Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 2
2.1 Nội dung nghiên cứu 2
2.2 Phương pháp nghiên cứu 2
2.3 Phương tiện nghiên cứu 2
Chương 3: NỘI DUNG THỰC HIỆN 3
3.1 Tổng quan trong và ngoài nước 3
3.1.1 Định nghĩa Đất ngập nước 3
3.1.2 Định nghĩa đất ngập nước nội địa (đất ngập nước ngọt) 3
3.2 Phân bố đất ngập nước nội địa tại Việt Nam 4
3.2.1 Phân bố theo tự nhiên 4
3.2.1.1 Phân bố theo hệ thống đầm 4
3.2.1.2 Phân bố theo hệ thống hồ 5
3.2.1.3 Phân bố theo hệ thống sông 6
3.2.1.4 Phân bố theo hệ thống suối 10
3.2.1.5 Phân bố theo hệ thống ao 10
3.2.2 Sự phân bố đất ngập nước nội địa Việt Nam theo khu vực 10
3.2.2.1 Khu vực cửa sông Đồng bằng sông Hồng 11
3.2.2.2 Khu vực miền trung 11
3.2.2.3 Đất ngập nước nội địa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long 11
3.3 Thực trạng sử dụng, phân loại, vai trò, tính đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước nội địa 12
3.3.1 Thực trạng sử dụng đất ngập nước nội địa 12
3.3.2 Phân loại đất ngập nước nội địa 12
3.3.3 Vai trò của hệ sinh thái đất ngập nước 17
3.3.4 Tính đa dạng sinh học của vùng đất ngập nước. 18
3.3.4.1 Hệ sinh thái rừng tràm 19
3.3.4.2 Hệ sinh thái đầm lầy 21
3.3.4.3 Hệ sinh thái động vật 22
Chương 4: KẾT LUẬN 24
Tài liệu tham khảo 25
Trang 2Chương 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Các hệ sinh thái - đất ngập nước trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêngkhông những có vai trò cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, mà còn cóchức năng vô cùng quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học,vui chơi giải trí phục vụ đời sống xã hội hiện tại và tương lai Các hệ sinh thái đất ngậpnước của Việt Nam cũng là nơi tích lũy đa dạng sinh học cao có tiềm năng lớn để sảnxuất và cung cấp các nguồn năng lượng xanh, sạch, lương thực, thực phẩm, thuốc chữabệnh Đồng thời, sự phong phú của các loài động vật, thực vật còn có vai trò rất quantrọng về tinh thần và văn hóa truyền thống của dân tộc, đặc biệt đối với cộng đồng cócuộc sống dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu Đa dạng sinh học ở vùng biển và vùngđất ngập nước nội địa không chỉ là vấn đề cốt lõi trong sinh kế hướng tới sự thịnhvượng, mà còn được xem như là vật chỉ thị cho chất lượng môi trường nước, chấtlượng rừng, chất lượng ổ sinh thái bị biến đổi trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay
Theo bảng phân loại đất ngập nước của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế(IUCN - 1990), đất ngập nước Việt nam có thể chia làm 03 hệ lớn: Đất ngập nước ven
biển, Đất ngập nước nội địa, Đất ngập nước nhân tạo Với việc thực hiện đề tài Đất ngập nước nội địa nhằm để tìm hiểu tình hình phân bố và đánh giá thực trạng sử
dụng, phân loại, vai trò, tính đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước nội địa
Trang 3Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Nghiêncứu đánh giá thực trạng, vau trò và tínhđadạng sinh học của vùng đất ngập nước nộiđịa
- Nghiên cứu sự phân bố của các hệ sinh thái đất ngập nước nội địa
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp từ các báo cáo, các nghiên cứu khoa học đã được công bố của các tác giả trước đây
2.3 Phương tiện nghiên cứu
- Giáo trình sinh thái đất ngập nước
- Các bài báo có liên quan đến đề tài
Trang 4Theo công ước RAMSAR (Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan
trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước - Convention onwetland of intrenational importance, especially as waterfowl habitat) có tầm khái quát
và bao hàm nhất “Đất ngập nước là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tựnhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy,nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng nước ven biển có độ sâu không quá6m khi thuỷ triều thấp đều là các vùng đất ngập nước” (Điều 1.1 Công ước Ramsar,1971)
3.1.2 Định nghĩa đất ngập nước nội địa (đất ngập nước ngọt)
Là loại hình đất ngập nước đa dạng, bao gồm những loại đất ngập nước khôngnhận nước từ biển mặc dầu chúng có thể nằm ven biển Trong hệ thống này có nhữngcánh đồng trồng cây nông nghiệp đã được ngọt hóa bằng hệ thống đê ngăn mặn Cácvùng đồng bằng ngập nước định kỳ hay ngập nước theo mùa, nguồn nước từ các sônghoặc hồ chứa, các vùng đầm lầy, hồ tự nhiên hoặc nhân tạo, các đồng cỏ hoặc rừngđầm lầy ngập nước định kỳ hoặc theo mùa, các đồng ruộng trồng cây công nghiệphoặc nuôi trồng thủy sản có thời gian ngập nước ít nhất 6 tháng trên một năm ở đồngbằng, trung du hoặc vùng núi Các kênh rạch, sông, suối có nước chảy thường xuyên ítnhất là 6 tháng trên một năm Các dòng chảy ngầm trong các địa hình cax-tơ
Có 3 hệ thống phụ trong hệ thống đất ngập nước ngọt là:
* Đất ngập nước thuộc sông
Hệ thống sông là hệ thống nhất quán của nhiều dòng sông, có chung một thủy hệ,cùng chung một dòng thoát nước đổ vào hồ lớn hoặc đổ ra biển, đất ngập nước ngọtthuộc sông bao gồm các dòng sông, suối kênh rạch nước ngọt và những vùng đồngbằng ngập lũ ven sông có chế độ thủy văn chụi ảnh hưởng của sông Đồng bằng ngập
lũ là vùng đất bằng phẳng tiếp giáp với sông và thường xuyên bị ngập lũ và thường tậptrung nhiều nhất ở vùng hạ lưu các con sông ở nhiều nơi vùng đồng bằng ngập lũthường gắn với vùng đất thấp ven biển và thường kết thúc ở các cửa sông và châu thổ
* Đất ngập nước ngọt thuộc hồ
Hồ là những mặt nước cố định chiếm giữ những khu vực rộng lớn hoặc nhữngvùng trũng diện tích nhỏ góp phần làm phong phú thêm các loại hình đất ngập nước
Trang 5Những mặt nước này bao gồm từ những loại như hồ có quy mô lớn thường có mựcnước sâu và nhiệt độ thay đổi tùy thuộc vào độ sâu, cho đến những ao nhỏ thường lànông và nước có cùng nhiệt độ Chúng có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo Đất ngậpnước hình thành ở những rìa nông của hồ, ao tùy vào hướng độ dốc và độ sâu củanước
* Đất ngập nước ngọt thuộc về đầm
Đầm lầy nước ngọt thường xuất hiện ở những vùng nước cạn dọc bờ hồ, sôngđặc biệt là những phần sông cụt chẳng hạn như những hồ hình thành từ những nhánhsông chết Những vùng trũng sâu ở đồng bằng ngập lũ là những điều kiện hình thànhđầm lầy nước ngọt thường là phải qua 1 quá trình diễn thế sinh thái Đầm lầy tồn tạinhờ vào nước nguồn hơn là nước mưa Các hoạt động của con người như đắp đê baogiữ nước đóng vai trờ quyết định cho sự tồn tại của đầm
3.2 Phân bố đất ngập nước nội địa tại Việt Nam
3.2.1 Phân bố theo tự nhiên
Theo Lê Tấn Lợi, 2016 Diện tích đất ngập nước của nước ta khoảng 10 triệu hachiếm 1/3 tổng diện tích cả nước, được phân bố ở vùng châu thổ sông Hồng (1,29 triệuha), sông Cửu Long (3,9 triệu ha), và các hệ sinh thái đầm phá, bãi bùn, vùng cửa sông
và vùng ngập mặn dọc theo bờ biển từ Móng Cái đến Hà Tiên
Hiện nay có khoảng 68 khu đất ngập nước nội địa và ven biển, phần lớn hệ sinhthái đất ngập nước Việt Nam phong phú và đa dạng về kiểu loại, phân bố rộng khắp bamiền và chứa đựng nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với tính đa dạngsinh học cao
3.2.1.1 Phân bố theo hệ thống đầm
Theo Bộ tài nguyên và môi trường, 2005 Hệ thống đầm nước ngọt Việt Nambao gồm Đầm lầy và đầm than bùn
a) Đầm lầy
Do đặc tính tự nhiên, thủy vực đầm lầy thường có nhiệt độ cao hơn, hàm lượng
ô xy hoà tan thấp hơn so với các thuỷ vực khác Nhìn chung, đầm lầy là nơi có năngxuất sinh học cao Trong hệ sinh thái đầm lầy, quần xã thực vật ở nước phát triển là cơ
sở để động vật không xương sống đáy phát triển phong phú Hầu hết các loài cá trong
hệ sinh thái kiểu đầm lầy là các nhóm phát triển hệ thở không khí khí quyển như cácnhóm cá đen da trơn: cá trê Đồng Tháp Mười là vùng đất ngập nước đặc trưng của hạlưu sông Mê Kông đồng thời còn là vùng đất ngập nước theo mùa lớn nhất Việt Namhiện nay
b) Đầm lầy than bùn (peat swarmps)
Trang 6Đầm lầy than bùn là đặc trưng cho vùng Đông Nam Á Hệ thực vật vùng đầmlầy than bùn rất đơn điệu Các kết quả nghiên cứu ít ỏi cho thấy thành phần loài cá hệsinh thái đầm lầy than bùn kém phong phú U minh thượng và U minh hạ thuộc cáctỉnh Cà Mau và Kiên Giang là hai vùng đầm lầy than bùn tiêu biểu của đồng bằng sôngCửu Long của Việt Nam Độ pH đầm lầy than bùn nghiêng a xít 3,3-6 (Whitten et al.,1987a, Ng et al., 1992, 1994) Màu nước đầm lầy than bùn thường sẫm hoặc đen Hàmlượng can xi và ô xy hoà tan thấp Hệ thực vật vùng đầm lầy than bùn rất đơn điệu.Các kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần loài cá hệ sinh thái đầm lầy than bùn kémphong phú Nhiều loài cá chỉ tìm thấy trong đầm lầy than bùn, một số loài cá kíchthước nhỏ giống con giun (Kottelat và Lim, 1994), và cá đen da trơn như cá trê (Lim,1993)
Thuỷ vực ngầm trong hang động: Thường có ở các vùng núi kác tơ Các cơ thểsống trong hệ sinh thái này thường suy giảm hệ thị giác, sắc tố, cơ quan cảm giác Hầuhết các động vật thuỷ sinh đều phân bố hẹp trong động hoặc chỉ một hệ thống động
- Hồ Ba Bể ở Bắc Kạn là hồ vùng núi với diện tích khoảng 450 ha.
Hình 3.1: Hồ Ba Bể
- Đầm Vạc ở Vĩnh Phúc với diện tích khoảng 250 ha.
Trang 7- Hà Nội, có trên 10 hồ tự nhiên với diện tích mỗi hồ trên dưới 20 ha Trong
đó, đáng kể có hồ Tây với diện tích mặt nước hơn 540 ha
- Tại vùng cao nguyên Trung Bộ, có một số hồ tự nhiên vùng núi như Biển Hồ(tỉnh Gia lai) với diện tích khoảng 600 ha, hồ Lắc (Đắc Lắc) với diện tích khoảng 500
ha
- Vùng cao nguyên Đà Lạt có một số hồ với diện tích xấp xỉ 1.000 ha, trong đó
có hồ Đơn Dương 1.000ha, hồ Đan Kia với diện tích 200 ha và nhiều hồ nhỏ khác
3.2.1.3 Phân bố theo hệ thống sông
Theo Lê Tấn Lợi, 2016 Hệ thống các sông ngòi của Việt Nam rất phong phúvới các vùng thượng lưu, hạ lưu và các phụ lưu sông Hệ thống sông ngòi chằng chịttạo cho Việt Nam một hệ sinh thái đất ngập nước phong phú và đa dạng, có thể kể đéncác con sông lớn như:
a) Hệ thống sông Mê Kông
Sông Mê Kông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới Tính theo
độ dài Sông Mê Kông đứng thứ 12 (thứ 7 tại châu Á), còn tính theo lưu lượng nướcSông Mê Kông đứng thứ 10 trên thế giới (lưu lượng hàng năm đạt khoảng 475 tỷ m³).Lưu lượng trung bình 13.200 m³/s, vào mùa nước lũ có thể lên tới 30.000 m³/s Lưuvực của nó rộng khoảng 795.000 km² Từ Tây Tạng nó chảy qua tỉnh VânNam (TrungQuốc), Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam
Sông Cửu Long là tên gọi chung của phân lưu sông Mê Kông khi chảy vàolãnh thổ Việt Nam Có hai nhánh (phân từ Phnom Penh) là Bassac (nhánh phải) sangViệt Nam gọi là sông Hậu hay Hậu Giang chảy qua Châu Đốc - Long Xuyên - CầnThơ - Sóc Trăng ra biển Đông bằng 3 cửa Định An, Trần Đề và Ba Thắc (đã bị bồilắp) Sông Mê Kông (nhánh trái) sang việt Nam gọi là sông Tiền hay Tiền Giang chảyqua Tân Châu - Hồng Ngự - Cao Lãnh - Cai Lậy chia thành 4 sông đổ ra biển ở 6 cửa(Mỹ Tho ra Cửa Đại và Cửa Tiểu, Hàm luông ra cửa Hàm Luông, Cổ Chiên ra cửa CổChiên và Cung Hầu, Ba Lai ra cửa Ba Lai) Cả hai nhánh sông này đều chảy vào địaphận vùng Châu Thổ Nam Bộ có chiều dài mỗi sông khoảng 220 -250 km
Trang 8lũ của dòng chính để gây nên những trận lũ lớn ở đồng bằng bắc bộ.
- Sông Hồng có tổng chiều dài là 1.149 km, bắt nguồn từ dãy núi Hoành Đoạn,Nguy Sơn, Đại Lý, Vân Nam, Trung Quốc chảy vào Việt Nam qua các tỉnh Lào Cai,Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam, Thái Bình, Nam Định và
đổ ra biển Đông tại cửa Ba Lạt giữa hai tỉnh Nam Định và Thái Bình Đoạn chảy trênđất Việt Nam dài 510 km tính từ ngã 3 Nậm Thi đến cửa Ba Lạt Phần lưu vực trênlãnh thổ Việt Nam vào khoảng 87.840 km2 bao gồm sông Hồng và sông Thái Bình
- Các phân lưu chính của Sông Hồng có:
+ Phân lưu phía tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội đến Phả Lại thuộc HảiDương và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến Quý Cao (huyện Vĩnh Bảo, thành phố HảiPhòng) Hai sông này nối sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình
+ Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hayNinh Cơ), xuôi về hạ lưu lai có hai sông nối sông Hồng và sông Đáy là sông Phủ Lý
và sông Nam Định
Trang 9là nhánh phụ, chảy qua 14 thác nguy hiểm và vượt qua phà Tuần để tới ngã ba BằngLãng nơi dòng này gặp nhau và tạo nên sông Hương
Trang 10phía Bắc của tỉnh, hội lưu với sông Chu rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Hới nằm giữahuyện Hoàng Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng hai cửa phụ là Lạch Trường và cửa Lèn Lưu vực của sông Mã rộng 28.400 km², phần ở Việt Nam rộng 17.600 km², caotrung bình 762 m, độ dốc trung bình 17,6%, mật độ sông suối toàn lưu vực 0,66km/km² Lưu lượng nước trung bình năm 52,6 m³/giây
Các phụ lưu lớn của sông Mã là sông Chu, sông Bưởi, sông Cầu Chày đều hợp lưuvới sông Mã trên địa phận Thanh Hóa Ngoài ra còn có các phụ lưu nhỏ như sôngLũng, sông Sơn Trà, sông Nậm Soi
Sông Mã chủ yếu chảy giữa vùng rừng núi và trung du Phù sa sông Mã là nguồnchủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt Nam
Hình 3.5: Hệ thống sông Mã
f) Sông Cả
Sông Cả hay còn gọi là sông Lam, sông bắt nguồn từ Nậm Căn ở Lào, phần chínhcủa sông chảy qua địa phận các tỉnh Nghệ An, hà Tĩnh, có tổng chiều dài 531 km, phầnchảy ở Việt Nam là 361 km với diện tích lưu vực chiếm 27.200 km2 trong đó phần trênđất Việt nam là 17.730 km2
g) Sông Đồng Nai
Là con sông lớn thứ nhì ở Nam Bộ với chiều dài trên 437 km và lưu vực có diệntích 38.600 km2 Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên tỉnh Lâm Đồng chảy qua các tỉnhĐăk Nông, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương và khu vực thành phố Hồ Chí Minh
và đổ ra biển Đông tại khu vực huyện Cần Giờ, các phụ lưu chính gồm có sông ĐaNhim, Sông Bé, La Ngà, Sài Gòn, Vàm Cỏ và các phụ lưu bao gồm sông Long Tàu,Đồng Tranh, Thị Vải, Soài Rạp
Trang 11Hình 3.6: Hệ thống sông Đồng Nai 3.2.1.4 Phân bố theo hệ thống suối
Theo Bộ tài nguyên và môi trường, 2005 Suối có thể coi là sông cấp 1, một sốsuối lớn là sông cấp 2 Loại hình thuỷ vực này chỉ phân bố ở cảnh quan địa hình đồinúi, đầu nguồn các sông lớn Địa hình của suối thường tương đối đồng nhất, có thểchia thành ba vùng:
- Vùng đầu nguồn: Ở trên sườn núi, độ dốc lớn đổ xuống tạo thành thác Nềnđáy là đá tảng lớn;
- Vùng giữa nguồn: chảy qua làng bản dân cư, đồng ruộng, địa hình bằng phẳnghơn, lòng rộng hơn, độ sâu 0,5-1 m Nền đáy đá hòn ở giữa lòng suối, một số vùng ven
bờ có đáy cát-bùn lẫn sỏi, ở các vực sâu có đáy bùn Tốc độ dòng chảy chậm hơn, độtrong lớn nhìn thấy đáy;
- Vùng cuối nguồn: nơi suối gia nhập sông, có thể tạo thành vịnh nhỏ hay bãi đárộng
Đặc tính quan trọng nhất của suối là mực nước biến đổi thất thường Mùa mưa
lũ, nước dâng cao, đôi khi đột ngột tạo thành dòng lũ lớn, nước đục ngầu, chảy xiết, cóthể cuốn trôi cả những tảng đá ở lòng suối về hạ nguồn và đôi khi làm thay đổi dòngsau trận lũ, lòng suối trải rộng Sau lũ, mực nước suối lại hạ nhanh chóng, tốc độ nướcgiảm, độ trong tăng lên Hai bên bờ suối thường có thực vật lớn phát triển, mọc thànhbụi Thành phần thuỷ sinh vật đặc trưng cho hệ sinh thái suối bao gồm: thực vật thuỷsinh (Macrophyta), thành phần ấu trùng côn trùng ở nước rất phong phú, các loài ốckích thước nhỏ họ Thiariadae, Viviparidae, các loài cá kích thước nhỏ Do độ trong lớnnên các nhóm tảo bám đá phát triển là cơ sở thức ăn quan trọng cho cá và động vậtkhông xương sống Theo đánh giá của nhiều tác giả (Kottelat, 1996), khu hệ thuỷ sinhvật hệ sinh thái suối có tỷ lệ các loài đặc hữu cao và trong kiểu hệ sinh thái này, cònnhiều loài còn chưa được phát hiện
Trang 123.2.1.5 Phân bố theo hệ thống ao
Theo Bộ tài nguyên và môi trường, 2005 Các ao có kích thước nhỏ hơn hồ, từvài chục m2 đến vài trăm m2 Nhiều ao đào được sử dụng để nuôi cá, nhưng cũng cócác ao tự nhiên để hoang hoá Độ sâu của ao trên dưới 1m, nền đáy là bùn, lớp bùn cóthể dày 20-40 cm, lượng dinh dưỡng cao Hệ thuỷ sinh vật ao có nét chung là cácnhóm sinh vật nổi phát triển Hệ sinh vật đáy chủ yếu là nhóm giun ít tơ Nếu ao có hệthực vật thuỷ sinh bậc cao phát triển, thì hệ động vật phong phú hơn
3.2.2 Sự phân bố đất ngập nước nội địa Việt Nam theo khu vực
Theo Lê Tấn Lợi, 2016 Đất ngập nước nội địa phân bố ở cả 3 miền Bắc, Trung,Nam và các vùng sinh thái rất phong phú và đa dạng về tài nguyên và kiểu hình cũngnhư chức năng và giá trị
Đất ngập nước nội địa bao gồm các vùng châu thổ ngập nước thường xuyên, cáclạch nước, sông suối chảy thường xuyên hay tạm thời, các hồ nước ngọt, đất than bùn,đầm lầy, hồ trên núi cao, các ao nuôi thủy sản (diện tích > 8 ha)
3.2.2.1 Khu vực cửa sông Đồng bằng sông Hồng
Theo phân viện điều tra Quy hoạch Rừng Nam Bộ và Hội Khoa Học Đất ViệtNam (2004), vùng cửa sông Hồng có tổng diện tích đất ngập nước là 229.762 ha(chiếm 76,01% diện tích tự nhiên) Trong đó, đất ngập nước mặn, lợ chiếm 125.389 habao gồm 22.487 ha đất ngập nước ven biển và 102.482 ha đất ngập nước mặn vùngcửa sông, phân bố chủ yếu ở các cửa sông: Nam Triệu, Cấm, Lạch Trây, Văn Úc, TháiBình, Ba Lạt, Lạch Giang, Cửa Đáy, chủ yếu là đất ngập nước dùng sản xuất NôngLâm Nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Đất ngập nước ngọt bao gồm các đất canh tác nông nghiệp với diện tích là103,373 ha
3.2.2.2 Khu vực miền trung
Đất ngập nước dạng các đầm phá tập trung tại vùng bờ biển miền Trung từ Huếđến Ninh Thuận Đất ngập nước vùng đầm phá là nơi cư trú của nhiều loài cá và cácloài thủy sản giá trị khác Ngoài ra, đây còn là nơi dừng chân của nhiều loài chim di cưquý hiếm
3.2.2.3 Đất ngập nước nội địa khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Là khu vực cuối cùng của sông Mê Kông, ĐBSCL bao gồm 13 tỉnh, thành phố.Đây là hệ sinh thái rất giàu tiềm năng, phong phú và đa dạng nhất lưu vực, bao gồm:Sông, hồ, đầm
a) Đất ngập nước ngọt thuộc sông
- Dạng đất ngập nước ngọt thuộc sông ngập thường xuyên là các nhánh củasông Tiền, sông Hậu, các sông khác và các dòng kênh, có diện tích 128.139 ha
Trang 13- Dạng đất ngập nước ngọt thuộc sông ngập không thường xuyên là các cánhđồng canh tác lúa nước, các vườn cây ăn trái và các diện tích canh tác nông nghiệpkhác, có diện tích 1.771.381 ha
b) Đất ngập nước ngọt thuộc hồ có diện tích 56.389 ha, phân bố ở vùng hồ
rừng Tràm U Minh Hạ (Cà Mau), vùng hồ rừng tràm U Minh Thượng (Kiên Giang) vàvườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) Trước đây, rừng Tràm che phủ phần lớn đấtchua phèn ở ĐBSCL, nhưng hiện nay rừng Tràm chỉ còn phân bố ít ỏi vùng đất thanbùn thuộc vùng U Minh, ở vùng đất chua phèn Đồng Tháp Mười và cánh đồng HàTiên Những vùng đất ngập nước dưới rừng Tràm có khả năng giữ nước ngọt quanhnăm cung cấp cho sinh hoạt của người dân và cho động vật hoang dã, hạn chế quátrình phèn hóa, làm giảm tốc độ dòng chảy trong mùa lũ, là nơi khu trú cho rất nhiềuloài thủy sản nước ngọt, cung cấp gỗ, củi, cá, mật ong và bảo tồn đa dạng sinh học.Tầng than bùn ở vùng rừng Tràm U Minh có vai trò rất quan trọng đối với hệ sinh thái,trong điều kiện bão hòa, trong điều kiện khô như bị thoát nước, than bùn sẽ bị oxy hóarất nhanh làm cho đất bị phèn hóa và sinh ra các độc tố sắt và nhôm
c) Đất ngập nước thuộc dạng đầm có diện tích 229.363 ha, chủ yếu là đất ngập
nước thuộc đầm ngập không thường xuyên dùng để canh tác nông nghiệp, phân bố ởvùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên
3.3 Thực trạng sử dụng, phân loại, vai trò, tính đa dạng sinh học vườn quốc gia Tràm Chim
3.3.1 Quá trình hình thành vườn quốc gia Tràm Chim
- Năm 1985, Tràm Chim Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Tháp thành lập với tên gọiCông ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim, với mục đích trồng tràm khai thác thủysản, vừa giữ lại phần hình ảnh Đồng Tháp Mười xa xưa
- Năm 1986, loài sếu đầu đỏ (chim hạc, sếu cổ trụi), tái phát Tràm Chim
- Năm 1991, Tràm Chim trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim cấp tỉnh,nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii)
- Năm 1994, nơi trở thành Khu Bảo tồn Thiên nhiên Tràm Chim, cấp quốc gia,theo Quyết định số 47/TTg ngày tháng năm 1994 Thủ tướng Chính phủ kèm theothông tư số 4991/KGVX, với diện tích 7.500 ha Vào tháng năm 1998, diện tích Vườnquốc gia Tràm Chim điều chỉnh lại 7.588 ha
- Năm 1998, nơi trở thành Vườn quốc gia Tràm Chim theo Quyết định số253/1998/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 12 năm 1998 Thủ tướng Chính phủ
3.3.2 Phân loại đất ngập nước nội địa
a) Hệ thống phân loại đất ngập nước trên thế giới