Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước, phù hợp với vùng đất ngập nước không thường xuyên sản xuất nông
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích
sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước
nội địa ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh
Mã số đề tài: QG-15.07
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Xuân Cự
Hà Nội, 2017
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 2
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2
1 Đặt vấn đề 2
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu 3
4.1 Hiện trạng vùng đất ngập nước nội địa phía Tây tỉnh Quảng Ninh 3
4.1.1 Phân bố lưu vực các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh 3
4.1.2 Sự đa dạng sinh học các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh 3
4.1.3 Phân tích các đặc trưng sinh kế và dịch vụ HST ĐNN nội địa ở Quảng Ninh 4
4.1.4 Nguyên nhân làm suy thoái các vùng đất ngập nước nội địa 6
4.2 Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng đa mục đích các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh 7
4.2.1 Một số vấn đề về quản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN nội địa ở tỉnh Quảng Ninh 7
4.2.2 Các giải pháp quản lý sử dụng đa mục đích các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh 8
4.3 Sử dụng đa mục đích một số hồ nước lớn ở Quảng Ninh 10
4.4 Xây dựng bản đồ phân bố và quy hoạch sử dụng khu vực 4 hồ lớn 12
5 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận 13
6 Tóm tắt kết quả 13
PHẦN III SẢN PHẨM, CÔNG BỐ VÀ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI 15
PHẦN IV TỔNG HỢP KẾT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI 16
PHẦN V TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KINH PHÍ 17
PHẦN V KIẾN NGHỊ 17
PHẦN VI PHỤ LỤC 17
1 Báo cáo Hiện trạng vùng đất ngập nước nội địa phía Tây tỉnh Quảng Ninh
2 Báo cáo Giải pháp sử dụng hợp lý hệ thống các hồ theo mô hình
3 Báo cáo thuyết minh xây dựng Bản đồ đất và Bản đồ quy hoạch sử dụng đất ngập nước nội địa phía Tây Quảng Ninh
4 Các minh chứng kết quả công bố và đào tạo
5 Một số hình ảnh nghiên cứu thực địa của đề tài
Trang 3PHẦN I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1.1 Tên đề tài: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước nội địa ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh
1.2 Mã số: QG-15.07
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 PGS.TS Nguyễn Xuân Cự Khoa Môi trường, Trường
ĐHKHTN, ĐHQGHN Chủ trì đề tài
2 ThS Nguyễn Xuân Huân Khoa Môi trường Thư ký đề tài
3 ThS Nguyễn Quốc Việt Khoa Môi trường Thành viên
4 TS Nguyễn Ngọc Minh Khoa Môi trường Thành viên
5 TS Trần Thị Tuyết Thu Khoa Môi trường Thành viên
6 TS Trần Thiện Cường Khoa Môi trường Thành viên
1.4 Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 02 năm 2017
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 02 năm 2017
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)
Không
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 300 triệu đồng
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, với diện tích khoảng 10 triệu ha, phân bố trên tất cả 8 vùng sinh thái Trong đó hai vùng là đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng có diện tích ĐNN lớn nhất (Đặng Huy Huỳnh và Nguyễn Minh Đức, 2012)
Quảng Ninh là một tỉnh ven biển với các hệ sinh thái ĐNN rất đa dạng và phong phú, với nhiều sông ngòi, hồ ao và các dạng đất ngập nước khác Với sự đa dạng và tính chất phức tạp cùng các giá trị vốn có của nó nên các vùng đất ngập nước được xem là nguồn sinh kế chủ yếu của phần lớn người dân Quảng Ninh, và đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tuy nhiên do quá trình khai thác và sử dụng không hợp lý đã làm cho nhiều vùng đất ngập nước đang bị suy thoái nghiêm trọng Cho đến nay, những nghiên cứu về ĐNN ở Quảng Ninh còn chưa nhiều, lại chủ yếu tập trung vào ĐNN ven biển, đặc biệt là rừng ngập mặn Do vậy nghiên cứu về ĐNN nội địa ở Quảng Ninh được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, nhằm có các giải pháp quản lý và sử dụng hợp bền vững theo hướng sử dụng đa mục đích và bảo vệ môi trường
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước nội địa ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh” nhằm đánh giá thực trạng về các vùng đất ngập
Trang 4nước nội địa ở tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp phục vụ công tác quản lý và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng này ở Quảng Ninh
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước, phù hợp với vùng đất ngập nước không thường xuyên (sản xuất nông nghiệp), vùng đất ngập nước thường xuyên (hồ, đầm), các vùng đất ngập nước có dòng chảy (các dòng sông, suối) và với điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội ở phía Tây Quảng Ninh trên cơ sở đánh giá, dự báo giá trị, tiềm năng, hiện trạng sử dụng, quản lý tài nguyên đất ngập nước
3 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng, bao gồm: (1) sử dụng các tài liệu thứ cấp; (2) điều tra nghiên cứu thực địa theo phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (PRA) với bảng câu hỏi kết hợp với phỏng vấn trực tiếp; (3) đánh giá dịch vụ hệ sinh thái theo phương pháp MEA (2005), với 4 dịch vụ chính (dịch vụ cung cấp, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hóa, dịch vụ hỗ trợ; (4) ứng dụng phương GIS trong xây dựng bản đồ các vùng đất ngập nước
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu
4.1 Hiện trạng vùng đất ngập nước nội địa phía Tây tỉnh Quảng Ninh
4.1.1 Phân bố lưu vực các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh
Hệ sinh thái ĐNN nội địa ở Quảng Ninh rất đa dạng với nhiều loại hình khác nhau, chủ yếu bao gồm hệ thống sông ngòi, hồ ao, các vùng đất trồng lúa nước và nuôi trồng thủy sản Tỉnh Quảng Ninh có mạng sông suối khá dày đặc với mật độ trung bình 1,0-1,9km/km2, có nơi đến 2,4km/km2 Hầu hết các sông suối thường ngắn và dốc, tốc độ dòng chảy lớn, khả năng bào mòn và xâm thực mạnh Đặc trưng dòng chảy lớn về mùa lũ thường xuất hiện từ tháng VI đến tháng VIII, còn mùa cạn bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV, còn tháng V và tháng X là 2 tháng chuyển tiếp giữa mùa lũ và mùa kiệt
Các lưu vực sông ở tỉnh Quảng Ninh có thể được chia thành 4 vùng khác nhau:
Vùng I, lưu vực sông Đá Bạc, gồm các huyện Đông Triều, thị xã Quảng Yên và thành phố Uông Bí, có diện tích tự nhiên 96.595 ha trong đó có 63.031 ha đất nông nghiệp và 400.998 dân Đây là vùng tập trung và phát triển cả nông - ngư nghiệp và công nghiệp Các sông thuộc vùng I bao gồm: sông Đạm Thủy, sông Cầm, sông Đá Bạc, sông Vàng Danh, Khu này tập trung 22 hồ chứa lớn nhỏ, trong đó một số hồ lớn như hồ Khe Chè có dung tích 10,5 triệu m3
cung cấp nước tưới cho 285ha lúa, hồ Bến Châu có dung tích 8 triệu m3
cung cấp nước cho 481 ha đất nông nghiệp, hồ Trại Lốc I có dung tích 4,7 triệu m3
cung cấp nước tưới cho 208 ha đất nông nghiệp Vùng II, lưu vực các sông Yên Lập, Mằn, Trới, Diễn Vọng, gồm các huyện Hoành Bồ, thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện Vân Đồn, có tổng diện tích tự nhiên 175.877 ha, trong đó có 115.617 ha đất nông nghiệp và 484.715 dân Đây là vùng kinh tế công nghiệp tập trung nhất, nhiều cảnh quan và dịch vụ du lịch phát triển nhất Quảng Ninh Đặc điểm vùng gồm toàn bộ các sông suối đổ ra Cửa Lục và Cửa Ông, giới hạn bởi đường phân thủy của các sông Ba Chẽ ở phía Bắc và Đông Bắc, sông Yên Lập ở phía Tây
Vùng III, lưu vực các sông Ba Chẽ, Tiên Yên, gồm các huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu,
có diện tích tự nhiên 172.412 ha, trong đó có 87.199 ha đất nông nghiệp và 94.217 dân Đây là vùng kinh tế nông - lâm - thủy sản thuần túy
Vùng IV, lưu vực các sông Đầm Hà, Hà Cối, Tín Coóng và Ka Long, gồm các huyện Đầm
Hà, Hải Hà và thành phố Móng Cái, có diện tích tự nhiên 134.255 ha, trong đó có 100.745 ha đất nông nghiệp và 177.411 dân Một số hồ lớn như hồ Đầm Hà Động, hồ Trúc Bài Sơn, hồ Tràng Vinh Đây là vùng kinh tế nông - lâm - thủy sản và dịch vụ du lịch
4.1.2 Sự đa dạng sinh học các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh
Nhìn chung các vùng đất ngập nước ở Quảng Ninh có tính đa dạng loài khá cao Theo Hoàng Văn Thắng (2011), trong hệ sinh thái nước ngọt ở tỉnh Quảng Ninh có 133 loài lưỡng cư, bò sát;
147 loài thực vật nổi, 77 loài động vật nổi Mật độ trung bình động vật nổi ở các thủy vực dao động
từ 15.680 con/m3 đến 30.843 con/m3 Động vật thân mềm, chân bụng ở nước ngọt đã gặp 13 loài, thân mềm hai mảnh vỏ có 15 loài; đây đều là những loài thân mềm có giá trị thực phẩm cao Có 140 loài giáp xác, phổ biến là các loài tôm, cua phân bố rộng rãi từ sông suối vùng núi và trung du cho
Trang 5tới vùng đồng bằng Cá nội địa có 80 loài chỉ phân bố ở nước ngọt, 10 loài vừa nước ngọt vừa nước
lợ và 83 loài có khả năng phân bố rộng ở cả nước ngọt, nước lợ và nước mặn Đặc biệt, trong các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh có 4 loài cá nước ngọt có trong Sách đỏ Việt Nam; trong
đó có 2 loài bậc nguy cấp (EN) là cá chuối hoa và cá mòi cờ hoa, 2 loài bậc sắp nguy cấp (VU) là cá
lá giang và cá chình hoa Ngoài ra còn có một số loài cá nước ngọt mới chỉ gặp ở Việt Nam (có thể
là loài đặc hữu) như cá lá giang, cá bống đá và cá bống khe Hiện nay, sự đa dạng sinh học các vùng
ĐNN nội địa ở Quảng Ninh đang phải đối mặt với thách thức lớn, do sự du nhập các giống mới cho năng suất cao và các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn
4.1.3 Phân tích các đặc trưng sinh kế và dịch vụ HST ĐNN nội địa ở Quảng Ninh
4.1.3.1 Đặc trưng sinh kế các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh
Các đặc trưng sinh kế của người dân luôn gắn liên với khả năng khai thác các dịch vụ HST của các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh Các giá trị dịch vụ HST là nguồn cung cấp trực tiếp tài nguyên và các nhu cầu khác cho đời sống của người dân địa phương, đặc biệt là khả năng cung cấp lương thực thực phẩm và nước sinh hoạt Kết quả khảo sát 60 hộ dân sống xung quanh 4 hồ nước nghiên cứu ở các huyện Đông Triều, huyện Đầm Hà, Tp Hạ Long và Tp Móng Cái ở Quảng Ninh cho thấy hầu hết người dân đều có liên quan đến các vùng ĐNN nội địa, nhưng phần lớn vẫn chưa hiểu được khái niệm và các loại ĐNN là gì Có tới 94% người dân có liên quan đến sản xuất lúa nước, 67% sử dụng nước từ các hồ ao cho mục đích sinh hoạt
Có thể nói rằng các giá trị dịch vụ sinh thái các vùng ĐNN nôi địa ở Quảng Ninh luôn là nguồn cung cấp các điều kiện sống và sinh kế của người dân địa phương Trong đó đặc biệt quan trọng là cung cấp lương thực thực phẩm, nguồn nước sinh hoạt, nước cho các quá trình sản xuất và một số dịch vụ khác, như: du lịch, cảnh quan, môi trường
Từ những phân tích ở trên cho thấy các vùng ĐNN nội địa có vai trò rất quan trọng trong sinh
kế của người dân ở Quảng Ninh Trên thực tế, người dân luôn khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên từ các vùng ĐNN, nhưng họ còn hiểu biết rất ít về chúng, đặc biệt là vai trò và phương pháp khai thác sử dụng ĐNN hợp lý cho sự phát triển bền vững
4.1.3.2 Phân tích các dịch vụ HST ĐNN nội địa ở Quảng Ninh
- Dịch vụ Cung cấp
Trước hết, đất ngập nước là nơi dự trữ và cung cấp nước cho các quá trình sản xuất sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản, các ngành công nghiệp khác… và có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự sống của con người Đất ngập nước là nguồn tài nguyên cơ bản, bảo đảm đời sống
cơ bản cho các cộng đồng dân cư nông nghiệp Giá trị cung cấp của đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh biểu hiện trước hết là khả năng dự trữ và cung cấp nước của hệ thống sông và các hồ đập Ngay trong mùa khô (12/2015), lượng nước trữ ở 23 hồ đập cũng vào khoảng 211,260 triệu m3
, đảm bảo cung cấp cho các ngành sản xuất khác nhau, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn tỉnh
Nước mặt có vai trò rất lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội và dân sinh của tỉnh Quảng Ninh, cung cấp một lượng nước lớn cho phát triển công nghiệp, nông nghiệp và phục vụ cho hoạt động sống cho người dân Nguồn tài nguyên nước mặt của tỉnh Quảng Ninh được đánh giá là phong phú và dồi dào, tổng trữ lượng nước mặt của tỉnh Quảng Ninh khoảng 7,26 tỷ m3 Tình hình khai thác tài nguyên nước ở tỉnh Quảng Ninh của các ngành, ước tính vào khoảng 3,75 tỷ m3/năm Trong
đó, công nghiệp sử dụng 3,30 tỷ m3
(chiếm 88% tổng lượng nước được sử dụng) ngành nông nghiệp khai thác khoảng 388,45 triệu m3 (chiếm 10%), khu dân cư đô thị sử dụng khoảng 56,14 triệu m3 (chiếm 2%)
Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện có 631 công trình thuỷ lợi, trong đó có 124 công trình là các hồ chứa, bảo đảm tưới ổn định khoảng trên 50 - 85% diện tích gieo cấy (khoảng 35.000 ha lúa
và rau màu các loại) Khoảng 70% công trình thủy lợi đã được kiên cố hóa, tuy nhiên số lượng công trình hỏng hóc cần được sửa chữa chiếm tỉ lệ cao; còn lại 27% là các công trình tạm, mang tính chất thời vụ, do đó hiệu quả khai thác nước không cao
Khả năng cung cấp lương thực thực phẩm được xem là có vai trò không thể thay thế của các
hệ thống đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh Tuy diện tích đất trồng lúa nước trong tỉnh không lớn (28.530 ha), chỉ chiếm 6,2% diện tích đất nông nghiệp nhưng là nguồn sống chính của hơn 53%
Trang 6dân số và tạo việc làm cho hơn 60% lao động trong tỉnh Ngoài ra, các vùng đất ngập nước còn cung cấp một khối lượng lớn các loại nông sản cho nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của nhân dân ở khu vực thành thị, các khu công nghiệp, khách tham quan du lịch Nhờ chủ động được nguồn nước tưới,
mà sản lượng lương thực của Quảng Ninh đã tăng lên nhanh chóng Một ví dụ là từ khi có nước tưới từ hồ Yên Lập, sản lượng lương thực của huyện Yên Hưng đã tăng từ 10.730 tấn năm 1981 lên 16.775 tấn năm 1983 và có khả năng đạt 28.163 tấn năm 2016 Tổng sản lượng lương thực của toàn tỉnh Quảng Ninh đã đạt khoảng 233.732 tấn năm 2015, bảo đảm khả năng đáp ứng nhu cầu cung cấp lương thực cho tiêu dùng trong tỉnh (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Ninh, 2015)
Dịch vụ cung cấp của các vùng đất ngập nước ở Quảng Ninh còn được thể hiện ở tiềm năng nuôi trồng thủy sản, với 12.968,7 ha diện tích ao hồ, đầm, ruộng trũng có thể phát triển nuôi các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao Năm 2016, diện tích nuôi thủy sản nước ngọt ở Quảng Ninh vào khoảng 3.406 ha, sản lượng ước đạt 10.300 tấn, năng suất trung bình 3 tấn/ha Một số mô hình nuôi thâm canh cá rô phi đã đạt năng suất cao 12-13 tấn/ha/vụ như ở thị xã Quảng Yên, thành phố Uông
Bí Tổng diện tích nuôi thủy sản năm 2015 là 20.667 ha, trong đó diện tích nuôi thâm canh 2.034 ha Tổng sản lượng thủy sản năm 2015 ước đạt 103.407 tấn, trong đó nuôi trồng ước đạt 46.287 tấn Nuôi trồng thủy sản nước ngọt cũng đã tao ra công ăn việc làm và thu nhập cho khoảng 5,5-5,7 nghìn người trong giai đoạn 2008-2015 và dự báo sẽ tăng lên 5,9 nghìn người vào năm 2020
- Dịch vụ điều tiết
Dịch vụ điều tiết của các vùng đất ngập nước được biểu hiện chủ yếu ở khả năng điều hòa khí hậu, giảm lũ lụt, lọc và cung cấp nước ngầm Kết quả tổng hợp phiếu hỏi về vai trò của đất ngập nước sông, hồ trong việc hạn chế lũ, xói mòn cho thấy có đến 65% số người được hỏi đánh giá cao vai trò đất ngập nước trong việc hạn chế lũ lụt và xói mòn đất
Sông, hồ có tác dụng như những bể chứa nước khi mưa lớn, sau đó nước ngấm dần vào lòng đất xuống các tầng nước ngầm Một số khu vực ở Quảng Ninh có trữ lượng nước ngầm lớn như huyện Tiên Yên, có tiềm năng cung cấp nước ngầm khoảng 93.000 m3/ngày, huyện Đầm Hà là 53.420 m3/ngày Ước tính, toàn tỉnh Quảng Ninh có trữ lượng nước ngầm vào khoảng 1.520.600
m3/ngày, trong đó trữ lượng của tầng chứa nước bở rời đệ tứ chủ yếu ở khu vực Đông Triều, Uông
Bí và Móng Cái vào khoảng 362.760m3
/ngày; và trong các tầng chứa nước khe nứt khoảng 1.157.840m3/ngày Tuy nhiên, do địa hình chia cắt, sự phân bố các tầng chứa nước chủ yếu trong các khe nứt, đới dập vỡ kiến tạo nên mặc dù tiềm năng nước dưới đất lớn nhưng khả năng khai thác thường gặp khó khăn
- Dịch vụ hỗ trợ
Trong các hệ sinh thái, dịch vụ cung cấp có vai trò quan trọng trực tiếp đối với sinh kế của người dân, còn các các dịch vụ hỗ trợ lại có vai trò gián tiếp không thể thiếu trong việc duy trì và ổn định các vùng đất ngập nước Các dịch vụ hỗ trợ tạo môi trường sống và các điều kiện tồn tại các dịch vụ cung cấp Với đặc điểm môi trường thuận lợi, giàu có về nguồn thức ăn từ sinh vật phù du nên các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh không chỉ là nơi quần cư, kiếm ăn của các loài sinh vật, cơ sở tạo năng suất sơ cấp, hình thành đất, quay vòng chất dinh dưỡng mà còn là nơi bảo tồn sự đa dạng sinh học, đặc biệt là các loài động thực vật nổi và các loài cá quý hiếm Sự đa dạng sinh học có vai trò to lớn trong sự ổn định, tạo năng suất sơ cấp duy trì sự cân bằng vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái
Đất ngập nước cũng là nơi chứa đựng các trầm tích và hình thành đất; nơi diễn ra quá trình trao đổi vật chất và năng lượng trong hệ sinh thái tạo điều kiện quay vòng các chất dinh dưỡng trong tự nhiên, đặc biệt là chất dinh dưỡng quan trọng như NPK Nồng độ các chất dinh dưỡng hòa tan trong nước cửa sông khoảng 0,121-0,514 mgN/l; 0.008-0.01mgP/l; pH dao động trong khoảng 6,87-7,33 Hàm lượng tổng số trong các trong trầm tích bãi triều vào khoảng 1,0-2,2 %C; 0,1-0,18
%N; 0,03-0,06 %P2O5 Ở những vùng trũng trong nội địa, đất ngập nước được coi như những "cái bẫy" để lắng đọng trầm tích, chất gây ô nhiễm và các chất thải khác Tuy nhiên, do các con sông ở Quảng Ninh thường ngắn và dốc, tốc độ dòng chảy lớn nên thường gây xói lở, bào mòn đất, làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi đặc biệt là khi có lũ lớn Do vậy, nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng than như ở đoạn suối Vàng Danh, sông
Trang 7Mông Dương
- Dịch vụ văn hóa
Quảng Ninh có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, nổi bật và đặc sắc Du lịch Quảng Ninh không chỉ có Vịnh Hạ Long và khu di tích danh thắng Yên Tử nổi tiếng, mà còn có hơn 600 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh khác Do vậy mà hàng năm Quảng Ninh luôn thu hút một lượng khách
du lịch khá lớn Nếu như năm 2010 tổng lượng khách du lịch đến Quảng Ninh chỉ là 5,4 triệu lượt
người, đến nay (2016) đã đạt trên 8 triệu người
Trong những năm gần đây, sự kết hợp cảnh quan các vùng đất ngập nước với các di tích lịch
sử văn hoá, các làng nghề truyền thống đã trở thành những điểm du lịch tiềm năng to lớn ở Quảng Ninh Một số di tích quan trọng như đình Phong Cốc, miếu Tiên Công, bãi cọc Bạch Đằng, Cây Lim Giếng Rừng, đình Trung Bản đã được xếp hạng quốc gia, đó là tiềm năng cho ngành du lịch gắn liền với các hệ sinh thái đất ngập nước trong vùng Các lễ hội gắn liền với các vùng đất ngập nước như Lễ hội Bạch Đằng, Lễ hội Tiên Công, Lễ hội Xuống đồng, đang ngày càng thu hút
du khách đến tham quan du lịch Miếu Ðại Vương hiện là nơi sinh hoạt tín ngưỡng duy nhất của nhân dân địa phương, hàng năm có các lễ cầu phúc tháng Giêng, cầu nước chống hạn, lễ cầu may,
tạ lễ cuối năm… Có thể nói các dịch vụ văn hóa gắn liền với đất ngập nước đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho người dân ở nhiều vùng khác nhau trong tỉnh Quảng Ninh Đây là nơi lưu trữ nhiều hiện vật của các cuộc kháng chiến bảo vệ dân tộc, các di tích lịch sử văn hóa với các lễ hội truyền thống, tín ngưỡng quan trọng gắn liền với các cộng đồng địa phương nên có khả năng thu hút ngày càng nhiều du khách thập phương đến tham quan du lịch Các dịch vụ du lịch, văn hóa cũng là một trong những nguồn đem lại giá trị to lớn khi khai thác giá trị hệ sinh thái đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh
4.1.4 Nguyên nhân làm suy thoái các vùng đất ngập nước nội địa
Qua kết quả điều tra thực địa về các nguyên nhân làm suy thoái ĐNN ở Quảng Ninh cho thấy hầu hết người dân chưa có nhận thức đầy đủ về các vùng ĐNN: có tới 83% số người cho rằng
họ chưa có nhận thức đầy đủ về các vùng ĐNN Về các nguyên nhân gây suy thoái ĐNN, có tới 56% người được hỏi cho là do các nguyên nhân trong tự nhiên; 50% cho là do sản xuất nông nghiệp
và có tới 72% số người cho rằng do quản lý yếu kém ở cấp xã Có tới 89% số người được hỏi có nhu cầu tham dự các buổi đào tạo hoặc tập huấn về ĐNN Hơn nữa, về các giải pháp để bảo vệ các vùng ĐNN, có đến 83% người được hỏi cho rằng có liên quan đến việc nâng cao nhận thức cộng đồng, và 67% cho biết nhu cầu về các giải pháp kết hợp phát triển kinh tế và xã hội với bảo vệ môi trường trong việc sử dụng các vùng đất ngập nước
Một số nguyên nhân chủ yếu gây suy thoái ĐNN nội địa ở Quảng Ninh, bao gồm:
4.1.4.1 Tác động do khai thác khoáng sản và phát triển công nghiệp
Việc khai thác than, lập các khai trường, làm đường vào mỏ, các bãi thải, bãi tập kết than là nguyên nhân rất quan trọng làm cho diện tích rừng bị suy giảm nhanh, làm thay đổi chế độ nước và dòng chảy, gây xói mòn và và bồi lấp các vùng hạ lưu Có thể nói rằng việc gia tăng khai thác khoáng sản là nguyên nhân quan trọng dẫn đến làm bồi lấp và gây ô nhiêm các vùng ĐNN nội địa,
và có ảnh hướng mạnh đến diện tích đất nông nghiệp
Hiện nay ô nhiễm ở nhiều khu vực đã đến mức nghiêm trọng, như khu vực Mạo Khê, thành phố Uông Bí, thành phố Cẩm Phả v.v Khai thác than đã và sẽ tạo ra các đe dọa không nhỏ đối với các loài thủy sinh vật, làm tăng chất thải rắn độ đục trong nước, cản trở khả năng di chuyển và bắt mồi của các loài thủy sản, nước thải mỏ và sàng tuyển than, bụi và các khí độc CO2, SO2, H2S, chất phóng xạ… các khí độc hại phát tán trong khí quyển, lắng đọng trong đất, nước theo mưa đổ ra biển làm thay đổi độ pH của môi trường đất và gây ảnh hưởng đến quá trình sinh hóa trong cơ thể các loài thủy sinh vật
4.1.4.2 Tác động do phát triển nông nghiệp
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất một cách thiếu cơ sở khoa học, không quan tâm đúng mức vấn đề bảo vệ các vùng ĐNN để mở rộng sản xuất cây nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản sẽ làm mất hoặc thay đổi sinh cảnh sống của nhiều loài sinh vật Quá trình khai thác quá mức hoặc khai thác thuỷ hải sản bằng các phương pháp hủy diệt như sử dụng chất nổ, xung điện, hóa chất độc làm cho quần thể sinh vật thủy sinh không thể khôi phục được
Trang 8Sự xuất hiện của sinh vật ngoại lai như rùa tai đỏ, ốc bươu vàng, cá lau kính, cây mai dương, ở một số vùng ĐNN sản xuất nông nghiệp và các hồ chứa nước là những nguy cơ tiềm tàng đe dọa sự đa dạng sinh học và các cây trồng nông nghiệp ở các vùng ĐNN ở Quảng Ninh
4.1.4.3 Tác động do phát triển đô thị, khu dân cư
Dân số tăng nhanh trong các năm gần đây gây áp lực lên nguồn tài nguyên nói chung và các vùng ĐNN nội địa nói riêng Năm 2009 dân số Quảng Ninh có 1.144.381 người, và năm 2013 là 1.196,2 nghìn người với mật độ trung bình 197 người/km2 Để đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm và các nhu cầu khác cho cuộc sống hàng ngày, người dân không có cách nào khác là khai thác nguồn tài nguyên sinh vật sẵn có của địa phương
Phát triển các khu công nghiệp và đô thị là những nguyên nhân làm gia tăng ô nhiễm môi trường, làm mất hoặc thu hẹp sinh cảnh và nơi cư trú của các loài gây nên nhiều tác động tiêu cực đến các hệ sinh thái ĐNN nội địa Hiện nay, tỷ lệ dân số sống ở khu vực thành thị của tỉnh là 50,3%
và đứng thứ ba trên toàn quốc Theo quy hoạch đến 2020, dân số thành thị sẽ là 686.700 người, chiếm 55,5% tổng dân số toàn tỉnh Quá trình đô thị hóa đã và sẽ tiếp tục gây áp lực đối với các vùng ĐNN và môi trường nói chung và đặc biệt đối với tài nguyên nước và nguồn lợi thủy sản Các hoạt động phát triển kinh tế, giao thông, sinh hoạt từ các khu dân cư ven biển diễn ra hàng ngày thải
ra một lượng lớn các loại rác, nước thải gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe các hệ sinh thái ĐNN
4.1.4.4 Những tác động tiềm tàng khác
Phát triển du lịch cũng được xem là yếu tố có tác động mạnh đến các vùng ĐNN ở Quảng
Ninh Với lượng khách du lich lên đến trên 8 triệu người/năm sẽ là những động lực có tác động
mạnh đến môi trường các khu khu lịch nói chung ở Quảng Ninh Sự gia tăng nhanh lượng khách du lịch cũng kéo theo sự gia tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, đồng nghĩa với việc gia tăng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ các vùng ĐNN Số lượng nhà hàng, khách sạn ngày càng nhiều với quy mô ngày càng tăng, công tác quản lý môi trường lại kém hiệu quả gây ô nhiễm, đặc biệt là ô nhiễm do rác thải Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu mua sắm của khách du lịch, người dân địa phương còn khai thác quá mức các nguồn tài nguyên của địa phương để làm đồ lưu niệm, hoặc các hàng hóa khác để bán
Trình độ hiểu biết về ĐNN của cán bộ cũng hạn chế, công tác quản lý còn nhiều bất cập
Thậm chí nhiều cán bộ lãnh đạo của địa phương còn hiểu biết về các vùng ĐNN và vai trò của các vùng ĐNN nội địa Công tác quy hoạch phát triển ĐNN nội địa bền vững chưa có, đầu tư còn hạn
chế Sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ các vùng ĐNN nội địa còn hạn chế, chưa
Vấn đề triển khai thực hiện các văn bản pháp luật và cấp phép về quản lý các vùng ĐNN nội địa còn chưa được quan tâm Các văn bản pháp luật và dưới luật về quy định, hướng dẫn quản lý các vùng ĐNN nội địa ở nước ta hầu như chưa có, chủ yếu tập trung vào quản lý tài nguyên nước là chính Nguồn tài liệu, cơ sở dữ liệu cơ bản, thông tin về các vùng ĐNN nội địa trên địa bàn của tỉnh Quảng Ninh hầu như không có
Quảng Ninh định hướng phát triển các loại hình công nghiệp tập trung chủ yếu vào khai thác than, vật liệu xây dựng và chế biến nông lâm thủy sản Đặc biệt là hoạt động khai thác và sàng tuyển than, ngoài lượng nước thải phục vụ sản xuất than còn có một lượng lớn nước thải hình thành
do nước mưa chảy tràn trên bề mặt Nếu tính trung bình lượng mưa trên địa bàn tỉnh khoảng 2.000 mm/năm với diện tích của các cơ sở khai thác than khoảng 6.000 ha thì lượng nước thải sinh ra vào khoảng 120 triệu m3/năm, đây là lượng nước thải lớn cần xử lý trước khi chảy ra môi trường
Dân số gia tăng gây sức ép lớn đến khai thác và sử dụng các vùng ĐNN, trước hết là cho sản
Trang 9xuất nông nghiệp, cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu của con người Nhu cầu về khai thác
sử dụng nước cho sinh hoạt cũng như các hoạt động sản xuất gia tăng Nước thải sinh hoạt của tất
cả các đô thị này phần lớn chưa được xử lý, đều chảy trực tiếp vào sông gây nên ô nhiễm nước sông
hồ đang là một áp lực gây ô nhiễm nguồn nước.Các hoạt động nông nghiệp ở các vùng ĐNN đang
đe dọa đến các vùng ĐNN nội địa, cả về số lượng lẫn chất lượng Đặc biệt là việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc BVTV sẽ có ảnh hưởng đến chất lượng đất và các nguồn nước
Quản lý bền vững và hiệu quả hơn các hoạt động khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên các vùng ĐNN nội địa; quản lý tài nguyên nước phải theo phương thức tổng hợp, sử dụng đa mục đích
và phải gắn với các tài nguyên thiên nhiên khác ngày càng trở thành vấn đề cấp thiết cho sự phát triển bền vững
4.2.2 Các giải pháp quản lý sử dụng đa mục đích các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh
4.2.2.1 Điều tra, đánh giá chi tiết và phân vùng sinh thái các vùng ĐNN nội địa
Mục đích công tác điều tra đánh giá đầy đủ các dịch vụ HST ĐNN nội địa phục vụ các mục đích sử dụng khác nhau Trên cơ sở này, tiến hành phân vùng sinh thái các vùng ĐNN nội địa Phân vùng sinh thái các vùng ĐNN nội địa là đảm bảo cho công tác quản lý và khai thác sử dụng một cách hợp lý, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các dịch vụ HST ĐNN hiện có phục vụ sinh kế của con người Do vậy, công tác điều tra cần xác định được: sự phân bố và tầm quan trọng của từng khu vực đất ngập nước, đánh giá các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước và sự suy thoái các nguồn tài nguyên đất ngập nước, các hướng ưu tiên sử dụng và bảo vệ các vùng ĐNN hiện có Phân vùng sinh thái cũng tạo điều kiện tốt hơn cho việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa, chống suy thoái ĐNN do các hoạt động phát triển kinh tế, khai thác không bền vững, và chủ động thích
ứng với biến đổi khí hậu
Các vùng chức năng sinh thái có thể được phân theo các mục đích sử dụng chính, ví dụ như: Vùng ưu tiên bảo tồn, cảnh quan ĐNN; vùng bảo vệ nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt hoặc các hoạt động dịch vụ và sản xuất; vùng phát triển nông nghiệp, trồng lúa hoặc hoặc kết hợp với khai thác nuôi trồng thủy sản Việc phân vùng sinh thái các vùng ĐNN nội địa cần đảm bảo sự hài hòa, phù hợp với đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội của từng vùng, đặc biệt là tài nguyên nước, tài nguyên sinh vật, vai trò sinh thái và các dịch vụ HST của vùng ĐNN; phù hợp với các phương thức
sử dụng tài nguyên của cộng đồng địa phương; và phù hợp với các quy hoạch phát triển đã có và đang thực hiện liên quan đến các vùng ĐNN
4.2.2.2 Xây dựng các giải pháp thích hợp bảo vệ và khai thác tài nguyên các vùng ĐNN dựa vào công đồng
Không có giải pháp chung đầy đủ để áp dụng cho quản lý tất cả các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh; vì các giải pháp quản lý và sử dụng ĐNN phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên, sinh thái và kinh tế xã hội của từng vùng Do vậy, cần có các giải pháp cụ thể phù hợp cho từng địa phương, từng vùng ĐNN nội địa khác nhau
Tuy nhiên, một nguyên tắc chung để sử dụng các vùng ĐNN nội địa là đều phải dựa trên nguyên tắc có sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan tại địa phương với các nhu cầu của
họ và những giá trị mà họ đặt vào các dịch vụ khác nhau của HST ĐNN Trên thực tế, người dân địa phương vừa là người quản lý, người khai thác và sử dụng các nguồn TNTN từ các vùng ĐNN với các kiến thức và kinh nghiệm sẵn có Họ nhiều khi không cần quan tâm và không hiểu nhiều về chức năng đất ngập nước và làm thế nào để quản lý bền vững chúng Do vậy, người dân địa phương cũng đồng thời là người tạo ra các nguyên nhân trực tiếp gây suy thoái vùng đất ngập nước Sự tham gia của người dân địa phương là rất quan trọng cho việc xây dựng sự đồng thuận về cách thức các nguồn lực cần được khai thác sử dụng và cần được bảo vệ Tuy nhiên, hệ thống quản lý truyền thống các vùng ĐNN đang có nhiều khó khăn do những áp lực của cuộc sống hiện đại và dân số tăng
Phân tích vai trò và mức độ tham gia và chịu ảnh hưởng của các bên liên quan là rất quan trọng trong việc xác định các mô hình sử dụng khôn khéo các nguồn tài nguyên thiên nhiên ĐNN Kết quả khảo sát ở Quảng Ninh cũng cho thấy hầu hết người dân được phỏng vấn đều có liên quan đến các vùng ĐNN nội địa, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp; gần 90% người được phỏng vấn mong muốn nâng cao nhận thức về đất ngập nước và 75% có nguyện vọng tham gia các khoá đào tạo về
Trang 10việc sử dụng các vùng đất ngập nước, đặc biệt là về vai trò, giá trị và hiệu quả các biện pháp để khai thác các nguồn tài nguyên đất ngập nước
Quản lý ĐNN theo cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm không chỉ dựa vào cộng đồng trong quản lý tài nguyên, mà còn liên quan đến việc phát triển cộng đồng; kết hợp chặt chẽ với phong trào xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới sẽ tạo điều kiện điều kiện cho sự phát triển khu vực nông thôn phát triển và nâng cao đời sống của người dân nông thôn Do đó, sự hội nhập của phát triển nông thôn mới với việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên là một
bộ phận không tách rời của việc sử dụng khôn ngoan của vùng đất ngập nước Tuy nhiên, sự kết hợp nhiều chương trình vào một mục tiêu sử dụng hợp lý các vùng ĐNN cũng cần phải có kế hoạch chi tiết cho từng hoạt động và mối liên hệ giữa các hoạt động này như thế nào cho phù hợp với các điều kiện trong thực tế
Cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm trong sử dụng khôn khéo các vùng ĐNN là một bước tiến quan trọng - chuyển từ bảo vệ đất ngập nước đơn thuần sang kết hợp giữa bảo tồn và phát triển Vì trên thực tế thường xuất hiện các xung đột và sự được mất giữa yêu cầu sinh kế của người dân và các mục tiêu của bảo tồn Điều cần thiết là phải hiểu được vai trò của từng vùng ĐNN cũng như các tác động, thay đổi và suy thoái tài nguyên đất ngập nước; các mục tiêu và các vấn đề ưu tiên cần bảo vệ phải được xác định rõ ràng
4.2.2.3 Tổ chức hệ thống quản lý và khai thác phù hợp hiệu quả
Đẩy mạnh công tác điều tra đánh giá các dịch vụ HST ĐNN, xác định các dịch vụ HST chủ yếu theo từng vùng; vai trò, trách nhiệm và lợi ích của từng bên liên quan theo các nhóm lợi ích khác nhau tại các vùng ĐNN nhất định Xây dựng và thực hiện cơ chế quản lý hợp tác trong việc bảo tồn và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan, đặc biệt là sự tham gia của cộng đồng địa phương
để hạn chế và giải quyết các xung đột xã hội phát sinh từ việc sử dụng các vùng đất ngập nước Cơ chế chia sẻ lợi ích bao gồm cả hình thức chia sẻ, mức độ chia sẻ, cơ chế quản lý giữa các bên liên quan Chú ý các ưu tiên với các nhóm có liên quan trực tiếp và có ảnh hưởng lớn đối với quản lý, bảo tồn ĐNN trong khu vực
Các mô hình quản lý đất ngập nước dựa vào cộng thường có nhiều bên liên quan và được chia thành 3 nhóm chính: (1) nhóm sử dụng trực tiếp các tài nguyên đất ngập nước; (2) nhóm sử dụng gián tiếp của các nguồn tài nguyên đất ngập nước; và (3) nhóm các chính sách và các nhà quản lý vĩ mô Trong đó, vai trò của những người bị ảnh hưởng trực tiếp có vai trò quan trọng nhất
và được coi như chìa khóa quản lý và sử dụng khôn khéo các vùng đất ngập nước Tổ chức hệ thống quản lý, phối hơ ̣p với nhiều ngành và các bên có liên quan để quản lý, bảo vệ và khai thác hiệu quả các vùng đất ngập nước một cahs có hiệu quả, đúng mục đích
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm, nhất là trong việc chấp hành pháp luật trong việc bảo vệ các vùng ĐNN nội địa nói riêng và các vùng ĐNN nói chung
ở Quảng Ninh Phòng, chống ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước; đồng thời tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước Nâng cao năng lực quản lý tài nguyên nước, tập trung nâng cao hiệu quả vận hành các hồ đập chứa nước chính, giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải; theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình suy thoái, cạn kiệt, xác định dòng chảy trên một số lưu vực sông lớn, quan trọng
Xác định đầy đủ hiện trạng quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ ĐNN nội địa, phòng chống, giảm thiểu tác hại đên nguồn TNTN các vùng ĐNN nội địa; xây dựng các giải pháp cho quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho từng lưu vực cụ thể theo hướng phát triển bền vững Tạo lập các cơ sở pháp lý và khoa học cho việc ban hành các quyết định liên quan Tăng cường năng lực quản lý tài nguyên ĐNN và BVMT cho các bên liên quan chính, tập trung 2 đối tượng ưu tiên là cán bộ quản lý địa phương và người dân địa vương Nâng cao nhận thức về các giá trị tài nguyên ĐNN trong vùng; các mối đe dọa đến ĐNN; các hướng dẫn quản lý tài nguyên thiên nhiên ĐNN
4.2.2.4 Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường đất, nước và suy thoái, bảo vệ, cải tạo, phục hồi các vùng ĐNN nội địa
Ngăn ngừa ô nhiễm môi trưởng đất, nước và suy thoái ĐDSH được kiểm soát và kế hoạch thích ứng biến đổi khí hậu được xây dựng và áp dụng Xác định các nguồn gây ô nhiễm và các tác
Trang 11động của hoạt động khai thác khoáng sản đến các luuw vực nước Áp dụng công nghệ xử lý môi trường đối với các hoạt động phát sinh ô nhiễm Tăng cường sự tham gia cộng đồng trong công tác quản lý và kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại
Tăng cường các biện pháp quản lý, chống thất thoát, lãng phí tài nguyên nước, nâng hiệu quả khai thác nước của các công trình khai thác sử dụng nước đặc biệt là các công trình thủy lợi và cấp nước tập trung Trên các sông cần có lưu lượng khống chế để đảm bảo nước cho dòng chảy môi trường bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh, cần có sự giám sát theo dõi chặt chẽ để duy trì được dòng chảy môi trường Quản lí chặt chẽ các công trình xây dựng và các hoạt động dân sinh ven bờ cũng như hoạt động của tàu, thuyền trên sông xả thải trực tiếp xuống sông hồ Đặc biệt là những nguồn nước
sử dụng để cấp nước sinh hoạt
Tăng cường bảo vệ nguồn sinh thủy bằng cách duy trì và phát triển diện tích rừng đầu nguồn Đảm bảo độ che phủ cây xanh tại các khu đô thị để duy trì, cân bằng nguồn nước ngầm; hạn chế tối
đa việc chuyển đổi đất rừng ở thượng lưu nguồn nước các sông trên địa bàn của tỉnh Nghiêm cấm khai thác rừng thuộc lưu vực các hồ chứa nước quan trọng như hồ Yên Lập, hồ Đầm Hà Động, hồ Tràng Vinh,… Đối với các nguồn nước bị cạn kiệt do bồi lấp dòng sông như sông Sinh, sông Vàng Danh, sông Diễn Vọng, sông Mông Dương, cần rà soát và tiến hành nạo vét, khơi thông dòng chảy
4.2.2.5 Nâng cao nhận thức và năng lực cộng đồng và các bên liên quan trong bảo vệ ĐNN
Bảo vệ các vùng ĐNN nội địa và môi trường không chỉ là quyền lợi, nghĩa vụ mà còn là văn hóa, đạo đức, là tiêu chuẩn đảm bảo cho một xã hội văn minh, phát triển Tăng cường hơn nữa sự phối hợp, thống nhất hành động giữa các tổ chức thành viên, đặc biệt là các cơ quan thông tin tuyên truyền, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về vai trò và trách nhiệm bảo vệ các vùng ĐNN đến với mọi người dân, đến với từng địa bàn dân cư, Hoàn thiện, nâng cấp hê ̣ thống thông tin , cơ sở dữ liê ̣u tài nguyên ĐNN, gắn với cơ sở dữ liê ̣u về môi tr ường, đất đai và các lĩnh vực khác thuô ̣c pha ̣m
vi quản lý của tỉnh
Nâng cao nhận thức của nông dân trong các vấn đề sản xuất và quản lý chất thải, kỹ thuật sử dụng phân bón và thuốc BVTV Các nhà máy, khu công nghiệp có nghĩa vụ xử lý nước thải đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn cho phép trước khi thải ra môi trường
Thường xuyên tổ chức các cuộc họp để tăng cường đối thoại và thống nhất giữa cộng đồng địa phương và cơ quan quản lý về các nội dung của quy chế và các vấn đề liên quan đến quản lý tài nguyên ĐNN, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường tại khu vực
Trên thực tế, không có mô hình chung để quản lý và sử dụng đa mục đích cho tất cả các vùng ĐNN khác nhau Nhưng nhìn chung, để xây dựng các mô hình sử dụng đa mục đích ĐNN nội địa đều có thể dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau đây: Có sự tham gia của cộng đồng; kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo tồn các nguồn tài nguyên đất ngập nước; phù hợp với các quy định của địa phương, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thúc đẩy những lợi thế và tiềm năng của điều kiện tự nhiên, và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế và xã hội của địa phương; và phù hợp với thực tế, dễ áp dụng và có hiệu quả trên thực tế
4.3 Sử dụng đa mục đích một số hồ nước lớn ở Quảng Ninh
Một số hồ đập chính trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh bao gồm: Hồ Yên Lập có diện tích 182,6
km2, dung tích 127,5 triệu m3; hồ Cao Vân có diện tích 46,5 km2, dung tích 12,56 triệu m3; hồ Tràng Vinh có diện tích 70,8 km2, dung tích 75 triệu m3; hồ Quất Đông có diện tích 11 km2, dung tích 10,3 triệu m3 (Bảng 2)
Bảng 2 Một số thông số kỹ thuật của 4 hồ lớn ở Quảng Ninh
T
T Tên hồ chứa Địa điểm
Thông số kỹ thuật Diện tích tưới (ha) Flv
(km2)
W (tr m3)
MNC (m)
MDBT (m)
MNDGC (m) Thiết kế Thực tế
Trang 12đa 30m
- Quản lý và khai thác tốt nguồn nước từ hồ Yên Lập phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp:
Hồ Yên Lập có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho khoảng 10.067 ha đất nông nghiệp, cấp nước phục vụ các ngành kinh tế khác như nuôi trồng thủy sản, công nghiệp Ví dụ, chỉ 1 năm sau khi nước ngọt được dẫn từ hồ Yên Lập về, sản lượng lương thực của huyện Yên Hưng thời đó tăng lên gấp rưỡi từ 10.730 tấn (năm 1981) lên 16.775 tấn (năm 1983) Và đến nay thì Quảng Yên luôn là một trong những địa phương dẫn đầu của tỉnh về sản lượng lương thực, năng suất lúa Điều đáng nói hơn cả là hiện nay trên diện tích gần 900ha nuôi cá nước ngọt ở TX Quảng Yên thì tới 70% diện tích sử dụng nước hồ Yên Lập, ngoài ra nhiều diện tích nuôi tôm công nghiệp, nuôi thuỷ sản với quy mô lớn trên địa bàn cũng đang sử dụng nước từ hồ Yên Lập
- Cung cấp nguồn nước nước sinh hoạt cho các khu dân cư, điều hoà nguồn nước, giảm xâm nhập mặn và bảo vệ môi trường sinh thái hạ lưu sông Yên Lập Hàng năm, hồ Yên Lập cung cấp khoảng
di tích thắng cảnh cấp Quốc gia, là một trong những điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Quảng Ninh
- Một số vấn đề đặt ra cần quản lý đối với hồ Yên Lập: Hiện nay liên quan đến khu vực hồ Yên Lập đang có 3 đơn vị khai thác than hoạt động là Công ty Than Đồng Vông, Xí nghiệp Than Hoành Bồ (Công ty Than Uông Bí) và Công ty Thăng Long (Tổng Công ty Đông Bắc) Khu vực sàng tuyển của đơn vị được thực hiện ngoài trời, không có mái che; các bãi đổ thải cũng chưa được đầu tư đúng mức, chưa có hệ thống thu gom nước mưa chảy tràn để lắng lọc trước khi chảy vào các nguồn nước tiếp nhận Bởi vậy, vào mùa mưa lũ nước chảy tràn qua bãi sàng tuyển chảy xuống các khe suối, đồng thời kéo theo than, đất dẫn đến tác động bồi lắng dòng chảy, không chỉ làm ảnh hưởng chất lượng nước, mà còn gây bồi lắng, giảm công suất chứa của hồ
Một vấn đề khác của hồ Yên Lập là đang chịu tác động của các hoạt động du lịch, nếu không quản lý tốt sẽ có nguy cơ gây ô nhiễm nước hồ do các chất thải từ các hoạt động dịch vụ du lịch và phương tiện vận tải du lịch trên hồ
Chú ý quản lý rừng đầu nguồn để bảo vệ nguồn nước và hạn chế xói mòn đất, nghiên cứu các giải pháp diệt trừ (hoặc hạn chế sự phát triển xâm lấn của cây mai dương) ở dưới long hồ
4.3.2 Sử dụng đa mục đích vùng ĐNN hồ Tràng Vinh
- Hồ chứa nước Tràng Vinh được đưa vào sử dụng tháng 12/2005 với hệ thống công trình đầu mối được xây dựng tại địa phận xã Hải Tiến, thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh Nguồn nước đến hồ chứa là dòng chảy của sông Vai Lai Theo thiết kế, hồ Tràng Vinh có nhiệm vụ cấp nước tưới cho 5.850 ha đất canh tác và cấp nước sinh hoạt cho 50.000 dân Tuy nhiên, theo khả năng thực tế, với qui mô đã xây dựng, hồ chứa có thể đáp ứng nhu cầu tưới cho 7.150 ha và cấp nước sinh hoạt cho 50.000 dân ở vùng ven biên giới và Tp Móng Cái Đây là công trình đem lại hiệu quả kinh tế cao góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới Móng Cái - địa đầu phía Bắc Tổ quốc
Hồ Tràng Vinh có diện tích lưu vực 70,8 km2, mức nước trung bình 24,2m, mực nước chết +15m, mực nước trung bình 24,2m và mực nước cao nhất 25,2m Dung tích tổng của hồ là 75 triệu
m3, dung tích chết là 15 triệu m3và dung tích hữu ích 60 triệu m3
- Khai thác tốt nguồn tài nguyên nước từ hồ Tràng Vinh cung cấp cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Trang 13- Khai thác có hiệu quả nguồn nước cung cấp nước sinh hoạt cho dân cư trong vùng
- Kết hợp nuôi trồng thủy sản theo hình thức nuôi lồng bè trên hồ
- Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái dựa trên các ưu thế về cảnh quan, khí hậu và địa hình khu vực
- Một số vấn đề cần quan tâm trong bảo vệ nguồn nước hồ Tràng Vinh: Bảo vệ rừng đầu nguồn,
chống xói mòn và sạt lở đất ở các đảo hồ
4.3.3 Sử dụng đa mục đích vùng ĐNN hồ Đầm Hà Động
- Công trình thủy lợi hồ chứa nước Đầm Hà Động nằm trên sông Đầm Hà, được xây dựng tại xã Quảng Lợi, huyện Đầm Hà được, hoàn thành vào tháng 12/2011 Hồ Đầm Hà Động có diện tích lưu vực 68,5 km2, cao trình đáy hồ +33,0m; cao trình mực nước chết +47,5m; dung tích chết 2,013 triệu
m3; cao trình mực nước dâng bình thường +60,7m; dung tích hữu ích 12,3 triệu m3; cao trình mực nước lũ thiết kế +62,69m; cao trình mực nước lũ kiểm tra +63,99m
- Khai thác tốt nguồn tài nguyên nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Hiện nay hồ Đầm Hà Động cung cấp nước tưới cho 3.485 ha đất canh tác nông nghiệp Các sông Tiên Yên và Ba Chẽ cung cấp nước tưới cho khoảng 6.867ha đất canh tác nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt khoảng 560 m3/ngày Theo ước tình, hồ Đầm Hà Động đã góp phần cho huyện Đầm Hà mỗi năm có sản lượng lương thực tăng thêm 17.000 tấn; thêm 1.000 ha rừng được trồng mới, giúp tăng thêm 550ha nuôi trồng thủy sản với sản lượng gần 4000 tấn
- Khai thác tài nguyên nước cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 29.000 người, ngăn lũ, điều hòa khí hậu trong vùng
- Những vấn đề cần chú ý trong quản lý khai thác hồ Đầm Hà Động: Bảo vệ rừng đầu nguồn, hạn chế xói mòn và sạt lở đất ở các rừng đầu nguồn
Tăng cường công tác quản lý Kiểm soạt lũ lụt trong mùa mưa, phòng chống vỡ đập Ví dụ như năm 2014, tại huyện Đầm Hà có mưa lớn kéo dài, nước về hồ chứa nước đầm Hà Động, tràn qua mặt đê chính và làm vỡ đập phụ Khu vực bị vỡ tại đập chứa nước đầm Hà Động thuộc xã Quảng Lợi Nước tràn vào làm ngập lụt các xã Quảng An, Quảng Lợi, Quảng Lâm, Dực Yên… Tại thị trấn Đầm Hà, các phố Lý A Coỏng, Chu Văn An nước cũng tràn vào dâng cao khoảng 1m Gần
5.000 dân của các địa phương này bị nước lũ cô lập
- Khai thác cảnh quan khu vực hồ phục vụ du lịch: Hồ Bến Châu có phong cảnh đẹp, nguồn nước sạch, đập còn lưu giữ di tích mộ cổ của vua Trần, là nơi nằm trong tuyến du lịch: Đền sinh (các mộ vua Trần), chùa Quỳnh, chùa Hồ Thiên; Yên Tử, Do vậy, hồ Bến Châu cũng có tiềm năng khai thác phục vụ cho phát triển kinh tế của địa phương
- Một số vấn đề cần quan tâm trong công tác bảo vệ hồ Bến Châu: Hiện nay, hồ Bến Châu đang chịu ảnh hưởng của việc khai thác than của Cty than Mạo Khê, Xí nghiệp khai thác than Hồng Thái thuộc Cty Than Uông Bí (TKV) Lượng đất đá thải từ các mỏ than đang làm bồi lắng lòng hồ, nước
bị axit hóa và nguy hiểm hơn cả là bị lấp và cắt mất nguồn sinh thủy của các hồ khiến việc điều tiết nước của phần lớn hồ thủy lợi bị suy giảm đáng kể
4.4 Xây dựng bản đồ phân bố và quy hoạch sử dụng khu vực 4 hồ lớn
Đề tài đã xây dựng được các bản đồ số và bản đồ giấy về phân bố các loại đất khu vực 4 hồ lớn ở Quảng Ninh, tỷ lệ 1/10.000 Các bản đồ được xây dựng, bao gồm:
- Bản đồ đồ đất và Bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNN lưu vực của hồ Yên Lập
- Bản đồ đồ đất và Bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNN lưu vực của hồ Tràng Vinh
- Bản đồ đồ đất và Bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNN lưu vực của hồ Đầm Hà Động
- Bản đồ đồ đất và Bản đồ quy hoạch sử dụng ĐNN lưu vực của hồ Bến Châu
Trang 145 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận
Đề tài đã hoàn thành đầy đủ các nhiệm vụ trong đề cương với kết quả tốt Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy:
- Hệ thống ĐNN nội địa ở Quảng Ninh là khá đa dạng và phong phú Đây là nguồn sinh kế cơ bản của hầu hết các cộng đồng dân cư nông nghiệp nông thôn ở Quảng Ninh Các HST ĐNN nội địa ở Quảng Ninh có sự đa dạng sinh học cao, có vai trò to lớn trong việc điều tiết lũ lụt, cung cấp nước cho các ngành sản xuất nông nghiệp và công nghiệp cũng như cấp nước sinh hoạt cho các khu dân
cư tập trung ở Quảng Ninh
- Tiềm năng khai thác các giá trị dịch vụ HST ĐNN nội địa ở Quang Ninh là rất lớn Chúng không chỉ cung cấp nguồn nước, đất cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, điều hòa khí hậu,… và phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng
- Tuy nhiên do điệu kiện địa hình chia cắt, các vùng ĐNN nội địa thường có quy mô diện tích nhỏ
Do vậy việc khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN cũng như bảo vệ chúng cần phải gắn liền với từng cộng đồng dân cư địa phương Cần có các giải pháp bảo tồn dựa vào cộng đồng cho sự phát triển bền vững các vùng ĐNN nội địa
- Hiện nay, nhiều vùng ĐNN nội địa đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng do tác động của quá trình khai thác sử dụng không hợp lý các nguồn tài nguyên ĐNN, khai thác khoáng sản và các tác động xả thải gây ô nhiễm môi trường Do vậy cần có các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm các vùng ĐNN nội địa; làm tốt công tác quản lý, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị các vùng ĐNN nội địa cho sự phát triển bền vững ở địa phương
- Đề tài đã đề xuất các hướng khai thác sử dụng đa mục đích một số vùng ĐNN của 4 hồ lớn ở Quảng Ninh; bao gồm: Hồ Yên Lập, hồ Tràng Vinh, hồ Đầm Hà Động và hồ Bến Châu
- Xây dựng các bản đồ khu vực 4 hồ lớn: Yên Lập, Tràng Vinh, Đầm Hà Động và hồ Bến Châu
6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)
Tóm tắt tiềng Việt:
Quảng Ninh là một tỉnh ven biển với các hệ sinh thái ĐNN rất đa dạng và phong phú, với nhiều sông ngòi, hồ ao và các dạng đất ngập nước khác Với sự đa dạng và tính chất phức tạp cùng các giá trị vốn có của nó nên các vùng đất ngập nước được xem là nguồn sinh kế chủ yếu của phần lớn người dân Quảng Ninh, và đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Tuy nhiên do quá trình khai thác và sử dụng không hợp lý đã làm cho nhiều vùng đất ngập nước đang bị suy thoái nghiêm trọng Cho đến nay, những nghiên cứu về ĐNN ở Quảng Ninh còn chưa nhiều, lại chủ yếu tập trung vào ĐNN ven biển, đặc biệt là rừng ngập mặn Do vậy nghiên cứu về ĐNN nội địa ở Quảng Ninh được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, nhằm có các giải pháp quản lý và sử dụng hợp bền vững theo hướng sử dụng đa mục đích và bảo vệ môi trường
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước nội địa ở phía Tây tỉnh Quảng Ninh” nhằm đánh giá thực trạng về các vùng đất ngập nước nội
địa ở tỉnh Quảng Ninh và đề xuất các giải pháp phục vụ công tác quản lý và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng này ở Quảng Ninh
Kết quả nghiên cứu đề tài đã cho thấy Hệ thống ĐNN nội địa ở Quảng Ninh là khá đa dạng
và phong phú Đây là nguồn sinh kế cơ bản của hầu hết các cộng đồng dân cư nông nghiệp nông thôn ở Quảng Ninh Các HST ĐNN nội địa ở Quảng Ninh có sự đa dạng sinh học cao, có vai trò to lớn trong việc điều tiết lũ lụt, cung cấp nước cho các ngành sản xuất nông nghiệp và công nghiệp cũng như cấp nước sinh hoạt cho các khu dân cư tập trung ở Quảng Ninh Tiềm năng khai thác các giá trị dịch vụ HST ĐNN nội địa ở Quang Ninh là rất lớn Chúng không chỉ cung cấp nguồn nước, đất cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, điều hòa khí hậu,… và phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng
Tuy nhiên do điệu kiện địa hình chia cắt, các vùng ĐNN nội địa thường không tập trung với quy mô không lớn Do vậy việc khai thác, sử dụng tài nguyên ĐNN cũng như bảo vệ chúng cần
Trang 15phải gắn liền với từng cộng đồng dân cư địa phương Cần có các giải pháp bảo vệ dựa vào cộng đồng cho sự phát triển bền vững các vùng ĐNN nội địa
Hiện nay, nhiều vùng ĐNN nội địa đang bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng do tác động của quá trình khai thác sử dụng không hợp lý các nguồn tài nguyên ĐNN, khai thác khoáng sản và các tác động xả thải gây ô nhiễm môi trường Do vậy cần có các giải pháp ngăn ngừa ô nhiễm các vùng ĐNN nội địa; làm tốt công tác quản lý, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng
về giá trì các vùng ĐNN nội địa cho sự phát triển bền vững
Đề tài đã xây dựng 4 bản đồ đất, 4 bản đồ quy hoạch sử dụng đất và 1 bản đồ phân bố các lưu vực phục vụ công tác quy hoạch; và đề xuất các giải pháp sử dụng đa mục đích các vùng ĐNN của 4 hồ lớn ở Quảng Ninh, bao gồm: Hồ Yên Lập, hồ Tràng Vinh, hồ Đầm Hà Động và hồ Bến Châu
Tóm tắt tiếng Anh:
To study multi-benefit solutions for sustainable use of inland wetland resources
in Western Quang Ninh province
Quang Ninh is a coastal province with rich and diverse of wetland ecosystems There are complex systems of rivers, lakes and other wetland types The values of inland wetlands should be considered a major source of livelihood of the majority of the people of Quang Ninh, and the important contribution of economic development provincial society However, due to the exploitation and unreasonable use made many wetland areas are seriously degraded So far, current research is still lacking on the inland wetlands Some studies on wetland in Quang Ninh, mainly focused on coastal wetlands, especially mangroves Thus the study of inland wetland is in place as
an urgent requirement, to have management solutions for sustainable and rational use towards multi-purpose use and environmental protection Project "Study and propose solutions to multiple benefits for sustainable use of inland wetland resources in the western of Quang Ninh province" to evaluate the status of inland wetlands and solutions for management and sustainable use of inland wetlands is important in Quang Ninh
The study results showed that inland wetland systems in Quang Ninh are diverse and plentiful This is the basic source of livelihood of most of the agricultural community in Quang Ninh Inland wetland ecosystems in Quang Ninh have a high biological diversity, a large role in regulating floods, supply water for agricultural production and industry as well as sources of water supply for population in Quang Ninh The potential exploitation of ecosystem services of inland wetlands in Quang Ninh is great They not only provide water, land for agricultural production and aquaculture, climate control and also for tourism
However, due to topographic conditions divided, inland wetland areas often do not focus with large scales Therefore the exploitation and use of natural resources as well as protect inland wetlands should be measures for community-based sustainable development
Currently, inland wetland areas are being reduced in both quantity and quality due to the extraction and unreasonable use of wetland resources, mining processes and the pollutant discharge that cause impact environmental contamination Therefore, the solution needed to prevent pollution
of inland wetland areas; as well the management, communication, enhancing public awareness of inland wetland values for sustainable development
The project results was building the maps of soil and land use, and watershed areas to serve the planning and direction of operators propose to multi-purpose use of wetland area of 4 lakes, including: Yen Lap lake, Trang Vinh lake, Dam Ha Dong lake and Ben Chau lake
Trang 16PHẦN III SẢN PHẨM, CÔNG BỐ VÀ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI
3.1 Kết quả nghiên cứu
TT Tên sản phẩm Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật
1 Hiện trạng (Tổng quan đa dạng
sinh học, diện tích phần đất ngập
nước, đặc trưng sinh kế;…) vùng
đất ngập nước nội địa phía Tây tỉnh
Quảng Ninh
Các số liệu về hiện trạng hệ sinh thái đất ngập nước, bao gồm tổng quan về đa dạng sinh học, đặc điểm phân bố đất ngập nước
và sinh kế của cộng đồng dân cư liên quan đến các vùng đất ngập nước nội địa phía
Tây tỉnh Quảng Ninh
Ghi địa chỉ
và cảm ơn sự tài trợ của ĐHQGHN đúng quy định
Đánh giá chung
(Đạt, không đạt)
1 Công trình công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống ISI/Scopus
1.1 Nguyen Xuan Cu, The role and
ecosystem services of wetlands in
Quang Ninh province, Vietnam,
CIENCIA E TECNICA VITIVINICOLA -A
SCIENCE AND TECHNOLOGY
JOURNAL (ISSN: 0254-0223), Vol 31
5 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành
quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế
Nguyễn Xuân Cự, Hà Sao Linh, Phân
tích và đánh giá tiềm năng khai thác
các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước
nội địa ở Quảng Ninh, Tạp chí Khoa
học, Đại học Quốc gia Hà nội – Các
Khoa học Trái đất và Môi trường,
ISSN 0866-8612, Tập 32, No.1S,
QG.15.07
Đạt
Trang 17- Cột sản phẩm khoa học công nghệ: Liệt kê các thông tin các sản phẩm KHCN theo thứ tự
<tên tác giả, tên công trình, tên tạp chí/nhà xuất bản, số phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khảo (DOI), loại tạp chí ISI/Scopus>
- Các ấn phẩm khoa học (bài báo, báo cáo KH, sách chuyên khảo…) chỉ được chấp nhận nếu
có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn tài trợ của ĐHQGHN theo đúng quy định
- Bản phô tô toàn văn các ấn phẩm này phải đưa vào phụ lục các minh chứng của báo cáo Riêng sách chuyên khảo cần có bản phô tô bìa, trang đầu và trang cuối có ghi thông tin mã số xuất bản
3.3 Kết quả đào tạo
TT Họ và tên Thời gian và kinh phí tham gia đề tài
Đã bảo vệ
Ghi chú:
- Gửi kèm bản photo trang bìa luận án/ luận văn/ khóa luận và bằng hoặc giấy chứng nhận nghiên cứu sinh/thạc sỹ nếu học viên đã bảo vệ thành công luận án/ luận văn;
- Cột công trình công bố ghi như mục III.1
PHẦN IV TỔNG HỢP KẾT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐỀ TÀI
lượng đăng ký
Số lượng
đã hoàn thành
1 Bài báo công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống
ISI/Scopus
2 Sách chuyên khảo được xuất bản hoặc ký hợp đồng xuất bản 0 0
4 Bài báo quốc tế không thuộc hệ thống ISI/Scopus
5 Số lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí
khoa học chuyên ngành quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong
kỷ yếu hội nghị quốc tế
6 Báo cáo khoa học kiến nghị, tư vấn chính sách theo đặt hàng của đơn
vị sử dụng
7 Kết quả dự kiến được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định chính
sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN
Trang 18PHẦN V TÌNH HÌNH SỬ DỤNG KINH PHÍ
Kinh phí được duyệt
(triệu đồng)
Kinh phí thực hiện
(triệu đồng)
Ghi chú
A Chi phí trực tiếp
PHẦN VI PHỤ LỤC (minh chứng các sản phẩm nêu ở Phần III)
1 Báo cáo Hiện trạng vùng đất ngập nước nội địa phía Tây tỉnh Quảng Ninh
2 Báo cáo Giải pháp sử dụng hợp lý hệ thống các hồ theo mô hình
3 Báo cáo thuyết minh về xây dựng Bản đồ về phân bố và Bản đồ về quy hoạch sử dụng đất ngập nước nội địa phía Tây Quảng Ninh
4 Các minh chứng kết quả công bố và đào tạo
5 Một số hình ảnh nghiên cứu thực địa của đề tài
Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2017
Trang 19Phụ lục 1
Hiện trạng các vùng đất ngập nước nội
địa phía Tây tỉnh Quảng Ninh
Trang 20MỤC LỤC
1 Mở đầu 3
2 Nội dung, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 3
2.1 Nội dung nghiên cứu 4
2.2 Đối tượng nghiên cứu 4
2.3 Phương pháp nghiên cứu 4
3 Kết quả nghiên cứu 5
3.1 Đặc điểm các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh 5
3.1.1 Hệ thống sông ngòi và hồ ao ở Quảng Ninh 5
3.1.2 Phân bố lưu vực các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh 7
3.2 Tổng quan về đa dạng sinh học của tỉnh Quảng Ninh 11
3.2.1 Khái quát về tính đa dạng thành phần loài 11
3.2.2 Các loài nguy cấp trong hệ động thực vật ở Quảng Ninh 13
3.2.3 Đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh 18
3.3 Những tồn ta ̣i và thách thức với bảo tồn đa da ̣ng sinh ho ̣c ở Quảng Ninh 25
3.3.1 Nguyên nhân gây suy thoa ́ i đa dạng sinh học 25
3.3.2 Như ̃ng tồn tại và thách thức trong quản lý, bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Quảng Ninh 26
3.4 Phân tích và đánh giá các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh 29
3.4.1 Dịch vụ cung cấp 29
3.4.2 Dịch vụ điều tiết 31
3.4.3 Dịch vụ hỗ trợ 32
3.4.4 Dịch vụ văn hóa 33
3.5 Vai trò của ĐNN nội địa với sinh kế của người dân 34
Nhận xét chung 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 211 Mở đầu
Trên thế giới, đất ngập nước là hệ sinh thái rất đa dạng phong phú cung cấp tài nguyên thiên nhiên và có chức năng quan trọng điều hòa môi trường, cung cấp các dịch vụ văn hóa du lịch cũng như nhiều lợi ích phi vật chất khác Với diện tích vào khoảng 7-9 triệu km2, chiếm khoảng 4-6% bề mặt đất, đất ngập nước có vai trò rất quan trọng đối với đời sống nhân loại, bao gồm khoảng 45% giá trị tự nhiên của các hệ sinh thái (Mitsch và Gosselink, 2000; Costanza et al., 1997) Ở Việt Nam, các vùng đất ngập nước có vai trò rất quan trọng trong đời sống người dân và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, với diện tích khoảng 10 triệu ha, phân bố trên tất cả 8 vùng sinh thái Trong đó hai vùng là đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng có diện tích ĐNN lớn nhất (Đặng Huy Huỳnh và Nguyễn Minh Đức, 2012)
Quảng Ninh là một tỉnh ven biển với các hệ sinh thái ĐNN rất đa dạng và phong phú Đây là nguồn sinh kế chủ yếu của phần lớn người dân Quảng Ninh, đặc biệt là các cộng đồng dân cư nông thôn Quảng Ninh không có hệ thống sông lớn, nhưng nhiều sông nhỏ và dòng chảy phức tạp Với hệ thống sông, hồ dày đặc và đường bờ biển kéo dài, các hệ sinh thái ĐNN Quảng Ninh đóng góp quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Một số sông chính ở Quảng Ninh bao gồm: Sông Đá Bạc, sông Ka Long (còn gọi là sông Bắc Luân), sông Tiên Yên, sông
Ba Chẽ Ngoài ra Quảng Ninh còn có nhiều sông nhỏ chiều dài các sông từ 13 - 15
km, diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, như sông Tràng Vinh (sông Tín Coóng), sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Tài Chi, sông Đồng Cái Xương, sông Hà Thanh, sông Đồng Mỏ, sông Mông Dương, sông Diễn Vọng, sông Mằn, Sông Trới
Với sự đa dạng và tính chất phức tạp của các loại đất ngập nước cùng các giá trị vốn có của nó, đặc biệt là sự đa dạng sinh học Do vậy nghiên cứu về ĐDSH ĐNN nội địa ở Quảng Ninh có ý nghĩa quan trọng trong quản lý sử dụng hợp bền vững theo hướng sử dụng đa mục đích và bảo vệ môi trường
2 Nội dung, đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trang 222.1 Nội dung nghiên cứu
- Tổng quan chung về đa dạng sinh học ĐNN nội địa ở Quảng Ninh
- Điều tra khảo sát và đánh giá về các giá trị dịch vụ hệ sinh thái ĐNN nội địa và vai trò của chúng đối với sinh kế của người dân
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm các vùng đất ngập nước nội địa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, chủ yếu phân bố ở phía Tây trục Quốc lộ 18, không đề cập các vùng đất ngập nước ven biển và hải đảo Các vùng đất ngập nước được nghiên cứu bao gồm: Các vùng đất ngập nước thường xuyên có dòng chảy (sông ngòi), các vùng đất ngập nước thường xuyên không có dòng chảy (hồ đầm) và các vùng đất ngập nước không thường xuyên sử dụng cho nông nghiệp (đất chuyên lúa nước)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích và xử lý các tài liệu thứ cấp: Thu thập, xử lý, phân tích tư liệu, tài liệu, số liệu thống kê đã có từ các công trình nghiên cứu đã công bố; sách, tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan trung ương và địa phương
có liên quan đến nghiên cứu của đề tài
- Điều tra thực địa tại cộng đồng và các cơ quan liên quan theo bảng câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp theo phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) Các hộ gia đình điều tra (60 hộ) được lựa chọn ngẫu nhiên trong các hộ dân sống xung quanh vùng đất ngập nước quan trọng thuộc 4 huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, bao gồm huyện Đông Triều, thành phố Hạ Long và huyện Đầm Hà và thành phố Móng Cái Nội dung thông tin thu thập tập trung vào các vấn đề liên quan đến vai trò của các vùng đất ngập nước, các nguồn tài nguyên do đất ngập nước mang lại, các hoạt động sinh kế liên quan đến các vùng đất ngập nước, các vấn đề về khái thác và bảo vệ các vùng đất ngập nước ở từng địa phương
- Phương pháp đánh giá dịch vụ hệ sinh thái:
Dựa trên việc đánh giá dịch vụ HST được đưa ra trong tài liệu Đánh giá thiên niên kỷ hệ sinh thái MA (Millennium Ecosystem Assessment, 2005); bao gồm: Dịch vụ cung cấp (thực phẩm, nước, nguyên nhiên liệu,…), Dịch vụ điều tiết (Khí hậu, lũ lụt, lọc nước,… ), Dịch vụ hỗ trợ (vòng tuần hoàn dinh dưỡng, hình thành đất, năng suất sơ cấp,…), Dịch vụ văn hóa (nghỉ dưỡng, giải trí, du lịch, giáo dục,…) Khung đánh giá thiên niên kỷ hệ sinh thái thừa nhận rằng con người là bộ phận không tách rời của hệ sinh thái và có sự tương tác động giữa họ và các hợp phần khác nhau của hệ sinh thái Sự liên kết giữa các dịch vụ HST và sinh kế của con người được mô tả ở hình 1
Trang 23Hình 1 Khung liên kết các dịch vụ hệ sinh thái và sinh kế của con người
(MA, 2005)
3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đặc điểm các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh
3.1.1 Hệ thống sông ngòi và hồ ao ở Quảng Ninh
Tỉnh Quảng Ninh có mạng sông suối khá dày đặc với mật độ trung bình 1,9km/km2, có nơi đến 2,4km/km2 Hầu hết các sông suối ở đây thường ngắn và dốc, tốc độ dòng chảy lớn, khả năng bào mòn và xâm thực mạnh Nhìn chung các sông trong địa bàn tỉnh Quảng Ninh đều bắt nguồn từ vùng núi cao, hướng chủ đạo
1,0-là Đông Bắc - Tây Nam và Bắc - Nam Lưu lượng các sông thay đổi lớn theo mùa, phần hạ lưu bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi thủy triều và nhiễm mặn Theo thống kê toàn tỉnh có đến 30 sông, suối có chiều dài trên 10km, diện tích lưu vực thông thường không quá 300km2
Trên địa bàn tỉnh có 4 con sông lớn là sông Đá Bạc (đoạn hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình); sông Ka Long; sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ Mỗi sông hoặc đoạn sông thường có nhiều nhánh, các nhánh phần nhiều vuông góc với sông chính Đại bộ phận sông có dạng xòe hình cánh quạt, trừ sông Ba Chẽ, sông Tiên Yên có dạng lông chim Nước ngập mặn xâm nhập vào vùng cửa sông khá xa Lớp thực vật che phủ chiếm tỷ lệ thấp ở các lưu vực nên thường hay bị xói lở, bào mòn
và rửa trôi làm tăng lượng phù sa và đất đá trôi xuống khi có lũ lớn do vậy nhiều nơi sông suối bị bồi lấp rất nhanh, nhất là ở những vùng có các hoạt động khai khoáng như ở đoạn suối Vàng Danh, sông Mông Dương
Tất cả các sông suối ở Quảng Ninh đều ngắn, độ dốc lớn Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa hạ lại có lưu lượng rất dồi dào, nước dâng cao rất nhanh Lưu lượng mùa khô
Phúc lợi và giảm đói nghèo
- Kinh tế (thị trường và khuôn khổ chính sách)
- Chính trị xã hội (quản trị và khuôn khổ thể chế)
- Các tác động đầu vào (ví dụ như tưới tiêu)
- Khai thác và sử dụng tài nguyên
- Biến đổi khí hậu
Các dịch
vụ hệ sinh thái
Trang 24có thể xuống thấp tới 1,45 m3/s; mùa mưa lại có thể lên tới 1.500m3/s; chênh nhau khoảng 1.000 lần
Một số sông, hồ có tầm quan trọng trong việc cung cấp nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh bao gồm:
Sông Đá Bạc (đoạn hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình) và các phụ lưu
Sông Đá Bạc nằm trong hệ thống sông Thái Bình, là đoạn hạ lưu của sông Kinh Thầy Phía cuối sông Đá Bạc chia thành sông Bạch Đằng, sông Chanh và sông Rút trước khi đổ ra biển Sông Đá Bạc đoạn chảy qua địa phận tỉnh Quảng Ninh từ Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên có chiều dài khoảng 60km
Các phụ lưu của sông Đá Bạc nằm trên địa bàn của tỉnh đều bắt nguồn từ Nam dãy Yên Tử ở độ cao 500 - 700m Một số phụ lưu quan trọng của sông Đá Bạc đang được dùng làm nguồn nước thô cấp cho một số nhà máy xử lý nước, như sông Trung Lương (sông Cầm), sông Vàng Danh Diện tích lưu vực các phụ lưu này thường nhỏ khi có lũ thì thường lên nhanh và rút chậm do cửa thoát nước nhỏ Đoạn sông từ Uông Bí ra biển cửa sông mở rộng hơn, thoát nước thuận lợi nên nước lũ rút nhanh hơn
Sông Ka Long
Sông Ka Long (còn gọi là sông Bắc Luân) bắt nguồn từ khu vực Thập Vạn Đại Sơn của Trung Quốc, chảy dọc biên giới Việt - Trung theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra vịnh Bắc bộ tại cửa Bắc Luân địa phận TP Móng Cái Diện tích lưu vực toàn sông là 773 km2 trên địa phận Quảng Ninh là 99 km2 Sông Ka Long có 5 phụ lưu là Ka Long, Bắc Luân, Lục Lầm, Vạn Ninh và Xuân Ninh Sông Ka Long có tổng chiều dài 109 km, trong đó đoạn tạo thành biên giới Việt - Trung là 60 km Thượng lưu sông nhỏ, độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, phía hạ lưu sông rộng và nhiều cửa sông nên thoát lũ nhanh ít gây úng lụt
Sông Tiên Yên
Sông Tiên Yên bắt nguồn từ vùng núi Nam Châu Lãnh ở độ cao 1.506m, khu thượng nguồn chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, từ Co Linh tới cửa sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đổ ra vùng Tiên Yên tại cửa Mô, chiều dài 82
km, diện tích lưu vực 1.070 km2 Tổng số lưu vực các cấp có độ dài từ 10 km trở lên có 14 sông suối, trong đó co 12 sông suối có diện tích lưu vực 100 km2 Lưu vực sông Tiên Yên có dạng hình tam giác, thủy lưu rộng, hạ lưu thu hẹp lại nên độ dốc lưu vực lớn, lũ thường xẩy ra nhanh và do ảnh hưởng của thủy triều như vùng thị trấn Tiên Yên đến khu Mũi Chùa thường xẩy ra lũ lớn
Sông Ba Chẽ
Ba Chẽ là một sông lớn của tỉnh Quảng Ninh Sông Bắt nguồn từ vùng núi Am Váp
Trang 25trên đất Hoành Bồ, diện tích lưu vực 978 km2 với chiều dài sông chính 78,5 km, chạy quanh co, uốn khúc và đổ ra vịnh Bắc Bộ
Sông Ba Chẽ có 11 nhánh cấp 1, phân hóa khá đều Mật độ lưới sông là 1,1 km/km2lòng sông hẹp, nhiều thác ghềnh, độ dốc lưu vực nhỏ, thượng nguồn ít mưa nên tác hại của lũ phía thượng lưu không lớn Từ thị trấn Ba Chẽ ra biển lòng sông rộng dần Cửa sông Ba Chẽ gặp cửa sông Tiên Yên ở phía Bắc, cửa sông Voi Lớn ở phía Nam
Hệ thống các sông nhỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh có 11 sông nhỏ chiều dài các sông từ 13 - 15 km, diện tích lưu vực thường nhỏ hơn 300 km2, chúng phân bố theo dọc bờ biển theo thứ tự từ bắc xuống nam gồm: Sông Tràng Vinh (sông Tín Coóng); sông Hà Cối, sông Đầm Hà, sông Tài Chi, sông Đồng Cái Xương, sông Hà Thanh, Đồng Mỏ, Mông Dương, Diễn Vọng, sông Mằn, Sông Trới và Sông Míp
Các sông này đều bắt nguồn từ phía sườn đón gió biển và cánh cung Đông Triều - Móng Cái ở độ cao 500m đổ ra vịnh Bắc Bộ theo hướng vuông góc với bờ biển Phía thượng lưu có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, trắc diện hẹp không có trung lưu
độ dài sông ngắn, nơi cửa sông thường mở rộng dưới dạng vịnh cửa sông Hầu hết các sông đều nằm trong vùng mưa lớn trên 2.000mm nên hay hình thành lũ thất thường, lũ lên nhanh và xuống cũng nhanh Thủy triều và độ mặn xâm thực vào cửa sông ngắn, thường bị chặn ở các chân đập hoặc hạ lưu các công trình vượt ngầm qua sông
km2, dung tích 75 triệu m3; hồ Quất Đông có diện tích lưu vực 11 km2, dung tích 10,3 triệu m3
3.1.2 Phân bố lưu vực các vùng ĐNN nội địa ở Quảng Ninh
Phân vùng, phân khu là cơ sở quan trọng và quyết định cho việc đánh giá khả năng cấp nước hiện tại của hệ thống công trình, đồng thời để xây dựng các sơ
đồ nghiên cứu tính toán cấp nước phù hợp với hiện tại và tương lai, đây cũng là cơ
sở để xây dựng các phương án quy hoạch phát triển nguồn nước theo các lĩnh vực; làm cơ sở quyết định đúng cho đầu tư, nâng cấp, bổ sung mới theo các bước đi
Trang 26đúng đắn và phù hợp
Bảng 1 Một số hồ chứa nước lớn ở Quảng Ninh
T
T Tên hồ chứa Địa phương
Thông số kỹ thuật chính Diện tich
tướic(ha) Flv
(km2)
W (tr m3)
MNC (m)
MDBT (m)
MNDGC (m)
1 Hồ Quất Đông Xã Hải Đông 11,00 10 15,5 24,5 25,95 1.300 517
2 Hồ Tràng Vinh Xã Hải Tiến 70,80 86 15 24,2 25,3 1.800 200
Kế thừa quy hoạch các sông ven biển tỉnh Quảng Ninh, vùng quy hoạch được chia thành 4 vùng (Hình 2) Các vùng này được phân theo nguyên tắc chung
về phân vùng thủy lợi trong quy hoạch Để thuận lợi trong việc đánh giá nguồn nước cũng như nhu cầu sử dụng nước, mỗi vùng thủy lợi được chia nhỏ thành các tiểu khu dựa vào điều kiện địa hình, điều kiện kinh tế xã hội và các điều kiện về thủy văn, nguồn nước, tình hình phân bố dân cư, cơ sở hạ tầng và tập tục canh tác ở từng khu vực trong vùng dự án
Trang 27Hình 2 Phạm vi quy hoạch các vùng
a Vùng I: (Vùng Đông Triều - Uông Bí - Quảng Yên)
Nằm trong lưu vực Đá Bạc, gồm các huyện Đông Triều, thị xã Quảng Yên và
thành phố Uông Bí có diện tích tự nhiên 96.595 ha trong đó có 63.031 ha đất nông
nghiệp và 400.998 dân
Đặc điểm vùng gồm các sông suối đổ ra sông Đá Bạc, ở phía tây Quảng Ninh
Địa hình dốc theo hướng chủ đạo là Đông Bắc - Tây Nam, là vùng tập trung và
phát triển cả nông - ngư nghiệp và công nghiệp
Vùng này được chia thành 3 tiểu khu:
- Tiểu khu Đông Triều: gồm toàn bộ diện tích của huyện Đông Triều: 39.657 ha; có
2 sông trên 10km chảy qua là sông Đạm Thủy và sông Cầm đổ vào sông Đá Bạc
Khu này tập trung 22 hồ chứa lớn nhỏ trong đó phải kể đến là hồ Khe Chè có dung
tích 10,5 triệu m3 cung cấp nước tưới cho 285ha lúa, hồ Bến Châu có dung tích 8
triệu ha cung cấp nước cho 481 ha đất nông nghiệp, hồ Trại Lốc I có dung tích 4,7
triệu m3
cung cấp nước tưới cho 208 ha đất nông nghiệp
- Tiểu khu Uông Bí: gồm toàn bộ diện tích của thành phố Uông Bí: 25.594 ha; có
sông Vàng Danh chảy qua thành phố và đổ vào sông Đá Bạc
- Tiểu khu Quảng Yên: bao gồm toàn bộ diện tích của thị xã Quảng Yên: 31.419,99
ha Đây là khu vực đồng bằng có đặc điểm địa hình thấp, tập trung nhiều cửa sông
đổ ra biển, thường bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn
b Vùng II: (Vùng trung tâm)
Trang 28Gồm lưu vực các sông Yên Lập, Mằn, Trới, Diễn Vọng, gồm các huyện Hoành
Bồ, thành phố Hạ Long, thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện Vân Đồn có tổng diện tích tự nhiên theo thống kê là 175.877 ha, trong đó có 115.617 ha đất nông nghiệp và 484.715 dân
Đặc điểm vùng gồm toàn bộ các sông suối đổ ra Cửa Lục và Cửa Ông, giới hạn bởi đường phân thủy của các sông Ba Chẽ ở phía Bắc và Đông Bắc, sông Yên Lập
ở phía Tây Địa hình dốc từ phía Bắc và Đông Bắc về Nam và Tây Nam hướng các dòng sông đổ ra Cửa Lục Phần phía Đông Bắc hướng về phía Đông đổ ra Cửa Ông Đây là vùng kinh tế công nghiệp tập trung nhất, nhiều cảnh quan và dịch vụ
du lịch phát triển nhất Quảng Ninh
Vùng này được chia thành 4 tiểu khu:
- Tiểu khu Yên Lập: gồm 4 xã của huyện Hoành Bồ có diện tích 16.685 ha
- Tiểu khu Tây Hạ Long - Hoành Bồ: gồm một phần diện tích huyện Hoành Bồ và Tây Hạ Long có diện tích 66.846 ha
- Tiểu khu Đông Hạ Long - Cẩm Phả: gồm một phần huyện Hoành Bồ, phần phía Đông của thành phố Hạ Long và toàn bộ thành phố Cẩm Phả có diện tích 61.892
ha
- Tiểu khu Vân Đồn: gồm một phần của huyện Vân Đồn có diện tích 30.455 ha
c Vùng III: (Vùng Ba Chẽ - Tiên Yên)
Gồm lưu vực các sông Ba Chẽ, Tiên Yên thuộc các huyện Ba Chẽ, Tiên Yên, Bình Liêu, có diện tích tự nhiên 172.412 ha, trong đó có 87.199 ha đất nông nghiệp
và 94.217 dân
Vùng có đặc điểm địa hình dốc theo hướng chủ đạo là Bắc và Tây Bắc xuống Nam, là vùng kinh tế nông - lâm - thủy sản thuần túy
Vùng này được chia thành các tiểu khu:
- Tiểu khu Bình Liêu: gồm diện tích lưu vực sông Tiên Yên tính đến nhập lưu với sông Phố Cũ, bao trùm toàn bộ huyện Bình Liêu và một phần huyện Tiên Yên có diện tích 55.003 ha
- Tiểu khu Phố Cũ: gồm lưu vực sông Phố Cũ nằm trong địa phận của 3 xã của huyện Tiên Yên có diện tích 25.690 ha
- Tiểu khu Ba Chẽ: gồm lưu vực Ba Chẽ nằm trọn trong địa phận huyện Ba Chẽ có diện tích 61.562 ha
- Tiểu khu Tiên Yên: gồm các xã còn lại của huyện Tiên Yên, nằm ở hạ du của sông Tiên Yên có diện tích 31.156 ha
d Vùng IV: (Vùng Đầm Hà - Hải Hà - Móng Cái)
Gồm lưu vực các sông Đầm Hà, Hà Cối, Tín Coóng và Ka Long thuộc các
Trang 29huyện Đầm Hà, Hải Hà và thành phố Móng Cái, có diện tích tự nhiên khoảng 134.255 ha trong đó có 100.745 ha đất nông nghiệp và 177.411 dân
Vùng có đặc điểm địa hình hướng Bắc Nam, gần như vuông góc với bờ biển Đây là vùng kinh tế nông - lâm - thủy sản và dịch vụ du lịch
Vùng này được chia thành 3 tiểu khu:
- Tiểu khu Đầm Hà: gồm toàn bộ diện tích của huyện Đầm Hà, có sông Đầm Hà chảy qua và hồ chứa Đầm Hà Động là hồ chứa lớn cung cấp nước tưới cho phần lớn diện tích đất nông nghiệp của huyện
- Tiểu khu Hải Hà: gồm toàn bộ diện tích của huyện Hải Hà, có sông Hà Cối chảy qua, trên địa bàn huyện còn có hồ Trúc Bài Sơn là hồ chứa lớn cung cấp nước tưới
và sinh hoạt cho các hộ dân của trong huyện
- Tiểu khu Móng Cái: gồm toàn bộ diện tích thành phố Móng Cái, khu này có sông Tín Coóng (sông Vài Lài) và sông Ka Long chảy qua, ngoài ra còn có hồ Tràng Vinh có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế của thành phố và cả tỉnh
3.2 Tổng quan về đa dạng sinh học của tỉnh Quảng Ninh
3.2.1 Khái quát về tính đa dạng thành phần loài
Khu hệ động thực vật Quảng Ninh giàu về thành phần loài và các thứ bậc phân loại Các số liệu vừa được ghi nhận cho thấy số loài sinh vật được biết hiện nay là 4350 loài, 2236 chi, 721 họ thuộc 19 ngành, 3 giới Động vật, Nấm và Thực vật (Bảng 2)
Bảng 2 Tổng hợp về tính đa dạng các bậc phân loại và số loài động, thực vật đã
biết tại tỉnh Quảng Ninh
Họ Giống Loài GIỚI ĐỘNG VẬT ANIMALIA
Trang 30Lớp Giun nhiều tơ - Polychaeta 17 35 51
Các ngành có số loài nhiều nhất là Thực vật Hạt kín (Angiospermae, 1580 loài), Chân khớp (Arthropoda, 722 loài), Thân mềm (Mollusca, 438 loài), Ruột khoang (Coelenterata, 157 loài) và Tảo Silich (Bacillariophyta, 153) Ở trên cạn, với sự đa dạng địa hình và phân hóa theo độ cao, ngành Hạt kín phát triển mạnh, các ngành Chân khớp và Thân mềm thích ứng với các sinh cảnh chuyển tiếp thì ở
Trang 31môi trường biển các loài tảo và san hô (Ruột khoang) lại xác định ưu thế riêng Chúng chẳng những có vai trò quan trọng trong cung cấp tài nguyên mà cả trong việc hình thành sinh cảnh và duy trì sự ổn định môi trường
Có 182 loài (4,18%) trong số 4350 loài được ghi nhận là đặc hữu của tỉnh Quảng Ninh thuộc các bậc khác nhau (Bảng 3)
Bảng 3 Các thành phần đặc hữu trong hệ động thực vật Quảng Ninh
TT Tên Ngành / Lớp Tên Việt Nam Số loài đặc hữu
Tổng Bắc
Bộ
VN Đông dương
2 Arthropoda -
Crustacae
Ngành Chân khớp Lớp Giáp xác
3.2.2 Các loài nguy cấp trong hệ động thực vật ở Quảng Ninh
3.2.2.1 Khái quát chung
Các loài nguy cấp là minh chứng rõ ràng nhất về sự xung đột giữa khai thác
để phát triển và việc duy trì tính bền vững của tài nguyên đa dạng sinh học, đồng thời cũng là chỉ thị của sự suy thoái môi trường do tác động của con người Áp dụng cả ba công cụ xếp hạng nguy cấp (Sách đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32/2006/NĐ-CP về Quản lý thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và Danh lục đỏ IUCN 2009) vào đánh giá mức độ nguy cấp của các loài trong hệ động thực vật Quảng Ninh cho thấy bức tranh tổng quát như sau (Bảng 4)
Trong số 4350 loài của hệ động thực vật Quảng Ninh ghi nhận được có tới
154 loài được ghi trong Sách đỏ VN (3,54%), 56 loài trong Nghị đinh
32/2006/NĐ-CP, 72 loài trong Danh lục đỏ IUCN
Trong số 154 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam có đến 149 loài nguy cấp (96,75%), chỉ có 3 loài ít nguy cấp (LR) và 2 loài thiếu dữ liệu (DD) để đánh giá, xếp hạng Khi áp dụng Danh lục đỏ của IUCN (2009) thì trong số 72 loài được ghi trong danh lục này thì số lượng loài nguy cấp chỉ là 27 (3CR-Rất nguy cấp+6EN-Nguy cấp+18VU-sẽ nguy cấp), chiếm 27,5% Các loài ít nguy cấp hơn (NT,LR,LC,DD) là 45 (62,5%) Cách tiếp cận này mang tính chất cảnh báo sớm
Trang 32hơn và quan tâm nhiều hơn đến sự ổn định của các hệ sinh thái và môi trường, sinh cảnh Một thí dụ rất hay về hiện tượng này là tình trạng của nhiều loài cây họ Đước (Rhizophoraceae), chủ nhân của các rừng ngập mặn Một thời gian khá dài tình trạng phá rừng ngập mặn làm đìa nuôi tôm diễn ra rất rầm rộ, hàng nghìn ha rừng ngập mặn bị triêt hạ, số lượng cá thể của các quần thể này bị suy giảm nghiêm trọng nhưng chúng chưa khi nào được ghi vào Sách đỏ Việt Nam, trong khi đó tại Danh lục đỏ IUCN, nhiều loài của họ này sống trong rừng ngập mặn đã được ghi nhận với thứ hạng ít nguy cấp (LR)
Phần lớn các loài được xếp hạng và ghi tên trong Sách đỏ Việt Nam, NĐ 32 đều là những loài phải đối mặt với sự khai thác quá mức, phục vụ cho lợi ích kinh
tế của con người Thí dụ điển hình là lớp Bò sát (Reptilia), trong số 65 loài được ghi nhận ở Quảng Ninh, thì có đến 18 loài nguy cấp (3CR+10EN+5VU) , chiếm 27,69% Các loài suy giảm do các nguy cơ khác, đặc biệt là sự suy thoái môi trường, thay đổi mục đích sử dụng đất đai còn rất ít được chú ý
Nhiều loài cây trồng, vật nuôi truyền thống, có chất lượng cao, nguồn gen quý hiếm, đã bị loại bỏ do hiệu quả kinh tế thấp, thị hiếu tiêu dùng thay đổi Điều đó đòi hỏi phải xúc tiến công tác bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp trên quy mô toàn quốc và đưa các quy chế về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành văn bản pháp quy cho các hoạt động bảo tồn nói chung chứ không chỉ là văn bản của một lĩnh vực hoạt động kinh tế chuyên ngành
Việt Nam (2007) trong đó 2 loài Rất nguy cấp (CR) là Ba gạc Bắc bộ Rauvolfia serpentina (L.) Benth ex Kurz và Vù hương Cinnamomum parthenoxylon (Jack.)
Meisn Có 22 loài nguy cấp (EN), 33 loài sẽ nguy cấp (VU) Có 20 loài được ghi trong Nghị định 32 trong các nhóm Ia (4 loài) và IIa (16 loài)
Trang 33Bảng 4 Bảng tổng hợp các loài nguy cấp trong hệ động, thực vật tỉnh Quảng Ninh
Trang 34Bảng 5 Giá trị bảo tồn của hệ thực vật Quảng Ninh
3.2.2.3 Các loài côn trùng có giá trị bảo tồn
Kết quả khảo sát thực địa đã ghi nhận thấy: trong 425 loài có mặt tại 14 huyện thuộc tỉnh Quảng Ninh thì có 4 loài có tên trong danh lục sách đỏ Việt Nam (2007), Bảng
6 So với các vùng khác thì số loài không nhiều, nhưng tỷ lệ các loài quý, hiếm (theo Sách Đỏ VN) thì cao: ở Quảng Ninh 15,04%; trong khi ở toàn Việt Nam là 9,62 %
Bảng 6 Danh sách các loài côn trùng có trong Sách đỏ Việt Nam 2007
STT Tên Việt Nam Tên khoa học Mức độ
bảo vệ Nơi thu mẫu
1 Bướm Phượng đuôi lá
cải
Byasa crassipes
Đồng Sơn – Kỳ Thượng (Hoành Bồ)
2 Bướm Phượng Papilio noblei
Đồng Sơn – Kỳ Thượng (HB) Yên Tử (Uông Bí)
3 Bướm phượng Troides helena
Đồng Sơn – Kỳ Thượng (Hoành Bồ)
4 Bướm phượng cánh
liền
Troides aeacus (L Felder) VU
Đồng Sơn – Kỳ Thượng (Hoành Bồ)
VU: Sẽ nguy cấp
Trang 353.2.2.4 Các loài cá có giá trị bảo tồn
Trong nội địa có 4 loài cá nước ngọt có trong Sách đỏ VN, 2007
2 loài bậc EN:
Cá chuối hoa - Channa maculata, gặp tại 8/12 huyện thị gồm: Nam Sơn (BC),
Phong Dụ (TY), Húc Đông (BL), Đường Hoa (HH), TT Đông Triều (ĐT), Yên Công (UB), Yên Hải (YH), TT Hoành Bồ Loài này có thịt thơm ngon, là đặc sản thường được dùng trong tiệc tùng nên bị khai thác mạnh Tuy nhiên loài này đã trở thành đối tượng nuôi nên có thể chúng đến từ các cơ sở nuôi
Cá mòi cờ hoa - Clupanodon thrissa, gặp ở 6/12 huyện thị là Đông Triều, Yên
Hưng, Hạ Long, Cẩm Phả, Tiên Yên và Đầm Hà Đây là loài cá di cư, sống ở biển nhưng di cư vào sông và có bãi đẻ ở nước ngọt sâu trong nội địa
2 loài bậc VU:
Cá lá giang - Parazacco vuquangensis, gặp ở Đồng Sơn (Hoành Bồ), Diền Xá, Hà
Lâu và Phong Dụ (Tiên Yên); đây là loài cá nước ngọt thuần túy mới được phát hiện bởi Nguyễn Thái Tự, mới chỉ gặp ở Hà Tĩnh và hiện gặp thêm ở sông Đà và Quảng Ninh, như vậy đây là loài đặc hữu cho Việt Nam
Cá chình hoa - Anguilla marmorata, gặp ở Ba Chẽ Đây là loài cá di cư, sống ở
nước ngọt; phân bố ở các sông suối vùng cao; Khi trưởng thành di cư ra vùng biển sâu ngoài khơi sinh sản và chết Ấu trùng theo các dòng nước biển trở lại đất liền sinh sống Cá có thịt rất thơm ngon nên bị săn lùng ráo riết Chúng phân bố rất rộng
từ các nước vùng biển Ấn Độ dương đến vùng biển Thái Bình Dương Ở Việt Nam trước đây mới chỉ gặp từ sông Lam (Nghệ An) trở vào các lưu vực thuộc các tỉnh phía Nam Gần đây phát hiện chúng còn phân bố cả ở sông Mã (Thanh Hóa), (Na Hang) Tuyên Quang và Ba Chẽ (Quảng Ninh)
Có 5 loài cá nước ngọt mới chỉ gặp ở Việt Nam ( có thể là là loài đặc hữu Việt Nam):
Như đã nói ở trên, cá lá giang - Parazacco vuquangensis là loài đặc hữu khu vực
phía bắc Viêt Nam; gặp ở Đồng Sơn (Hoành Bồ), Điền Xá, Hà Lâu và Phong Dụ (Tiên Yên)
Cá bống đá - Rhinogobius boa, tìm thấy tại Km số 3 và km số 5 trên đường từ Bắc
Phong Sinh (huyện Hải Hà) đi Móng Cái Loài đặc hữu miền Bắc Việt Nam
Cá bống đá - Rhinogobius sulcatus, tìm thấy tại địa điểm cách Mông Dương 10 km
trên đường Mông Dương - Tiên Yên
Bống khe - Rhinogobius variolatus, tìm thấy tại địa điểm cách Mông Dương 10 km
trên đường Mông Dương - Tiên Yên và trên sông Ba Chẽ, cách thị trấn Ba Chẽ 4
km
Ca bống đá - Rhinogobius virgigena, tìm thấy tại một phụ lưu của sông Ba Chẽ,
cách thị trấn Ba Chẽ 11 km trên đường Ba Chẽ - Tiên Yên
Trang 36Trong vùng biển Quảng Ninh đã phát hiện 8 loài cá biển có trong Sách đỏ VN, 2007:
Cháo biển - Elops saurus, gặp ở Tiên Yên,
Cá bướm vằn - Parachaetodon ocellatus, chỉ mới gặp ở Tiên Yên,
Cá mòi không răng - Anodontostoma chacunda, gặp ở Yên Hưng, Tiên Yên và Hải
Cá bằng chài đầu đen - Thalassoma lunare, tìm thấy ở quần đảo Ba Mùn
3.2.2.5 Các loài quý, hiếm và giá trị bảo tồn
Quan niệm Đa dạng sinh học là tài nguyên thì các loài quý phải là các loài có giá trị tài nguyên cao, tức là trực tiếp hoặc gián tiếp có giá trị đối với con người thông quá các chức năng, dịch vụ hệ sinh thái Việc bảo tồn các loài quý cũng là để làm tăng giá trị tài nguyên của chúng cho mục đích phát triển bền vững Nhiều loài quý bị khai thác quá mức thì trở nên hiếm, nhưng không phải người ta quý vì nó hiếm Nhiều loài rất phổ biến nhưng nhờ tài năng khai thác chế biến trở thành nguyên liệu cho sản xuất các sản phầm đặc biệt, chất lượng cao (đặc sản) như mực Hạ Long, sứa Vân Đồn, ba kích Hoành Bồ, rong diềng Bình Liêu… Việc bảo tồn các loài như vậy cần chú ý đến các biện pháp kỹ thuật để phát triển kích thước quần thể, duy trì sự phát triển bền vững của quần thể và khả
năng cung cấp tài nguyên của chúng hơn là biện pháp cấm khai thác
3.2.3 Đa dạng sinh học các vùng đất ngập nước nội địa ở Quảng Ninh
3.2.3.1 Đa dạng sinh học lưỡng cư, bò sát
Lưỡng cư, Bò sát (LCBS) gồm các loài ếch, nhái, cóc, cá cóc, thằn lằn, tắc kè, kỳ
đà, trăn, rắn, rùa, ba ba…có vai trò nhất định trong đời sống con người và trong tự nhiên Chúng cung cấp nguồn protein, dược phẩm, mỹ phẩm, giải trí cho dân; góp phần bảo đảm cân bằng trong các hệ sinh thái qua quan hệ về thức ăn với các loài thực vật và động vật khác Phần lớn LCBS đa thực (ăn nhiều loại thức ăn), trong đó có côn trùng, chuột nên góp phần đáng kể vào việc bảo vệ cây cối, động vật và con người Nhiều loài sống, sinh sản phát triển và biến thái lâu ngày trong nước (nòng nọc các loài ếch nhái) được coi là vật chỉ thị cho các vực nước ngọt và môi trường nói chung
Trang 37Thành phần loài
Dựa vào kết quả khảo sát, điều tra và tham khảo các tài liệu đã xuất bản, ở tỉnh Quảng Ninh có 133 loài (chiếm 24,14 % số loài LCBS đã biết ở Việt Nam) thuộc 91giống, 26 họ, 4 bộ; trong đó lớp Lưỡng cư có 38 loài thuộc 23 giống, 8 họ, 2 bộ; lớp
Bò sát có 95 loài thuộc 68 giống, 18 họ, 2 bộ Đó là chưa kể loài ếch giun theo dân mô tả
là có trong vùng khảo sát nhưng chưa thu được mẫu
So sánh với kết quả điều tra của viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật ở khu BTTN Đồng Sơn-Kỳ Thượng (2006), Phân viện Điều tra quy hoạch rừng Tây Bắc bộ ở rừng Yên Tử (2010) thì chúng tôi đã bổ sung hơn 40 loài Tuy vậy có thể khẳng định đây chưa phải là danh sách đầy đủ các loài lưỡng cư bò sát có trong tỉnh
Độ đa dạng về các bậc phân loại
Bộ có nhiều họ nhất là bộ Có vảy (Squamata) 13 họ; tiếp đến bộ Lưỡng cư không đuôi (Anura) 7 họ; bộ Rùa (Testudinata) 5 họ; bộ Lưỡng cư có đuôi (Caudata) 1 họ
Họ có nhiều giống nhất: Họ Rắn nước (Colubridae) 20 giống; tiếp theo là các họ Thằn lằn bóng (Scincidae) và họ rắn hổ (Elapidae), mỗi họ có 7 giống; họ Ếch nhái (Dicroglossidae) 6 giống; họ Nhông (Agamidae), họ Rùa đầm (Emydidae) 5 giống; họ Rắn lục (Viperidae), họ Ếch nhái chính thức (Ranidae) 4 giống; họ Cóc bùn (Megophryidae), họ Ếch cây (Rhacophoridae), họ Tắc kè (Gekkonidae), họ Vích (Cheloniidae) 3 giống; họ Cá cóc (Salamandridae), họ cóc (Bufonidae), họ Nhái bầu (Microhylidae), họ Ba ba (Trionychidae) 2 giống Các họ còn lại chỉ có 1 giống
Giống có nhiều loài: Giống Hydrophis và giống Hylarana có 5 loài; các giống: Odorana, Microhyla 4 loài; các giống Rhacophorus, Gekko, Plestiodon, Eutropis, Sphenomorphus, Enhydris, Cuora 3 loài Các giống còn lại chỉ có 1 đến 2 loài
Họ có nhiều giống và nhiều loài nhất là họ Rắn nước (Colubridae) 20 giống, 29 loài; tiếp theo là họ Thằn lằn bóng (Scincidae) 7 giống, 14 loài; họ Rắn hổ (Elapidae) 7 giống, 12 loài; họ Ếch nhái (Dicroglossidae) 6 giống 9 loài, Họ Ếch nhái chính thức (Ranidae) 4 giống, 11 loài
Phân bố
Theo sinh cảnh: Nhiều nhất ở rừng kín thường xanh ít bị tác động: 39 loài Tiếp theo là ở rừng thứ sinh phục hồi cây bụi: 30 loài; ở đất trồng cây ngắn ngày, khu dân cư:
25 loài; ở rừng trồng cây lâu năm: 18 loài; ở trong biển: 11 loài
Theo môi trường: Số loài thường ở mặt đất: 70 loài; tiếp đến là sống trên cây: 21 loài; ở nước ngọt: 16 loài; nước biển: 11 loài; nước lợ: 2 loài; ở ôtrong hang tự đào: 2 loài
Thực tế nhiều loài phân bố rộng hơn; có loài gặp cả 2 hay 3 hoặc 4 sinh cảnh, 2 hay
3 môi trường Một số loài phân bố hẹp, ít gặp: Cá cóc bụng hoa, cá cóc sần việt nam, ếch gai bô rê, ếch cây lớn, tắc kè chân vịt, thạch sùng mí bốn vạch, thằn lằn phê nô yên tử,
Trang 38thằn lằn cá sấu, rắn lệch đầu kinh tuyến, rắn hoa cân vân đốm, rùa đỏ, ba ba gai
3.2.3.2 Đa dạng thực vật nổi thủy vực nước ngọt nội địa
Kết quả nghiên cứu về thực vật nổi các dạng thủy vực khác nhau đã xác định được
147 loài thực vật nổi thuộc các ngành Tảo silic (Bacillariophyta), ngành Tảo lục (Chlorophyta), ngành vi khuẩn lam (Cyanobacteria), ngành Tảo giáp (Pyrrophyta), ngành Tảo mắt (Euglenophyta) và ngành Tảo vàng ánh (Chrysophyta) Trong thành phần thực vật nổi nhóm tảo Lục có thành phần loài đông nhất với 67 loài, chiếm 45% số loài; tiếp đến là tảo Silic với 45 loài, chiếm 31%; tảo Lam và tảo Mắt, mỗi ngành có 16 loài, chiếm 11% và cuối cùng là tảo Vàng Ánh và tảo Giáp có từ 1 đến 2 loài, chiếm tỉ lệ 1% trên tổng số loài thực vật nổi toàn khu vực Thành phần thực vật nổi khu vực đa phần là những loài phổ biển thường gặp trong các dạng thủy vực tự nhiên khu vực phía Bắc Việt Nam với các nhóm loài chỉ thị cho thủy vực tự nhiên sạch chưa bị tác động Trong đó đáng chú ý là những loài tảo thuộc chi Melosira, chi Navicula, cymbella thuộc tảo Silic,
chi Dinobryon thuộc tảo Vàng Ánh, chi Spirogyra, chi Staurastrum, Micrasterias,
Ulothrix và chi Schizogonium thuộc tảo Lục
3.2.3.3 Động vật nổi các thủy vực nước ngọt nội địa
Động vật nổi là nhóm sinh vật phù du nằm trong chuỗi mắt xích thức ăn thứ hai sau thực vật nổi của thủy vực nước ngọt nội địa và nước lợ, nước mặn vùng biển Đây cũng
là nhóm có nhiều loài chỉ thị cho các dạng thủy vực tự nhiên cũng như thủy vực bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm và là nhóm thường được chọn lựa để dánh giá chất lượng của thủy vực
Tại tỉnh Quảng Ninh, nhóm nghiên cứu đã xác định được 77 loài động vật nổi nước ngọt nội địa thuộc các nhóm Giáp xác Chân chèo - Copepoda, Giáp xác râu ngành - Cladocera, Trùng bánh xe - Rotatoria và các nhóm khác Trong thành phần động vật nổi, nhóm Giáp xác Chân chèo có thành phần loài đông nhất, tiếp đến là nhóm Giáp xác râu ngành, nhóm Trùng bánh xe và cuối cùng là các nhóm khác Thành phần động vật nổi đa phần là các nhóm nhiệt đới phân bố rộng trong các thủy vực tự nhiên
Mật độ trung bình động vật nổi các thủy vực dao động từ 15680.6 con/m3 đến 30843 con/m3 Cũng như thành phần loài, mật độ trung bình cao nhất thuộc nhóm Giáp xác Chân chèo, tiếp đến là nhóm Giáp xác râu ngành, nhóm Trùng bánh xe và cuối cùng là các nhóm khác chiếm tỉ lệ không đáng kể
3.2.3.4 Đa dạng sinh học thân mềm ở nước
Thân mềm Chân bụng ở nước
Ở nước ngọt đã gặp 13 loài thuộc 8 giống, 5 họ (Ampulariidae, Viviparidae, Pachychilidae, Thiaridae, Pilidae) Trong số các loài Chân bụng ở nước ngọt đều thể hiện
rõ tính chất nhiệt đới như các loài ốc nhồi (Pila polita), Sermyla, Tarebia, Melanoides (Thiaridae) Nhóm ốc vặn Sinotaia, Angulyagra cũng khá phong phú Trong thành phần
Trang 39các loài ốc nước ngọt ở các thủy vực, các giống loài có quan hệ với ốc biển rất ít, chỉ có
Cremnoconchus messageri (Littorinidae)
Do đặc điểm tự nhiên của khu vực Quảng Ninh mang tính chất đồi núi nhiều hơn đồng bằng với vùng ven biển tiếp giáp với đồi thấp cho nên phân bố của Thân mềm mang tính chất chung của các thủy vực vùng núi đồi, tính chất này thể hiện ở cấu trúc quần xã
có sự phong phú của nhóm loài ốc suối Sulcospira hainanensis, Brotia siamensis, Sinotaia aeruginosa và thủy vực sông, ruộng nước như các loài trong họ Viviparidae,
Các nhóm Chân bụng ở nước mặn rất đa dạng và phong phú, có thể chia thành hai nhóm: Nhóm sống trên bề mặt nền đáy của vùng ngập triều và nhóm sống chìm trong nước Nhóm sống trên bề mặt nền đáy khi nước triều rút thường bò trên mặt bùn, ăn mùn
bã lắng đọng sau triều cường, nhóm này thường kích thước nhỏ (Cerithidae, Potamididae, Neritidae, Nassariidae, Assimineidae), hoặc leo cây (Littorinidae), hoặc sống ở gốc cây ngập mặn vùng cao triều (Ellobiidae) Nhóm sống chìm trong nước thường có kích thước lớn hơn như đại diện các họ Trochidae, Turbinidae, Muricidae, Melongenidae, Strombidae Các loài sống chìm trong nước rất thích nền đáy sỏi sạn hoặc đáy đá, rất ít gặp trong nền đáy bùn sét
Thân mềm Hai mảnh vỏ
Đã phát hiện ở khu vực Quảng Ninh 108 loài, 67 giống, 30 họ, 8 bộ và 3 phân lớp
Họ có nhiều loài nhất là Veneridae tới 22 loài, số lượng loài này nhiều nhất trong Thân
mềm nói chung Đã phát hiện 15 loài ở nước ngọt (Limnoperna siamensis, Mytilopsis sallei, Cyrenobatissa subsulcata, Polymesoda erosa, Corbicula blandiana, Corbicula bocourti, Corbicula cyreniformis, Corbicula fluminea, Corbicula baudoni, Corbicula messageri, Sinanodonta jourdyi, Cristaria bialata, Sinanodonta elliptica, Lanceolaria grayi, Nodularia douglasiae crassidens)
Nhìn chung phân bố của Hai mảnh vỏ thường gắn với môi trường nước, trừ một số nhóm chịu khô hạn trong lúc chờ ngập triều (Ostreidae, một vài loài trong Mytilidae) Nhóm sống ở nước ngọt chủ yếu ở sông, suối có nước quanh năm, các sông suối cạn theo mùa thường không gặp
Đa số các loài Thân mềm Hai mảnh vỏ gặp trong môi trường nước mặn, chiếm tới 88,8% (96/108) số loài đã gặp Số lượng các taxon bậc họ cũng tập trung ở khu vực nước mặn nhiều hơn, tới 86,6% số họ Một vài họ có các loài chung cả ở nước ngọt và cả ở
Trang 40nước mặn, nhưng số loài nước ngọt ít như ở Mytilidae (gặp 12 loài) chỉ có 1 loài ở nước
ngọt (Limnoperna siamensis - vẹm sông) hay Corbiculidae (10 loài) có 6 loài ở nước ngọt (Corbicula blandiana, C bocourti, C cyreniformis, C fluminea, C baudoni, C messageri) Các loài vùng nước ngọt chiếm số lượng ít của khu hệ Tuy nhiên gặp khá phổ biến những loài có trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 (trai cóc - Lamprotula leai; trai cánh mỏng - Cristaria bialata)
Các loài thuộc nhóm Hai mảnh vỏ như trai sông (Sinanodonta jourdyi, Cristalia bialata), trùng trục (Nodularia douglasiae crassidens) và các loài thuộc giống Corbicula
cùng với nhóm Hai mảnh vỏ ở nước mặn thường sống vùi trong nền đáy các thủy vực Các loài sống bám khá phổ biến ở nước mặn như các loài họ Hàu (Ostreidae), họ vẹm
(Mytilidae), ở nước ngọt chỉ gặp vẹm sông (Limnoperna siamensis, Brachidontes emarginatus ) Đặc điểm này do lối sống của Hai mảnh vỏ thuộc nhóm ăn lọc nên thường
phải ngâm mình trong nước và lọc thức ăn
Nhóm Hai mảnh vỏ ở nước ngọt thuộc khu vực Quảng Ninh có đặc điểm chung ở hai loại thủy vực sông, suối và hồ Ở sông thuộc thủy vực nước chảy chỉ gặp ở các sông
có nước sâu quanh năm, các sông cạn theo mùa không gặp, ở suối cũng tương tự Sông suối vùng Quảng Ninh thường ngắn, dốc, nước chảy xiết vào mùa lũ, cạn về mùa khô, nền đáy thường có đá đã hạn chế phân bố của nhóm Hai mảnh vỏ nước ngọt Ở hồ và ao thuộc thủy vực nước đứng có nước quanh năm thường xuyên gặp nhóm này như hồ Yên Lập, Quất Động, Hà Động, Sơn Đông Các hồ này đều là những hồ nhân tạo, chặn các dòng chảy tạo nên hồ, vì vậy sự đa dạng của Hai mảnh vỏ chỉ nằm trong sự phát triển của các loài vốn có trong nền đáy, các loài di cư từ nơi khác đến ít
3.2.3.5 Đa dạng sinh học nhóm giun nhiều tơ ở nước
Giun nhiều tơ có 51 loài thuộc 34 giống và 17 họ nằm trong 2 phân lớp Giun nhiều
tơ sống di động (Errantia) và định cư (Sedentaria) Giun nhiều tơ sống di động nhiều hơn (36 loài) nhóm sống định cư (15 loài) đã phát hiện được ở khu vực Quảng Ninh
Phân bố của Giun nhiều tơ (Polychaeta)
Ở biển, Giun nhiều tơ phân bố rất rộng rãi, từ vùng ngập triều tới độ sâu 800m, nhưng tập trung nhiều hơn cả là vùng ven bờ Tất cả Giun nhiều tơ đều ở nền đáy, chui rúc trong bùn hoặc bơi lội trong nước quanh các mảnh vụn vỏ trai ốc, san hô, rong tảo như các loài trong họ Phyllodocidae, Aphroditidae, nhưng ấu trùng của chúng hoàn toàn sống trôi nổi
3.2.3.6 Đa dạng sinh học về giáp xác
Giáp xác là một trong những nhóm động vật đáy quan trọng trong các hệ sinh thái,
là thành phần trong các chuỗi và lưới thức ăn Các loài giáp xác góp phần quan trọng trong phân hủy mùn bã hữu cơ của chu trình tuần hoàn vật chất Đối với con người, giáp xác được sử dụng làm thực phẩm trong bữa ăn hàng ngày, trong xuất khẩu hải sản,… Đối