1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng GIS trong việc lập bản đồ các vùng đất ngập nước nội địa ở tỉnh quảng ninh

97 90 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 7,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC VIÊT TẮT BOD5 Nhu cầu oxi sinh học BTNMT Bộ Tài nguyên môi trường COD Nhu cầu oxi hoá học CSDL Cơ sở dữ liệu DEM Mô hình số độ cao ĐCTV Địa chất thủy văn ESRI Viện nghiên cứu hệ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sỹ Khoa học Môi trường, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả các thầy cô trong nhà trường đã truyền đạt cho tôi kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật và xã hội đặc biệt là những kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành, đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian theo học cũng như thời gian làm luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo - PGS.TS.Nguyễn

Xuân Cự, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài; Thầy giáo – Th.S Nguyễn Quốc Việt, đã tận tình giúp đỡ tôi, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến các thầy cô trong bộ môn Khoa học đất, trường Đại học Khoa học tự nhiên, đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành khoá học, thực hiện thành công luận văn này

Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và những tình cảm yêu mến nhất đến gia đình, những người thân của tôi đã tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này Luận văn được hoàn thành với sự hỗ trợ của đề tài QG15-07

Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Vũ Thanh Nga

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC VIÊT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 4

1.1 Khái niệm chung về vùng đất ngập nước nội địa 4

1.2 Giới thiệu về hệ thống thông tin địa lý GIS 6

1.2.1 Khái niệm GIS 6

1.2.2 Lịch sử phát triển của hệ thống thông tin địa lý GIS 7

1.2.3 Các thành phần của hệ thông tin địa lý 11

1.2.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu trong GIS 12

1.2.5 Các lĩnh vực ứng dụng của GIS 14

1.2.6 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới và ở ViệtNam 15

1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh 18

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 18

1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 28

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1.Đối tượng, nội dung nghiên cứu 35

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35

2.1.2 Nội dung nghiên cứu 35

2.2 Phương pháp nghiên cứu 35

2.2.1 Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý các tài liệu thứ cấp .36

2.2.2 Phương pháp điều tra thực địa 36

2.2.3 Phương pháp sử dụng kỹ thuật GIS trong xây dựng bản đồ 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Đặc điểm các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh .37

3.1.1 Đặc điểm và tiềm năng sử dụng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh 37

Trang 5

3.1.2 Hiện trạng khai thác tài nguyên nước tại các vùng 43

3.2 Quy trình xây dựng bản đồ vùng đất ngập nước nội địa tỉnh Quảng Ninh 50

3.2.1 Thu thập bản đồ và cơ sở dữ liệu 50

3.2.2 Phân tích và xử lý số liệu 51

3.2.3 Xây dựng bản đồ các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh 51

3.3 Xây dựng các bản đồ thành phần một số hồ nước chính ở tỉnh Quảng Ninh .54

3.3.1 Bản đồ địa hình theo lưu vực 54

3.3.2 Bản đồ hệ thống thủy văn: 58

3.3.3 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất 62

3.3.4 Bản đồ đất 66

3.3.5 Bản đồ lưu vực toàn tỉnh, bản đồ 3D toàn tỉnh, và bản đồ 3D của 4 vùng đất ngập nước nội địa .70

3.4 Một số biện pháp quản lý tài nguyên vùng đất ngập nước nội địa tỉnh Quảng Ninh .73

3.4.1 Các vấn đề về quản lý tài nguyên nước nói chung của tỉnh Quảng Ninh 73

3.4.2 Một số biện pháp quản lý đất ngập nước nội địa ở tỉnh Quảng Ninh: 76

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 6

DANH MỤC VIÊT TẮT

BOD5 Nhu cầu oxi sinh học

BTNMT Bộ Tài nguyên môi trường

COD Nhu cầu oxi hoá học

CSDL Cơ sở dữ liệu

DEM Mô hình số độ cao

ĐCTV Địa chất thủy văn

ESRI Viện nghiên cứu hệ thống môi trường

GDP Tổng sản phẩm trong nước

GIS Hệ thống thông tin địa lý

KCN Khu công nghiệp

QCVN Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Việt Nam

QH&ĐT Quy hoạch và điều tra

PRA Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng TNN Tài nguyên nước

TNNM Tài nguyên nước mặt

TSS Chất rắn lơ lửng

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Dòng chảy năm và tổng lượng dòng chảy năm sinh ra trên các tiểu 40

lưu vực 40

Bảng 2 Dung tích nước của 4 hồ 41

Bảng 3 Phân phối lượng mưa theo mùa 42

Bảng 4 Lượng mưa trung bình tháng, năm tại các trạm 43

Bảng 5 Hiện trạng khai thác nước tại các đô thị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 43

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Các hợp phần cơ bản của GIS 12

Hình 2: Cấu trúc vector và raster 12

Hình 3: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh 19

Hình 4 Giá trị COD các nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt 45

Hình 5 Giá trị BOD5 các nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt 45

Hình 6 Giá trị TSS các nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt 46

Hình 7 Giá trị COD các nguồn nước dùng cho mục đích nông nghiệp 47

Hình 8 Giá trị BOD5 các nguồn nước dùng cho mục đích nông nghiệp 47

Hình 9 Giá trị TSS các nguồn nước dùng cho mục đích nông nghiệp 48

Hình 10 Bản đồ địa hình lưu vực hồ Bến Châu 54

Hình 11 Bản đồ địa hình lưu vực hồ Yên Lập 55

Hình 12 Bản đồ địa hình lưu vực hồ Đầm Hà Động 56

Hình 13 Bản đồ địa hình lưu vực hồ Tràng Vinh 57

Hình 14 Bản đồ hệ thống thủy văn lưu vực hồ Bến Châu 58

Hình 15 Bản đồ hệ thống thủy văn lưu vực hồ Yên Lập 59

Hình 16 Bản đồ hệ thống thủy văn lưu vực hồ Đầm Hà Động 60

Hình 17 Bản đồ hệ thống thủy văn lưu vực hồ Tràng Vinh 61

Hình 18 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất lưu vực hồ Bến Châu 62

Hình 19 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất lưu vực hồ Yên Lập 63

Hình 20 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất lưu vực hồ Đầm Hà Động 64

Hình 21 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất lưu vực hồ Tràng Vinh 65

Hình 22 Bản đồ đất lưu vực hồ Bến Châu 66

Hình 23 Bản đồ đất lưu vực hồ Yên Lập 67

Hình 24 Bản đồ đất lưu vực hồ Đầm Hà Động 68

Hình 25 Bản đồ đất lưu vực hồ Tràng Vinh 69

Hình 26 Bản đồ phân bố lưu vực cả tỉnh Quảng Ninh 70

Trang 9

Hình 27 Mô hình số độ cao ở dạng 3D phủ ảnh Landsat tổ hợp 321 – Tỉnh Quảng Ninh 70 Hình 28 Mô hình số độ cao ở dạng 3D phủ ảnh Landsat tổ hợp 321 – hồ Bến Châu 71 Hình 29 Mô hình số độ cao ở dạng 3D phủ ảnh Landsat tổ hợp 321 – hồ Yên Lập 71 Hình 30 Mô hình số độ cao ở dạng 3D phủ ảnh Landsat tổ hợp 321 – hồ Đầm Hà Động 72

Trang 10

MỞ ĐẦU Các vùng đất ngập nước nội địa bao gồm các vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nước chảy và nước đứng Cụ thể hơn, các vùng đất ngập nước nội địa bao gồm sông, suối, hồ, hồ chứa, tầng nước trong núi đá vôi (hang nước ngầm), đầm nước mặn, vùng nước cửa sông, vùng nước lợ ven bờ Trong đó, ba kiểu thuỷ vực sau cùng được xem chịu ảnh hưởng rất lớn của dòng chảy lục địa đổ ra Các vùng đất ngập nước nội địa hết sức đa dạng về độ lớn, hình thái, đặc tính thủy lý hóa học, tiềm năng nguồn lợi Điều quan trọng là chế độ nước thường xuyên có biến động theo thời gian (mùa), có khi khô cạn, nhưng lại có khi ngập lụt lớn, khiến cho ranh giới của các vùng nước cũng luôn biến đổi, không ổn định Đặc điểm này khiến cho hình thái cấu trúc một vùng đất ngập nước nội địa có thế có dạng tập trung, nhưng cũng có khi có dạng phân tán, rải rác, nối với nhau bằng những đường hành lang phức tạp

Các vùng đất ngập nước nội địa thường có mối quan hệ mật thiết, chịu tác động thường xuyên, trực tiếp từ các vùng dân cư, nông nghiệp, lâm nghiệp ở vùng lưu vực, thông qua các hoạt động khai thác rừng, xói mòn đất, thải chất ô nhiễm Những hoạt động đó có thể gây những biến đổi lớn đối với chế độ thủy học, ảnh hưởng xấu tới môi trường của vùng nước, tác động tới hoạt động sống của các sinh vật sống trong thuỷ vực

Việc quản lý các vùng đất ngập nước nội địa tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường dưới chính sách đổi mới đã đem lại tăng trưởng kinh tế cao từ 7 đến 8% trong 5 năm đầu tiên của thế

kỷ XXI cùng với tư nhân hóa và những thay đổi lớn về quyền sở hữu Việt Nam phải đối mặt với những thách thức lớn về vấn đề môi trường do hậu quả của khai thác quá mức, quản lý yếu kém các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức ép của toàn cầu hóa Những thay đổi về xã hội, sinh thái, kinh tế và thể chế đã làm cho các hệ thống sinh kế các vùng đất ngập nước nội địa ngày càng phức tạp và dễ bị tổn thương

Trang 11

Quảng Ninh là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc nước ta Theo báo cáo của Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, tổng diện tích tự nhiên của Quảng Ninh là 610.235 ha bao gồm đất nông nghiệp 445.226 ha, đất phi nông nghiệp 130.510 ha, đất chưa sử dụng 34.500 ha… Trong giai đoạn 2000-2010, các kiểu ĐNN có sự thay đổi và luân chuyển về diện tích giữa các kiểu ĐNN Trong đó, rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản có sự chuyển dịch diện tích lớn nhất Vùng nước cửa sông, vùng biển nông ngập nước thường xuyên có độ sâu dưới 6 m khi triều thấp, bãi bùn gian triều, bãi cát, cuội, sỏi ít biến động hơn Hướng chuyển đổi chủ yếu giữa các kiểu ĐNN ven biển là sự gia tăng diện tích của các ao, đầm nuôi trồng thủy sản do mở rộng diện tích và suy giảm RNM Đối với đất chuyên trồng lúa nước, quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Quảng Ninh đã chỉ rõ sự cần thiết phải quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất đai theo quy hoạch và pháp luật; đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững Duy trì và bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất trồng lúa, tăng cường hơn nữa việc hỗ trợ vùng sản xuất nông nghiệp tập trung để góp phần đảm bảo an ninh lương thực; Phương án quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy mô phát triển và đặc thù từng vùng, hình thành các trung tâm kinh tế, khu

đô thị, khu du lịch

Những nghiên cứu về ĐNN ở Quảng Ninh trong thời gian qua còn chưa nhiều, lại chủ yếu tập trung vào các ĐNN ven biển, đặc biệt là rừng ngập mặn Hầu như chưa có nghiên cứu nào đề cập đến các vùng ĐNN nội địa, kể cả các đất trồng lúa với vai trò của các vùng ĐNN Do vậy nghiên cứu về ĐNN nội địa ở Quảng Ninh được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, nhằm có các giải pháp quản lý và sử dụng hợp bền vững theo hướng sử dụng đa mục đích và bảo vệ môi trường

Nhằm mục tiêu quản lý phát triển bền vững vùng đất ngập nước nội địa ở

tình Quảng Ninh, đề tài “Nghiên cứu ứng dụng GIS trong việc lập bản đồ các vùng

đất ngập nước nội địa ở tỉnh Quảng Ninh” ứng dụng kỹ thuật GIS để xây dựng bản

đồ các vùng đất ngập nước nội địa, phục vụ công tác quản lý và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng này ở Quảng Ninh

Trang 12

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn:

 Đánh giá tiềm năng và thực trạng quá trình khai thác sử dụng và quản lý các vùng đất ngập nước nội địa không dòng chảy (hồ đầm) nội địa ở Quảng Ninh

 Ứng dụng kĩ thuật GIS xây dựng bản đồ một số hồ nước lớn ở Quảng Ninh phục vụ cho công tác quy hoạch, quản lý các vùng đất ngập nước này

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Khái niệm chung về vùng đất ngập nước nội địa[21]

Đất ngập nước rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng đất ngập nước Đất ngập nước đã và đang bị suy thoái và mất đi

ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng

Ở Việt Nam, việc phân loại ĐNN được khởi xướng và áp dụng vào năm 1989 gồm D.Scott và Lê Diên Dực (Mai Đình Yên, 2002) Đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu và áp dụng về phân loại ĐNN của Việt Nam (Phan Nguyên Hồng

và cs., 1997; Lê Diên Dực, 1998a; Nguyễn Chu Hồi và cs, 1999; Nguyễn Ngọc Anh

và cs, 1999; Bộ KHCN&MT, 2001; Nguyễn Chí Thành và cs, 1999, 2002; 2002;

Vũ Trung Tạng, 2004ab, Hoàng Văn Thắng, 2005)

Theo cách Phân loại đất ngập nước của Phan Nguyên Hồng và cộng sự (1996) đã phân chia đất ngập nước theo các sinh cảnh, nhưng sắp xếp các sinh cảnh này theo tính chất ngập nước mặn (đới biển ven bờ) hay ngập nước ngọt (đất ngập nước nội địa) Cách thức phân loại này đúng như mục đích của tác giả là phục vụ cho việc nghiên cứu xây dựng chiến lược quản lý đất ngập nước ở cấp quốc gia, còn đối với các cấp chi tiết hơn sẽ không thể đáp ứng được Theo đó, đất ngập nước nội địa bao gồm:

- Các hệ thống dòng chảy (sông, suối);

- Các hồ tự nhiên;

- Các hồ chứa nhân tạo;

- Vùng đồng bằng châu thổ sông;

- Các vùng ngập nước không thường xuyên

Ngoài ra theo hệ thống phân loại đất ngập nước Ramsar thì đất ngập nước nội địa bao gồm:

- Các đồng bằng châu thổ thường xuyên có nước

Trang 14

- Các sông/suối/lạch thường xuyên có nước; bao gồm cả các thác nước

- Các sông/suối/lạch có nước theo mùa/không liên tục/bất thường

- Các hồ nước ngọt có nước thường xuyên (trên 8ha); bao gồm các hồ lớn uốn chữ U/hình móng ngựa

- Các hồ nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục (trên 8ha); bao gồm cả các hồ ở đồng bằng ngập lũ

- Các hồ nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên

- Các hồ và bãi nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên

- Các đầm/ vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước thường xuyên

- Các đầm/ vũng nước mặn/lợ/kiềm có nước theo mùa/không liên tục

- Các đầm/ vũng nước ngọt có nước thường xuyên; các ao hồ (dưới 8ha); các đầm nước và đầm lầy trên đất vô cơ; có thảm thực vật nổi mọng nước ít nhất trong phần lớn mùa sinh trưởng

- Các đầm/ vũng nước ngọt có nước theo mùa/không liên tục trên đất vô cơ; kể

cả bãi lầy, hố/ hốc đá, đồng cỏ ngập theo mùa, đầm cỏ lác/ lách

- Các vùng đất than bùn không có rừng; bao gồm đầm lầy than bùn có cây bụi hoặc trống, các đầm lầy/ bàu, các đầm lầy thấp

- Các vùng đất ngập nước núi cao; kể cả các đồng cỏ núi cao, các vùng nước tạm thời do tuyết tan

- Các vùng đất ngập nước lãnh nguyên; bao gồm các vũng nước lãnh nguyên, các vùng nước tạm thời do tuyết tan

- Các vùng đất ngập nước cây bụi chiếm ưu thế; các đầm lầy cây bụi, các đầm nước có cây bụi chiếm ưu thế, các rừng cây bụi, cây dương đỏ; trên đất vô cơ

- Các vùng đất ngập nước nước ngọt có cây lớn chiếm ưu thế; kể cả rừng đầm lầy nước ngọt, rừng ngập theo mùa, đầm lầy cây gỗ; trên đất vô cơ

- Các vùng đất than bùn có rừng; rừng đầm lầy đất than bùn

- Suối, ốc đảo nước ngọt

- Các vùng đất ngập nước địa nhiệt

- Các hệ thống thủy văn castơ ngầm và hang động nội địa

Trang 15

1.2 Giới thiệu về hệ thống thông tin địa lý GIS

1.2.1 Khái niệm GIS

Hệ thống thông tin địa lý GIS - Geographical Information System (GIS) là một tổ chức tổng thể của bốn hợp phần: Phần cứng máy tính, phần mềm, tư liệu địa

lý, người điều hành, mạng thông tin và quy trình được thiết kế hoạt động một cách

có hiệu quả nhằm tiếp nhận, lưu trữ, điều khiển, phân tích và hiển thị toàn bộ các dạng dữ liệu địa lý GIS có mục tiêu đầu tiên là xử lý hệ thống dữ liệu trong môi trường không gian địa lý

Sau này, do sự hỗ trợ của công nghệ tin học và tính đa dạng của các hệ thống ứng dụng và năm 2000, ESRI bổ sung thêm vào định nghĩa là cấu trúc của GIS có thêm hai hợp phần là quy trình và mạng Định nghĩa này được chấp nhận rộng rãi

và được quan niệm như một định nghĩa chính thức về GIS

“Hệ thống Thông tin Địa lý là một hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu địa lý bằng máy tính để thu thập, lưu trữ, kiểm tra, tích hợp, phân tích và hiển thị dữ liệu không gian địa lý”

Các học giả khác nhau cung cấp các định nghĩa khác nhau về GIS Trong phạm vi các định nghĩa được trình bày dưới đây, mỗi học giả nhấn mạnh một vài khía cạnh khác nhau của GIS Một số định nghĩa bỏ qua sự hữu dụng thực sự của GIS là khả năng tích hợp thông tin và hỗ trợ trong việc đưa ra các quyết định, nhưng tất cả các định nghĩa này bao gồm các tính năng cần thiết, các dữ liệu tham chiếu tham khảo và phân tích không gian địa lí

Một định nghĩa được trích dẫn trong William Huxhold’s Introduction to Urban Geographic Information Systems:

“Mục đích đầu tiên và quan trọng nhất của một hệ GIS truyền thống là phân tích không gian địa lý Vì thế,có thể thu thập dữ liệu hạn chế và đầu ra bản đồ Khả năng của phân tích của GIS thường hỗ trợ ra quyết định cho các dự án hoặc các khu vực địa lý giới hạn Các đặc điểm cơ sở dữ liệu bản đồ (tính chính xác, tính liên tục, đầy đủ, vv) là thường thích hợp cho đầu ra bản đồ quy mô nhỏ.Dữ liệu vector và dữ liệu raster cũng được bao gồm trong GIS.”

Trang 16

Một định nghĩa khác của Jeffrey Star và John Estes: “Hệ thống thông tin địa

lý (GIS) là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với các dữ liệu được tham chiếu bởi các tọa độ không gian và địa lý Nói cách khác, một GIS là cả một

hệ thống cơ sở dữ liệu với khả năng cụ thể cho dữ liệu không gian tham chiếu, cũng như một tập hợp các hoạt động để làm việc với dữ liệu Dưới một góc nhìn khác, GIS có thể được dùng như bản đồ bậc cao.”

Như vậy có thể thấy có nhiều định nghĩa GIS theo nhiều cách khác nhau nhưng chúng đều thể hiện những nét chính là xử lý các dữ liệu địa lý cho ra các thông tin hữu ích bằng công nghệ tin học

1.2.2 Lịch sử phát triển của hệ thống thông tin địa lý GIS

Từ lâu bản đồ là một công cụ thông tin quen thuộc đối với loài người Trong quá trình phát triển kinh tế kĩ thuật, bản đồ luôn được cải tiến sao cho ngày càng đầy đủ thông tin hơn, ngày càng chính xác hơn Khi khối lượng thông tin quá lớn trên một đơn vị diện tích bản đồ thì người ta tiến đến việc lập bản đồ chuyên đề Ở bản đồ chuyên đề, chỉ có những thông tin theo một chuyên đề nào đó được biểu diễn Trên một đơn vị diện tích địa lí sẽ có nhiều loại bản đồ chuyên đề: bản đồ địa hình, bản đồ hành chính, bản đồ địa chất, bản đồ du lịch, bản đồ giao thông, bản đồ hiện trạng xây dựng

Trong những năm đầu thập kỉ 60 (1963-1964) các nhà khoa học ở Canada đã cho ra đời hệ thông tin địa lý Hệ thống thông tin địa lý kế thừa mọi thành tựu trong ngành bản đồ cả về ý tưởng lẫn thành tựu của kỹ thuật bản đồ Hệ thông tin địa lý bắt đầu hoạt động cũng bằng việc thu thập dữ liệu theo định hướng tuỳ thuộc vào mục tiêu đặt ra

Sự phát triển của GIS chịu ảnh hưởng của các nhóm nghiên cứu trọng điểm, các công ty và cá nhân cùng với sự phát triển kịp thời các khái niệm chính Ý tưởng

về mô tả các lớp khác nhau của dữ liệu trên một loạt các bản đồ nền, có liên quan về mặt địa lý đã được xây dựng từ rất lâu Giống như các bản đồ của trận Yorktown (Cách mạng Hoa Kỳ) được vẽ bởi nhà bản đồ học người Pháp Louis-Alexandre Berthier chứa lớp phủ bản lề để hiển thị di chuyển quân hoặc giữa thế kỷ 19 'Atlas

Trang 17

để kèm theo báo cáo thứ hai của Ủy ban đường sắt Ailen' cho thấy dân số, lưu lượng giao thông, địa chất và địa hình chồng trên bản đồ cùng một cơ sở tương tự của GIS, John Snow sử dụng một bản đồ cho thấy vị trí của cái chết do dịch tả ở trung tâm London trong tháng Chín, 1854 để theo dõi nguồn gốc của các ổ dịch là những ví dụ đầu tiên của phân tích địa lý

Nhưng dần dần những thay đổi bắt đầu xảy ra trong kỹ thuật lập bản đồ và các yếu tố sau đây gây ra sự thay đổi này trong phân tích bản đồ:

 Công nghệ máy tính - cải thiện trong phần cứng, đặc biệt là đồ họa

 Sự phát triển của các lý thuyết của các quá trình không gian địa lý kinh tế và

 Không gian cơ bản Nystuen đưa ra các khái niệm về khoảng cách, định hướng, kết nối

 Thuật toán máy tính Tobler để chiếu bản đồ, bản đồ học máy tính

 Cơ sở địa lý- lý thuyết học Bungevới địa lý-điểm, đường và khu vực

 Ma trận địa lý Berry được đặc trưng bởi các nghiên cứu trong một khu vực bằng cách phủ bản đồ nghiên cứu các chủ đề mang tính hệ thống khác nhau rồi tách đánh giá chi tiết từng lớp đơn một

Các động lực để phát triển GIS bắt đầu vào giữa năm 1960, khi hệ thống thông tin địa lý Canada (CGI) đã thực hiện một nỗ lực lớn Quỹ nhà đất Canada của chính phủ liên bang và các bang xác định nguồn lực đất đai của quốc gia và thực trạng dụng hiện tại và tiềm năng của chúng Các kết quả hữu ích là đã xác định là

Trang 18

các khu vực đất đai chưa sử dụng, nhưng vấn đề đặt ra la rất khó để đo lường một cách chính xác từ một bản đồ CGIS đã được quy hoạch và phát triển như là một công cụ đo lường, một công cụ lưu trữ thông tin dạng bảng, chứ không phải là một công cụ lập bản đồ

Dấu mốc thứ hai của sự phát triển này xảy ra vào cuối năm 1960 tại Cục Điều tra dân số Mỹ, kế hoạch thiết lập những công cụ cần thiết để tiến hành điều tra dân số năm 1970 Các chương trình DIME (Dual Independent Map Encoding) tạo các bản ghi kỹ thuật số của tất cả các đường phố Mỹ, để hỗ trợ tham chiếu tự động

và tập hợp các hồ sơ điều tra dân số Sự giống nhau của công nghệ này cho rằng các CGI được công nhận ngay lập tức và đã dẫn đến một chương trình lớn tại phòng thí nghiệm của Đại học Harvard cho đồ họa máy tính và phân tích không gian để phát triển một hệ GIS mục đích chung mà có thể xử lý các nhu cầu của cả hai ứng dụng

Dự án cuối cùng dẫn đến GIS ODYSSEY của cuối những năm 1970

Trong một diễn tiến khác, vẽ bản đồ và các cơ quan lập bản đồ đã bắt đầu vào những năm 1960 để kết luận xem máy tính có thể đáp ứng các với nhu cầu của

họ và có thể làm giảm chi phí và rút ngắn thời gian tạo bản đồ Các cơ quan lập bản

đồ quốc gia, chẳng hạn Cục điều tra Ordnance của Anh, Viện Địa lý Quốc gia Pháp, Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ và Cơ quan bản đồ quốc phòng Mỹ bắt đầu điều tra sử dụng máy tính để hỗ trợ việc chỉnh sửa bản đồ, để tránh quá trình tốn kém và chậm điều chỉnh tay và soạn thảo lại Những phát triển bản đồ tự động đầu tiên xảy ra vào những năm 1960, và đến cuối năm 1970 cơ quan bản đồ lớn nhất đã được vi tính hóa một phần Viễn thám cũng đóng một phần quan trọng trong sự phát triển của GIS, như là một nguồn của công nghệ cũng như một nguồn dữ liệu GIS thực sự bắt đầu cất cánh vào đầu năm 1980, khi giá của phần cứng máy tính đã giảm xuống một mức độ có thể duy trì một ngành công nghiệp phần mềm quan trọng và ứng dụng có chi phí hiệu quả

Bên cạnh Canada, nhiều trường đại học ở Mỹ cũng tiến hành nghiên cứu và xây dựng Hệ thông tin địa lý Trong các Hệ thông tin địa lý được tạo ra cũng có rất nhiều hệ không tồn tại được lâu vì nó được thiết kế cồng kềnh mà giá thành lại cao

Trang 19

Lúc đó người ta đặt lên hàng đầu việc khắc phục những khó khăn nảy sinh trong quá trình xử lý các số liệu đồ họa truyền thống Họ tập trung giải quyết vấn đề đưa bản đồ, hình dạng, hình ảnh, số liệu vào máy tính bằng phương pháp số để xử lý các

dữ liệu này Tuy kỹ thuật số hóa đã được sử dụng từ năm 1950 nhưng điểm mới của giai đoạn này chính là các bản đồ được số hóa có thể liên kết với nhau để tạo ra một bức tranh tổng thể về tài nguyên thiên nhiên của một khu vực Từ đó máy tính được

sử dụng và phân tích các đặc trưng của các nguồn tài nguyên đó, cung cấp các thông tin bổ ích, kịp thời cho việc quy hoạch Việc hoàn thiện một Hệ thông tin địa lý còn phụ thuộc vào công nghệ phần cứng mà ở thời kỳ này các máy tính IBM 1401 còn chưa đủ mạnh Giai đoạn đầu những năm 60 của thế kỷ trước đánh dấu sự ra đời của

Hệ thông tin địa lý chủ yếu được phục vụ cho công tác điều tra quản lý tài nguyên Đến giữa thập kỷ 60 thì Hệ thông tin địa lý đã phát triển, có khả năng phục vụ công tác khai thác và quản lý đô thị như DIME của cơ quan kiểm toán Mỹ, GRDSR của

cơ quan thống kê Canada, Năm 1968, Hội địa lý quốc tế đã quyết định thành lập

Uỷ ban thu thập và xử lý dữ liệu địa lý

Trong những năm 70 ở Bắc Mỹ đã có sự quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ môi trường và phát triển Hệ thông tin địa lý Cũng trong khung cảnh đó, hàng loạt yếu tố đã thay đổi một cách thuận lợi cho sự phát triển của Hệ thông tin địa lý, đặc biệt là sự giảm giá thành cùng với sự tăng kích thước bộ nhớ, tăng tốc độ tính toán của máy tính Chính nhờ những thuận lợi này mà Hệ thông tin địa lý dần dần được thương mại hóa Đứng đầu trong lĩnh vực thương mại phải kể đến các cơ quan, công ty: ESRI, GIMNS, Intergraph Chính ở thời kỳ này đã xảy ra “loạn khuôn dạng dữ liệu” và vấn đề phải nghiên cứu khả năng giao diện giữa các khuôn dạng Năm 1977 đã có 54 Hệ thông tin địa lý khác nhau trên thế giới Bên cạnh Hệ thông tin địa lý, thời kỳ này còn phát triển mạnh mẽ các kỹ thuật xử lý ảnh viễn thám Một hướng nghiên cứu kết hợp Hệ thông tin địa lý và viễn thám được đặt ra và cùng bắt đầu thực hiện

Thập kỷ 80 được đánh dấu bởi các nhu cầu sử dụng Hệ thông tin địa lý ngày càng tăng với các quy mô khác nhau Người ta tiếp tục giải quyết những tồn tại của

Trang 20

những năm trước mà nổi lên là vấn đề số hóa dữ liệu: sai số, chuyển đổi khuôn dạng Thời kỳ này có sự nhảy vọt về tốc độ tính toán, sự mềm dẻo trong việc xử lý

dữ liệu không gian Thập kỷ này được đánh dấu bởi sự nảy sinh các nhu cầu mới trong ứng dụng Hệ thông tin địa lý như: Khảo sát thị trường, đánh giá khả thi các phương án quy hoạch, sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên, các bài toán giao thông, cấp thoát nước Có thể nói đây là thời kỳ bùng nổ Hệ thông tin địa lý

Những năm đầu của thập kỷ 90 được đánh dấu bằng việc nghiên cứu sự hoà nhập giữa viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý Các nước Bắc Mỹ và châu Âu gặt hái được nhiều thành công trong lĩnh vực này Khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng đã thành lập được nhiều trung tâm nghiên cứu viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý Rất nhiều hội thảo quốc tế về ứng dụng viễn thám và Hệ thống thông tin địa lý được tổ chức nhằm trao đổi kinh nghiệm và thảo luận về khả năng phát triền các ứng dụng của công nghệ Hệ thống thông tin địa lý [14]

1.2.3 Các thành phần của hệ thông tin địa lý

Công nghệ GIS bao gồm 5 hợp phần cơ bản là: (Hình 1)

 Thiết bị phần cứng: Máy vi tính, máy vẽ, máy in, bàn số hoá…

 Phần mềm: ARC/INFO, MAPINFO, ILWIS, WINGIS,SPANS…

 CSDL địa lý tổ chức theo chuyên ngành, mục đích nhất định

 Kiến thức chuyên gia, chuyên ngành

 Chính sách và cách thức quản lý

Trang 21

Hình 1: Các hợp phần cơ bản của GIS

1.2.4 Xây dựng cơ sở dữ liệu trong GIS

Một cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý có thể chia ra làm 2 loại dữ liệu cơ bản: Dữ liệu không gian và phi không gian Mỗi loại có những đặc điểm riêng và chúng khác nhau về yêu cầu lưu giữ số liệu, hiệu quả, xử lý và hiển thị

1.2.4.1 Cấu trúc dữ liệu trong GIS

Có hai dạng cấu trúc dữ liệu cơ bản trong GIS, đó là dữ liệu không gian và

dữ liệu thuộc tính Đặc điểm quan trọng trong tổ chức dữ liệu của GIS là: Dữ liệu không gian (bản đồ) và dữ liệu thuộc tính được lưu trữ trong cùng một cơ sở dữ liệu (CSDL) và có quan hệ chặt chẽ với nhau (Hình 2)

Hình 2: Cấu trúc vector và raster

Trang 22

1.2.4.2 Các kiểu dữ liệu không gian

Dữ liệu không gian có hai dạng cấu trúc, đó là dạng raster và dạng vector

 Cấu trúc raster:

Có thể hiểu đơn giản là một “ảnh” chứa các thông tin về một chuyên đề mô phỏng bề mặt trái đất và các đối tượng trên đó bằng một lưới (đều hoặc không đều) gồm các hàng và cột Những phần tử nhỏ này gọi là những pixel hay cell Giá trị của pixel là thuộc tính của đối tượng

Kích thước pixel càng nhỏ thì đối tượng càng được mô tả chính xác Một mặt phẳng chứa đầy các pixel tạo thành raster Cấu trúc này thường được áp dụng để mô

tả các đối tượng, hiện tượng phân bố liên tục trong không gian, dùng để lưu giữ thông tin dạng ảnh (ảnh mặt đất, hàng không, vũ trụ ) Một số dạng mô hình biểu diễn bề mặt như DEM (Digital Elevation Model), DTM (Digital Terrain Model), TIN (Triangulated Irregular Network) trong CSDL cũng thuộc dạng raster

Ưu điểm của cấu trúc dữ liệu dạng raster là dễ thực hiện các chức năng xử lý

và phân tích Tốc độ tính toán nhanh, thực hiện các phép toán bản đồ dễ dàng Dễ dàng liên kết với dữ liệu viễn thám Cấu trúc raster có nhược điểm là kém chính xác

về vị trí không gian của đối tượng Khi độ phân giải càng thấp (kích thước pixel lớn) thì sự sai lệch này càng tăng

 Cấu trúc vector:

Cấu trúc vector mô tả vị trí và phạm vi của các đối tượng không gian bằng tọa độ cùng các kết hợp hình học gồm nút, cạnh, mặt và quan hệ giữa chúng Về mặt hình học, các đối tượng được phân biệt thành 3 dạng: đối tượng dạng điểm (point), đối tượng dạng đường (line) và đối tượng dạng vùng (region hay polygon) Điểm được xác định bằng một cặp tọa độ X,Y

Đường là một chuỗi các cặp tọa độ X,Y liên tục Vùng là khoảng không gian được giới hạn bởi một tập hợp các cặp tọa độ X,Y trong đó điểm đầu và điểm cuối trùng nhau Với đối tượng vùng, cấu trúc vector phản ảnh đường bao

Cấu trúc vector có ưu điểm là vị trí của các đối tượng được định vị chính xác (nhất là các đối tượng điểm, đường và đường bao) Cấu trúc này giúp cho người

Trang 23

sửdụng dễ dàng biên tập bản đồ, chỉnh sửa, in ấn Tuy nhiên cấu trúc này có nhược điểmlà phức tạp khi thực hiện các phép chồng xếp bản đồ

 Dữ liệu thuộc tính:

Dữ liệu thuộc tính dùng để mô tả đặc điểm của đối tượng Dữ liệu thuộc tính

có thể là định tính - mô tả chất lượng hay là định lượng Về nguyên tắc, số lượng các thuộc tính của một đối tượng là không có giới hạn Để quản lý dữ liệu thuộc tính của các đối tượng địa lý trong CSDL, GIS đã sử dụng phương pháp gán các giá trị thuộc tính cho các đối tượng thông qua các bảng số liệu Mỗi bản ghi (record) đặc trưng cho một đối tượng địa lý, mỗi cột của bảng tương ứng với một kiểu thuộc tính của đối tượng đó.[9]

Các dữ liệu trong GIS thường rất lớn và lưu trữ ở các dạng file khác nhau nên tương đối phức tạp Do vậy để quản lý, người ta phải xây dựng các cấu trúc chặt chẽ cho các CSDL, có các cấu trúc cơ bảnsau:

+ Trong lãnh vực điều tra và quản lý, và khai thác tài nguyên: GIS được sử dụng như là công cụ giám sát, phân tích, tìm hiểu nguyên nhân gây ra tai biến môi trường từ đó có cơ sở dự báo tai biến, rủi ro trong tương lai…

+ Trong lãnh vực lâm nghiệp: GIS được sử dụng trong điều tra và quản lý tài nguyên rừng, quản lý rừng đầu nguồn, phát triển cơ sở hạ tầng, trồng rừng, tái tạo

và bảo vệrừng

Trang 24

+ Trong lĩnh vực nông nghiệp: Nghiên cứu điều tra đất đai, theo dõi hiện trạng sử dụng đất, đánh giá đất đai, quy hoạch và quản lý đất nông nghiệp, nghiên cứu năng suất cây trồng, nghiên cứu hệ thống canh tác…

+ Trong lĩnh vực nghiên cứu và bảo vệ môi trường: Bảo vệ động vật hoang

dã, đánh giá tác động môi trường, quản lý tài nguyên nước mặt, nước ngầm…

+ Trong lĩnh vực địa chính: GIS được sử dụng như một công cụ để điều tra

và xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai phục vụ cho mục đích quản lý

+ Trong quản lý đô thị và các công trình công cộng: GIS được ứng dụng rất

có hiệu quả như trong các ngành dịch vụ thông tin, giao thông công cộng, điện, nước, cung cấp khí đốt…

+ Trong lĩnh vực thương mại người ta cũng ứng GIS để quản lý và phân phối hàng hóa, nghiên cứu và phân vùng thị trường, mạng lưới tiếp thị….[12]

1.2.6 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới và ở ViệtNam

1.2.6.1 Tình hình ứng dụng GIS trên thế giới

Việc ứng dụng GIS phục vụ theo dõi, quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường đã được một số nước trên thế giới ứng dụng từ những năm 1970 Tuy nhiên, ở Việt Nam do thiếu kinh phí, các trang thiết bị thu phát vệ tinh nên viễn thám và GIS chỉ mới được đưa vào ứng dụng trong thập kỷ vừa qua

Tại Mỹ, GIS đã được ứng dụng khá rộng rãi trong hầu hết các lĩnh vực quản

lý tài nguyên và môi trường: trong đánh giá đất đai, trong quy hoạch không gian, quản lý đất đai khí tượng thủy văn, dự báo thời tiết, giám sát thay đổi môi trường [27]

Tại Đức đã sử dụng dữ liệu độ cao của GIS kết hợp với dữ liệu vệ tinh để dự báo đặc tính vật lí của đất

Tại Úc, Hệ thống Thông tin Tài nguyên Úc đã được thực hiện từ những năm

1970 nhằm hỗ trợ đưa ra những quyết định kiên quan đến các vấn đề về sử dụng đất, môitrường

Ở BangLadesh, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp bắt đầu triển khai dự án GIS từnăm1996,với mục tiêu là thiết lập hệ thống thông tin tài nguyên nông nghiệp dựa

Trang 25

trên cơ sở GIS, sử dụng cơ sở dữ liệu thông tin địa lý vùng sinh thái nông nghiệp (AEZ/GIS) để phát triển công nghệ và chuyển giao vào sản xuất nông nghiệp

Từ khi giới thiệu GIS tại Viện nghiên cứu Nông nghiệp, nhiều hoạt động đã được thực hiện sử dụng hệ thống cở sở dữ liệu AEZ/GIS Hệ thống cơ sở dữ liệu AEZ là cở sở thông tin cơ bản phục vụ ta quyết định, nhiều cơ quan tổ chức quy hoạch quốc gia thể hiện đang sử dụng hệ thống AEZ/GIS cho mục đích quy hoạch

vĩ mô và vi mô

Ở Anh đã ứng dụng GIS và phương pháp đánh giá đất của FAO để đánh giá đất đai, xây dựng bản đồ đơn vị đất đai trên cơ sở các lớp thông tin chuyên đề: khí hậu, đất, độ dốc, pH và các thông tin về vụ mùa đối chiếu với yêu cầu sử dụng đất của khoai tây để lập bản đồ thích hợp đất đai

Ở Thái Lan, Đại học Yakohama – Nhật Bản và Viện Công nghệ Châu Á từ năm 1998 đã ứng dụng GIS và viễn thám trong quản lý nguồn tài nguyên Đại học Khon ken cũng đã có nhiều nghiên cứu ứng dụng GIS trong tìm đất thích hợp cho cây lúa

FAO cũng đã ứng dụng viễn thám và GIS trong nhiều lĩnh vực nghiên của đời sống, trong mô hình phân vùng sinh thái nông nghiệp để đánh giá đất đai thế giới ở tỷ lệ 1/5.000.000 [27]

1.2.6.2 Tình hình ứng dụng GIS ở ViệtNam

Ở Việt Nam, GIS đã có mặt ở rất nhiều các nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau và đã có những kết quả đáng kể GIS đã được sử dụng trong các trường đại học, viện nghiên cứu trong các ứng dụng về quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường, trong quản lý tài nguyên rừng, tài nguyên nước và các quản lý hành chính khác Các trường Đại học KHTN TP Hồ Chí Minh, trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức, Đại học Huế, Đại học KHTN Hà Nội, trường Đại học Nông nghiệp

Hà Nội, Viện Quy hoạch rừng, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, đã có nhiều thành tựu trong nghiên cứu phát triển ứng dụng GIS, như tìm hiểu sự thay đổi

sử dụng đất với công cụ GIS và viễn thám; xây dựng CSDL phục vụ thị trường bất động sản, ứng dụng GIS trong đánh giá đất; ứng dụng GIS tính toán các tham số

Trang 26

trong phương trình mất đất phổ dụng USLE để nghiên cứu về xói mòn đất [23]; ứng dụng GIS và ảnh viễn thám giám sát vùng đất trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long; ứng dụng mô hình thủy lực và mô hình độ cao số tính toán ngập lụt TP Hồ Chí Minh; GIS được ứng dụng để xây dựng bản đồ phân vùng nồng độ Arsen trong các giếng nước ngầm tỉnh An Giang[12]

Trong ngành kiểm lâm Việt Nam, từ đầu năm 1997, Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã lắp đặt và vận hành trạm thu ảnh viễn thám Modis tại Hà Nội với mục đích chính là phát hiện sớm các điểm cháy rừng và quản lý lửa rừng Hệ thống trạm thu của TeraScan đã tự động thu nhận, xử lý và sao

dữ liệu ảnh Modis hàng ngày từ hai vệ tinh TERRA và AQUA, tự động xử lý và tạo

ra dữ liệu các điểm cháy rừng Thông tin các điểm cháy, phát hiện, cảnh báo cháy rừng được truyền tải trên toàn quốc thông qua chương trình dự báo thời tiết hàng ngày

Trong lĩnh vực y tế, viễn thám và GIS cũng từng bước đang được ứng dụng rộng rãi Các ứng dụng đầu tiên trong lĩnh vực này có thể kể đến là: Sản phẩm hệ thống thông tin phòng chống thảm họa (giải thưởng Công nghệ thông tin quả cầu vàng năm 2001) của tác giả Nguyễn Hòa Bình; công trình ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong dự báo nguy cơ sốt rét tại tỉnh Bình Thuận năm 2002 của Nguyễn Ngọc Thạch trường Đại Học KHTN Hà Nội

Trong những năm gần đây các ứng dụng viễn thám và GIS trong lĩnh vực y

tế phát triển mạnh hơn Dẫn theo Lê Công Thắng (2011) , các công trình tiêu biểu như: Hệ thống tính toán tồn lưu và lan tỏa chất độc da cam/dioxin của Văn phòng

33 (2009); ứng dụng GIS trong quản lý và dự báo sốt rét của Viện sốt rét (2009); kiểm soát và dự báo dịch tả của Sở Y tế Bắc Ninh (2011); ứng dụng GIS trong quản

lý và phòng chống HIV/AIDS của Sở Y tế TP Hồ Chí Minh (2011); bản đồ phân bố

và dự báo một số bệnh thường gặp tại Việt Nam (2003); hệ thống bản đồ phân bố cây độc, nấm độc tại các tỉnh biên giới phía Bắc và biện pháp xử lý, dự phòng (2007); bản đồ phân bố sốt rét và ký sinh trùng (2007); hệ thống bản đồ phân bố sinh vật và dược liệu ven biển từ Quảng Ninh đến Khánh Hòa

Trang 27

Trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên, với sự ra đời của trạm thu ảnh

vệ tinh Spot (năm 2007) thuộc Trung tâm Viễn thám – Bộ Tài nguyên và Môi trường, hàng loạt các đề tài nghiên cứu về lĩnh vực ứng dụng viễn thám và GIS đã được hoàn thành như giám sát tài nguyên rừng; trong phân tích thông tin thị trường; tích hợp ảnh vệ tinh, công nghệ GIS, GPS thành lập bản đồ địa chính cơ sở tỷ lệ 1/10.000 và 1/5000; ứng dụng trong lĩnh vực khí tượng, thủy văn, phòng chống lũ lụt; ứng dụng kết hợp ảnh vệ tinh Rada và quang học để thành lập một số lớp thông tin về lớp phủ mặt đất; thành lập bản đồ nhiệt độ bề mặt nước biển và hàm lượng Chlorophyll – A khu vực Biển Đông từ ảnh MODIS; ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thông tin địa lý trong việc quản lý tổng hợp lưu vực sông; một số ứng dụng của ảnh vệ tinh Envisat Meris trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường[13] 1.3 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

Phía Bắc giáp tĩnh Quảng Tây nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa

Phía Tây Bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang

Phía Đông và Nam giáp vịnh Bắc Bộ và thành phố Hải Phòng

Phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng

Quảng Ninh có chiều đài 167 km, chiều rộng 84 km, đường biên giới Việt Trung dài 132,8 km với 3 cửa khẩu, trong đó có cửa khẩu quốc tế Móng Cái tiếp giáp với vùng duyên hải rộng lớn của miền Nam nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Tỉnh Quảng Ninh còn có bờ biển Vịnh Bắc Bộ dài 250km, với hàng ngàn đảo lớn nhỏ có diện tích khoảng 98.000ha

Quảng Ninh là một trong những tỉnh có diện tích lớn của Việt Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 6.102,4 km2 (Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2010)

Trang 28

Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính với 184 phường xã, thị trấn, gồm 10 đơn vị tỉnh, 3 thị xã, 1 thành phố và 2 tỉnh đảo Thành phố Hạ Long là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hoá của tỉnh nằm cách Hà Nội 170 km về phía tây theo quốc lộ 18A và cách thành phố cảng Hải Phòng 70 km về phía Nam theo quốc lộ 10

Xét về vị trí địa lý cho thấy tỉnh Quảng Ninh có điều kiện rất thuận lợi để phát triển kinh tế, giao lưu vận chuyển hàng hoá và du lịch Quảng Ninh có lợi thế nằm trong vùng tam giác kinh tế trọng điểm (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh) phía Đông Bắc của Tổ quốc, tiếp giáp với các đô thị lớn và cửa khẩu quốc tế quan trọng, có thế mạnh cả về giao thông đường thuỷ và đường bộ, lại vừa tiếp giáp với khu kinh tế nãng động phía Đông Nam Trung Quốc

Hình 3: Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh

Trang 29

1.3.1.2 Địa hình, địa chất

Quảng Ninh là tỉnh có địa hình trung du miền núi ven biển Phía bắc là vùng đồi thấp, tiếp đó là dãy núi cao thuộc cánh cung Đông Triều- Móng Cái, phía Nam cánh cung này là vùng đổng bằng ven biển, cuối cùng là hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ của vịnh Bắc Bộ Địa hình Quảng Ninh bị chia cắt mạnh và nghiêng dần theo hướng Đông Bắc Tây Nam tạo ra hai vùng khác biệt: Miền Tây và miền Đông Nhìn chung

có thể chia thành các loại địa hình sau:

(1) Đia hình quần đảo ven biển

Bao gồm hàng nghìn đảo lớn nhỏ khác nhau, được sắp thành hai hàng nốiđuôi nhau chạy từ Mũi Ngọc đến Hòn Gai tạo thành hình cánh cung song song với cánh cung Đông Triều Trong số này có những đảo lớn như đảo Cái Bầu, đảo Cái Bàn Độ cao phổ biến của các đảo khoảng trên dưới 100m Hiếm thấy những đỉnh cao > 200m Đỉnh cao nhất là Núi Nàng trên đảo Cái Bàn: 445m, Vạn Hoa trên đảo Cái Bầu: 399m và một vài đỉnh có độ cao xấp xỉ 300m trên các đảo khác

Xét về hình dạng và sự phân bố, các đảo từ Tiên Yên đến Móng Cái thường

là những núi, đảo đài, chủ yếu được cấu tạo bởi đá sét, như đảo Vĩnh Thực, đảo Cái Chiên, đảo Vạn Vược chạy song song với cánh cung Đông Triều ở phía trong Phần lớn các đảo này đều trơ trụi và hình thái địa hình của chúng tương tự các đải đồi trong đất liền Điều đó cho thấy nguổn gốc của các đảo ngoài khơi chính là sự tiếp nối các đải đồi núi trong đất liền và tách khỏi đất liền sau khi nước biển dâng lên cao làm chìm ngập các thung lũng phân cách chúng

Đảo Cái Bầu có hình tam giác cân mà đáy là một đường thẳng, chính là sự tiếp tục của đường đứt gãy lớn từ Đình Lập đến Tiên Yên (được đánh dấu bằng sông Phố Cũ) Đây là đảo lớn nhất trong các đảo ven bờ biển Đông Bắc cùng với đảo Cát Bà.Bờ biển khu vực này thuộc dạng bờ xâm thực bị ngập nước Chúng bị chia cất phức tạp và chắn bởi các hòn đảo có đường phương cấu trúc địa chất song song với đường bờ như các đảo Vĩnh Thực, Cái Bầu

Trang 30

Bắt đầu từ đảo Cái Bầu trở về phía Tây Nam (đến giáp Hải Phòng) là haivòng cung gồm hơn một nghìn đảo nhỏ trải dài trên 95 km, phần lớn được cấu tạo bởi đá vôi và đá sét, bao bọc lấy vịnh Bái Tử Long và Hạ Long Những hồn đảo này khi thì tụ tập thành dãy có những vách đựng đứng đổ thằng xuống eo biển hẹp Nhưng cũng có những hòn cô độc như các đảo sót Toàn thể vùng đảo này đều mang đầy đủ đặc tính của một miền núi đá vôi cổ tuổi Cacbon-Pecmi dạng khối, đôi khi dạng tấm

Màu sắc đa dạng, từ xám đến xám tro, xám trắng Nằm xen kẽ với đá vôi

có đá vôi silic và các trầm tích lục nguyên (đá cát, đá sét ) Các đảo đá vôi này mang đầy đủ những dạng địa hình của một miền castơ sót bị ngập nước biển Chúng được hình thành và phát triển trên đất liền, sau đó bị nước biển dâng lên làm chìm ngập Điều đó thấy rõ thông qua các bổn nước tròn bao bọc xung quanh các vách đá vôi: đó là các thung castơ cũ Các hang động rất phát triển

và đều nằm ở một độ cao nhất định, chính là mực cơ sò xâm thực trước đây cao hơn hiện tại

Bờ biển khu vực này thuộc dạng bờ xâm thực castơ hoặc bờ mài mòn hóa học Với hàng nghìn hòn đảo cấu tạo bởi trầm tích cacbonat (đá vôi) nên quá trình mài mòn vừa có tác động cốa sống, vừa cổ tác dụng hoà tan do các phản ứng hoá học giữa nước biển và các đá này Dạng địa hình đặc trưng cho đạng bờ này là các hốc mài mòn và các ngấn nước biển in trên các đảo đá

Ngoài ra đá vôi còn xuất hiện ở các đảo lớn, như trung tâm đảo Cái Bàn và phần Đông Nam đảo Lim Đá vôi có tuổi Đềvôn trung, hạt thô đôi khi tái kết tinh, màu đen hay xám sẫm và có phân lớp

Các đảo đá cát, đá phiến sét tập trung hầu hết ở phía Đông Những đảo lớn

có dạng đồi thoải, mấp mổ, giống với địa hình đổi thoải trong đất liền ở khu vực cẩm Phả-Tiên Yên Các đảo này được cấu tạo bỏi nhiều loại đá khác nhau Vùng quần đảo Cái Bầu, Quan Lạn được cấu tạo bởi các đá cát phân lớp xiên chéo màu xám sáng tuổi Đềvôn trung Phía Đông Nam đảo Cái Bàn chủ yếu có cuội kết hạt trung, sỏi kết và đá cát có độ hạt khác nhau và chứa một số thấu kính mỏng than đá

Trang 31

tuổi Triat Các đá màu đỏ tím tuổi Jura hạ chủ yếu là đá cát, cuội kết xen các lớp kẹp đá sét phân bố ở Tây Bắc đảo Cái Bầu và một chuỗi đảo nhỏ đọc theo vịnh Hà Cối Cuối cùng là trầm tích á lục địa (đá cát hạt thô) tuổi Neogen lộ ra ở quần đảo

Cô Tô

(2) Địa hình đồng bằng duyên hải:

Bao gồm đồng bằng phù sa và đồng bằng xen đồi thuộc phía Đông các huyện, thị: Móng Cái, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên và phía Nam huyện, thị: Đông Triều, Uông Bí và Yên Hưng

So với các vùng đồng bằng duyên hải khác, thì đây là một dải đồng bằng hẹp nhất Chỗ rộng nhất chỉ khoảng 15 km, về hình thái vùng đồng bằng bao gồm:

- Dải đồng bằng phù sa: kéo dài từ Tiên Yên đến Móng Cái không hẳn liên

tục, mà thường bị các đồi thấp có độ cao sàn sàn bằng nhau khoảng 25-50m ần sát ra biển cắt ngang Rõ ràng đây là những bề mặt san bằng lý tưởng và tính chất bằng phẳng

đó còn được thể hiện rõ ràng hơn nữa do lớp phủ thực vật rừng trên bề mật gần như đã bị phá huỷ hoàn toàn và thay thế vào đó là ràng ràng và sim mua Nhưng ngay cả ràng ràng

và sim mua cũng không có thời gian để lớn lên thành cây bụi Nguyên nhân chính do nhân dân chặt phá để giải quyết tình trạng thiếu củi làm chất đốt, ngay cả khi còn non

Nguổn gốc của các dải đồi này chính là những bậc thểm biển Điểu đó cho thấy, trước đây dải đất này bị ngập khi nước biển dâng cao và toàn bộ bề mặt của chúng đã bị san phẳng như ngày nay bởi tác động mài mòn của sóng biển Thực tế hiện nay tác động mài mòn còn xuất hiện ở những mực thấp hơn: Bộ phận đổng bằng ven biển ở thịxã Móng Cái trẽn đường ra Mũi Ngọc hầu như mới thoát khỏi tác dụng của sóng biển, đặc tính phân bố của cuội đã nói lên điều đó

- Dải đồng bằng ven biển: nhỏ hẹp chạy ven theo cánh cung Đông Triều, từ

phía Nam huyện Đông Triều qua thị xã Uông Bí đến Yên Hưng Trong đó khu vực huyện Đông Triều và Yên Hưng có diện tích lớn hơn so với thị xã Uông Bí bởi nó được một phần phù sa của sông Đá Vách, Cồn Khoai, sông Chanh tham gia tạo nên dải đồng bằng này

Trang 32

Khi mực nước biển từng đợt rút xuống, các sông suối nhỏ mới cắt qua chúng

mà tiến ra phía bờ biển hiện đại Do sông suối đều ngắn và đổ từ một độ đốc tương đối lớn (do đồi núi nằm rất sát biển), không loại trừ khả năng chúng tạo nên một số vạt lũ tích hoặc bậc thềm sông, nhưng sự phân bố của chúng chỉ giới hạn dọc theo sông và cửa suối mà thôi

Các đồng bằng hẹp duyên hải nằm gần như ngang với mực nước biển và là sản phẩm tích tụ của phù sa biển và phù sa sông Chúng còn được tiếp tục lấn ra ngoài khơi bởi những bãi phù sa biển rất rộng lớn, dặc biệt là ven bờ biển Móng Cái Vật liệu của các bãi phù sa biển gồm có cát thô ở bên dưới, cát mịn và bùn nhão giàu chất hữu cơ ở phía trên Do chế độ nhật triều, chúng bị ngập nước triều mỗi ngày một lần

Nước triều ban đầu tiến vào các bãi phù sa biển theo các lạch triều Các lạch này rộng từ 0,50m đến l-2m và sâu từ 0,30- 2m, càng vào phía trong đất liền càng toả ra làm nhiều nhánh, trông như những thân cây toả ra nhiêu cành, chỉ có điều chúng bị uốn khúc rất mạnh Từ các lạch triều, nước dần dần lan ra trên toàn bộ diện tích các bãi phù sa biển, dâng lên từ từ và đạt đến chiều cao l-2m, làm ngập các bãi ô rồ mọc ven cửa sông và chỉ còn nổi lên trên mặt nước những tán lá đày của sú vẹt

Khi triều xuống, nước rút đần lộ ra lưới rễ cây choãi rộng của sú vẹt Khi đó các bãi phù sa biển được phơi ra trên toàn bộ chiều rộng của bãi, bề mặt phẳng lỳ cùng các trũng nông đọng nước

Các bãi phù sa biển dần dần sẽ lấp đầy các chỗ lồi lõm của bờ biển, trừ những cửa sông Hiện tại cũng như trong tương lai gần con người sẽ sử dụng một phần các bãi phù sa biển này vào mục đích nuôi trồng thùy sản và nông nghiệp

- Dải đồng, bằng xen đồi: chạy song song với dải đồng bằng Tiên Yên-Móng

Cái Độ cao phổ biến của các đổi dao động từ 50-100m Dải đổi có độ dốc thoải nhất là ở thung lũng sông Vai Lai, có nhiều đổi thấp khoảng trên dưới 50m, đỉnh bằng, sườn rất thoải.Về cấu tạo địa chất và thạch học, thì giới hạn phía Bắc của đồng bằng duyên hải là hệ tầng Tấn Mài có tuổi giả thiết là Cambri thượng -

Trang 33

Ocđovic Bao gồm đá cát mica, đá phiến mica, philit màu xám, xám phớt lục Phủ lên nó, đồng thời cũng lộ ra thành một dải dài theo đường quốc lộ 18 từ Tiên Yên đến Móng Cái, là hệ tầng màu tím đỏ Jura hạ gồm đá cát, cuội kết, bột kết và đá sét có thể nằm thoải và thường tạo nén dạng địa hình krêta (sườn một mái) nhỏ đặc trưng cho vùng này

(3) Địa hình núi thấp:

Bao gồm 2 dải núi Nam Mẫu và Bình Liêu là phức tạp và có độ cao đáng kể nhất của tỉnh Quảng Ninh Hai dải núi này được ngăn cách với nhau bởi thung lũng sông Ba Chẽ, Phố Cũ và Tiên Yên

Đây là cánh cung cuối cùng của vùng Đồng Bắc và thưòng được gọi là cánh cung Đông Triểu Ban đầu dải cánh này chạy theo hướng Tây-Đồng sát bờ vịnh Bắc

Bộ ở khu vực Đông Triều-Hòn Gai, sau đó càng lên phía Bắc càng lùi dần vào phía trong đất liền Trong đó, phía Đông Bắc có độ cao 500-1.000m chiếm ưu thế Tại đây có một số đỉnh cao >1.000m cấu tạo bởi đá phun trào ryolit, như Cao Xiêm (1.330m), Châu Lãnh (1.507m) Phía Tây Nam núi thấp hơn, độ cao ưu thế 200-500m, những đỉnh cao 1000 m rất hiếm, đạt tới mức này có Yên Tử (1.063m), Am Váp (1.094m) Còn lại trong vùng là những núi thấp, phổ biến ở độ cao 400-600m Khu vực giữa 2 dải núi Nam Mẫu và Bình Liêu tạo nên cánh cung Đông Triều là một vùng đồi - núi thấp cao 200-300m đôi khi lên đến 500m, với những bồn địa giữa núi rộng lớn

Địa hình trên hai dải núi Nam Mẫu và Bình Liêu vẫn mang những đường nét kiến tạo rõ rệt vói đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn dốc, mức độ chia cắt sâu mạnh Mức độ chênh lệch về độ cao lớn, trung bình khoảng 500m có nơi đạt 700-800m Sông suối có độ dốc lớn, đào lòng mạnh

Nhìn trên bản đồ, khu vực Lương Mông - Ba Chẽ hầu như là một mặt bằng dịu thoải, nhưng trên thựctế lại bị chia cắt hơn nhiều Một số núi có những vairộng, nhiều khỉ xếp thành hai tầng tạo thành những mặt bằng rõ rệt - nếu ta nối liền chúng lại bằng tưởng tượng; một số khác có dạng vòm, bằng chứng cho một vận động nâng lên yếu trên một quy mô lãnh thổ rộng lớn Các sông chính cùa vùng như Ba

Trang 34

Chẽ, Phố Cũ và một phần sông Tiên Yên chảy qua vùng đồi-núi thấp này theo hướng Tây - Đông ra biển đều có thung lũng rộng thoáng, nhưng lòng sông cũng lắm ghềnh đá rắn

Các loại đá phổ biến trên đạng địa hình này là các trầm tích Triat Ở phía Bắc của vùng chủ yếu là các đá của hệ tầng Mẫu Sơn gồm đá cát màu xám, đá sét và bột kết màu phớt đỏ, tím, đôi khi lốm đốm Phía Nam vùng ven biển, chạy suốt từ Đông Triều đến Cẩm Phả, Mông Dương là điệp chứa than Hòn Gai Bao gồm các đá cuội kết, sỏi kết, đá cát, bột kết, bột kết chứa than, đá sét và các vỉa than dày hàng chục mét Ngoài ra còn xuất hiện đá vôi Pecmi ẩn tinh, màu xám và xám tro có chứa ít sét Ở thung lũng sông Ba Chẽ và sồng Phố Cũ có các đá sét thành hệ màu đỏ Jura-Kreta

1.3.1.3 Khí hậu

1 Nhiệt độ:

Nhìn chung Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhệt

độ bình quân hàng năm từ 22°C - 23°C, tổng tích ôn trung bình năm từ 7500°C - 8500°C Nhiệt độ trung bình năm ở các vùng biến động theo độ cao: Vùng núi cao nhiệt độ trung bình năm là 19°C, vùng núi thấp nhiệt độ trung bình 19°C - 21°C, vùng đồng bằng nhiệt độ trung bình > 21°C Số liệu thống kê đại điện cho tỉnh: Uông Bí, Hòn Gai, Tiên Yên, Móng Cái, Cô Tô cho thấy có đặc điểm chung:

+ 4 tháng có nhiệt độ không khí bình quân nhỏ hơn 20°C: tháng 12 đến tháng 3

Trang 35

tháng 10 Khoảng 80% lượng mưa tập trung vào từ tháng 6 đến tháng 9 Lượng mưa thông thường nhiều ờ miền Đông tỉnh, được chia ra:

- Vùng có lượng mưa > 2500mm/năm Từ Ba Chẽ - Tiên Yên ra Móng Cái Mùa mưa từ tháng 4-» 10: Lượng mưa >100mm/tháng Tháng 8 thường mưa lớn nhất Bốc hơi < Mưa phần lớn các tháng trong năm, ít bị khô hạn, nhiều mưa phùn, sương mù

- Vùng có lượng mưa ± 2000mm/năm: Từ Hoành Bổ - Hòn Gai đến cẩm Phả: Mùa mưa tháng 5 đến tháng Ỉ0 4 tháng thiếu ẩm từ tháng 12 đến tháng 3; bốc hơi > mưa Số ngày mưa phùn ±25, sương mù ±20

- Vùng có lượng mưa khoảng 1600 - 1800mm: Yên Hưng, Ưông Bí, Đông Triều và Bình Liêu: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 với lượng mưa trên 100 mm/tháng; lượng bốc hơi khoảng 1000 mm/năm Các tháng từ 11-12 đến tháng 3 lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa, bị khô hạn Số ngày mưa phùn ±10 ngày trong năm, ít sương mù

3 Độ ẩm

Độ ẩm tương đối trung bình các tháng trong năm từ 85 - 87% Do mưa lớn

và tập trung nôn thường xảy ra úng lụt vào tháng 6 và tháng 7 Tháng 4 và tháng 10 thường xảy ra hạn hán

4 Gió bão

Quảng Ninh là một tỉnh chịu ảnh hưởng mạnh của gió bão vùng vịnh, nhất là các huyện phía Tây của tỉnh Giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 9, bão thường kéo theo mưa lớn và úng lụt Quảng Ninh có 2 loại gió chính và thổi theo mùa:

- Gió mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thịnh hành là gió đông bắc tốc độ 2-4m/s và thường thổi theo đợt, mỏi đợt 3-5 ngày, tốc độ gió trong những ngày đầu có khi đạt tới cấp 5 cấp 6, ngoài khơi đạt tới cấp 7 cấp 8

- Gió mùa Hạ từ tháng 5 đến tháng 10 thổi theo hướng đông nam, tốc độ 4m/s, mùa này thường có bão

2-Nhìn chung đặc điểm quan trọng của khí hậu Quảng Ninh là bị chi phối bởi địa hình phức tạp, biến động theo cao trình tương đối lớn nên một số yếu tố thời tiết

Trang 36

không đồng nhất giữa các vùng, tạo nên sự đa dạng về khí hậu, một số vùng có khí hậu đặc biệt như ở vùng cao có khí hậu ôn đới, mùa đông có năm đạt dưới 10°c, có nơi có sương muối

Từ đặc điểm địa hình và khí hậu cho thấy nếu trồng các cây ăn quả ra hoa vào vụ xuân nên trổng ở phía Tây tỉnh Cây quế thích hợp ở lượng mưa

>2000mm/năm, nếu mưa >2500mm/năm thì nên trổng ở các huyện miền Đông tỉnh

Đề phòng lũ vào mùa mưa (ở Đông Triều nước lũ về chết cá sông) và rét hại vào mùa đông

Quảng Ninh có nguồn nước mặt khá phong phú, tổng lượng dòng chảy của

13 con sông lớn là 7,57 tỷ m3 nước, nêú tính cả lượng dòng chảy phát sinh trên diện tích còn lại thì lưu lượng dòng chảy đạt tới 8,78 tỷ m3 nước

Về nước ngầm: Nhìn chung Quảng Ninh có trữ lượng nước ngầm không lớn khó khăn cho sản xuất nông nghiệp ở một số khu vực,riêng vùng Cẩm Phả,Hòn Gai tổng lượng nước ngầm khoảng 20.700 mV ngày đêm

Trong nhiều năm qua tỉnh đã xây dựng được trên 70 hồ đập lớn nhỏ (trong

đó đáng kể là hệ thống hổ Tràng Vinh 76 triệu m3 nằm trên địa bàn xã Hải Tiến -

TX Móng Cái) cấp nước sinh hoạt cho khu vực nội thị và nước cho sản xuất nông nghiệp; đảm bảo tưới cho gần 70% diện tích cây lương thực, thực phẩm Nếu được quản lý và khai thác tốt cả hai nguồn nước này sẽ cung cấp đủ cho sản xuất và sinh hoạt cho cả hiện tại và tương lai

1.3.1.5 Thảm thực vật

Hệ thống thảm thực vật rừng: Quảng Ninh có 232.366 ha rừng, chiếm 38% diện tích tự nhiên toàn tỉnh trong đó rừng tự nhiên có 170.826 ha chiếm 73,52 %,

Trang 37

rừng trổng có 61.540 ha chiếm 26,48 % Rừng Quảng Ninh phong phú vể chủng loại, có 1027 loài thực vật, thuộc 6 ngành, 171 họ Một số ngành lớn như: Ngành mộc lan (Magnoliophyta) có 951 loài, ngành dương xỉ (Polypodiophyta), ngành thông (Pinophyta) có 11 loài

Hàng năm có khả năng khai thác trên dưới 20.000 m3 gỗ tròn phục vụ nhu cầu xây dựng và công nghiệp Ngoài ra rừng còn cung cấp nhiều lâm sản quí cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu

Đặc biệt ở Quảng Ninh còn có nhiều loài tre nứa có giá trị vừa làm nguyên liệu công nghiệp sản xuất giấy, công nghiệp xây dựng vừa làm nguyên liệu cho xuất khẩu

Hệ thống rừng trồng chủ yếu là các loại cây như thông mã vĩ, thông nhựa, keo tai tượng, bạch đàn

Hệ thống cây trồng: Tỉnh Quảng Ninh có hệ thống cây trồng rất đa dạng phong phú Vùng đồi núi có các loại cây đặc sản, cây ăn quả như quế, hồi, nhãn, vải, cam, quýt, xoài, hổng, mận, mơ, na, chuối, dứa Vùng đồng bằng và trung du

có các loại cây ngắn ngày như lúa, ngô, khoai, đậu đỗ, lạc, mía, sắn và các loại rau màu khác

1.3.2 Điều kiện kinh tế xã hội[19]

1.3.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 là 13% và năm 2009 tăng 10,06%, trong

đó nông - lâm - thủy sản tăng 3,6%, công nghiệp xây dựng tăng 11,1%, dịch vụ tăng 11% GDP bình quân đầu người đạt 1.158 USD (năm 2009) Tỉnh đã tăng cường các hoạt động đối ngoại, hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi để huy động các nguồn lực về vốn, công nghệ góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu

1.3.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tốc độ phát triển kinh tế tỉnh Quảng Ninh duy trì ở mức cao và ổn định Giá trị sản phẩm năm sau luôn cao hơn năm trước: năm 2005 GDP đạt 12.633 tỷ đồng (6.573 tỷ đồng theo giá so sánh 1994) đến năm 2011 tăng lên 54.740 tỷ đồng

Trang 38

(14.743 tỷ đồng theo giá so sánh) Tốc độ phát triển kinh tế ở mức cao và tương đối

ổn đinh: GDP năm 2006 tăng 13,8%, năm 2007 tăng 13,7%, năm 2008 tăng 13,0%,

3 năm gần đây mặc dù có những biến động khó lường của tình hình kinh tế thế giới

và trong nước GDP của tỉnh vẫn tăng 10,6% năm 2009, 12,3% năm 2010 và 10,7% năm 2011

Cơ cấu kinh tế trong vùng đã có nước chuyển biến tích cực, theo hướng tập trung phát triển các lĩnh vực kinh tế có thế mạnh như công nghiệp, du lịch, cảng biển, phát triển kinh tế cửa khẩu, kinh tế biển, trong đó chú trọng phát triển đồng đều trên tất cả các ngành các lĩnh vực, các vùng, các thành phần kinh tế Năm 2011 khu vực nông nghiệp chiếm 6,2%; công nghiệp và xây dựng 56,9%; dịch vụ 36,9%

Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng nhanh và ổn định, cơ cấu kinh tế thay đổi đều ở cả 3 lĩnh vực cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu GDP trong nền kinh tế là phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, có tác động tới chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động, cơ cấu thành phần kinh tế được quan tâm một bước, các doanh nghiệp trong các thành phẩn kinh tế đã phát huy nội lực nhiều hơn,

cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ đã được hình thành theo quy hoạch phát triển và khai thác được các lợi thế của từng vùng Tạo tiền đề cho tỉnh phát triển kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa xứng đáng là một trong 3 tỉnh trọng điểm của tam giác tầng trưởng kinh tế Bắc Bộ: Hà Nội - Hải Phòng- Quảng Ninh

1.3.2.3 Thực trạng phát triển của các ngành kinh tế

1 Khu vực kinh tế nông nghiệp:

Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 6,7%/năm Đã đảm bảo an ninh lương thực vùng nông thôn, chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô trang trại, mang tính hàng hóa, đẩy mạnh khai thác, nuôi trồng thủy sản theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) về chiến lược biển việt nam đến năm 2020 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vượt qua được khó khăn và đạt mức tăng trưởng khá:

+ Trồng trọt: Diện tích gieo trồng đạt 98,6% so cùng kỳ, nhưng sản lượng lương thực cây có hạt cả năm ước đạt 237.521 tấn, tăng 2% (ước tăng 4.731 tấn) so

Trang 39

với cùng kỳ; năng suất lúa, ngô bình quân cả năm đều tăng hơn cùng kỳ

+ Chăn nuôi: Do ảnh hưởng của đợt rét đậm, rét hại kéo dài ngay từ đầu năm, nên số lượng đàn gia súc, gia cầm tăng chậm Hiện trên địa bàn có 155 trang trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ, trong đó có: 111 trang trại lợn; 36 trang trại gia cầm; 8 trang trại trâu bò Toàn tỉnh có 3 cơ sở giết mổ, chế biến gia súc gia cầm đang hoạt động

+ Lâm nghiệp: Công tác trồng mới rừng tập trung năm 2011 đạt 11.121ha tăng 3% so với kế hoạch; công tác chăm sóc, khoanh nuôi và bảo vệ rừng hiện có đạt 100% kế hoạch giao Độ che phủ của rừng ước đạt 51%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết HĐND tỉnh đề ra Công tác phòng, chống cháy rừng được các cấp, các ngành và các địa phương đặc biệt quan tâm, trong năm đã xảy ra 01 vụ, làm thiệt hại 3 ha rừng (giảm 1 vụ so với 2010 và giảm 27 vụ so với năm 2009) Lâm nghiệp phát triển mạnh, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai, lao động và các nguồn vốn tham gia trồng, bảo vệ rừng, góp phần để nhân dân miền núi làm giàu từ rừng, nâng độ che phủ rừng lên 50% năm 2010

+ Thủy sản: Do giá cả các yếu tố đầu vào tăng mạnh như điện, xăng dầu, thức ăn nuôi thủy sản, nên tổng sản lượng thủy sản ước thực hiện cả năm giảm hơn

so với cùng kỳ, ước đạt 83.011 tấn, bằng 99,8% cùng kỳ Giá trị thuỷ sản xuất khẩu ước đạt 24,8 triệu USD, tăng 10,8% so cùng kỳ

Làm tốt công tác chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích canh tác

Tuy nhiên nhiều khó khăn về cơ sở vật chất nhưng nhờ sự đổi mới về cơ chế chính sách, ngành lâm nghiệp đã góp phần tích cực trong việc xóa đói giảm nghèo

ổn định đời sống nhân dân vừng sâu, vùng xa, miền núi

2 Khu vực kinh tế công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá cố định 1994) năm 2011 ước đạt 30.087 tỷ đồng, bằng 94,4% kế hoạch và tăng 10,2% so với cùng kỳ Trong đó: công nghiệp Trung ương ước đạt 19.511 tỷ đồng (chiếm 64,8% giá trị toàn ngành), tăng 10,7% (năm trước tăng 3,7%); công nghiệp địa phương 5.965 tỷ đồng (chiếm 19,8%), tăng

Trang 40

8%; công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 4.609,9 tỷ đồng (chiếm 15,3%), tăng 7,1%

Một số sản phẩm chủ lực đều tăng so với cùng kỳ, có sản phẩm tăng cao và vượt kế hoạch như: Điện sản xuất ước vượt 3,22 tỷ kwh, tăng 59,1% cùng kỳ; sản xuất than tuy có nhiều khó khăn, nhưng phát triển ổn định, sản lượng sản xuất năm

2011 tăng nhẹ so với cùng kỳ

Sản lượng than sạch ước đạt 44 triệu tấn, tăng 4,1%; than tiêu thụ ước đạt 44,4 triệu tấn, tăng 3,28% (trong đó xuất khẩu 16,5 triệu tấn, bằng 88,52% cùng kỳ); xi măng ước đạt 3,2 triệu tấn, bằng 95,7%; Bia các loại ước đạt 29,7 triệu lít, tăng 4,5% cùng kỳ; Gạch nung ước đạt 884 triệu viên, tăng 4,3% cùng kỳ; Dầu thực vật ước đạt 288.124 tấn, đạt 96% kế hoạch và tăng 8,9% so với cùng kỳ…

3 Khu vực kinh tế, dịch vụ:

- Các ngành dịch vụ: Do chịu ảnh hưởng từ những khó khăn chung của nền kinh tế; sản lượng của các ngành sản xuất chính sụt giảm, kéo theo sự tác động ảnh hưởng có tính chất lan truyền từ thu nhập đến tiêu dùng và kích cầu sản xuất các mặt hàng tiêu dùng, thêm vào đó là lạm phát, giá cả tăng cao, các hoạt động kinh tế cửa khẩu không ổn định do chính sách biên mậu của nước bạn luôn thay đổi Kết quả cụ thể như sau:

+ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ước đạt 31.632 tỷ đồng, bằng 95,3% kế hoạch và tăng 26,6% so với cùng kỳ Chỉ số giá tiêu dùng CPI năm

2011 ước tăng khoảng trên 15% so với cùng kỳ

+ Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trên địa bàn ước đạt 2.433 triệu USD, bằng 100% kế hoạch và tăng 10,1% so với cùng kỳ; kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1.883 triệu USD, tăng 12,1% cùng kỳ Tổng giá trị hàng hoá kinh doanh theo loại hình tạm nhập, tái xuất, chuyển khẩu, kho ngoại quan qua các cửa khẩu biên giới trên biển và đất liền của tỉnh đạt 4.200 triệu USD, tăng 15% so với cùng kỳ (hàng xuất khẩu chủ yếu là than, cao su, Ferro Wolfram, quặng Apatit, gỗ và sản phẩm gỗ, hàng nông sản, hải sản và thực phẩm Hàng nhập khẩu chủ yếu là xăng dầu, máy móc, thiết bị vật tư công trình, dự án )

Ngày đăng: 18/03/2020, 16:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w