1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BẤT CẬP VỀ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT

4 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 20,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BẤT CẬP VỀ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT- Theo Điểm c Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai đối với “Đất được giao, cho thuê không đúng đối tư

Trang 1

BẤT CẬP VỀ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT

- Theo Điểm c Khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai 2013 thì Nhà nước thu hồi đất

do vi phạm pháp luật về đất đai đối với “Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không có thẩm quyền” Tuy nhiên, tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013 lại quy định trừ trường hợp “người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai” (tức là không thu hồi Giấy chứng nhận đối với

trường hợp này); còn tại Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP hướng

dẫn “Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất

và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật”

Việc quy định này chưa rõ ràng, thiếu tính thống nhất, dễ gây ra nhiều cách hiểu (trên quy định thu hồi đất đối với truờng hợp đất giao, cho thuê không đúng đối tượng, dưới lại quy định không được thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật đối với người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất) và áp dụng khác nhau; đây cũng là nguyên nhân của nhiều cuộc tranh chấp, khiếu nại kéo dài

Bên cạnh đó, việc quy định không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp

luật trong trường hợp “người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật” tại Khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP là chưa phù hợp với Điểm c Khoản 1 Điều 64 , Điểm d Khoản 2 Điều 106 (chỉ quy định trong trường hợp chuyển quyền1 chứ không quy định trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất) Luật Đất đai 2013 Điều này ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý

và sử dụng đất tại địa phương, tạo cơ hội cho các đối tượng không thuộc trường hợp nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp2 thành đối tượng nhận chuyển nhượng

1 Theo Khoản 10 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua các hình thức chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất (thay đổi quyền sử dụng đất).

2 Các đối tượng được quy định tại Điều 191 Luật Đất đai 2013.

Trang 2

bằng cách “chuyển mục đích sử dụng đất”; đồng thời, tạo ra thực trạng người không có hoặc thiếu đất canh tác phải vào các thành phố lớn mưu sinh hay xuất khẩu lao động,…, còn người quá nhiều đất lại bỏ hoang không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích

2. KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ 3

* Kết luận

Do sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng nên các quy định về thu hồi đất theo Luật Đất đai 2013 vừa mới áp dụng thực tiễn trong thời gian ngắn đã có nhiều điểm hạn chế, bất cập Song, việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy định pháp luật về thu hồi đất đảm bảo tính kịp thời, đúng pháp luật, phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước là điều hết sức quan trọng, nó quyết định hiệu quả, hiệu lực của bộ máy quản lý Nhà nước

về đất đai cũng như điều tiết các mối quan hệ sở hữu và hơn nữa làm hạn chế các tranh chấp, khiếu nại kéo dài, gây mất an ninh, chính trị ở địa phương

* Kiến nghị

- Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm rà soát và kịp thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể và thống nhất quy định của pháp luật về đối tượng, trường hợp không thu hồi đất (không thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đã cấp trái pháp luật

- Chính phủ cần bổ sung quy định xử lý vi phạm hành chính đối với “Người

sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”vào Nghị định số 102/2014/NĐ-CP nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất trong trường hợp “Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành”

- Chính phủ cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý đối với các trường hợp người bị thu hồi đất không thi hành quyết định thu hồi đất nhằm phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng Đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất nhằm giúp họ nhận thức vai trò, trách nhiêm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

3 Cổng thông tin điện tử Thanh tra tỉnh Quảng ngãi, 27/4/2016 Một số quy định pháp luật về thu hồi đất còn nhiều bất cập

Trang 3

- Thường xuyên rà soát, hệ thống hóa các quy định của pháp luật về thu hồi đất nhằm kịp thời phát hiện sai sót, bất cập và chồng chéo giữa các quy định về thu hồi đất theo Luật Đất đai 2013 với các văn bản luật chuyên ngành khác như Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Xử lý vi phạm hành chính,…

Trang 4

Tài liệu tham khảo

Quốc hội, 2013 Luật Đất đai năm 2013, ngày 29/11/2013

PGS.TS Nguyễn Cảnh Quý, 2017 Một số vấn đề cần hoàn thiện trong pháp luật đất đai ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Văn Phú, 2017 Những bất cập trong chính sách thu hồi đất theo luật đất đai 2013 cần xem xét

Cổng thông tin điện tử Thanh tra tỉnh Quãng Ngãi, 2016 Một số quy định pháp luật về thu hồi đất còn nhiều bất cập

Ngày đăng: 10/01/2018, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w