1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý một số vùng đất ngập nước nội địa ở tỉnh quảng ninh

76 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là nguồn sinh kế chủ yếu của phần lớn người dân Quảng Ninh ,đặc biệt là các cộng dân cư nông thôn .Với hệ thống sông , hồ dầy đặc và đường bờ biển kéo dài , các hệ sinh thái ĐNN Quản

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO 3

1.1.Tổng quan về đất ngập nước 3

1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh 12

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

3.1 Một số đặc điểm chung của ĐNN nội địa ở Quảng Ninh 23

3.2 Phân tích các dịch vụ hệ sinh thái ĐNN nội địa ở Quảng Ninh 41

3.3 Đề xuất các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý một số vùng ĐNN nội địa ở tỉnh Quảng Ninh 49

KẾT LUẬN 63

KIẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 67

Trang 4

MỞ ĐẦU

Đất ngập nước (ĐNN) có mặt khắp mọi nơi trên thế giới, từ vùng ẩm nhiệt đới đến các vùng ôn đới và chiếm diện tích khoảng 6% bề mặt trái đất, nghĩa là khoảng 8,6 triệu km2 ĐNN có vai trò quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân

cư Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thủy vực nội địa ĐNN còn là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động và thực vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm

Ở Việt Nam, ĐNN rất đa dạng với diện tích xấp xỉ 5.810.000 ha, chiếm khoảng 8% diện tích toàn bộ các vùng ĐNN của Châu Á ĐNN Việt Nam gồm 2 nhóm: ĐNN nội địa và ĐNN ven biển ĐNN ven biển phân bố rộng khắp chiều dài bờ biển Việt Nam bao gồm rừng ngập mặn (RNM), ĐNN cửa sông, bãi triều, đầm phá và vùng biển có độ nước sâu không quá 6 m khi triều kiệt Tuy nhiên, ĐNN của thế giới cũng như tại Việt Nam đang bị suy giảm khá mạnh cả về chất và lượng do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có nguyên nhân do các tác động của các hoạt động phát triển kinh tế, xã hội của con người cũng như ảnh hưởng của các yếu

tố tự nhiên

ĐNN thường rất nhạy cảm với các hoạt động của con người và các tác động của thiên nhiên Do đó, việc quản lý ĐNN một cách hợp lý, sao cho vừa sử dụng những tài nguyên của ĐNN để phục vụ cuộc sống của người dân và cho xã hội nhưng vẫn duy trì được các chức năng và thuộc tính của ĐNN đang trở thành mối quan tâm của các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và ban hành các quyết định liên quan đến ĐNN

Quảng Ninh là một tỉnh ở vùng Đông Bắc Việt Nam , với diện tích đất tự nhiên trên 609.000 ha và dân số hơn 1,1 triệu người Quảng Ninh có đường biên giới giáp với Trung Quốc dài 112 km , đường bờ biển dài 250 km nên giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội , quốc phòng , an ninh của đất nước Với vị trí như trên , Quảng Ninh là một trong những địa bàn trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng vịnh Bắc Bộ và vùng KTTĐ Bắc Bộ đến năm

2020

Là một tỉnh giàu tiềm năng phát triển kinh tế xã hội , có Vịnh Hạ Long - Di sản thiên nhiên thế giới và có trữ lượng các mỏ than lớn ; Quảng Ninh có các hoạt động kinh tế sôi động đặc biệt là công nghiệp , du lịch và thương mại Đây là những điều kiện cho tỉnh Quảng Ninh có quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ Đây vừa là động lực phát triển nhưng đồng thời cũng là những nguyên nhân gây ra những tác động mạnh đến môi trường ở Quảng Ninh nói

Trang 5

chung và môi trường nước nói riêng Trên thực tế hiện nay, Quảng Ninh đang phải đối mặt với nguy cơ suy thoái môi trường nước mặt do tác động của quá trình phát triển, đặc biệt là các hoạt động khai thác khoáng sản, đô thị hóa và dịch vụ du lịch Quảng Ninh là là một tỉnh ven biển với các hệ sinh thái ĐNN rất đa dạng và phong phú Đây là nguồn sinh kế chủ yếu của phần lớn người dân Quảng Ninh ,đặc biệt là các cộng dân cư nông thôn Với hệ thống sông , hồ dầy đặc và đường bờ biển kéo dài , các hệ sinh thái ĐNN Quảng Ninh đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Nhận thức được tầm quan trọng của ĐNN , đề tài “ Nghiên cứu đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý một số vùng đất ngập nước nội địa ở tỉnh Quảng Ninh’’ được

đặt ra nhằm nghiên cứu , phân tích và đánh giá hiện trạng đất ngập nước nội địa ở tỉnh Quảng Ninh Đây là những thông tin quan trọng góp phần quản lý khai thác hợp lý và bền vững các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh, góp phần vào nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn về sử dụng hợp lý ĐNN nội địa , các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả quản lý, bảo tồn, khai thác và sử dụng tài nguyên ĐNN nội địa ở tỉnh Quảng Ninh, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp sử dụng hợp lý một số vùng ĐNN nội địa ở tỉnh Quảng Ninh

Các giải pháp sử dụng hợp lý một số vùng ĐNN nội địa có thể sử dụng là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý địa phuơng, góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lý ,bảo tồn và sử dụng hợp lý ĐNN ở tỉnh Quảng Ninh

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.1.Tổng quan về đất ngập nước

1.1.1.Khái niệm đất ngập nước

Đất ngập nước rất đa dạng, có mặt ở khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của cảnh quan trên mọi miền trên thế giới Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn hóa nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng đất ngập nước (ĐNN) ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng (Mitsch và Gosselink, 1986&1993; Dugan, 1990; Keddy, 2000) Một điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất bão hòa nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân hủy chậm,

và nuôi dưỡng rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hòa nước Tuy nhiên, tùy thuộc vào loại hình, sự phân bố cùng với những mục đích sử dụng khác nhau mà có nhiều định nghĩa về ĐNN Trên thế giới hiện nay có khoảng trên 50 định nghĩa, khái niệm khác nhau về ĐNN

Theo công ước RAMSAR (Công ước về các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc

tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước – Convention on wetland of international importance, especially as waterfowl habitat), ĐNN được xác định là:

“Các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng nước tự nhiên hay nhân tạo, có nước thường xuyên hay tạm thời, nước đứng hay nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả các vùng nước ven biển có độ sâu không quá 6m khi thủy triều thấp đều

là các vùng ĐNN” (Điều 1.1 Công ước Ramsar, 1971 và có hiệu lực ngày 21 tháng

12 năm 1975 )

1.1.2 Phân loại đất ngập nước

Cũng như cách định nghĩa ĐNN, hiện nay cũng có rất nhiều cách phân chia các loại ĐNN tùy thuộc vào từng mục đích sử dụng mà ở mỗi quốc gia lại có những cách phân chia khác nhau

Ở Việt Nam, việc phân loại ĐNN đã được nghiên cứu và áp dụng từ năm 1989 (D.Scott, Lê Diên Dực, Mai Đình Yên, 2002) Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về phân loại ĐNN của Việt Nam (Phan Nguyên Hồng và cs , 1997; Lê Diên Dực, 1998; Nguyễn Chu Hồi và cs, 1999; Nguyễn Ngọc Anh và cs, 1999; Bộ KHCN&MT, 2001; Nguyễn Chí Thành và cs, 1999, 2002; Vũ Trung Tạng, 2004,

Trang 7

Hoàng Văn Thắng, 2005) Các công trình này dựa chủ yếu vào hệ thống phân loại của Công ước Ramsar và chỉ dừng lại ở mức nêu ra những vùng ĐNN mà chưa hoặc ít đưa ra các yếu tố để “xác định ranh giới” cũng như “phân biệt” giữa các loại hình ĐNN (Nguyễn Chí Thành và cs., 2002) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004) cũng đã đưa ra hệ thống phân loại tiêu chuẩn ngành với 2 hệ thống, 6

2) Các vùng cửa sông, châu thổ, bãi triều

3) Những vùng bờ biển có đá, vách đá, bãi cát hay bãi sỏi

4) Vùng đầm lầy ngập mặn, rừng ngập mặn

5) Những đầm phá ven biển dù là nước mặn hay nước lợ

6) Ruộng muối (nhân tạo)

7) Ao nuôi trồng thủy sản

8) Sông suối và hệ thống thoát nước nội địa

9) Đầm lầy ven sông, đầm lầy nước ngọt

10) Hồ chứa nước tự nhiên, hồ chứa nước nhân tạo

11) Rừng ngập nước theo mùa (như rừng Tràm)

12) Đất cấy ngập nước, đất được tưới tiêu

13) Bãi than bùn

Trang 8

Phân loại/ Kiểm kê đất ngập nước theo Lê Diên Dực (1989)

Lê Diên Dực (1989) dựa trên hệ thống phân loại ĐNN của Công ước Ramsar (1971), chia ĐNN ở Việt Nam thành 20 loại ĐNN như sau:

1) Các vịnh nông từ 6m trở lại khi triều thấp

2) Các vùng cửa sông, châu thổ

3) Những đảo nhỏ xa bờ

4) Những vùng bờ biển có đá, vách đá ven biển

5) Những bãi biển dù là cát hay sỏi

6) Những bãi biển dù là bùn hay là cát

7) Vùng đầm lầy có rừng ngập mặn

8) Những đầm phá ven biển dù là nước lợ hay nước mặn

9) Những ruộng muối

10) Ao tôm, cá

11) Sông suối chảy chậm dưới mức trung bình

12) Sông suối chảy nhanh trên mức trung bình

13) Đầm lầy ven sông

14) Hồ nước ngọt

15) Ao nước ngọt (< 8 ha), đầm lầy nước ngọt

16) Ao nước mặn, những hệ thống thoát nước nội địa

17) Đập chứa nước; 18) Rừng ngập nước, đất được tưới tiêu

19) Đất cày cấy ngập nước, đất được tưới tiêu

20) Bãi than bùn

Theo Nguyễn Chu Hồi và các tác giả khác (1999), những vùng ĐNN và hệ sinh thái ĐNN ven biển thực chất là những đơn vị cấu trúc tự nhiên tồn tại độc lập nhưng phát triển trong mối quan hệ gắn bó với các hệ lân cận… Vì vậy đòi hỏi phải có

Trang 9

phương thức khai thác, sử dụng và quản lý phù hợp Với mục đích như vậy và dựa vào hệ thống phân loại ĐNN của Cowardin.L.M (1979) cùng những kết quả áp dụng cho các vùng ven biển SriLanka (1994), Nguyễn Chu Hồi đã chia ĐNN ven biển thành ba nhóm lớn: các vùng đất thấp ven biển; vùng ĐNN triều và các đảo hoang nhỏ Trong mỗi nhóm này, căn cứ vào mức độ phủ thực vật, không phủ thực vật và đặc điểm nền đáy để chia thành các kiểu ĐNN khác nhau Nhìn chung các tiêu chí và cơ sở phân loại của hệ thống phân loại ĐNN của Nguyễn Chu Hồi phù hợp cho sử dụng và khai thác ĐNN

Vũ Trung Tạng (2004) đồng tình với định nghĩa về ĐNN của Ramsar để sử dụng trong phân loại ĐNN của Việt Nam Tác giả cũng nhìn nhận ĐNN là hệ sinh thái, trong đó quần xã sinh vật và các yếu tố môi trường có mối liên hệ tương tác với nhau Quần xã sinh vật là sản phẩm được sinh ra trong một môi trường xác định của ĐNN, nhưng quần xã sinh vật lại làm biến đổi các yếu tố môi trường Tác giả cũng nhấn mạnh rằng ĐNN là kết quả tổ hợp của 3 yếu tố chính: đất, nước và thảm thực vật tồn tại trong đó Từ những quan điểm như vậy, tác giả cho rằng việc phân loại ĐNN cần đề cập đến các tiêu chuẩn sau:

Đất và cấu trúc đất

Đặc tính của nước và chế độ ngập nước

Thảm thực vật tồn tại và phát triển trên đó Tuy nhiên, tác giả nhấn mạnh

rằng nước và chế độ ngập nước là yếu tố hàng đầu trong phân loại ĐNN vì chúng chi phối đến sự biến đổi về cấu trúc và tính chất của đất cũng như cả hệ thực vật phát triển trên đó

Về phân loại ĐNN, Vũ Trung Tạng thiết lập cấu trúc bảng phân loại gồm 4 bậc:

Hệ (system); Phân hệ (sub-system); Lớp (class); và Dạng (type), ngoài ra có 2 Phân

lớp riêng cho Lớp ĐNN châu thổ Khái niệm ĐNN thường xuyên và ĐNN không

thường xuyên được gắn với khái niệm phân loại ĐNN của Ramsar Theo phân loại này thì ĐNN không thường xuyên trong sản xuất nông nghiệp được đồng nhất với đất sản xuất nông nghiệp

Tóm lại, ĐNN Việt Nam được chia thành 2 nhóm chính: ĐNN nội địa và ĐNN ven biển Trong đó, các kiểu ĐNN nội địa gồm: châu thổ ngập nước thường xuyên; lạch nước; sông suối chảy thường xuyên, tạm thời; hồ nước ngọt; than bùn; đầm lầy; hồ nước mặn; ĐNN trên núi; ĐNN địa nhiệt; đầm nuôi thủy sản; ao lớn hơn 8

ha, đầm lầy….ĐNN ven biển gồm ĐNN cửa sông, bãi triều, ĐNN đầm phá và vùng

Trang 10

nước biển có độ sâu nhỏ hơn 6m khi triều kiệt; rừng ngập mặn và bãi sình lầy tập trung ở các vùng châu thổ, vùng cửa sông và vùng triều; các đầm phá; các rạn san

hô và hệ rong tảo, trong đó có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng và ĐNN châu thổ đồng bằng sông Cửu Long

1.1.3 Vai trò của đất ngập nước

Đất ngập nước là loại hình rất phổ biến trên Trái Đất và có vai trò quan trọng đối với đời sống của loài người Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thủy vực nước ngọt nội địa (Dugan, 1990) ĐNN còn là nơi sinh sống của một số lượng lớn các loài động vật và thực vật, trong

đó có nhiều loài quý hiếm

Ở Việt Nam, ĐNN rất đa dạng với diện tích xấp xỉ 5,81 triệu ha, chiếm khoảng 8% toàn bộ các vùng ĐNN của Châu Á (Lê Diên Dực, 1989; Scott, 1989) Trong

đó, ĐNN nước ngọt chiếm khoảng 10% diện tích của các vùng ĐNN toàn quốc Trong số các vùng ĐNN của Việt Nam thì 68 vùng (khoảng 341.833 ha) là có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và môi trường thuộc nhiều loại hình ĐNN khác nhau, phân bố khắp trong cả nước (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, 2001) Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, ĐNN đang bị giảm diện tích và suy thoái ở mức độ nghiêm trọng

Đất ngập nước ở Việt Nam có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng, không chỉ cung cấp tài nguyên thiên nhiên, các giá trị về môi trường mà còn là nơi sản xuất lương thực thực phẩm chủ yếu cho đất nước Đây cũng là nơi sản sinh ra các nền văn hóa đặc thù “nền văn minh lúa nước ở đồng bằng sông Hồng” Có thể thấy được vai trò quan trọng của các vùng ĐNN ở nước ta như sau:

a)Cung cấp nước cho sinh hoạt

Hiện tại, dân số nước ta khoảng 90 triệu dân và ước tính sẽ là 126 triệu dân vào năm 2040 Nhu cầu sử dụng nước ở Việt Nam là rất lớn và tăng nhanh theo thời gian, năm 1990 khoảng 64,8 tỷ m3

, dự tính sẽ tăng 121,5 tỷ m3 vào năm 2010 và

240 tỷ m3 năm 2040 Như vậy sau nửa thế kỷ nhu cầu sử dụng nước đã tăng lên 4 lần ĐNN là những dòng sông, suối, các ao hồ chứa nước, các thủy vực nước ngọt chính là nguồn cung cấp nước cho nhu cầu sinh hoạt của con người Tuy nhiên tài nguyên nước hiện đang là vấn đề cần được quan tâm và quản lý tốt trên phạm vi toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng

Trang 11

Nước ta có hệ thống sông ngòi phong phú, nhưng tài nguyên nước mặt lại phân

bố không đồng đều trên phạm vi lãnh thổ, 70 – 80% lượng nước mưa tập trung trong mùa lũ (khoảng tháng 4 đến tháng 10), còn những tháng mùa khô (thường từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) thì lượng nước chỉ có khoảng 20 – 30%, làm cho tình trạng thiếu nước ngọt trở nên gay gắt trong khi dân số ngày càng tăng và khi độ che phủ rừng ngày càng giảm do tình trạng rừng đầu nguồn bị tàn phá Chưa có công trình nghiên cứu nào ở Việt Nam tính đến giá trị kinh tế của ĐNN trong chức năng cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt của người dân, nhưng nước đối với cuộc sống của con người chính là sự tồn tại và phát triển, sẽ trở nên vô cùng quý giá, có thể không được tính bằng tiền

b)Nơi sinh sống lâu đời của các cộng đồng dân cư nông thôn

Đất ngập nước và các cộng đồng dân cư nông thôn đã gắn bó với nhau từ hàng ngàn năm.Từ xa xưa các cộng đồng nông dân Việt Nam đã sống với nhau thành những môi trường xã hội như làng, liên làng và làng nước.Làng đã trở thành một cộng đồng về phong tục tập quán, về tín ngưỡng, về tiếng nói.Làng xã với diện mạo vật thể và phi vật thể là nơi gắn bó suốt đời, mang tính kế thừa trong cuộc sống của người nông dân cùng ĐNN châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long Các cộng đồng dân cư này đã đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau để khai thác tài nguyên đất, tài nguyên nước và các tài nguyên khác của ĐNN, cùng nhau phân công lao động để chinh phục thiên nhiên và cùng nhau khắc phục thiên tai Nền nông nghiệp lúa nước

đã tạo ra sự gắn kết giữa các gia đình, giữa các cộng đồng làng xã để cùng nhau sinh sống và tồn tại trên các vùng ĐNN

c)Đất ngập nước là những vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản quan trọng

Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp lúa nước lâu đời.Người nông dân Việt Nam đã sinh sống và phát triển trên các vùng ĐNN để trồng lúa nước và canh tác nông nghiệp Các vùng ĐNN như đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long là những vựa lúa của cả nước, góp phần rất quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Bên cạnh đó việc chăn nuôi cũng rất phát triển trên các vùng ĐNN, cung cấp một lượng lớn các sản phẩm thịt (thịt vịt, các loại thủy hải sản như tôm, cua, cá…) đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong cả nước cũng như tạo ra tiềm năng trên thị trường tiêu thụ thực phẩm trên thế giới, đem lại nguồn lợi lớn cho đất nước Tài nguyên nước và việc sử dụng hợp lý ĐNN đã góp phần làm cho nền nông nghiệp nước ta đạt được những thành tựu to lớn, từ việc ta phải nhập khẩu gần 1 triệu tấn lương thực mỗi năm trong thời kỳ 1976 – 1988 Thì nay Việt Nam đã trở

Trang 12

thành quốc gia đứng thứ 2 trên thế giới và đứng đầu trong khu vực về xuất khẩu gạo, và là một trong những quốc gia đứng đầu trong việc xuất khẩu thủy hải sản

d)Chắn sóng, chống xói lở, ổn định bờ biển; lưu trữ, chứa và chống ngập úng

Nước ta có đường bờ biển dài, là điều kiện rất thuận lợi cho việc phát triển kinh

tế biển, nhưng những thách thức về môi trường cũng cần được quan tâm, trong đó

có việc chống xói lở bờ biển gây thiệt hại đáng kể về môi trường, kinh tế và xã hội

Vì thế đai rừng ngập mặn ven biển đóng vai trò rất lớn trong việc làm giảm động lực sóng biển của thủy chiều, hạn chế việc xói lở bờ biển Có thể nói rằng không có công trình nào bảo vệ bờ biển chống xói lở tốt như đai rừng ngập mặn Chức năng phòng hộ ven biển của rừng ngập mặn, một thành phần chủ yếu trong hệ sinh thái ĐNN đã góp phần lớn làm ổn định bờ biển, đồng thời tạo ra những môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội vùng ven biển

Bên cạnh đó rừng ngập mặn còn đóng vai trò rừng phòng hộ, giảm thiểu tác động của gió, bão, lốc xoáy, lũ lụt… bảo vệ tính mạng cũng như đảm bảo được tài sản của người dân

Ngoài ra, vùng ĐNN được coi như “bể lọc” tự nhiên, có tác dụng giữ lại các chất lắng đọng và chất độc (chất thải sinh hoạt và công nghiệp).Làm sạch nguồn nước, đảm bảo môi trường và môi sinh

e)Là nơi lưu trữ các giá trị về đa dạng sinh học

Theo số liệu thống kê, ở Việt Nam đã ghi nhận có khoảng 12.000 loại thực vật

có mạch, về động vật thì có khoảng 275 loài thú, 180 loài bò sát, 80 ếch nhái, 547 loài cá nước ngọt, 2033 loài cá biển và 12.000 loài côn trùng Trong số này có nhiều loài đặc hữu: khoảng 40% số loài thực vật, 78 loài thú, hơn 100 loài chim, 7 loài linh trưởng, đặc biệt là các loài chim đặc hữu hẹp ở Việt Nam Hiện nay, phần lớn tập trung ở các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của nước ta (Đặc hữu là hiện trạng trong sinh thái học khi một loài vật chỉ sinh sống tự nhiên ở một nơi Địa điểm đó có phân định địa lý rõ ràng như một hòn đảo, hay một hệ sinh thái)

Theo số liệu của Cục Kiểm Lâm, tính đến tháng 2/2003, cả nước có 126 khu ĐNN, rừng đặc dụng với diện tích là 2.541.675 ha, trong đó có 27 vườn quốc gia,

60 khu bảo tồn thiên nhiên có một phần diện tích là ĐNN

Các vùng ĐNN của nước ta có tính đa dạng sinh học cao ĐNN ở vùng cửa sông

là nơi có đa dạng về các loài chim định cư và chim di cư, nơi phân bố của rừng ngập mặn, đầm lầy nước mặn, cỏ biển và tảo ĐNN vùng đầm phá là nơi cư trú của

Trang 13

nhiều loài cá, nơi dừng chân của nhiều loài chim di cư.Các vùng đầm phá ven biển miền Trung còn mang những nét độc đáo về sinh cảnh tự nhiên và chứa đựng giá trị

đa dạng sinh học rất lớn của khu hệ sinh vật thủy sinh

Các vùng ĐNN nội địa như Đồng Tháp Mười, U Minh và hệ thống các sông, suối, ao, hồ là những nơi chứa đựng nhiều loài động, thực vật đặc hữu hoặc những loài có tầm quan trọng về đa dạng sinh học toàn cầu

Rừng ngập mặn các thảm cỏ biển và các rạn san hô của Việt Nam gần những khu

có giá trị sinh học cao nhất là ở vùng biển Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương và giao lưu với nhiều vùng biển xung quanh biển Đông.Các hệ sinh thái rừng ngập mặn, cỏ biển và rạn san hô là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật

f)Có khả năng ổn định và mở rộng đất đai, bồi tụ và tạo vùng đất mới

Đất ngập nước ven biển tạo ra môi trường thuận lợi cho việc lắng đọng phù sa, góp phần ổn định và mở rộng bãi bồi Sự phát triển của rừng ngập mặn và mở rộng diện tích đất bồi là hai quá trình luôn đi kèm với nhau.Ở những vùng đất mới có độ mặn cao chúng ta dễ dàng nhìn thấy các thực vật tiên phong thuộc chi mắm, bần ổi, tại những vùng cửa sông có độ mặn thấp hơn thì có bần chua

Ví dụ: Trong vòng 60 năm gần đây, vùng bán đảo Cà Mau bồi thêm được 8.300

ha với tốc độ lấn biển khá mạnh Cụ thể: 1930 – 1965 diện tích tăng 3.442 ha, 1965 – 1985 diện tích tăng 1.466 ha, 1985 – 1991 diện tích tăng 1.466 ha Trong vòng 30 năm (1964 – 1994) đã hình thành hai hòn đảo nhỏ ở cửa sông Ông Trang là Cồn Trong và Cồn Ngoài thuộc địa phận tỉnh Cà Mau, Cồn Trong có gần như đầy đủ các loài cây ngập mặn, còn Cồn Ngoài được mắm trắng phủ kín đảo

g)Giao thông thủy, cảnh quan đẹp, phát triển du lịch, giải trí

Có thể nói Việt Nam là một đất nước có cảnh quan tự nhiên đẹp, trong đó hầu hết các vùng ĐNN là những nơi có cảnh quan tự nhiên đẹp nhất Có những vùng ĐNN đã nổi tiếng không chỉ trong nước mà cả trên thế giới, là điểm đến của nhiều khách du lịch như Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Phú Quốc, khu bảo tồn thiên nhiên ĐNN Vân Long,… Ở những vùng ĐNN này thiên nhiên, con người và văn hóa bản địa là những tài nguyên du lịch rất hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.Ngành

du lịch Việt Nam đã coi các vùng ĐNN này là những trọng điểm để phát triển du lịch nhằm mang lại những lợi ích kinh tế và xã hội vô cùng to lớn cho đất nước.Bên cạnh đó ĐNN đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển, giao thương trên đường thủy

Trang 14

h)Cung cấp năng lượng

Than bùn là một nguồn nhiên liệu quan trọng (rừng tràm có khoảng 305 triệu tấn than bùn) cung cấp nguồn năng lượng lớn.Lớp than bùn này còn được dùng làm phân bón và ngăn cản quá trình xì phèn Các đập, thác nước cũng là nguồn cung cấp năng lượng (tiềm năng thủy điện cao),…

Tóm lại, ĐNN là nơi dung nạp và điều tiết nước ngầm, cung cấp nước ngọt, điều hòa sinh thái và khí hậu, hạn chế lũ lụt, chắn sóng và gió bão, chống xói lở và ổn định bờ biển, duy trì tính đa dạng sinh học, tạo môi trường hoạt động cho nhiều ngành kinh tế như: công nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải, du lịch,… Vùng ĐNN

là nguồn sống của phần lớn người dân Việt Nam, đồng thời mang lại lợi ích và giá trị to lớn về kinh tế - xã hội - môi trường.ĐNN cũng là nơi cư trú của nhiều loài động thực vật quý hiếm của Việt Nam và thế giới

1.1.4 Các dịch vụ hệ sinh thái

Dịch vụ hệ sinh thái là “ những lợi ích con người đạt được từ các hệ sinh thái, bao gồm dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ hỗ trợ, và dịch vụ văn hóa ” ( Đánh giá Hệ sinh thái thiên niên kỷ, 2005)

Dịch vụ cung cấp (cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp, thực

phẩm, các loài thủy hải sản…)

Đất ngập nước cung cấp các sản phẩm và sinh kế bền vững cho 61.800.000 người trên thế giới phụ thuộc trực tiếp đánh bắt cá và thủy sản để kiếm sống Ở Việt Nam, giai đoạn sau năm 1989, các vùng ĐNN góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, Việt Nam từ một nước phải nhập khẩu 1 triệu tấn gạo/năm (giai đoạn 1976-1988) đã trở thành nước không chỉ cung cấp đủ gạo ăn mà xuất khẩu 3,4 triệu tấn gạo/năm (năm 2003); kim ngạch xuất khẩu của ngành thủy sản liên tục tăng, thúc đẩy sự phát triển một số ngành như công nghiệp chế biến thủy, hải sản Năm 2002 khai thác ven bờ đạt 1.434.800 tấn, đưa ngành thủy sản đạt kim ngạch xuất khẩu 2 tỷ USD

Dịch vụ điều tiết( hạn chế lũ lụt; xói mòn, rửa trôi; bảo vệ nguồn nước; nạp và

điều tiết nước ngầm, điều hòa khí hậu …)

Cây trong vùng đất ngập nước có thể giúp hấp thụ phân bón và thuốc trừ sâu độc hại, cũng như các kim loại nặng và các chất độc từ ngành công nghiệp Một phần nước thải sinh hoạt thành phố Kolkata của Ấn Độ (dân số đô thị hơn 14 triệu USD) được xử lý hiệu quả nhờ các đầm lầy Đông Kolkata

Trang 15

Hay lợi ích điều hòa khí hậu toàn cầu từ dư lượng cacbon lưu trữ ở khu đất ngập nước là 1.343,801 tỷ VND/năm ($60,3 triệu)

Dịch vụ văn hóa (các giá trị du lịch, giải trí, nghỉ dưỡng, lịch sử, tôn giáo, nghệ

thuật và các lợi ích phi vật chất khác…)

Dịch vụ hỗ trợ (hình thành đất, duy trì các chu trình dinh dưỡng, chu trình sinh

địa hóa, dòng năng lượng, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học…)

Đất ngập nước là nhà của hơn 100.000 loài nước ngọt nổi tiếng và con số này ngày càng tăng mỗi năm Chỉ trong 10 năm, 272 loài cá nước ngọt mới đã được phát hiện

ở Amazon

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng giữa hệ sinh thái/dịch vụ hệ sinh thái với phúc lợi của con người có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Con người, một mặt, sống nhờ vào hệ sinh thái thông qua các dịch vụ của nó, mặt khác, con người lại tác động vào

hệ sinh thái thông qua các hoạt động sinh kế trực tiếp (nguyên nhân trực tiếp) và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội (nguyên nhân sâu xa/cơ bản) - tác động chính làm suy thoái các hệ sinh thái và đa dạng sinh học

Các hoạt động của con người có thể có những ảnh hưởng đến việc duy trì cấu trúc và các chức năng của các hệ sinh thái Trên thế giới, các hệ sinh thái đang chịu những ảnh hưởng do con người gây ra, như khai thác quá mức rừng, chuyển đổi đất sang các hoạt động phát triển khác, phát triển cơ sở hạ tầng, đốt nhiên liệu hóa thạch, suy thoái đất, xáo trộn các chế độ dòng chảy và ô nhiễm nguồn nước, làm tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển Những ảnh hưởng này thường tác động sâu sắc đến sức khoẻ và phúc lợi của con người cũng như phát triển kinh tế tại địa phương

1.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý và địa hình:

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam, có dáng một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Phía Tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp, phía Đông nghiêng xuống Vịnh Bắc Bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông

Tỉnh có tọa độ địa lý từ 20º40’ đến 21º40’ vĩ độ Bắc và từ 106º26’ đến 108º31’kinh độ Đông Chiều ngang từ Đông sang Tây, nơi rộng nhất là 195 km

Trang 16

Chiều dọc từ Bắc xuống Nam khoảng 102 km Điểm cực bắc là dãy núi cao thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu Điểm cực nam là đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Điểm cực tây là sông Vàng Chua ở xã Bình Dương và xã Nguyên Huệ, huyện Đông Triều Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc xã Trà Cổ, thị xã Móng Cái Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; phía Tây Bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Đông và Nam giáp vịnh Bắc Bộ và thành phố Hải Phòng ; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố

Hải Phòng.(Hình 1)

Trang 17

Hình 1: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh

Trang 18

Theo số liệu năm 2015, Quảng Ninh có diện tích đất tự nhiên là 610.235 ha trong

đó đất nông nghiệp 450.582 ha; đất phi nông nghiệp 113.331 ha và còn lại là 46.322

ha đất chưa sử dụng Ngoài ra là một tỉnh ven biển nên Quảng Ninh có bờ biển khá dài (250 km), với hàng ngàn đảo lớn nhỏ với diện tích khoảng 98 nghìn ha

Về đơn vị hành chính, Quảng Ninh có 4 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện (trong đó

có 2 huyện đảo) với tổng số 186 xã, phường, thị trấn Thành phố Hạ Long là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh nằm cách Hà Nội 170 km về phía tây theo quốc lộ 18A và cách thành phố cảng Hải Phòng 70 km về phía Nam theo quốc lộ

10

Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Quảng Ninh có điều kiện rất thuận lợi để phát triển kinh tế, giao lưu vận chuyển hàng hóa và du lịch Quảng Ninh nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) nằm ở phía Đông Bắc của Tổ quốc, tiếp giáp với các đô thị lớn và cửa khẩu quốc tế quan trọng, có thế mạnh cả về giao thông đường thủy lẫn đường bộ, lại vừa tiếp giáp với khu kinh tế năng động phía Đông Nam Trung Quốc

Về địa hình, Quảng Ninh bao gồm cả vùng trung du, miền núi, ven biển Hơn 80% đất đai là đồi núi Phía Bắc là vùng đồi thấp, tiếp đó là dãy núi cao thuộc cánh cung Đông Triều - Móng Cái, phía Nam cánh cung này là vùng đồng bằng ven biển, cuối cùng là hàng ngàn đảo lớn nhỏ của Vịnh Bắc Bộ Địa hình Quảng Ninh bị chia cắt mạnh và nghiêng dần theo hướng Đông Bắc - Tây Nam tạo ra hai vùng hoàn toàn khác biệt: miền Tây và miền Đông

Có thể chia thành các loại địa hình sau:

Địa hình quần đảo ven biển bao gồm hàng nghìn đảo lớn nhỏ khác nhau, được sắp thành hai hàng nối đuôi nhau chạy từ Mũi Ngọc đến Hòn Gai tạo thành hình cánh cung song song với cánh cung Đông Triều Trong số này có những hòn đảo lớn như đảo Cái Bầu, đảo Cái Bàn… Độ cao phổ biến của các đảo khoảng trên dưới

100 m, hiếm thấy những đỉnh cao > 200 m Đỉnh cao nhất là Núi Hàng trên đảo Cái Bàn: 445 m, Vạn Hoa trên đảo Cái Bầu: 399 m và một vài đỉnh có độ cao xấp xỉ

300 m trên các đảo khác

Địa hình đồng bằng duyên hải bao gồm đồng bằng phù sa và đồng bằng xen đồi thuộc phía Đông các huyện, thị: Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên và phía Nam huyện, thị trấn : Đông Triều, Uông Bí và Yên Hưng

Trang 19

Địa hình núi thấp bao gồm 2 dải núi Nam Mẫu và Bình Liêu là phức tạp có độ cao đáng kể nhất của tỉnh Quảng Ninh Hai dải này được ngăn cách với nhau bởi thung lũng sông Ba Chẽ, Phố Cũ và Tiên Yên

Đây là cánh cung cuối cùng của vùng Đông Bắc và thường được gọi là cánh cung Đông Triều Ban đầu dải cánh này chạy theo hướng Tây - Đông sát bờ vịnh Bắc Bộ ở khu vực Đông Triều - Hòn Gai, sau đó càng lên phía Bắc càng lùi dần vào phía trong đất liền Trong đó, phía Đông Bắc có độ cao 500 - 1.000 m chiếm ưu thế Tại đây có một số đỉnh cao > 1000 m cấu tạo bởi đá phun trào ryolit, như Cao Xiêm (1.330 m), Châu Lãnh (1.507 m) Phía Tây Nam núi thấp hơn, độ cao ưu thế 200 -

500 m, những đỉnh cao 1000 m rất hiếm, đạt tới mức này có Yên Tử (1.063 m), Am Váp (1.094 m) Còn lại trong vùng là những núi thấp, phổ biến ở độ cao 400 - 600

m Khu vực giữa hai dải núi Nam Mẫu và Bình Liêu tạo nên cánh cung Đông Triều

là một vùng đồi - núi thấp cao 200 - 300 m đôi khi lên đến 500 m, với những bồn địa giữa núi rộng lớn

Điều kiện khí hậu, thủy văn:

Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, vừa mang đặc điểm chung của khí hậu Miền Bắc, vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển Các quần đảo ở huyện Cô Tô và Vân Đồn… có đặc trưng của khí hậu đại dương Theo trung tâm dự báo khí tượng, thủy văn Quảng Ninh trong những năm từ 2010 đến

2015 khí hậu Quảng Ninh có những đặc trưng sau:

Nhiệt độ bình quân hàng năm từ 22ºC - 23ºC, tổng tích ôn trung bình năm từ 7500ºC - 8500ºC Nhiệt độ trung bình năm ở các vùng biến động theo độ cao: vùng núi cao nhiệt độ trung bình năm là 19ºC, vùng núi thấp nhiệt độ trung bình 19ºC - 21ºC, vùng đồng bằng nhiệt độ trung bình > 21ºC Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm là 85 - 87% Do mưa lớn và tập trung nên thường xảy ra úng lụt vào tháng 6 và tháng 7 Tháng 4 và tháng 10 thường xảy ra hạn hán ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp

Quảng Ninh có lượng mưa phân bố không đồng đều, giảm dần từ Móng Cái đến Đông Triều Lượng mưa bình quân năm từ 2000 - 2500 mm, năm cao nhất có thể lên tới 3000 - 3500 mm, năm thấp nhất không dưới 1500 mm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 Khoảng 80% lượng mưa tập trung vào từ tháng 6 đến tháng 9

Vùng có lượng mưa > 2500 mm/năm từ Ba Chẽ - Tiên Yên ra Móng Cái Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10: lượng mưa > 100 mm/tháng Tháng 8 thường mưa lớn

Trang 20

nhất Bốc hơi < Mưa ở phần lớn các tháng trong năm, ít bị khô hạn, nhiều mưa phùn, sương mù

Vùng có lượng mưa khoảng 1600 - 1800 mm: Yên Hưng, Uông Bí, Đông Triều

và Bình Liêu: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trên 100 mm/tháng; lượng bốc hơi khoảng 1000 mm/năm Các tháng từ 11 - 12 đến tháng 3 lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa, bị khô hạn

Toàn tỉnh có trên dưới 30 con sông dài trên 10 km chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, các sông hầu hết không có trung lưu, có độ dốc lớn nên tích lũ và thoát

lũ cũng rất nhanh Do địa hình chia cắt mạnh, hệ thống sông suối ngắn lưu lượng khu vực thấp, các hiện tượng sụt lớn, xói lở thường xảy ra ở vùng đồi núi

Quảng Ninh có nguồn nước mặt khá phong phú, tổng lượng dòng chảy của 13 con sông lớn là 7,57 tỷ m3 nước, nếu tính cả lượng dòng chảy phát sinh trên diện tích còn lại thì lưu lượng dòng chảy năm 2015 đạt tới 8,78 tỷ m3 nước

Về nước ngầm: nhìn chung Quảng Ninh có trữ lượng nước ngầm không lớn, khó khăn cho sản xuất nông nghiệp ở một số khu vực, riêng vùng Cẩm Phả, Hòn Gai tổng lượng nước ngầm khoảng 20.700 m3/ngày đêm

Trong nhiều năm qua tỉnh đã xây dựng được trên 70 hồ đập lớn nhỏ (trong đó đáng kể là hệ thống hồ Tràng Vinh (76 triệu m3) nằm trên địa bàn xã Hải Yến - thị

xã Móng Cái) cấp nước sinh hoạt cho khu vực nội thị và nước cho sản xuất nông nghiệp, đảm bảo tưới cho gần 70% diện tích cây lương thực, thực phẩm; hệ thống

hồ Yên Lập (130 triệu m3) đàu mối hồ thuộc địa bàn phường Đại Yên, thành phố Hạ Long mỗi năm cung cấp nước tưới cho hơn 10 nghìn ha đất nông nghiệp

Hệ thống thảm thực vật rừng: tính đến năm 2015 Quảng Ninh có 381.596 ha rừng, chiếm 62,53% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh; trong đó đất rừng sản xuất 235.278 ha chiếm 61,65% diện tích đất có rừng, rừng phòng hộ có 126.646 ha chiếm 33,19% diện tích rừng, rừng đặc dụng có 25.712 ha chiếm 6,7% diện tích rừng Tổng trữ lượng các loại rừng của Quảng Ninh khoảng 6 - 7 triệu m3 gỗ và gần

30 - 35 triệu cây tre nứa các loại Trong đó, rừng tự nhiên có tổng trữ lượng khoảng

4 - 5 ngàn m3 gỗ và 2 – 2,5 triệu cây tre nứa, còn lại là rừng trồng

Rừng Quảng Ninh phong phú về chủng loại, có 1.027 loài thực vật, thuộc 80 họ

và 6 ngành Một số ngành lớn như: ngành mộc lan (Magnoliophyta) có 951 loài, ngành dương xỉ (Polypodiophyta) có 58 loài, ngành thông (Pinophyta) có 11 loài

Trong đó có các loài quý hiếm cần được bảo vệ như: Lim xanh, sến một, vù hương,

sa nhân, ba gạc…

Trang 21

Hàng năm có khả năng khai thác trên dưới 20.000 m3 gỗ tròn phục vụ nhu cầu xây dựng và công nghiệp Ngoài ra, rừng còn cung cấp nhiều lâm sản quý cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Đặc biệt ở Quảng Ninh còn có nhiều loài tre nứa có giá trị vừa làm nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất giấy, công nghiệp xây dựng; vừa làm nguyên liệu cho xuất khẩu lâm sản

Hệ thống rừng trồng chủ yếu là các loại cây như thông, keo tai tượng, bạch đàn Còn hệ thống cây trồng trong tỉnh rất đa dạng phong phú Vùng đồi núi có các loại cây đặc sản, cây ăn quả như quế, hồi, nhãn vải, cam, quýt, xoài, hồng, mận, mơ, na, chuối, dứa… Vùng đồng bằng và trung du có các loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, khoai, đậu đỗ, lạc, mía, sắn và các loại rau màu khác

1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội

Quảng Ninh là tỉnh có dân số trung bình trong cả nước Giai đoạn 2011 - 2015, dân số Quảng Ninh tăng 1,18% Năm 2011, dân số của tỉnh là 1,17 triệu người, tính

sơ bộ đến hết năm 2015, dân số tăng lên khoảng 1,22 triệu, tăng hơn năm 2011

khoảng 56 nghìn người Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 57% dân số; trong đó

thành thị có 331 nghìn người (48,3%), nông thôn có 354,2 nghìn người (51,7%)

So sánh cơ cấu dân số năm 2011 và 2013: tỷ trọng lao động từ 15 tuổi trở lên tăng từ 56,6% năm 2011 lên 57% năm 2013; tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 1,78% năm

2011 xuống 1,2% năm 2013 Hiện nay, Quảng Ninh đang trong giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” với nguồn nhân lực dồi dào, góp phần thu hút đầu tư phát triển kinh tế

xã hội cùng ổn định dân số - kế hoạch hóa gia đình

Quảng Ninh gồm 11 dân tộc đang sinh sống đó là: dân tộc Kinh chiếm tuyệt đại

đa số các dân tộc trong tỉnh 85,23%; dân tộc Dao (Mán) chiếm 4,45%; dân tộc Tày chiếm 2,84%; dân tộc Sán Dìu chiếm 1,85%; dân tộc Sán Chay (còn gọi là Cao Lan

và Sán Chỉ) chiếm 1,1%; dân tộc Hoa chiếm 0,43%

Còn lại là các dân tộc khác có dân số từ vài chục người đến vài trăm người như: Nùng, Mường, Thái, Thổ, Khơ Me

Trong giai đoạn 2011 - 2014, tỷ lệ tăng trưởng dân số trên toàn tỉnh trung bình từ 1,26 - 1,33% Riêng giai đoạn 2014 - 2015, tỷ lệ tăng trưởng dân số toàn tỉnh đạt 0,8% theo tính toán sơ bộ của Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh

Dân số sống tại thành thị đạt gần 620.200 người, dân số sống tại nông thôn đạt 557.000 người Là tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp du lịch và dịch vụ tăng

Trang 22

mạnh nên quá trình di chuyển dân số ở Quảng Ninh diễn ra khá phức tạp Giai đoạn

2011 - 2015, điểm nổi bật của tình hình kinh tế - xã hội Quảng Ninh là đã giữ vững tăng trưởng kinh tế ở mức cao, bình quân 5 năm đạt 9,2%; năng lực sản xuất và quy

mô kinh tế ngày càng tăng; GDP (tổng sản phẩm nội địa) năm 2015 ước đạt khoảng 100.300 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2010 GDP bình quân đầu người năm 2015 ước tính khoảng 3.901 USD gấp hơn 1,5 lần so với năm 2010 (2.560 USD) Thu ngân sách của tỉnh trong giai đoạn 2011 – 2015 tăng gấp 2,2 lần so với giai đoạn

2006 – 2010, đứng trong nhóm 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về thu ngân sách Giai đoạn 2011 - 2015, Quảng Ninh đã có những bước tiến đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội, bước đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng xây dựng nền kinh tế “xanh”, thoát khỏi sự phụ thuộc vào ngành khai thác than, ưu tiên tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp phi khai khoáng, đồng

thời đảm bảo hoạt động khai thác than được sạch hơn và bền vững hơn

Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực, phát triển nhiều sản phẩm mới, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 7,6%/năm Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp đã có dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác mỏ, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp sạch, bền vững hơn, cụ thể: tỷ trọng ngành khai thác mỏ từ 42% năm 2010 giảm còn 29,9% năm 2015, ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp điện từ 7,4% năm 2010 tăng lên 33% năm 2015

Hoạt động dịch vụ phát triển đa dạng, tăng trưởng bình quân 5 năm (2011 – 2015) đạt 11,7%/năm Tổng du khách đến Quảng Ninh 5 năm ước đạt 36,1 triệu lượt khách, tăng bình quân 7,4%/năm; trong đó: khách quốc tế là 12,6 triệu lượt, tăng bình quân 5,5%/năm

Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định, tăng trưởng bình quân đạt 7,4%/năm Trong giai đoạn 2011 - 2015, Quảng Ninh đã hoàn thành 100% công tác lập quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới và thành công trong việc xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp gắn với du lịch tại xã Yên Đức, thị xã Đông Triều Đặc biệt, chương trình mỗi xã, phường một sản phẩm OCOP (One commune, one product, viết tắt là OCOP) của tỉnh đã thúc đẩy các doanh nghiệp địa phương hợp tác phát triển góp phần gia tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp; qua đó gia tăng thu nhập, giải quyết việc làm cho lao động địa phương Đến nay, toàn tỉnh đã có 220 tổ hợp tác (2.420 thành viên) và 291 hợp tác xã (hơn 180.000 xã viên) được thành mới theo hướng cộng đồng, liên kết sản xuất

Trang 23

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng nhanh và ổn định, cơ cấu kinh tế thay đổi đều ở cả 3 lĩnh vực cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu GDP trong nền kinh tế là phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cho tỉnh phát triển kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa xứng đáng là một trong 3 tỉnh trọng điểm của tam giác tăng trưởng kinh tế của Bắc Bộ: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Nhìn chung, tỷ lệ đất trống đồi trọc còn khá nhiều, quá trình lấn biển, phá rừng ngập mặn nhanh Chất lượng đất suy giảm do xói mòn, rửa trôi Khai thác than và vật liệu xây dựng đã làm cho diện tích đất ô nhiễm tăng lên Tại vùng khai thác than, đất bị ô nhiễm các kim loại nặng, đất bị xói mòn nặng Xu hướng chất lượng đất tại các khu có hoạt động khai thác than sẽ được cải thiện nếu công tác hoàn nguyên và phủ xanh đất trống được tăng cường Chất lượng đất của tỉnh nói chung

và chất lượng đất trong sản xuất nông nghiệp nói riêng đang ngày càng bị suy thoái

và giảm mạnh do sức ép của gia tăng dân số, phát triển kinh tế dẫn đến khai thác quá mức, mất đất nông nghiệp do chuyển thành cơ sở hạ tầng xây dựng…

Bảng 1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội ở Quảng Ninh đến năm 2020

STT Loại chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2020

Trang 24

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện với các vùng ĐNN ở Quảng Ninh bao gồm sông Đá Bạc (Bạch Đằng ), hồ Yên Lập và vùng sản xuất nông nghiệp (vùng trồng lúa nước) Nội dung chủ yếu của nghiên cứu bao gồm:

- Đánh giá hiện trạng một số vùng sông, hồ, vùng trồng lúa nước ở tỉnh Quảng Ninh

- Đề xuất một số giải giải pháp sử dụng hợp lý các vùng đất ngập nội địa ở tỉnh Quảng Ninh

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp kế thừa : kế thừa các thông tin, số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đa dạng sinh học, hiện trạng sử dụng tài nguyên, các hoạt động quản lý, bảo tồn nguồn tài nguyên…cũng như các kết quả nghiên cứu đã được công bố

Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) hay điều tra thông qua bảng câu hỏi mở Các hộ gia đình điều tra (15 hộ) được lựa chọn ngẫu nhiên trong các hộ dân sống xung quanh 3 vùng đất ngập nước hồ Yên Lập (tp Hạ Long ), sông Đá Bạc, vùng trồng lúa nước ở huyện Đông Triều

Nội dung thông tin thu thập tập trung vào các vấn đề liên quan đến vai trò của các vùng đất ngập nước, các nguồn tài nguyên do đất ngập nước mang lại, các hoạt động sinh kế liên quan đến các vùng đất ngập nước, các vấn đề về khái thác và bảo

vệ các vùng đất ngập nước ở từng địa phương

Nghiên cứu tập trung vào các dịch vụ hệ sinh thái dựa trên phương pháp tiếp cận đánh giá thiên niên kỷ các hệ sinh thái (UNEP, 2005) Theo đó dịch vụ hệ sinh thái được chia làm 4 nhóm: dịch vụ cung cấp (thực phẩm, nước ngọt, gỗ và chất đốt…), dịch vụ hỗ trợ (hình thành đất, sản xuất lương thực, cân bằng khí quyển, chu trình dinh dưỡng…), dịch vụ văn hóa (giáo dục, giải trí, du lịch, lịch sử…) và dịch vụ điều tiết (điều hòa khí hậu, điều tiết lũ, kiểm soát dịch bệnh, lọc nước…)

Phương pháp phân tích, đánh giá tổng hợp dựa trên mô hình DPSIR:

Đây là phương pháp do Tổ chức Môi trường Châu Âu xây dựng năm 1999 để xác định, phân tích và đánh giá các mối quan hệ phức tạp giữa hệ thống môi trường tự nhiên và các yếu tố kinh tế, xã hội Với cách xây dựng mô hình phân tích nhận thức

Trang 25

theo dạng chuỗi, công cụ DPSIR bao gồm 5 hợp phần có mối quan hệ tương tác qua lại theo 2 chiều, chiều tác động và chiều phản hồi Mô hình này được sử dụng như

là một công cụ phân tích và đánh giá các vấn đề liên quan đến ĐNN sông, hồ tỉnh Quảng Ninh

Đây là phương pháp dùng mô hình nhận thức để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân- kết quả bao gồm nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng phó cần thiết Các thông số chỉ thị bao gồm các thông số về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu và được chia thành 5 hợp phần : Động lực- Áp lực- Hiện trạng - Tác động - Đáp ứng Các hợp phần này có mối quan hệ tương tác qua lại theo hai chiều: chiều thuận

và chiều phản hồi Đây là một công cụ hiệu quả được đề tài sử dụng để xác định, phân tích và đánh giá các mối quan hệ rất phức tạp của hệ thống môi trường tự nhiên và hệ thống kinh tế- xã hội tại vùng núi Đông Bắc nước ta

Các hoạt động của con người làm gia tăng hoặc giảm nhẹ áp lực lên môi trường Động lực gây tác động đến môi trường được xem là bắt đầu từ các hoạt động của con người, chủ yếu là các động lực từ sự phát triển kinh tế và văn hóa xã hội của con người (Hình 2)

Hình 2 Mô hình DPSIR trong phân tích theo chuỗi nhân quả

(Nguồn: ISTAT, C.Costantino, F Falcitelli, A Tuolini, OESD – Workshop,

Paris, may 14-16 2003)

Động lực

Hoạt động nhân sinh gây ra các áp

lực: Sản xuất (nông nghiệp, công

nghiệp, giao thông,…), tiêu dùng,

các hoạt động khác ngoài hệ thống

kinh tế…

Áp lực

Sức ép trực tiếp từ các hoạt động nhân sinh lên môi trường: phát thải chất thải, khai thác tài nguyên thiên nhiên, sử dụng đất, làm biến đổi

môi trường…

Trạng thái

Các điều kiện và xu hướng biến đổi môi trường tự nhiên: không khí, nước, đất, nhiệt độ khí quyển, các mẫu hình tiến hóa…

Tác động

Các tác động đến con người do biến đổi trạng thái môi trường tự nhiên: ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, thiệt hại về kinh tế, các quá trình sản xuất, lũ lụt…

Sự phản hồi

Các hoạt động của con người giải quyết

các vấn đề môi trường: ngăn ngừa ô

nhiễm, giảm hoạt động, giảm thiểu suy

thoái môi trường, sử dụng bền vững tài

nguyên …

Trang 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Một số đặc điểm chung của ĐNN nội địa ở Quảng Ninh

Quảng Ninh có diện tích đất tự nhiên là 610.235,31 ha; trong đó nhóm đất nông nghiệp 460.119,34 ha (chiếm 75,4%) Diện tích đất trồng lúa nước là 28.530,51 ha chiếm 6,2% diện tích đất nông nghiệp; đất nuôi trồng thuỷ sản 20.806,61 ha chiếm 4,52% diện tích đất nông nghiệp, tập trung nhiều nhất ở các huyện Quảng Yên, Móng Cái, Tiên Yên, Uông Bí và thành phố Hạ Long

Hệ thống sông ở Quảng Ninh rất đa dạng, bao gồm 4 sông lớn là sông Đá Bạc (phần hạ lưu sông Thái Bình), sông Ka Long, sông Tiên Yên, sông Ba Chẽ Ngoài

ra, còn có 11 sông nhỏ, chiều dài từ 15 - 35 km, diện tích lưu vực thường nhỏ hơn

300 km2 Đặc điểm chung của các sông ở Quảng Ninh là có độ dài ngắn, độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, trắc diện hẹp, nơi cửa sông thường mở rộng hình thành các vùng vịnh cửa sông hình phễu Hầu hết các sông nằm trong vùng mưa lớn trên 2.000 mm nên hay hình thành lũ thất thường, có đặc điểm lũ lên nhanh và xuống cũng nhanh Các sông này đều bắt nguồn từ phía sườn đón gió biển của cánh cung Đông Triều - Móng Cái ở độ cao 500m đổ ra vịnh Bắc Bộ theo hướng vuông góc với bờ biển Phía thượng lưu có độ dốc lớn, nhiều ghềnh thác, trắc diện hẹp, không có trung lưu độ dài sông ngắn, nơi cửa sông thường mở rộng dưới dạng vịnh cửa sông Hầu hết các sông nằm trong vùng mưa lớn trên 2000 mm/năm nên thường hình thành lũ thất thường, lũ lên nhanh và xuống nhanh Thủy triều và độ mặn xâm nhập vào cửa sông, thường bị chặn lại ở các chân đập hoặc hạ lưu các công trình vượt ngầm qua sông

Một số hồ đập chính trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Hồ Yên Lập có diện tích lưu vực 182,6 km2, dung tích 127,5 triệu m3; hồ Cao Vân có diện tích lưu vực 46,5 km2, dung tích 12,56 triệu m3; hồ Tràng Vinh có diện tích lưu vực 70,8 km2, dung tích 75 triệu m3; hồ Quất Đông có diện tích lưu vực 11 km2, dung tích 10,3 triệu m3

Các sông ven biển tỉnh Quảng Ninh, được chia thành 4 vùng khác nhau: Vùng I, lưu vực sông Đá Bạc, gồm các huyện Đông Triều, thị xã Quảng Yên và thành phố Uông Bí, có diện tích tự nhiên 96.595 ha trong đó có 63.031 ha đất nông nghiệp.Vùng II, lưu vực các sông Yên Lập, Mằn, Trới, Diễn Vọng, gồm các huyện Hoành Bồ, thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện Vân Đồn, có tổng diện tích tự nhiên 175.877 ha, trong đó có 115.617 ha đất nông nghiệp.Vùng III, lưu vực các sông Ba Chẽ, Tiên Yên, gồm các huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, có diện tích tự nhiên 172.412 ha, trong đó có 87.199 ha đất nông

Trang 27

nghiệp.Vùng IV, lưu vực các sông Đầm Hà, Hà Cối, Tín Coóng và Ka Long, gồm các huyện Đầm Hà, Hải Hà và thành phố Móng Cái, có diện tích tự nhiên 134.255

ha, trong đó có 100.745 ha đất nông nghiệp

Nguồn nước mặt ở Quảng Ninh ngoài chủ yếu được khai thác từ các sông suối thì còn được khai thác từ các hồ đập trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên do biên độ lưu lượng dòng chảy của các sông suối trên địa bàn tỉnh dao động lớn theo thời gian khác nhau trong năm nên việc khai thác nước thô trực tiếp từ sông suối chỉ thực hiện đối với các hệ thống cấp nước có quy mô công suất nhỏ Đối với hệ thống cấp nước có quy mô công suất vừa và lớn, nguồn nước thô được khai thác lấy từ các đập, hồ chứa nước lớn có trên địa bàn tỉnh

3.1.1 Đặc điểm của các vùng ĐNN ( sông , hồ ) nghiên cứu

Hồ Yên Lập là một trong số ba công trình hồ chứa nước có dung tích lớn, có ýnghĩa kinh tế - xã hội quan trọng của tỉnh Quảng Ninh Hồ có diện tích lưu vực 182,6 km2, dung tích toàn bộ 127,5 triệu m3 dung tích hữu ích 118,12 triệu m3 và dung tích chết 9,38 triệu m3. Mục đích sử dụng chính của hồ Yên Lập là dự trữ và cung cấp nước cho Thành phố Hạ Long, là nguồn nước tưới quan trọng cho sản xuất công nghiệp trong vùng Hơn 30 năm qua kể từ ngày đưa vào khai thác sử dụng, dòng nước ngọt từ Yên Lập đã được dẫn đến từng nhà dân, ngấm vào lòng đất, rửa sạch những phèn chua, mặn lợ ở vùng đất vốn đã từng bị xâm mặn bao đời trước đó Một năm sau khi nước ngọt được dẫn từ hồ Yên Lập về, sản lượng lương thực của huyện Yên Hưng thời đó tăng lên gấp rưỡi từ 10.730 tấn (năm 1981) lên 16.775 tấn (năm 1983) Và đến nay thì Quảng Yên luôn là một trong những địa phương dẫn đầu của tỉnh về sản lượng lương thực, năng suất lúa Điều đáng nói hơn cả là hiện nay trên diện tích gần 900ha nuôi cá nước ngọt ở TX Quảng Yên thì tới 70% diện tích sử dụng nước hồ Yên Lập, ngoài ra nhiều diện tích nuôi tôm công nghiệp, nuôi thuỷ sản với quy mô lớn trên địa bàn cũng đang sử dụng nước từ hồ Yên Lập

Sông Đá Bạc (đoạn hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình) và các phụ lưu

Sông Thái Bình là một trong các hệ thống sông lớn ở miền Bắc Việt Nam Chiều dài của dòng sông chính là 385 km và diện tích toàn lưu vực là 22.420 km2 Hệ thống sông Thái Bình được tạo thành từ hợp lưu của một số con sông tại Phả Lại: Sông Cầu (dài 288 km; diện tích lưu vực 6030 km2); sông Thương (dài 157 km; diện tích lưu vực 6650 km2) và sông Lục Nam (dài 175 km, diện tích lưu vực 3070

km2) Dưới Phả Lại 4 km tại Chí Linh, sông Thái Bình nhận thêm nguồn nước của sông Hồng qua sông Đuống Theo số liệu thống kê, lượng nước sông Hồng chảy vào sông Thái Bình qua sông Đuống chiếm khoảng 80 – 90 % hàng năm Sau khi

Trang 28

nhận nước sông Hồng , sông Thái Bình được rẽ thành 2 nhánh; nhánh thứ nhất vẫn được gọi là sông Thái Bình chảy theo hướng Đông Nam; Nhánh thứ hai là sông Kinh Thầy chảy về hướng Đông Phần nước còn lại của sông Kinh Thầy đổ về sông

Đá Bạc (phía cuối gọi là sông Bạch Đằng) và đổ ra cửa Nam Triệu Sông Đá Bạc đoạn chảy qua địa phận tỉnh Quảng Ninh từ Đông Triều, Uông Bí, Yên Hưng rồi đổ

ra biển dài khoảng 60km

Các phụ lưu của sông Đá Bạc nằm trên địa bàn của tỉnh đều bắt nguồn từ Nam dãy Yên Tử ở độ cao 500 – 700m Một số phụ lưu quan trọng của sông Đá Bạc đang được dùng làm nguồn nước thô cấp cho một số nhà máy xử lý nước, như; sông Trung Lương (sông Cầm), sông Vàng Danh

Sông Cầm có chiều dài khoảng 25 km, lưu lượng trung bình 3 m3/s, lưu lượng nhỏ nhất Qmin = 0,3 – 0,5 m3/s Sông Trung Lương phía thượng lưu sông Cầm có lưu lượng Qmin = 0,217 m3/s hiện đang được sử dụng làm nguồn cấp nước cho nhà máy xi măng Hoàng Thạch với công suất thiết kế của trạm bơm nước thô Miếu Hương là 10.000 m3/ngày Khả năng khai thác tối đa của sông Trung Lương chỉ đạt khoảng 15.000 – 18.000 m3/ngày

Hiện trạng khai thác, sử dụng nước mặt tại tỉnh Quảng Ninh

Nước mặt có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và dân sinh của tỉnh Quảng Ninh, cung cấp một lượng nước lớn cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp và phục vụ cho hoạt động sống cho người dân Nguồn tài nguyên nước mặt của tỉnh Quảng Ninh được đánh giá là phong phú và dồi dào, tổng trữ lượng nước mặt của tỉnh Quảng Ninh khoảng 7,26 tỷ m3 phân bố trên các hệ thống sông chính: sông Kinh thầy, sông Đá Bạc, sông Ka Long, sông Tiên Yên, sông Bã Chẽ và hệ thống các sông nhỏ phân bố dọc theo bờ biển, ngắn và dốc gồm sông Tràng Vinh, sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Hà Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn Vọng, sông Man, sông Trới, sông Míp Tổng trữ lượng nước mặt đang khai thác là 3.669,86 triệu m3/năm, trong đó khai thác nước mặt cho sinh hoạt, du lịch là 41,25 triệu m3/năm chiếm 1,1%; khai thác nước cho sản xuất nông nghiệp là 385,57 triệu m3/năm chiếm 10,5%; khai thác nước cho sản xuất công nghiệp là 3243,04 triệu m3/năm chiếm 88,4%

Trang 29

Bảng 2 Hiện trạng sử dụng nước mặt tỉnh Quảng Ninh (triệu m 3 /năm)

Huyện/thị xã/

thành phố

Tổng lượng nước mặt khai thác

Khai thác nước mặt cho sinh hoạt, du lịch

Khai thác nước mặt cho công nghiệp

Khai thác nước mặt cho nông nghiệp

Trang 30

trắc phục vụ báo cáo hiện trạng môi trường) Từ năm 2011, trong mạng lưới quan trắc môi trường được UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt, chất lượng nước các hồ (đập), sông mới được quan trắc một cách hệ thống theo thời gian và không gian Kết quả tổng hợp chất lượng nước hồ (đập), sông trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nêu ở bảng nhìn chung chất lượng nước các hồ (đập), sông trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh khá tốt Hầu hết các thông số chất lượng nước cơ bản đều thoả mãn cột A2 theo QCVN 08: 2015/BTNMT tức là sử dụng được cho mục đích sinh hoạt, nhưng phải

xử lý theo quy định và sử dụng được cho các mục đích khác, tuy số mẫu còn rất ít, nên nhận xét này chưa đại diện, cần tiếp tục quan trắc chất lượng nước hồ (đập), sông rộng và nhiều hơn

Qua bảng kết quả quan trắc và phân tích chất lượng nước hồ (đập) tỉnh Quảng Ninh được trình bày ở bảng 3 :

Chất lượng nước tại các hồ (đập) tỉnh Quảng Ninh bao gồm đập Đồng Ho

(Hoành Bồ), Hồ Yên Lập (Hạ Long), Đập Cao Vân (Cẩm Phả), Hồ Nội Hoàng (Đông Triều), Hồ Yên Trung (Uông Bí) có chất lượng cụ thể như sau:

Hồ Nội Hoàng là hồ nước cấp thuỷ lợi cho vùng sản xuất nông nghiệp huyện Đông Triều Hồ nằm cạnh tuyến đường vận tải than chuyên dụng và ngay dưới chân các bãi thải của các mỏ than khu vực do đó chịu ảnh hưởng nhiều từ các hoạt động khai thác than phía thượng nguồn làm cho nước bị axít hoá (pH<4), Diện tích hồ Nội Hoàng bị thu hẹp do đất đá thải than trôi lấp Kết quả quan trắc năm 2013 cho thấy, pH tại hồ Nội Hoàng rất thấp (3,7) Số liệu phân tích chất lượng nước hồ ở tất

cả các lần quan trắc cho thấy độ pH của nước hồ đều ở mức thấp từ 3,4 đến 4,5 nằm ngoài giới hạn cho phép của QCVN 08:2015 về chất lượng nước mặt Kết quả quan trắc năm 2013 còn cho thấy hàm lượng các kim loại nặng như As, Pb (gấp 2 và 1,5 lần) , nằm ngoài giới hạn cho phép của QCVN 08:2015 mức A2 Do đó, các cơ quan chức năng cần đưa ra khuyến cáo cho địa phương và nhà nông khi sử dụng nước hồ làm nước tưới cho nông nghiệp

Nước Hồ Yên Trung chưa có dấu hiệu ô nhiễm, các chỉ tiêu đều nằm trong giới hạn A2 của QCVN 08:2015/BTNMT đảm bảo nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt

Trang 31

Bảng 3.Kết quả phân tích mẫu nước các hồ, đập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh năm 2013

Đồn

g

Ho

Hồ Yên Lập

Đập Cao Vân

Đập Yên Hàn- Đầm

Hồ Nội Hoàng

Hồ Yên Tru

ng

Hồ Tràng Vinh

Hồ Quất Đông

Cột A2

Cột B1

1 pH -

7,37 7,65 6,63 6,99 3,70 6,85 6,94 7,09

6 - 8,5

(-) Không phát hiện (Nguồn: Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường- Sở Tài

nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh)

Trang 32

Nước Đập Cao Vân đã có sự xuất hiện của các kim loại nặng As, Pb, Cd, Hg tuy nhiên đều nằm trong giới hạn cho phép Nhìn chung chất lượng nước tại đập chưa

có dấu hiệu ô nhiễm sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt

Đập Đồng Ho được sử dụng để cung cấp nước sinh hoạt cho khu vực phía Tây

TP Hạ Long, huyện Hoành Bồ và Yên Hưng Trong các đợt quan trắc năm 2013, nước đập chưa có biểu hiện ô nhiễm, sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt trong khu vực

So sánh với năm 2012, hàm lượng BOD5 trung bình năm của các nguồn nước phục vụ cho mục đích cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây:

Bảng 4 Hàm lượng BOD trong nước mặt phục vụ mục đích cấp nước sinh hoạt năm 2012, 2013

TT Vị trí quan trắc

Nồng độ BOD trung bình năm (mg/l)

QCVN 08:2015/BTNM

6 Suối Hoành Mô 10,49 12,9 6

7 Suối chảy qua thị trấn Bình

8 Đập Yên Hàn, xã Quảng Tân 9,82 11,14 6

(Nguồn :Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh)

Trang 33

Kết quả cho thấy: hàm lượng BOD trung bình năm tại các điểm quan trắc có sự

dao động không đáng kể , tại hồ Yên Lập, hàm lượng BOD trung bình năm có xu hướng giảm mạnh và thấp hơn GHCP mức A2 của QCVN 08:2015/BTNMT 1,6 lần

QCVN 08:2015/BTNM

6 Suối Hoành Mô 15,77 21,0 15

7 Suối chảy qua thị trấn Bình

15

8 Đập Yên Hàn, xã Quảng Tân 15,68 18,43 15

(Nguồn :Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh)

Trang 34

Hàm lượng Pb trung bình năm của các nguồn nước phục vụ cho mục đích cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây:

Bảng 6 Kết quả quan trắc hàm lượng Pb trong nước mặt phục vụ mục đích cấp nước sinh hoạt năm 2012, 2013

TT Vị trí quan trắc

Nồng độ Pb trung bình năm (mg/l)

QCVN 08:2015/BTNMT (mg/l)

7 Suối chảy qua thị trấn Bình

0,02

8 Đập Yên Hàn, xã Quảng Tân - - 0,02

(-) Không phát hiện

(Nguồn :Trung tâm quan trắc và phân tích môi trường- Sở Tài nguyên và Môi

trường tỉnh Quảng Ninh

Trang 35

Bảng 7 Kết quả phân tích 20 mẫu nước các sông, suối, hồ đập trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (mg/l) năm 2015

Trang 38

Nhận xét :

Nhìn chung chất lượng nước tại hồ (đập ), sông, cụ thể là hồ Yên Lập cần được xử

lý trước khi đưa vào sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt, qua các bảng số liệu quan trắc có thế thấy các chỉ tiêu pH , DO , TSS , COD đều nằm trong giới hạn cho phép

Kết quả phân tích hàm lượng Pb trong nước mặt phục vụ mục đích cấp nước sinh hoạt năm 2012, 2013 tại hồ Yên Lập không phát hiện có dấu hiệu nhiễm chì

Kết quả phân tích hàm lượng Pb năm 2015 tại hồ Yên Lập 2 và hồ Yên Lập 4 có dấu hiệu ô nhiễm chì

Theo số liệu phân tích năm 2012 có thể thấy hồ Yên Lập bị ô nhiễm BOD5 nguyên nhân do các hoạt động khai thác than phía thượng nguồn

Sông Đá Bạc ( Bạch Đằng)

Theo như kết quả đề tài nghiên cứu các thông số môi trường trong nước trạm liên tục Đá Bạc do Ts Trần Đình Lân chủ nhiệm vào mùa khô tháng 3 – 2009 và mùa mưa tháng 7 – 2009 thì pH của sông dao động trong khoảng 6,45 – 7,81, độ muối < 1 ppt Như vậy trong khoảng thời gian 7 năm thì giá trị pH đã có sự gia tăng

độ kiềm theo thời gian Giá trị độ muối gần như không có sự dao động Lý do vị trị lấy mẫu sông Đá Bạc nằm khá sâu trong đất liền Cách biển tới trên dưới 30 km,

hầu như không chịu ảnh hưởng độ mặn của biển

Sông Đá Bạc là sông có độ đục và hàm lượng TSS khá cao Đánh giá là sông có

độ phù sa lớn

3.1.2 Đặc điểm vùng ĐNN trong sản xuất nông nghiệp

a Hiện trạng sử dụng đất ở tỉnh Quảng Ninh

Theo kết quả thống kê năm 2015 tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 610.235

ha được phân chia thành 14 đơn vị hành chính (huyện, thị xã, thành phố), huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất là huyện Hoành Bồ 84.463,22 ha, chiếm 13,84% diện tích toàn tỉnh; đơn vị có diện tích nhỏ nhất là huyện Cô Tô 4.750,75 ha, chiếm 0,78% diện tích toàn tỉnh

Theo mục đích sử dụng, đất nông nghiệp có diện tích lớn nhất với 450.582 ha, tiếp đến là đất phi nông nghiệp 113.331 ha và đất chưa sử dụng là 46.322 ha

Ngày đăng: 28/09/2018, 23:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w