1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề cương ôn tập môn triết học Lớp Chính trị

80 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 611 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng lý luận triết học Mác-Lênin và dẫn chứng cụ thể, đồng chí hãy lý giải nhận định của mình:...3 Câu 2: Hãy làm rõ cơ sở triết học và nội dung quan điểm toàn diện của phép biện chứng d

Trang 1

Câu 1: Khẳng định rằng TTXH và YTXH tồn

tại hoàn toàn độc lập, không có sự liên hệ tác

động lẫn nhau là đúng hay sai? Bằng lý luận

triết học Mác-Lênin và dẫn chứng cụ thể, đồng

chí hãy lý giải nhận định của mình: 3

Câu 2: Hãy làm rõ cơ sở triết học và nội dung

quan điểm toàn diện của phép biện chứng duy

vật mácxit; trên cơ sở đó bình luận về trường

hợp giả định: để đối phó với ùn tắc giao thông

trong điều kiện hạ tầng đô thị và hệ thống

phương tiện giao thông công cộng như hiện nay,

chính quyền thành phố Hà Nội ban hành chính

sách cấm xe máy lưu thông trong khu vực nội

thành ??? 5

Câu 3: Giả sử có quan điểm cho rằng: "Quan hệ

sản xuất có thể phát triển vượt trước trình độ của

lực lượng sản xuất để mở đường cho LLSX phát

triển", dựa trên lý luận triết học Mác - Lê Nin và

thực tiễn Việt Nam hãy chứng minh luận điểm

này đúng hay sai 9

Câu 4: Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ và

nhân dân ta rằng: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn

kết; Thành công, thành công, đại thành công

Song triết học Mác - Lê Nin lại cho rằng: mâu

thuẫn là nguồn gốc động lực của sự vận động và

phát triển 12

Câu 5: Quan điểm của Triết học Mác - Lê Nin

về thực tiễn và các hình thức cơ bản của thực

tiễn ??? 15

Câu 6 vận dụng quan điểm của triết học Mác

-Lê nin, hãy nêu dẫn chứng thực tế về sự lạc hậu

của ý thức trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước;

phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc

phục sự lạc hậu của ý thức xã hội ? 18

Câu 7 Phân tích nội dung cơ bản của nguyên

tắc toàn diện; ý nghĩa rút ra từ việc học nội dung

nguyên tắc này ??? 23

Câu 8 Thế nào là sự phù hợp giữa LLSX và

QHSX? Phân tích việc xây dựng QHSX phù

hợp với trình độ phát triển LLSX ở nước ta hiện

nay? 25

Câu 9 Trình bày quan điểm của triết học Mác

-Lê nin về quan hệ giữa cá nhân và xã hội 28

Câu 10: Tổng kết thực tiễn và rút ra bài học

kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng

Việt Nam, Đảng ta nhận định: "Trong lãnh đạo

Đảng có lúc cũng sai lầm, khuyết điểm, có

những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng dogiáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm luậtkhách quan" (ĐCSVN 2011): Văn kiện Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.CTQG,HN,2011, Tr.64 Hãy vận dụng quanđiểm triêt học Mác - Lê nin chỉ ra biểu hiện thực

tế của những sai lầm, khuyết điểm trong quátrình xây dựng CNXH ở Việt nam; phân tíchnguyên nhân và đề xuất hướng khắc phục ???.29

Câu 11: V.I.Lê Nin viết: "Quan điểm về đời

sống, quan điểm về thực tiễn phải là quan điểmthứ nhất về cơ bản của lý luận nhậnthức"(TT,1980,T18,Tr167) Hãy làm rõ cơ sởtriết học và ý nghĩa của luận điểm trên ??? 32

Câu 12: Đồng chí hãy phân tích cơ sở triết học

và thực tiễn của việc phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam:

"Đó là nền kinh tế thị trường có quan hệ sảnxuất tiễn bộ, phù hợp với trình độ phát triển củaLLSX" (ĐCSVN 2016: Văn kiện Đại hội đạibiểu lần thứ XII, Văn phòng tư tưởng Đảng,

2016, tr25) ??? 34

Câu 13: Bằng lý luận triết học Mác – Lenin và

thực tiễn đổi mới ở Việt Nam, đồng chí hãy luậngiải quan điểm “Chính trị là sự biểu hiện tậptrung của kinh tế; chính trị không thể khôngchiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế” ??? 45

Câu 14: Trình bày khai niệm Ý thức xã hội và

kết cấu ý thức xã hội ??? 49

Câu 15: Từ thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt

nam, Đảng ta chỉ ra: "Lực lượng sản xuất bị kìmhãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sảnxuất lạc hậu, mà cả khi quan hệ sản xuất pháttriển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa

so với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất" Bằng lý luận về quan hệ biện chứng giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với thựctiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt nam Anh(chị) hãy PT làm rõ luận điểm trên ??? 52

Câu 16:Thực tiễn là gì ? Phân tích vai trò của

thực tiễn đối với lý luận, rút ra những điểm cầnlưu ý trong việc học tập lý luận hiện nay…? 55

Câu 17: Bằng quan điểm triết học Mác - Lê Nin

về MQB BC giữa LLSX và QHSX, anh chị hiểuthế nào về sự phù hợp giữa QHSX với trình độcủa LLSX? Anh chị hãy phân tích việc xây

Trang 2

dựng QHSX phù hợp với LLSX ở nước ta hiệnnay ??? 57

Câu 18: Khái niệm cơ sở hạ tầng và kết cấu hạ

tầng có đồng nhất với nhau không? Giải thíchtại sao? Khẳng định rằng trong một hình tháikinh tế - xã hội, nhà nước tồn tại độc lập với cơcấu kinh tế của xã hội đó đúng hay sai? Giảithích tại sao??? 62

Câu 19: Thực tế cho thấy trong khi sử lý công

việc tại các cơ quan, tổ chức, có những ngườiquá dựa vào kinh nghiệm của bản thân đến mứccoi thường việc cập nhật tri thức mới; ngược lại

có người quá dựa vào sách vở, lý thuyết đếnmức xa rời thực tiễn hãy phân tích cơ sở triếthọc của những biểu hiện trên, chỉ ra dẫn chứngthực tế trong lĩnh vực công tác của bản thân vàphương hướng khắc phục ??? 65

Câu 20: Đồng chí hãy nêu những nội dung yêu

cầu của nguyên tắc (quan điểm) toàn diện, trìnhbày cơ sở triết học và chỉ ra những thành tựu vàhạn chế này trong quá trình đổi mới ở Việt Namqua thực tế địa phương, lĩnh vực hoạt động củamình 69

Câu 21: Đảng ta chỉ ra rằng "Xây dựng con

người Việt Nam phát triển toàn diện phải trởthành một mục tiêu của chiến lược phát triển"(VLĐH XII, Tr.126) Hãy phân tích cơ sở triếthọc, đánh giá những thành tựu và hạn chế trongviệc thực hiện chiến lược phát triển con ngườiViệt Nam hiện nay bằng minh chức thực tế, đềxuất, kiến nghị hoặc giải pháp thực hiện trongthời gian tới ??? 75

Trang 3

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT

HỌC

Câu 1: Khẳng định rằng TTXH và YTXH tồn

tại hoàn toàn độc lập, không có sự liên hệ tác

động lẫn nhau là đúng hay sai? Bằng lý luận

- Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội

- Ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội

- Ví dụ minh chứng cho các biểu hiện

+ Tồn tại xã hội là cơ sở khách quan, nguồn gốc

hình thành ý thức XH

+ Tồn tại XH, xét đến cùng, quyết định nội

dung, tính chất của ý thức XH

+ Khi tồn tại XH thay đổi thì ý thức XH cùng

thay đổi theo

- Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức XH

so với tồn tại XH

- Ví dụ minh chứng cho các biểu hiện

+ Ý thức XH thường lạc hậu so với tồn tại XH

+ Ý thức Xh có thể vượt trước tồn tại XH

+ Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức

TTXH là đời sống vật chất và điều kiện

sinh hoạt vật chất mà xã hội loài người dựa vào

để tồn tại và phát triển, tồn tại xã hội chỉ là

những gì ở trong phạm vi hoạt động thực tiễn

của loài người, tồn tại xã hội không đồng nhất

với khái niệm tồn tại khách quan, mà tồn tại

khách quanbao hàm tồn tại xã hội; tồn tại xã hội

bao gồm cả đời sống vật chất (quan hệ vật chất

và xã hội) và điều kiện sinh hoạt vật chất của xã

hội

YTXH là toàn bộ những tư tưởng, quan

điểm cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền

thống…của một cộng đồng xã hội, nảy sinh từ

tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội của họtrong những giai đoạn phát triển nhất định

- Quan điểm duy vật lịch sử về vai tròcủa tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội

+ Theo quan điểm duy vật lịch sử: tồn tại

xã hội giữ vai trò quyết định ý thức xã hội Đây

là kết luận tất yếu của sự vận dụng nguyên lývật chất quyết định ý thức vào việc phân tíchlĩnh vực đời sống xã hội

+ Tính quyết định của tồn tại xã hội đốivới ý thức xã hội được phân tích căn bản trênhai phương diện:

Một là, tồn tại xã hội nào thì ý thức xãhội đó (xét theo tính chất, đặc trưng, kết cấu,trình độ phát triển, của ý thức xã hội)

Hai là, những biến đổi của ý thức xã hộiđều có nguyên nhân sâu xa từ sự biến đổi củatồn tại xã hội, đặc biệt là sự biến đổi của phươngthức sản xuất

- Quan điểm duy vật lịch sử về tính độclập tương đối của ý thức xã hội

Quan điểm duy vật biện chứng về xã hộikhông chỉ khẳng định tính quyết định của tồn tại

xã hội đối với ý thức xã hội mà còn làm sáng tỏnhững nội dung của tính độc lập tương đối của ýthức xã hội Nội dung tính độc lập tương đối của

ý thức xã hội được phân tích trên các phươngdiện chính sau đây:

+ Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu

so với tồn tại xã hội

Theo nguyên lý tồn tại xã hội quyết định

ý thức xã hội thì khi tồn tại xã hội biến đổi sẽ tấtyếu dẫn tới những sự biến đổi của ý thức xã hội.Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, sựbiến đổi của tồn tại xã hội đều ngay lập tức dẫnđến sự biến đổi của ý thức xã hội; trái lại, nhiềuyếu tố của ý thức xã hội (trong đời sống tâm lý

xã hội và hệ tư tưởng xã hội) có thể còn tồn tạirất lâu dài ngay cả khi cơ sở tồn tại xã hội sảnsinh ra nó đã được thay đổi căn bản, sở dĩ nhưvậy là vì:

Trang 4

Một là, do bản chất của ý thức xã hội chỉ

là sự phản ánh của tồn tại xã hội cho nên nói

chung ý thức xã hội chỉ có thể biến đổi sau khi

có sự biên đổi của tồn tại xã hội Mặt khác, sự

biến đổi của tồn tại xã hội do sự tác động mạnh

mẽ, thường xuyên và trực tiếp của hoạt động

thực tiễn, diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức

không thể phản ánh kịp

Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyền

thông, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảo

thủ của một số hình thái ý thức xã hội

Ba là, ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích

của những nhóm, những tập đoàn người, những

giai cấp nhất định trong xã hội Vì vậy, những tư

tưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xã

hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm

chống lại các lực lượng xã hội tiến bộ

+ Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt

trước tồn tại xã hội

Khi khẳng định tính thường lạc hậu hơn

của ý thức xã hội so với tồn tại xã hội, chủ nghĩa

duy vật lịch sử đồng thời thừa nhận rằng, trong

những điều kiện nhất định, tư tưởng của con

người, đặc biệt những tư tưởng khoa học tiên

tiến có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã

hội, dự báo được tương lai và có tác dụng tổ

chức, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người,

hướng hoạt động đó vào việc giải quyết những

nhiệm vụ mới do sự phát triển chín muồi của đời

sống vật chất của xã hội đặt ra Tuy nhiên, suy

đến cùng, khả năng phản ánh vượt trước ý thức

xã hội vẫn phụ thuộc vào tồn tại xã hội

+ Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa

trong sự phát triển

Lịch sử phát triển đời sống tinh thần của

xã hội cho thấy rằng, những quan điểm lý luận

của mỗi thời đại không xuất hiện trên mảnh đất

trống không mà được tạo ra trên cơ sở kế thừa

những tài liệu lý luận của các thời đại trước

Do ý thức có tính kế thừa trong sự phát

triển, nên không thể giải thích được một tư

tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào những quan hệ

kinh tế hiện có, không chú ý đến các giai đoạn

phát triển tư tưởng trước đó Lịch sử phát triểncủa tư tưởng đã cho thấy những giai đoạn hưngthịnh hoặc suy tàn của triết học, văn học, nghệthuật, v.v nhiều khi không phù hợp hoàn toànvới những giai đoạn hưng thịnh hoặc suy tàn củakinh tế

Trong xã hội có giai cấp, tính chất kếthừa của ý thức xã hội gắn với tính chất giai cấpcủa nó Những giai cấp khác nhau kế thừanhững nội dung ý thức khác nhau của các thờiđại trước Các giai cấp tiên tiến tiếp nhận những

di sản tư tưởng tiến bộ của xã hội cũ để lại

+ Thứ tư, sự tác động qua lại giữa cáchình thái ý thức xã hội trong sự phát triển củachúng

Sự tác động qua lại giữa các hình thái ýthức xã hội là một nguyên nhân làm cho trongmỗi hình thái ý thức có những mặt, những tínhchất không thể giải thích được một cách trựctiếp từ tồn tại xã hội

+ Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tácđộng trở lại tồn tại xã hội

Chủ nghĩa duy vật lịch sử không nhữngphê phán quan điểm duy tâm (tuyệt đối hóa vaitrò của ý thức xã hội) mà còn bác bỏ quan điểmduy vật tầm thường hay “chủ nghĩa duy vật kinhtế” (tức quan điểm phủ nhận tác dụng tích cựccủa ý thức xã hội trong đời sống xã hội) Theo

Ph Ăngghen: “Sự phát triển về mặt chính trị,pháp luật, triết học, tôn giáo, văn học, nghệthuật, v.v đều dựa vào sự phát triển kinh tế.Nhưng tất cả chúng cũng có ảnh hưởng lẫn nhau

và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế” Mức độ ảnhhưởng của tư tưởng đối với sự phát triển xã hộiphụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể,vào tính chất của các mối quan hệ kinh tế màtrên đó tư tưởng nảy sinh, vai trò lịch sử của giaicấp mang ngọn cờ tư tưởng; vào chế độ phảnánh đúng đắn của tư tưởng đối với các nhu cầuphát triển xã hội, vào mức độ mở rộng của tưtưởng trong quần chúng, V.V Cũng do đó, ởđây cần phân biệt vai trò của ý thức tư tưởngtiến bộ và ý thức tư tưởng phản tiến bộ đối với

sự phát triển của xã hội

Trang 5

- Ý nghĩa phương pháp luận

+ Để nhận thức đúng các hiện tượng

thuộc đời sống ý thức xã hội thì một mặt, cần

phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã làm nảy sinh ra

nó, mặt khác cũng cần phải giải thích các hiện

tượng đó từ những phương diện khác nhau

thuộc nội dung tính độc lập tương đối của

chúng

Ví dụ, chỉ có thể giải thích đúng bản chất

và nguồn gốc tâm lý xã hội của con người Việt

Nam truyền thống (như: tâm lý tiểu nông, coi

trọng làng, xã, sinh hoạt lễ hội theo mùa, ) nếu

xuất phát từ cơ sở tồn tại xã hội truyền thống

của nó là phương thức canh tác lúa nước trong

điều kiện trình độ kỹ thuật thủ công với hình

thức tổ chức dân cư cộng đồng làng xã khép kín,

tự cấp tự túc, Sẽ là sai lầm nếu xuất phát từ cái

gọi là “bản tính cố hữu” của người Việt để giải

thích đời sống tâm lý đó

+ Trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây

dựng xã hội mới cần phải được tiến hành đồng

thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã

hội, trong đó việc thay đổi tồn tại xã hội cũ là

điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội

cũ Đồng thời, cũng cần thấy rằng không chỉ

những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu

dẫn đến những thay đổi to lớn trong đời sống

tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác

động của đời sống tinh thần xã hội, với những

điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến

đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội

Ví dụ, Đảng ta trong khi coi trọng chiến lược

công nghiệp hoá, hiện đại hoá để xác lập

phương thức sản xuất mới ở nước ta (coi đó là

nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội) thì đồng thời cũng hết sức coi

trọng công tác tư tưởng văn hoá Đó là một chủ

trương đúng đắn, khoa học, xuất phát từ quan

điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về vai trò

quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã

hội và về tính độc lập tương đối của ý thức xã

hội

Câu 2: Hãy làm rõ cơ sở triết học và nội dung

quan điểm toàn diện của phép biện chứng duy vật mácxit; trên cơ sở đó bình luận về trường hợp giả định: để đối phó với ùn tắc giao thông trong điều kiện hạ tầng đô thị và

hệ thống phương tiện giao thông công cộng như hiện nay, chính quyền thành phố Hà Nội ban hành chính sách cấm xe máy lưu thông trong khu vực nội thành ???

- Phân tích mỗi liên hệ phổ biến: cơ sở triết họccủa quan điểm toàn diện

+ Khái niện liên hệ phổ biến+ Cơ sở của mối liên hệ phổ biến + Tính chất của mối liên hệ phổ biến

- Nội dung của quan điểm toàn diện(Phân tích 4yêu cầu của quan điểm toàn diện)

+ Phải xem xét sự vật trong mối liên hệ qua lạigiữa các yếu tố, các bộ phận, các thuộc tínhkhác nhau của chúng

+ Phải xem xét sự vật này trong mối liên hệ giữacác sự vật hiện tượng khác, kể cả khâu trunggian của chúng

+ Phải xem xét sự vật, hiện tương trong mối liên

hệ với nhu cầu thực tiễn

+ Chống tư tưởng bình quân, dàn trải, khôngthấy được vị trí, vai trò của các mỗi quan hệgiữa các mặt trong một sự vật, hiện tượng haygiữa các sự vật, hiện tượng khác nhau

- Bình luận về trường hợp đề ra : Như thế làthiếu các nhìn toàn diện

+ Phân tích chỉ ra việc phải chuẩn bị hội đủ cácđiều kiện, có lộ trình, trọng tâm, trọng điểm để

có thể thực hiện cấm lưu thông xe máy trong nộithành

(Tham khảo thêm các ý kiến bình luận của báochí)

Trả lời:

Phép biện chứng duy vật là phương pháp triếthọc duy vật biện chứng và các khoa học nóichung Theo Ph.Ănghen: "Phép biện chứng làphương pháp mà điều căn bản là nó xem xétnhững sự vật và những phản ánh của chúngtrong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫnnhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vậnđộng, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng"

Là cơ sở của nhận thức lý luận tự giác, phép

Trang 6

biện chứng duy vật là phương pháp dùng để

nghiên cứu toàn diện và sâu sắc những mâu

thuẫn trong sự phát triển của hiện thực, đưa lại

chìa khoá để nghiên cứu tổng thể những quá

trình phức tạp của tự nhiên, xã hội và tư duy Vì

vậy, phép biện chứng duy vật được áp dụng phổ

biến trong lĩnh vực và có vai trò quyết định

trong sự vật, hiện tượng Phép biện chứng duy

vật không chỉđưa ra hướng nghiên cứu chung,

đưa ra các nguyên tắc tiếp cận sự vật, hiện

tượng nghiên cứu màđồng thời còn là điểm xuất

phát để đánh giá những kết quả đạt được

Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là

nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - một trong

hai nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện

chứng Đây là một phạm trù của phép biện

chứng duy vật dùng để chỉ sự quy định, tác động

qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật

hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật hiện

tượng trong thế giới khách quan

Triết học Mác khẳng định: Cơ sở của mối

liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là thuộc tính

thống nhất vật chất của thế giới Các sự vật, hiện

tượng dù đa dạng và khác nhau đến mấy thì

chúng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của

một thế giới duy nhất là vật chất mà thôi Ngay

bản thân ý thức vốn không phải là vật chát

nhưng cũng chỉ là sự phát triển đến đỉnh cao của

một thuộc tính, của một dạng vật chất có tổ chức

cao nhất là bộ óc con người, nội dung của ý thức

có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới bên ngoài

Theo triết học Mác, mối liên hệ giữa các

sự vật hiện tượng là khách quan vốn có của bản

thân chúng, đồng thời mối liên hệ còn mang tính

phổ biến và tính phổ biến ấy được thể hiện ở

những vấn đề sau đây:

Xét về mặt không gian, mỗi sự vật hiện

tượng là một chỉnh thể riêng biệt, song chúng

tồn tại không phải trong trạng biệt lập tách rời

tuyệt đối với các sự vật hiện tượng khác Ngược

lại, trong sự tồn tại của mình thì chúng tác động

lẫn nhau và nhận sự tác động của các sự vật hiện

tượng khác Chúng vừa phụ thuộc nhau, chế ước

nhau, làm tiền đề cho nhau tồn tại và phát triển

Đó chính là hai mặt của quá trình tồn tại và phát

triển của sự vật, hiện tượng Ănghen đã khẳng

định: "Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên

cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồm cácvật thể liên hệ khăng khít với nhau và việc cácvật thể ấy có mối liên hệ qua lại với nhau đã cónghĩa là các vật thể này tác động qua lại lẫnnhau và sự tác động qua lại ấy chính là sự vậnđộng"

Trong đời sống xã hội ngày nay không cómột quốc gia, dân tộc nào mà không có mốiquan hệ, liên hệ với quốc gia, dân tộc khác vềmọi mặt của đời sống xã hội Đây chính là sựtồn tại, phát triển cho mỗi quốc gia, dân tộc.Trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướngtoàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt của đời sống

xã hội Các quốc gia dân tộc ngày càng phụthuộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau trên conđường phát triển của mình

Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trongcủa sự vật hiện tượng thì mỗi sự vật hiện tượngđều được tạo thành bởi nhiều nhân tố, nhiều bộphận khác nhau và các nhân tố, bộ phận đókhông tồn tại riêng lẻ mà chúng được tổ chứcsắp xếp theo một lôgíc nhất định, trật tự nhấtđịnh để tạo thành chỉnh thể Mỗi biện pháp, yếu

tố trong đó mà có vai trò vị trí riêng của mình,lại vừa tạo điều kiện cho các bộ phận, yếu tốkhác Nghĩa là giữa chúng có sự ảnh hưởng,ràng buộc tác động lẫn nhau, sự biến đổi bộphận nào đó trong cấu trúc của sự vật hiệntượng sẽ ảnh hưởng đến bộ phận khác và đối với

đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này làm

mở đầu cho giai đoạn khác tiếp theo Điều nàythể hiện rõ trong mối liên hệ giữa quá khứ - hiệntại - tương lai (hiện tại chẳng qua là bước tiếptheo của quá khứ và là bàn đạp cho tương lai).Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳngđịnh tính khách quan, tính phổ biến vốn có của

sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quátrình mà nó còn nêu rõ tính phong phú, đa dạng

và phức tạp của mối liên hệ qua lại đó Khinghiên cứu hiện thực khách quan có thể phânchia mối liên hệ thành từng loại khác nhau tuỳ

Trang 7

tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng

hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp

hay gián tiếp… khái quát lại có những mối liên

hệ sau đây: mối liên hệ bên trong - bên ngoài,

chủ yếu - thứ yếu, chung - riêng, trực tiếp - gián

tiếp, bản chất - không bản chất, ngẫu nhiên- tất

nhiên Trong đó có những mối liên hệ bên trong,

trực tiếp, chủ yếu, bản chất và tất nhiên bao giờ

cũng giữ vai trò quan trọng, quyết định cho sự

tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Triết

học Mác xít đồng thời cũng thừa nhận rằng các

mối liên hệ khác nhau có khả năng chuyển hoá

cho nhau, thay đổi vị trí của nhau và điều đó

diễn ra có thể là sự thay đổi phạm vi bao quát sự

vật, hiện tượng hoặc có thể do kết quả vận động

khách quan của sự vật hiện tượng đó

Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên

hệ của các sự vật, hiện tượng chúng ta rút ra

quan điểm toàn diện trong việc nhận thức, xem

xét các sự vật hiện tượng cũng như trong hoạt

động thực tiễn

Về mặt nhận thức, khi nghiên cứu sự vật,

hiện tượng phải đặt nó trong mối liên hệ tác

động qua lại với những sự vật, hiện tượng khác

và cần phải phát hiện ra những mối liên hệ giữa

các bộ phận, yếu tố, các thuộc tính, các giai

đoạn khác nhau của bản thân sự vật Lênin đã

khẳng định: "Muốn thực sự hiểu được sự vật,

cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các

mặt của mối liên hệ và quan hệ của sự vật đó"

Để nhận thức đúng được sự vật, hiện tượng cần

phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu

thực tiễn, ứng với mỗi thời kỳ, giai đoạn, thế hệ

thì con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được

số lượng hữu hạn các mối liên hệ Vì vậy tri

thức về các sự vật, hiện tượng chỉ là tương đối,

không đầy đủ và cần phải được hỏi chúng ta

phải phát hiện ra không chỉ là mối liên hệ của nó

mà còn phải biết xác định phân loại tính chất,

vai trò, vị trí của mỗi loại liên hệ đối với sự phát

triển của sự vật Cần chống lại cả khuynh hướng

sai lầm phiến diện một chiều, cũng như đánh giá

ngang bằng vị trí của các loại quan hệ

Về mặt thực tiễn, quan điểm toàn diện

đòi hỏi để cải tạo sự vật, hiện tượng cần làm

thay đổi mối liên hệ bên trong của sự vật, hiện

tượng cũng như mối liên hệ giữa sự vật, hiện

tượng đó với sự vật, hiện tượng khác Muốnvậy, cần phải xác định, sử dụng đồng bộ cácphương pháp, các biện pháp, phương tiện để giảiquyết sự vật Mặt khác, quan điểm toàn diện đòihỏi trong hoạt động thực tiễn cần phải kết hợpchính sách dàn đều và chính sách có trọng tâm,trọng điểm Vừa chú ý giải quyết về mặt tổngthể vừa biết lựa chọn những vấn đề trọng tâm đểtập trung giải quyết dứt điểm tạo đà cho việcgiải quyết những vấn đề khác

Bình luận về giả định chính sách cấm

xe máy lưu thông trong nội thành Hà Nội

Câu chuyện về việc cấm xe máy tại nộithành Hà Nội những ngày qua đang làm xôn xao

dư luận xã hội Nhiều ý kiến tranh cãi được đưa

ra và nhận được nhiều quan tâm của của nhiềungười Bởi, đơn giản đại đa số người dân đangsinh sống, làm việc tại Hà Nội đều sử dụng xegắn máy làm phương tiện đi lại hằng ngày

Với mức thu nhập trung bình, chiếc xegắn máy trở thành lựa chọn của nhiều ngườidân Cộng với mạng lưới giao thông rộng lớn lạigồm nhiều ngỏ, hẻm, đường nội đô, xa lộ,đường vành đai bao quanh thành phố Sự cơđộng, linh hoạt giúp xe máy được nhiều ngườilựa chọn làm phương tiện di chuyển hàng ngày.Chiếc xe máy gắn liền với nhiều tầng lớp khácnhau trong xã hội, từ sinh viên, công nhân đếndân văn phòng Hay ngay cả những người vốn

đã sắm ô tô, vẫn luôn có chiếc xe máy để “dựphòng” Với một bộ phận người dân lao động,

xe máy còn là khối tài sản, là công cụ để kiếmsống

Thế nhưng, cũng chính sự phổ biến nàylại góp phần làm dẫn đến những bất cập cho tìnhhình giao thông Không phủ nhận lượng xe máyngày càng nhiều phần nào làm ô nhiễm khôngkhí, hổn loạn Xe máy cũng được xem là mộttrong những phương tiện mất an toàn nhất hiệnnay Vì vậy, đã có những phương án hạn chếloại phương tiện cá nhân này được đưa ra Tuynhiên, việc “cấm xe máy” mà một vị giáo sưtiến sĩ đề xuất gần đây, liệu có khả thi khi cơ sở

hạ tầng giao thông vẫn còn nghèo nàn, cácphương tiện khác phục vụ việc đi lại của đại đa

số người dân vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập

Trang 8

Một câu hỏi không chỉ riêng tôi, mà chắc

hẳn cũng là thắc mắc của nhiều người là: Với

tình hình giao thông tại các thành phố lớn, nếu

cấm xe máy thì lấy phương tiện nào thay thế để

đi lại hàng ngày?

Ô tô là thứ hàng hóa xa xỉ, là giấc mơ xa

vời với đại đa số người Việt và xem ra cũng

không phải là phương án khả thi cho tình hình

giao thông hiện tại Ngay cả những người đang

sở hữu ô tô cũng khá e ngại khi đi lại trong khu

vực trung tâm thành phố bởi hệ thống bãi đỗ xe

quá hạn chế Đó là chưa kể đến việc kẹt xe, ách

tắc liên tục tái diễn Ô tô còn chiếm diện tích và

thiếu sự linh hoạt hơn các phương tiện khác khi

tham gia giao thông

Xe buýt từng được xem là phương án khả

thi nhất để góp phần hạn chế xe máy Nhiều

tuyến đường giao thông mở rộng để xe buýt có

thể tiếp cận gần hơn với người dân Nhưng đến

nay phương án này vẫn chưa thật sự khả thi,

ngược lại còn nảy sinh nhiều vấn đề bất cập

Việc mất nhiều thời gian di chuyển để tiếp cận

các tuyến xe buýt, dễ trễ giờ giấc, cộng với tình

trạng chen lân, xô đẩy, móc túi vẫn xảy ra trên

xe buýt, khiến người dân ngày càng rời xa

phương tiện này

Xe đạp hay xe điện cũng là một giải pháp

nhưng liệu có hiệu quả khi loại phương tiện này

vẫn còn hạn chế về khoảng cách di chuyển Xe

đạp, xe điện hiện nay chỉ phù hợp với đối tượng

học sinh, sinh viên Và nếu phát triển phương

tiện này liệu có giải quyết được tình trạng cách

tắc giao thông Trong khi đó, hệ thống tàu điện

Metro vẫn đang trong quá trình xây dựng Để

phương tiện này thay thế xe máy xem ra là

phương án khả thi Tuy nhiên, người dân phải

chờ đợi đến bao giờ để hệ thống tàu điện Metro

có thể phủ sóng rộng khắp thành phố để đi lại?

Thật ra, với tình hình giao thông hiện

nay, tôi tin rằng không chỉ bản thân tôi mà còn

nhiều người khác cũng chẳng mặn mà với việc

đi xe máy hàng ngày Nhưng xem đi xét lại,

chúng ta có phương tiện nào khác để thay thế

khi mà mọi giải pháp đều vẫn còn nhiều hạn

chế Vì thế, không thể nói xuông và muốn là

cấm Việc hạn chế hay cấm xe máy cần có lộ

trình và hướng giải quyết hợp lý, khi mà phương

tiện này vẫn đang gắn liền với cuộc sống, sinhhoạt của người dân

Thế nên, thay vì nói “cấm” và tạo ratranh cãi xoay quanh câu chuyện về chiếc xemáy Thiết nghĩ, các vị giáo sư tiến sĩ nên cónhững suy nghĩ, đề xuất đến phương án pháttriển cơ sở hạ tầng giao thông Khi phương tiệngiao thông công cộng phát triển và mang lạithuận tiện, an toàn cho người dân, lúc đó tôinghĩ chẳng cần cấm nhiều người tự khắc sẽ nhậnthấy việc nên từ bỏ xe máy

Trang 9

Câu 3: Giả sử có quan điểm cho rằng:

"Quan hệ sản xuất có thể phát triển vượt

trước trình độ của lực lượng sản xuất để mở

đường cho LLSX phát triển", dựa trên lý

luận triết học Mác - Lê Nin và thực tiễn Việt

Nam hãy chứng minh luận điểm này đúng

hay sai.

- Khẳng định luận điểm này là sai

- Nếu căn cứ chứng minh

+ Biểu hiện và hậu quả của việc vận dụng trước

đổi mới (trước 1986)

+ Biểu hiện và kết quả của sự vận dụng từ đổi

mới (1986 ) đến nay

Trả lời:

Luận điểm này sai

Căn cứ chứng minh

+ Khái niệm Lực lượng sản xuất:

Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan

hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình

sản xuất Trong quá trình sản xuất, con người

kết hợp sức lao động của mình với tư liệu sản

xuất, trước hết là công cụ lao động tạo thành sức

mạnh khai thác giới tự nhiên, làm ra sản phẩm

cần thiết cho cuộc sống của mình

Vậy, lực lượng sản xuất là năng lực thực

tiễn cải biến giới tự nhiên của con người nhằm

đáp ứng nhu cầu đời sống của mình

Lực lượng sản xuất là sự kết hợp người

lao động và tư liệu sản xuất, trong đó "lực lượng

sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công

nhân, là người lao động" Chính người lao động

là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với

sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử

dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao

động, tác động vào đối tượng lao động để sản

xuất ra của cải vật chất

Khái niệm Quan hệ sản xuất:

+ Khái niệm quan hệ sản xuất dùng đểchỉ tổng thể mối quan hệ kinh tế (quan hệ giữangười với người về mặt thực hiện lợi ích vậtchất trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xãhội)

+ Quan hệ sản xuất bao gồm: quan hệ sởhữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ trong tổchức - quản lý quá trình sản xuất và quan hệtrong phân phối kết quả của quá trình sản xuấtđó

Những quan hệ sản xuất này tồn tại trongmổì quan hệ thống nhất và chi phối, tác động lẫnnhau trên cơ sở xuyết định của quan hệ sở hữu

về tư liệu sản xuất

Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX:

+ Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biệnchứng (phụ thuộc, ràng buộc nhau, tác động lẫnnhau) tạo thành quá trình sản xuất hiện thực của

xã hội

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

là hai mặt cơ bản, tất yếu của quá trình sản xuất,trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chấtcủa quá trình sản xuất, còn quan hệ sản xuất làhình thức kinh tế của quá trình đó Trong đờisống hiện thực, không thể có sự kết hợp cácnhân tố của quá trình sản xuất để tạo ra năng lựcthực tiễn cải biến các đối tượng vật chất tự nhiênlại có thể diễn ra bên ngoài những hình thứckinh tế nhất định Ngược lại, cũng không có mộtquá trình sản xuất nào có thể diễn ra trong đờisống hiện thực chỉ với những quan hệ sản xuấtkhông có nội dung vật chất của nó

Như vậy, lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất tồn tại trong tính quy định lẫn nhau,thống nhất với nhau Đây là yêu cầu tất yếu, phổbiến diễn ra trong mọi quá trình sản xuất hiệnthực của xã hội Tương ứng với thực trạng pháttriển nhất định của lực lượng sản xuất cũng tấtyếu đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợpvới thực trạng đó trên cả ba phương diện: sở hữu

tư liệu sản xuất, tổ chức - quản lý và phân phối.Chỉ có như vậy, lực lượng sản xuất mới có thểđược duy trì, khai thác - sử dụng và khôngngừng phát triển Ngược lại, lực lượng sản xuấtcủa một xã hội chỉ có thể được duy trì, khai thác

Trang 10

- sử dụng và phát triển trong một hình thái kinh

tế - xã hội nhất định

+ Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và

quan hệ sản xuất là mối quan hệ biện chứng

nhưng trong đó, vai trò quyết định thuộc về lực

lượng sản xuất, còn quan hệ sản xuất giữ vai trò

tác động trở lại lực lượng sản xuất

Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng

sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo nguyên

tắc khách quan: quan hệ sản xuất phải phụ thuộc

vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất

trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì,

quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế của quá

trình sản xuất còn lực lượng sản xuất là nội

dung vật chất, kỹ thuật của quá trình đó

Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách

là hình thức kinh tế của quá trình sản xuất, nó

luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận

động, phát triển của lực lượng sản xuất Sự tác

động này có thể diễn ra theo chiểu hướng tích

cực hoặc tiêu cực, điều đó phụ thuộc vào tính

phù hợp hay không phù hợp của quan hệ sản

xuất với thực trạng và nhu cầu khách quan của

sự vận động, phát triển lực lượng sản xuất Nếu

“phù hợp” sẽ có tác dụng tích cực và ngược lại,

“không phù hợp” sẽ có tác dụng tiêu cực

+ Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và

quan hệ sản xuất là mối quan hệ có bao hàm khả

năng chuyển hóa thành các mặt đối lập làm phát

sinh mâu thuẫn cần được giải quyết để thúc đẩy

sự tiếp tục phát triển của lực lượng sản xuất

Trong phạm vi tương đối ổn định của

một hình thức kinh tế xác định, lực lượng sản

xuất của xã hội được bảo tồn, không ngừng

được khai thác - sử dụng và phát triển trong quá

trình sản xuất và tái sản xuất của xã hội

Tính ổn định, phù hợp của quan hệ sản

xuất đối với lực lượng sản xuất càng cao thì lực

lượng sản xuất càng có khả năng phát triển,

nhưng chính sự phát triển của lực lượng sản

xuất lại luôn luôn tạo ra khả năng phá vỡ sự

thống nhất của những quan hệ sản xuất từ trước

đến nay đóng vai trò là hình thức kinh tế cho sự

phát triển của nó Những quan hệ sản xuất này,

hệ thông nhất giữa chúng theo nguyên tắc quan

hệ sản xuất phải phù hợp với nhu cầu phát triểncủa lực lượng sản xuất

Khi phân tích sự vận động của mâu thuẫnbiện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệsản xuất, C Mác đã từng chỉ ra rằng: “Tới mộtgiai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lựclượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫnvới những quan hệ sản xuất hiện có trong đó

từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn pháttriển Từ chỗ là những hình thức phát triển củalực lượng sản xuất, những quan hệ ấy trở thànhnhững xiềng xích của các lực lượng sản xuất.Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xãhội” Chính nhờ các cuộc cách mạng xã hội mànhững quan hệ sản xuất cũ của xã hội được thaythế bằng một quan hệ sản xuất mới, phù hợp vớinhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất đãphát triển, tiếp tục phát huy tác dụng tích cựcthúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuấttrong một hình thức quan hệ sản xuất mới

Căn cứ và thực tiễn vận dụng mối quan

hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX của Đảng cộng sản Việt Nam

- Trước năm 1986 chúng ta có nhữngbiểu hiện vận dụng chưa đúng mối quan hệ biệnchứng giữa LLSX và QHSX, điều này thể hiện

ở việc do ta chủ quan, nóng vội trong xây dựngquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mà chưa tínhtới trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta thờiđiểm đó (lực lượng sản xuất còn thấp, quan hệsản xuất quá cao)

Trước năm 1986, cơ chế nền kinh tế nước

ta vẫn còn quan liêu, bao cấp Vì thế nó kìmhãm sự phát triển của nền sản xuất vật chất, tạocho con người thói ỷ lại Do đó nền kinh tế nước

ta lúc bây giờ là nền kinh tế lạc hậu, trì trệ vàkém phát triển Trước tình hình đó đặt ra choĐảng và nhà nước ta yêu cầu cấp bách là phải cómột chính sách kinh tế sao cho phù hợp với yêucầu của thời đại và thúc đẩy được sự phát triểncủa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sớmđưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển

Trang 11

Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV

đã vạch ra đường lối rằng: “đẩy mạng công

nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng

cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa

nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên thành

sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, kết hợp phát triển

lực lượng sản xuất với các lập và hoàn thiện

quan hệ sản xuất mới”

Với phương châm lãnh đạo của Đảng,

nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế

đáng kể Tuy nhiên sai lầm của Đảng ta trong

quyết định này đó là chưa xác định được chặng

đường đầu tiên để tiến lên CNXH, nóng vội tả

khuynh trong việc cải tạo và xây dựng CNXH ở

một nước vốn có nền nông nghiệp lạc hậu vừa

trải qua mấy chục năm chiến tranh, đất nước bị

tàn phá nặng nề

Đại hội đại biểu toàn quốc lần V đã đề ra

nhiệm vị chủ yếu về kinh tế - xã hội trong 5 năm

và đã có những bước tìm tòi trên con đường đi

lên CNXH, trước hết là về mặt kinh tế Song đại

hội chưa thấy được sự cần thiết phải duy trì nền

kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá

độ, chưa xác định được những quan điểm cụ thể

về kết hợp kế hoạch với thị trường, công tác

quản lý lưu thông, phân phối vẫn một chiều do

kế hoạch nhà nước quyết định, chưa có những

chính sách, giải pháp, cụ thể và đồng bộ để giải

phóng các lực lượng sản xuất trong nông

nghiệp

Từ thực tế trên cho thấy tầm quan trọng

của việc xác định đúng đắn mối quan hệ giữa

LLSX và QHSX, quy luật chi phối lẫn nhau của

chúng Qua đó vận dụng một cách đúng đắn và

sáng tạo vào công cuộc đổi mới ở đất nước ta

trong thời kỳ tiến lên CNXH

- Sau năm 1986 dưới sự lãnh đạo của

Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta, nhân dân ta

đã lựa chọn con đường phát triển kinh tế nhiều

thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, điều

này hoàn toàn đúng với quy luật về sự phù hợp

của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của

lực lượng sản xuất bởi lẽ: Trình độ phát triển

LLSX ở nước ta thấp và không đồng đều giữa

các vùng, các ngành kinh tế, chính sự không

đồng đều về trình độ phát tiển của lực lượng sản

xuất đã quy định tính đa dạng phong phú của

quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, quan hệ

tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phốisản phẩm lao động

Nói cách khác, tính không đồng đều vềtrình độ phát triển của LLSX đã quy định tính

là sự vận dụng quan điểm của Lê nin “coi nềnkinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một vấn

đề đặc trưng của thời kỳ quá độ”, Mác cũngtừng viết rằng “những quan hệ xã hội đều gắnliền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do

đó có được những LLSX mới đã thay đổi nhữngphương thức sản xuất của mình và do đó thayđổi được phương thức sản xuất…”

Đảng đã chủ trương cải tạo XHCN, xâydựng XHCN phải tiến hành trên cả 3 mặt: xâydựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế

độ quản lý và chế độ phân phối XHCN

Trên cơ sở các đường lối đúng đắn củaĐại hội VI, tại đại hội VII, VIII và IX, Đảng tatiếp tục chủ trương thực hiện nhất quán và lâudài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng XHCN Bên cạnh đó là tiếp tục phát triểnkhoa học, công nghệ, góp phần đưa trình độ củaLLSX tiến lên một bước cao hơn

Đảng và nhà nước đã vận dụng một cáchtriệt để mối quan hệ biện chứng giữa LLSX vàQHSX để phát triển nền kinh tế nước nhà

Thực tiễn kinh tế xã hội ở Việt Nam đãchứng minh được điều này là hoàn toàn đúngđắn, nó thể hiện ở chỗ giải phóng được LLSX,năng suất lao động tăng lên, kinh tế xã hội pháttriển, thu hút được nhiều nguồn lực

Trang 12

Câu 4: Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn

cán bộ và nhân dân ta rằng: Đoàn kết, đoàn

kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công,

đại thành công Song triết học Mác - Lê Nin

lại cho rằng: mâu thuẫn là nguồn gốc động

lực của sự vận động và phát triển.

- Hai luận điểm trên có mâu thuẫn với nhau

không?

- Dựa trên lý luận về mâu thuẫn biện chứng của

triết học Mác - Lê Nin và dẫn chứng thực tế,

đồng chí hãy làm rõ ý kiến trả lời của mình ???

- Hai luận điểm trên không mâu thuẫn với nhau

- Phân tích chỉ ra sự khác biệt của mâu thuẫn

biện chứng và mất đoàn kết (Một kiểu mâu

thuẫn thông thường không phải mâu thuẫn biện

chứng)

+ Phân tích làm rõ tính chất khách quan của

mâu thuẫn biện chứng

+ Phân tích làm rõ bản chất của mặt đối lập biện

+ Phân tích chỉ ra mất đoàn kết không phải là

mâu thuẫn biện chứng; chỉ ra sự khác nhau giữa

mất đoàn kết và mâu thuẫn biện chứng Nêu VD

(Lập luận để chứng minh được đoàn kết không

xung đột, loại trừ mâu thuẫn biện chứng)

Trả lời:

- Hai luận điểm trên không mâu thuẫn

với nhau

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt

đối lập là 2 xu hướng tác động khác nhau của

các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy,

mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự

thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

không tách rời nhau, trong quá trình vận động,

phát triển của sự vật, sự thống nhất gắn liền với

sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của sự vật

Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự

vận động và phát triển Điều đó có nghĩa là: sự

thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm

thời ; sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệtđối

Trong sự tác động qua lại của các mặt đốilập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy địnhmột cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đangtác động và làm cho mâu thuẫn phát triển Lúcđầu mâu thuẫn mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là

sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynhhướng trái ngược nhau Sự khác nhau đó càngngày càng phát triển đi đến đối lập Khi hai mặtđối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng

sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giảiquyết Nhờ đó thể thống nhất cũ được thay thếbằng thể thống nhất mới ; sự vật cũ mất đi sựvật mới ra đời thay thế V.I Lênin viết: “ Sựphát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặtđối lập” Tuy nhiên, không có thống nhất củacác mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữachúng Thống nhất và đấu tranh của các mặt đốilập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫnbiện chứng Sự vận động và phát triển bao giờcũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tínhthay đổi Sự thống nhất và đấu tranh của các mặtđối lập quy định tính ổn định và tính thay đổicủa sự vật Do đó mâu thuẫn chính là nguồngốc của sự vận động và sự phát triển

Vì vậy, để chỉ ra rằng hai luận điểm trênkhông mâu thuẫn với nhau, ta cần làm rõ rằng

"mâu thuẫn" trong luận điểm của Lê nin lànhững tác động cần thiết trong sự vận động vàphát triển, còn "đoàn kết" trong luận điểm củachủ tịch Hồ Chí Minh là chỉ sự liên kết thôngthường giữa những cá nhân trong tổ chức, tậpthể, mâu thuẫn với luận điểm " đoàn kết " nàychính là "mất đoàn kết" theo một khái niệm đơnnghĩa, là kiểu mâu thuẫn thông thường giữangười với người chứ không phải mâu thuẫn biệnchứng, loại mâu thuẫn này thay vì đẩy mạnh sựvận động và phát triển thì nó lại gây ra những hệquả tiêu cực đối với sự vận động, phát triển của

xã hội, làm hạn chế thậm chí là thụt lùi hoạtđộng của một tổ chức, một tập thể

Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan vàmang tính phổ biến, là nguồn gốc của sự vậnđộng và phát triển, phép biện chứng duy vậtkhẳng định rằng tất cả các sự vật, hiện tượng tồntại trong thực tại khách quan đều chứa đựng

Trang 13

trong nó mâu thuẫn Sự hình thành và phát triển

của mâu thuẫn là do cấu trúc tự thân vốn có bên

trong của sự vật ,hiện tượng quy định Mâu

thuẫn tồn tại không phụ thuộc vào bất cứ hiện

tượng siêu nhiên nào, kể cả ý chí của con

người Mỗi sự vật, hiện tượng đang tồn tại đều

là một thể thống nhất các khuynh hướng, các

thuộc tính phát triển ngược chiều nhau, đối lập

nhau Sự liên hệ, tác động qua lại, đấu tranh

chuyển hoá, bài trừ và phủ định lẫn nhau, tạo

thành động lực bên trong của mọi quá trình vận

động và phát triển khách quan của chính bản

thân các sự vật hiện tượng, mâu thuẫn do các

mặt đối lập tạo nên

Các mặt đối lập được hiểu là những mặt

có đặc điểm hoặc có khuynh hướng vận động

ngược chiều nhau tồn tại trong cùng sự vật hay

hệ thống sự vật, tác động qua lại với nhau tạo

nên sự vận động và biến đổi của sự vật

Ví dụ: Sản xuất và tiêu dùng trong hoạt

động kinh tế

Mọi hoạt động kinh tế đều có mặt sản

xuất và mặt tiêu dùng, chúng thống nhất với

nhau tạo thành một chỉnh thể nhưng đồng thời

cũng luôn tác động, bài trừ nhau Hoạt động sản

xuất tạo ra sản phẩm còn hoạt động tiêu dùng thì

lại triệt tiêu sản phẩm Tuy nhiên, hoạt động tiêu

dùng mang lại lợi ích kinh tế, đảm bảo đủ nguồn

kinh phí cho bên sản xuất, đảm bảo được nguồn

kinh phí sản xuất sẽ tạo ra các sản phẩm phục vụ

cho hoạt động tiêu dùng

Chính những mặt đối lập nằm trong sự

liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo nên mâu

thuẫn biện chứng, như vậy, mâu thuẫn biện

chứng là sự thống nhất và đấu tranh giữa các

mặt đối lập biện chứng

Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự

nương tựa vào nhau, làm điều kiện và tiền đề

tồn tại cho nhau, đồng thời là sự đồng nhất, phù

hợp tác động ngang nhau, chuyển hóa lẫn nhau,

không có mặt đối lập này thì không có mặt đối

lập kia, bên cạnh sự thống nhất, giữa các mặt

đối lập còn tồn tại sự đấu tranh là sự tác động

lẫn nhau, sự bài trừ, phủ định lẫn nhau, sự triển

khai của các mặt đối lập

Sự thống nhất của các mặt đối lập làtương đối, còn sự đấu tranh của các mặt đối lập

là tuyệt đối

Mâu thuẫn giữ vai trò là nguồn gốc, độnglực vận động và phát triển, bởi vì, Biến đổi, pháttriển chính là một quá trình sự vật này chuyểnthành sự vật khác, giai đoạn này chuyển sanggiai đoạn khác của một sự vật Mỗi sự vật đềuthường bao hàm trong nó nhiều mâu thuẫn: bêntrong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủyếu và thứ yếu, giữa các mặt đối lập đó vừa cótính thống nhất với nhau vừa diễn ra quá trìnhđấu tranh với nhau (trong sự thống nhất có sựđấu tranh và đấu tranh trong tính thống nhất)

+ Tính chất thống nhất giữa các mặt đốilập trong mỗi mâu thuẫn có tác dụng làm cho sựvật còn ổn định tương đối ở một chất nhất định,chưa biến đổi thành cái khác

+ Nhưng giữa chúng không chỉ có sựthống nhất tương đối mà còn luôn diễn ra sự đấutranh giữa các mặt đối lập - đấu tranh giữachúng là tuyệt đối Chính sự đấu tranh đó đã dẫntới sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập Sựchuyển hoá này trực tiếp làm cho sự vật chuyểnhoá thành cái khác (giai đoạn khác, sự vật khác).Theo ý nghĩa ấy, phát triển được hiểu là cuộcđấu tranh của (giữa) các mặt đối lập

Ví dụ, quá trình phát triển của các giốngloài (thực vật, động vật) là quá trình làm phátsinh giống loài mới từ giống loài cũ nhờ kết quảtất yếu của quá trình thống nhất, đấu tranh vàchuyển hoá của các mặt đối lập: đồng hoá và dịhoá, di truyền và biến dị; giữa các giống loàivừa nương dựa vào nhau để tồn tại, vừa đấutranh sinh tồn khốc liệt với nhau và dẫn đến sựloại bỏ tự nhiên đối với những nhân tố khôngphù hợp với hoàn cảnh môi trường

-Mất đoàn kết là một hiện tượng của xãhội, nó chỉ trạng thái mối quan hệ giữa conngười với con người khi xảy ra những bất đồng

về lợi ích, mất đoàn kết thể hiện ở chỗ, conngười sẽ cản trở lẫn nhau, bài trừ lẫn nhau, đấutranh lẫn nhau Như vậy, ở đây ta thấy rõ rằng,

“mâu thuẫn” trong quan điểm của Mác - Lê nin

là “mâu thuẫn” mang ý nghĩa triết học khi nói

về nguồn gốc và động lực của sự phát triển, còn

“đoàn kết” trong luận điểm của Hồ Chí Minh là

Trang 14

để nói về mối quan hệ, mức độ tình cảm cần

phải có giữa người với người trong một tập thể,

một tổ chức, để tập thể, tổ chức đó có đủ sức

mạnh để tiếp tục phát triển Như vậy, “đoàn kết”

không xung đột, cũng không loại trừ “mâu thuẫn

biện chứng”, để làm rõ nội dung này, cần phải

nhìn nhận từ góc độ xã hội và sự phát triển của

xã hội

Đoàn kết là một hiện tượng nhiều người

liên kết thành một khối thống nhất cùng hoạt

động vì mục đích chung Khái niệm đoàn kết có

khi còn được hiểu là: đồng tâm, hiệp lực, tề tâm

nhất trí, liên hợp, kết hợp Đoàn kết còn là sự

tập hợp mọi lực lượng cá thể thành lực lượng

tập thể của cả cộng đồng, nhưng đó không phải

là một sự tập hợp tự phát, giản đơn, ô hợp Khái

niệm đoàn kết hàm chứa những nội hàm phong

phú Đoàn kết hiểu theo nghĩa chung nhất là sự

đồng tâm, hợp lực của một cộng đồng người

cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ

nhằm đạt tới mục đích chung nhất

Từ góc độ xã hội, đoàn kết là sự đồng

thuận của các thành viên trong xã hội,

mọi người chấp nhận nhau và thuận lòng gắn bó

với nhau để cùng hành động cho một mục

tiêu chung Cho dù còn có sự khác biệt nhất

định, nhưng mọi thành viên sẵn sàng đồng

tình hành động vì một mục tiêu chung; trong

mục tiêu chung đó, mọi người đều tìm thấy lợi

ích của mình, tìm thấy chỗ đứng của mình trong

dòng chảy của lịch sử và được xã hội thừa nhận,

tôn trọng

Mỗi quốc gia, dân tộc trong mỗi giai

đoạn phát triển của mình đều tìm kiếm và phát

huy những động lực để đưa đất nước mình

không ngừng tiến lên Các động lực phát triển ở

mỗi quốc gia không hoàn toàn giống nhau và để

phát triển, mỗi quốc gia đều phải vượt qua

những trở ngại và giải quyết những mâu thuẫn

của riêng mình Có thời kỳ ở nước ta và nhiều

nước khác đã coi đấu tranh giai cấp là động lực

thúc đẩy sự phát triển xã hội, nhưng trên thực tế,

nhiều cuộc đấu tranh gay go, ác liệt giữa các

nhóm, các tầng lớp dân cư trong xã hội chẳng

những không thúc đẩy sự phát triển của xã hội

mà còn kìm hãm sự phát triển xã hội vì xã hội

đã mất đi những nguồn nhân lực, tài lực quý giá

Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản

một quan điểm lớn: “Động lực chủ yếu để pháttriển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sởliên minh giữa công nông với nông dân và tríthức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợiích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềmnăng và nguồn lực của các thành phần kinh tếtoàn xã hội”; nó phản ánh đúng quy luật kháchquan của đất nước, khắc phục được sai lầm củaquan điểm trước đây là cường điệu động lực đấutranh giai cấp, đồng thời mở ra một triển vọngmới cho sự phát triển không ngừng của đấtnước Đến Đại hội lần thứ X, Đảng ta tiếp tụckhẳng định quan điểm lớn này: “Đại đoàn kếtdân tộc trên nền tảng liên minh giữa giai cấpcông nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lốichiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồnsức mạnh, là động lực chủ yếu và là nhân tố có

ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vữngcủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.Với những lập luận trên, ta khẳng định hai luậnđiểm của: Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ

và nhân dân ta rằng: Đoàn kết, đoàn kết, đạiđoàn kết; Thành công, thành công, đại thànhcông và triết học Mác - Lê Nin rằng: mâu thuẫn

là nguồn gốc động lực của sự vận động và pháttriển Không mâu thuẫn,xung đột hoặc loại trừlẫn nhau

Trang 15

Câu 5: Quan điểm của Triết học Mác - Lê

Nin về thực tiễn và các hình thức cơ bản của

+ Đây là bước ngoặt cách mạng trong triết học

- Nêu và phân tích đặc trưng của thực tiễn

- Nêu và phân tích 3 hình thức cơ bản của thực

1 Vị trí vai trò việc đưa phạm trù thực

tiễn vào lý luận triết học

Các nhà triết học duy tâm chỉ hiểu thực

tiễn như là hoạt động tinh thần chứ không hiểu

nó như là hoạt động hiện thực, hoạt động vật

chất cảm tính của con người;

Trước khi triết học Mác ra đời, các nhà

triết học duy vật đã có nhiều đóng góp cho quan

điểm duy vật về nhận thức Tuy nhiên chưa có

một đại biểu duy vật nào trước Mác hiểu đúng

được bản chất của thực tiễn cũng như vai trò của

thực tiễn đối với nhận thức

Các nhà triết học thực dụng đã quan tâm

nhiều tới hoạt động thực tiễn của con người, tuy

nhiên thực tiễn được học hiểu là phản ứng của

con người trước hoàn cảnh một cách hiệu quả

nhất Hệ quả là để phản ứng một cách hiệu quả

trước hoàn cảnh, con người không cần quan tâm

tới chân lý hay sai lầm, thiện hay không thiện,

đẹp hay không đẹp, chỉ cần quan tâm tới hiệu

quả hay không hiệu quả Quan niệm này dễ dẫn

tới việc lấy mục tiêu biện hộ cho hành động, dễ

dẫn tới chủ nghĩa thực dụng

Kế thừa những yếu tố hợp lý, khắc phục

những hạn chế trong quan niệm về thực tiễn của

các nhà triết học trước đó trong lịch sử, C.Mác

và Ph.Awngghen đã đưa ra một quan điểm đúng

đắn, khoa học về thực tiễn cũng như vai trò của

thực tiễn đối với nhận thức

* Định nghĩa Thực tiễn: Thực tiễn là

toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, cótính lịch sử - xã hội của con người, nhằm cải tạo

tự nhiên và xã hội

Phạm trù thực tiễn là một trong nhữngphạm trù trung tâm, nền tảng, cơ bản của toàn

bộ triết học Mác-Lênin Theo quan điểm củachủ nghĩa Mác-Lênin, con người tự làm ra lịch

sử của mình, nhưng không phải bắt đầu bằnghoạt động lý luận, mà là bằng hoạt động thựctiễn cải tạo thế giới hiện thực Chính các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin là những ngườiđầu tiên trong lịch sử triết học đã đưa thực tiễnvào lý luận nhận thức và đưa ra quan điểm đúngđắn về bản chất của thực tiễn Do đó, đã đem lạimột quan niệm khoa học về vai trò, ý nghĩa củathực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sựtồn tại và phát triển của xã hội loài người V.I.Lênin viết rằng: “Quan điểm về đời sống, vềthực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bảncủa lý luận về nhận thức”

2 Đặc trưng của thực tiễn

* Nếu xem xét thực tiễn theo chiều ngangthì thực tiễn gồm những nội dung sau:

- Thứ nhất, Thực tiễn không phải bao gồmtoàn bộ hoạt động của con người (hoạt động vậtchất; hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận;hoạt động bảo sinh tồn giống nòi) mà chỉ lànhững hoạt động vật chất - cảm tính, như lời củaMác, đó là hoạt động vật chất cảm tính của conngười Nghĩa là con người có thể quan sát trựcquan được các hoạt động vật chất này Hoạtđộng vật chất - cảm tính là những hoạt động màcon người phải sử dụng lực lượng vật chất, công

cụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất

để làm biến đổi chúng Trên cơ sở đó, con ngườimới làm biến đổi được thế giới khách quan vàbiến đổi chính bản thân mình

- Thứ hai, hoạt động thực tiễn là nhữnghoạt động mang tính lịch sử - xã hội của conngười Nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉ diễn

ra trong xã hội, với sự tham gia của đông đảongười trong xã hội Trong hoạt động thực tiễncon người truyền lại cho nhau những kinhnghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác Cũng vì

Trang 16

vậy, hoạt động thực tiễn luôn bị giới hạn bởi

những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể Đồng

thời, thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử

phát triển cụ thể

- Thứ ba, Thực tiễn là những hoạt động có

tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội

phục vụ con người Khác với hoạt động có tính

bản năng, tự phát của động vật nhằm thích nghi

thụ động với thế giới, con người bằng và thông

qua hoạt động thực tiễn, chủ động tác động cải

tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích

nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới

Như vậy, nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động

có tính tự giác cao của con người, khác với hoạt

động bản năng thụ động của động vật

* Nếu cắt theo chiều dọc, thực tiễn bao giờ

cũng bao gồm mục đích, phương tiện và kết quả

Mục đích được nảy sinh từ nhu cầu và lợi ích,

nhu cầu xét đến cùng được nảy sinh từ điều kiện

khách quan Lợi ích chính là cái thỏa mãn nhu

cầu Để đạt được mục đích con người trong hoạt

động thực tiễn của mình phải lựa chọn phương

tiện, công cụ để thực hiện Kết quả phụ thuộc

vào nhiều nhân tố nhưng trước hết là phụ thuộc

vào mục đích đặt ra và phương tiện mà con

người sử dụng để thực hiện mục đích

Tóm lại, Thực tiễn là hoạt động thể hiện

tính mục đích, tính tự giác cao của con người

-chủ động tác động làm biến đổi tự nhiên, xã hội,

phục vụ con người, khác với những hoạt động

mang tính bản năng thụ động của động vật nhằm

thích nghi với hoàn cảnh Hoạt động thực tiễn là

hoạt động cơ bản, phổ biến của con người và xã

hội loài người, là phương thức cơ bản của mối

quan hệ giữa con người với thế giới

3 Các hình thức cơ bản của hoạt động

thực tiễn:

Thực tiễn bao gồm ba hình thức cơ bản:

Hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị

- xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học

- Hoạt động sản xuất vật chất là hình thức

thực tiễn có sớm nhất, cơ bản nhất, quan trọng

nhất Đây là hình thức hoạt động thực tiễn

nguyên thủy nhất và cơ bản nhất, vì nó quyết

định sự tồn tại và phát triển của xã hội loàingười và quyết định các hình thức khác của hoạtđộng thực tiễn; Bởi lẽ ngay từ khi xuất hiện trêntrái đất, con người đã phải tiến hành sản xuất vậtchất dù là giản đơn để đáp ứng nhu cầu tồn tại.Sản xuất vật chất biểu thị mối quan hệ của conngười với tự nhiên, là phương thức tồn tại cơbản của con người và xã hội loài người Không

có sản xuất vật chất, con người và xã hội loàingười không thể tồn tại và phát triển Sản xuấtvật chất còn là cơ sở cho sự tồn tại của các hìnhthức thực tiễn khác cũng như tất cả các hoạtđộng sống khác của con người

* Hình thức cơ bản thứ hai của hoạt độngthực tiễn là hoạt động chính trị - xã hội Đây làhoạt động thực tiễn thể hiện tính tự giác cao củacon người nhằm biến đổi, cải tạo xã hội, pháttriển các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội…Hình thức hoạt động này xuất hiện khi xã hộiphân chia thành giai cấp, đó là hoạt động đấutranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấutranh cho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội, đấutranh cảu tạo quan hệ chính trị - xã hội nhằm tạo

ra môi trường xã hội dân chủ, lành mạnh, thuậnlợi cho con người và cho xã hội phát triển.Thiếu hình thức hoạt động thực tiễn này, conngười và xã hội loài người cũng không thể pháttriển bình thường

* Hoạt động thực nghiệm khoa học làhình thức đặc biệt của hoạt động thực tiễn Bởi

lẽ, trong hoạt động thực nghiệm khoa học, conngười chủ động tạo ta những điều kiện không cósẵn trong tự nhiên để tiến hành thực nghiệmkhoa học theo mục đích mà chính mình đã đề ra.Trên cơ sở đó, vận dụng những thành tựu khoahọc, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất vật chất,vào cải tạo chính trị - xã hội Cần chú ý rằng:chỉ có hoạt động thực nghiệm khoa học, chứkhông phải toàn bộ hoạt động khoa học là hoạtđộng thực tiễn, vì trong hoạt động khoa học, cóhoạt động lý luận Thực nghiệm là hình thức đặcbiệt của thực tiễn bao gồm: thực nghiệm sảnxuất , thực nghiệm khoa học, thực nghiệm xãhội cũng biến đổi giới tự nhiên và xã hội Đó làhoạt động của con người được tiến hành trongnhững điều kiện “ nhân tạo” nhằm rút ngắn “độ

Trang 17

dài” của quá trình con người nhận thức và cảitạo thế giới

Trên cơ sở những hình thức cơ bản này,những hình thức không cơ bản của thực tiễnđược hình thành Đó là mặt thực tiễn của cáchoạt động trong một số lĩnh vực như nghệ thuật,giáo dục, y tế,… Sở dĩ gọi là “ không cơ bản”không phải vì hình thức này kém quan trọng, màchỉ vì chúng được hình thành và phát triển từnhững hình thức cơ bản, chúng phụ thuộc vàonhững hình thức hoạt động cơ bản, chúng lànhững hình thức thực tiễn phát sinh

Tóm lại, Ba hình thức thực tiễn cơ bảntrên có quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởngqua lại lẫn nhau Trong đó, sản xuất vật chấtđóng vai trò quan trọng, quyết định hai hìnhthức thực tiễn còn lại Tuy nhiên, hai hình thứcthực tiễn còn lại có ảnh hưởng quan trọng tớisản xuất vật chất Điều này thể hiện rõ ở chỗ,nếu xã hội không ổn định thì sản xuất vật chấtcũng không thể phát triển Thực nghiệm khoahọc phát triển sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năngsuất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất vật chất

Trang 18

Câu 6 vận dụng quan điểm của triết

học Mác - Lê nin, hãy nêu dẫn chứng thực tế

về sự lạc hậu của ý thức trong thời kỳ CNH,

HĐH đất nước; phân tích nguyên nhân và đề

xuất giải pháp khắc phục sự lạc hậu của ý

thức xã hội ?

- Nêu biểu hiện cơ bản sự lạc hậu của YTXH

trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

+ Biểu hiện lạc hậu trong tâm lý XH

+ Biểu hiện lạc hậu trong thói quen, truyền

thống văn hóa

+ Lạc hậu trong tư tưởng, tư duy

- Phân tích nguyên nhân cơ bản

+ Nguyên nhân phản ánh

+ Tính bảo thủ của một số hình thức

+ Logic vận động của mỗi hình thái ý thức XH

(Chính trị, đạo đức, tôn giáo )

+ Biện pháp phát huy yếu tố truyền thống, tích

cực trong loogic vận động của mỗi hình thái

YTXH

+ Biện pháp khắc phục quan hệ lợi ích kìm hãm

sự phát triển của YTXH

+ Đề xuất các điều kiện tổ chức thực hiện các

biện pháp nêu trên

Trả lời:

Ý thức xã hội: là mặt tinh thần của đời

sống xã hội bao gồm toàn bộ những quan điểm,

tư tưởng cùng tình cảm, tâm trạng, của cộng

đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội trong

những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử

xã hội

- Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội;

ý thức xã hội là cái phản ánh tồn tại xã hội:

+ Tồn tại xã hội là cơ sở khách quan,

nguồn gốc hình thành ý thức xã hội;

+ Xét đến cùng tồn tại xã hội quyết định

nội dung, tính chất của ý thức xã hội;

+ Khi tồn tại xã hội thay đổi, ý thức xã

hội cũng thay đổi theo

- Tính độc lập tương đối của ý thức xãhội: Xét đến cùng ý thức xã hội là do tồn tại xãhội quyết định, song trong quá trình vận động ýthức xã hội có tính độc lập tương đối Nội dungnày được thể hiện ở những điểm sau:

+ Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồntại xã hội:

Sự lạc hậu của ý thức xã hội được biểuhiện rất rõ trong quá trình phát triển của xã hội.Lịch sử phát triển xã hội đã minh chứng, nhiềukhi tồn tại xã hội của xã hội cũ mất đi, thậm chímất đi rất lâu, song ý thức xã hội cũ vẫn còn tồntại lâu dài, dai dẳng Sự lạc hậu của ý thức xãhội được biểu hiện rõ ràng nhất thông qua thóiquen, tập quán, lối sống của cá nhân và xã hội.V.I.Lênin cho rằng, sức mạnh của tập quán đượctạo ra qua nhiều thế kỷ là sức mạnh ghê gớmnhất Khuynh hướng lạc hậu của ý thức xã hộicũng biểu hiện rõ trong điều kiện của chủ nghĩa

xã hội Nhiều hiện tượng ý thức có nguồn gốcsâu xa trong xã hội cũ vẫn tồn tại trong xã hộimới như lối sống ăn bám, lười lao động, tệ thamnhũng, v.v

Ví dụ: Phương thức sản xuất của nềnkinh tế tiểu nông riêng rẽ, manh mún dẫn đếncách nghĩ cũng vụn vặt, lẻ tẻ, không có tầm nhìn

xa, không có tính chiến lược, yên phận với cuộcsống, kém tính tổ chức, kỷ luật, xa lạ với lối tưduy của văn minh công nghiệp, thích sự ổn định,

an phận, dễ rơi vào tâm lý thiển cận; thói quendựa vào kinh nghiệm, khó tiếp thu cái mới, ngạiđổi mới Từ đó dẫn đến một lối ứng xử co cụm

“đèn nhà ai, nhà ấy rạng, thiếu tinh thần hợp tác,tinh thần trách nhiệm, thờ ơ với cộng đồng ởmột bộ phận người Việt Nét tâm lý này là hệquả tất yếu của nền sản xuất phát triển ở trình độthấp Họ suy nghĩ, hành động, ứng xử và cảmnhận mọi việc theo thói quen Đây là một hạnchế lớn trong lối sống của người dân Việt Nam,

là lực cản trở họ trong quá trình mở cửa hộinhập và giao lưu với quốc tế để phát triển

Sự kém phát triển của cơ sở hạ tầng vàphương tiện giao thông cùng với cuộc sống bấpbênh, nghèo khó đã kìm hãm việc mở rộng mốiquan hệ, đây là điều kiện thuận lợi để nẩy sinh

và nuôi dưỡng lối sống cục bộ địa phương, chỉ

Trang 19

nhìn thấy lợi ích trước mắt, lợi ích cục bộ,

không nhìn thấy lợi ích lâu dài, lợi ích toàn bộ

Mặt khác, người dân sống ở từng vùng,

từng miền trên đất nước Việt Nam lại có những

phong tục, tập quán, lối sống, tính cách, tâm lý

riêng, cho nên sự hoà đồng không phải bao giờ

cũng thuận lợi, trong nhiều trường hợp còn có

sự khác biệt giữa xã này với xã khác, tỉnh này

biệt lập với tỉnh khác Thậm chí, ngay cả trong

phạm vi một làng thì xóm này cũng biệt lập với

xóm khác, dòng họ này cũng biệt lập với dòng

họ khác Đây là mảnh đất tốt để lối sống cục bộ

địa phương nảy sinh và phát triển Nó chi phối

hành vi, thái độ, cách ứng xử hàng ngày Trong

một số trường hợp, họ chăm lo lợi ích nhỏ hẹp

của gia đình, họ hàng, làng xã mà quên đi lợi

ích của quốc gia, dân tộc

+ Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại

xã hội:

Ý thức xã hội không chỉ phản ánh tồn tại

xã hội như cái hiện tại mà với khả năng của ý

thức, tư duy của con người có khả năng phản

ánh bản chất quy luật của sự vật, hình thành nên

những lý thuyết khoa học Những lý thuyết và

học thuyết khoa học này có thể dẫn đường cho

tồn tại xã hội phát triển, có thể dự đoán được

tương lai Những nội dung này, được gọi là tính

tiên tiến (hay tính vượt trước) của ý thức xã hội

Khi nói tư tưởng tiên tiến có thể vượt

trước tồn tại xã hội, dự kiến được quá trình

khách quan của sự phát triển xã hội không có

nghĩa nói rằng, trong trường hợp này ý thức xã

hội không còn bị tồn tại xã hội quyết định nữa

mà theo quy luật, tư tưởng khoa học dù có tiên

tiến đến đâu cũng không được xa rời khỏi tồn tại

xã hội, xa rời cơ sở vật chất đã sản sinh ra nó

Tư tưởng đó chỉ được chấp nhận là đúng đắn,

tiên tiến và khoa học khi nó thực sự phản ánh

chính xác, sâu sắc tồn tại xã hội và được thực

tiễn kiểm nghiệm

Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với

tồn tại xã hội là do:

Một là, sự biến đổi của tồn tại xã hội do

tác động mạnh mẽ, thường xuyên và trực tiếp

của những hoạt động thực tiễn của con người,

thường diễn ra với tốc độ nhanh mà ý thức xã

hội có thể không phản ánh kịp và trở nên lạchậu Hơn nữa, ý thức xã hội là cái phản ánh tồntại xã hội nên nói chung chỉ biến đổi sau khi có

sự biến đổi của tồn tại xã hội

Hai là, do sức mạnh của thói quen, truyềnthống, tập quán cũng như do tính lạc hậu, bảothủ của một số hình thái ý thức xã hội

Ba là, ý thức xã hội luôn gắn với lợi íchcủa những nhóm, những tập đoàn người, nhữnggiai cấp nhất định trong xã hội Vì vậy, những tưtưởng cũ, lạc hậu thường được các lực lượng xãhội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằmchống lại các lực lượng xã hội tiến bộ

Những ý thức lạc hậu, tiêu cực khôngmất đi một cách dễ dàng Vì vậy, trong sựnghiệp CNH, HĐH phải thường xuyên tăngcường công tác tư tưởng, đấu tranh chống lạinhững âm mưu và hành động phá hoại củanhững lực lượng thù địch về mặt tư tưởng, kiêntrì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ, đồng thời rasức phát huy những truyền thống tư tưởng tốtđẹp

+ Tính kế thừa trong sự phát triển của ýthức xã hội:

Sự phát triển của lịch sử xã hội là mộtdòng chảy liên tục, thời đại sau kế thừa nhữngthành tựu sản xuất vật chất và mọi mặt hoạtđộng khác của những thời đại trước Vì vậy, ýthức xã hội trong quá trình phát triển bao giờcũng có tính kế thừa, phản ánh tính liên tục củaquá trình nhận thức, tư duy của các thế hệ Tính

kế thừa là một trong những quy luật của sự pháttriển của ý thức xã hội

+ Sự tác động qua lại giữa các hình thái ýthức xã hội:

Ý thức xã hội biểu hiện dưới nhiều hìnhthái khác nhau; mỗi hình thái phản ánh nhữngmặt nhất định của đời sống vật chất của xã hội,theo những phương thức phản ánh riêng và thựchiện những chức năng xã hội nhất định Trong

sự phát triển của chúng, các hình thái ý thức xãhội luôn tác động qua lại, chi phối ảnh hưởngnhau một cách biện chứng Đây là một trongnhững quy luật phát triển của ý thức xã hội

- Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đốivới tồn tại xã hội:

Trang 20

Chủ nghĩa duy vật lịch sử không những

bác bỏ quan điểm duy tâm tuyệt đối hoá vai trò

của ý thức xã hội, mà còn bác bỏ quan điểm duy

vật tầm thường phủ nhận tác dụng tích cực của ý

thức xã hội trong đời sống xã hội

+ Sự tác động trở lại của ý thức xã hội

đối với tồn tại xã hội diễn ra theo hai chiều

hướng: ý thức xã hội tiến tiến góp phần làm thúc

đẩy sự phát triển của xã hội; ngược lại ý thức xã

hội lỗi thời lạc hậu làm kìm hãm sự phát triển

của xã hội

+ Sự tác động trở lại của ý thức xã hội

đối với tồn tại xã hội bao giờ cũng phải thông

qua hoạt động thực tiễn của con người Tính

chất và hiệu quả của sự tác động trở lại của ý

thức xã hội đối với tồn tại xã hội phụ thuộc vào

các điều kiện sau: vai trò lịch sử (tiến bộ hay lạc

hậu) của giai cấp đề ra tư tưởng đó; trình độ

phù hợp của tư tưởng đó với hiện thực; mức độ

truyền bá những tư tưởng đó trong quần chúng

Nguyên nhân lạc hậu của ý thức xã hội

Đời sống tinh thần, ý thức con người

không phải là sản phẩm của ý muốn chủ quan

của cá nhân hay một nhóm người nào đó mà là

sản phẩm của xã hội - lịch sử, bị quy định bởi

các điều kiện khách quan, nó chịu sự tác động,

ảnh hưởng của các điều kiện sống, lao động,

sinh hoạt ''vật chất” của xã hội Khẳng định

nguồn gốc hình thành ý thức của con người, Các

Mác – Ph.Ăngghen nhấn mạnh: không phải ý

thức của con người quyết định tồn tại của họ;

trái lại, tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức

của họ Nhưng, mặc dù đất nước ta đã có nhiều

thay đổi, đặc biệt là sự thay đổi to lớn về kinh

tế, song những mặt hạn chế, tiêu cực của lối

sống tiểu nông không những không mất đi mà

còn trở nên nghiêm trọng hơn, bởi lẽ:

Một là, lối sống tiểu nông được hình thành

và tồn tại dưới tác động của một loạt các nhân tố

(kinh tế, xã hội, lịch sử và văn hóa…) gắn kết

với nhau qua hàng ngàn năm lịch sử, do đó nó

có tính kế thừa, trở thành tập quán, thói quen; vì

vậy, nó có sức mạnh cũng như có tính bảo thủ

và sức ỳ rất lớn

Hai là, nền kinh tế tiểu nông lạc hậu, tựcấp, tự túc,… là cơ sở để tạo nên lối sống tiểunông Hiện nay, mặc dù nền kinh tế nước ta lànền kinh tế thị trường định hướng XHCN,nhưng về cơ bản phương thức sản xuất củangười nông dân Việt Nam vẫn chủ yếu là nềnsản xuất nhỏ với công cụ thô sơ, lạc hậu Mặtkhác, nền kinh tế thị trường là vấn đề còn rấtmới mẻ so với lịch sử hàng ngàn năm của nềnkinh tế nông nghiệp tự túc, tự cấp ở nước ta,Hơn nữa, mặt trái của nền kinh tế thị trường đãtạo cơ hội cho những tiêu cực trong kinh tế - xãhội phát sinh và có nguy cơ trầm trọng hơn Đó

là mảnh đất màu mỡ cho những thói quen phongtục, tập quán, những trạng thái, nhu cầu tâm lý

có tính tiêu cực của người nông dân có cơ hộihồi sinh

Ba là, những biến đổi hết sức quan trọngtrong nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt chủtrương đưa kinh tế nông nghiệp vận hành theo

cơ chế thị trường định hướng XHCN, đưa nôngnghiệp, nông dân, nông thôn hội nhập nhanhchóng vào sự nghiệp CNH, HĐH kinh tế - xãhội của cả nước, làm thay đổi nhanh chóng bộmặt kinh tế - xã hội nông thôn, tác động mạnh

mẽ tới người nông dân và làm nảy sinh, xuấthiện những biểu hiện mới trong lối sống của họ.Nhưng, những biểu hiện này lại chưa có sức lantỏa mạnh trong mỗi người dân Việt Nam nóichung và người nông dân nói riêng Vì vậy,những hạn chế trong lối sống tiểu nông vẫn cònđất để tồn tại, phát triển

Bốn là, mặc dù tốc độ đô thị hóa của ViệtNam tương đối nhanh nhưng hiện nay vẫn cònhơn 70% dân số sống ở khu vực nông thôn Mặtkhác, đặc điểm nổi bật của nền văn hóa nước ta

là văn hóa làng xã, cho nên giữa những ngườithành thị và nông thôn vẫn tồn tại nhiều mốiquan hệ khăng khít và đan xen nhau, có nhiềuquan hệ mang đậm nét tâm lý tiểu nông nhưquan hệ họ hàng, dòng tộc, gia đình… Hơn nữa,việc khôi phục lại các di tích văn hóa như đền,chùa, miếu… gắn liền với những sinh hoạt tínngưỡng diễn ra trong những năm qua, bên cạnhmặt tích cực còn có những hạn chế từ các phongtục, tập tục cũ Tất cả điều đó đã tạo điều kiện,

Trang 21

môi trường dung dưỡng cho những mặt tiêu cực

trong lối sống tiểu nông hồi sinh, phát triển…

Điều này đã cắt nghĩa vì sao mặt tiêu cực trong

lối sống tiểu nông không những không bị mất đi

mà còn phát triển mạnh mẽ hơn khi điều kiện

cuộc sống về vật chất và tinh thần ngày càng

được nâng cao

Năm là, do cơ chế chính sách, pháp luật

của chúng ta chưa đồng bộ, vẫn còn nhiều kẽ

hở, việc thực thi luật pháp chưa nghiêm nên

chưa tạo ra được sự răn đe đối với các hiện

tượng tiêu cực như làm ăn phi pháp, coi thường

kỷ cương, phép nước… Điều này càng tạo điều

kiện để dung dưỡng cho những nét tâm lý tiêu

cực trong lối sống tiểu nông tồn tại và phát triển

Sáu là, một bộ phận không nhỏ người nông

dân còn thiếu và yếu kiến thức về các lĩnh vực

như: kinh tế, pháp luật, xã hội…; chưa thích

ứng, năng động, nhạy bén với những hoạt động

trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với xu thế

toàn cầu hóa và hội nhập trên thế giới

Xây dựng đời sống tinh thần

- Đời sống tinh thần xã hội được hiểu

như là tất cả những giá trị, sản phẩm, hiện

tượng, những quá trình, những hoạt động, những

quan hệ tinh thần của con người phản ánh đời

sống vật chất xã hội và được thể hiện như là một

phương thức hoạt động và tồn tại tinh thần của

con người trong những giai đoạn phát triển lịch

sử nhất định

- Xây dựng đời sống tinh thần dựa trên

nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh:

+ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991

của Đảng đã khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa

Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là kim

chỉ nam cho hành động"; làm cho thế giới quan

Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí

chỉ đạo trong đời sống tinh thần xã hội" Tiếp

theo tinh thần trên, Cương lĩnh xây dựng đất

nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

(Bổ sung, phát triển 2011) khẳng định: "Đảng

phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần

phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ

Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng

cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức vànăng lực tổ chức để đủ giải quyết các vấn đề dothực tiễn cách mạng đặt ra" Tuy nhiên, sựnghiệp đổi mới ở nước ta dưới sự lãnh đạo củaĐảng là sự nghiệp mới mẻ trong điều kiện thếgiới nhiều biến động do vậy trung thành với chủnghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không

có nghĩa là thực hiện rập khuôn máy móc những

tư tưởng, quan điểm của các nhà kinh điểm mà

là cần vận dụng sáng tạo trong điều kiện củathời đại mới

Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần vớinhững hệ chuẩn giá trị: đạo đức, pháp luật, thẩmmỹ: Văn hoá tinh thần, là toàn bộ những giá trị,những hoạt động, những quan hệ tinh thần cótính chất bền vững, ổn định và được định hìnhtheo những cách thức, chuẩn mực đặc thù củamột dân tộc, quốc gia Trên bình diện văn hóatinh thần sẽ hình thành nên hệ thống chuẩn mực

về giá trị để cho đời sống văn hóa tinh thần vậnhành phù hợp với sự phát triển xã hội Hệ thốngchuẩn mực đó là:

+ Chuẩn mực đạo đức, Đảng Cộng sản ViệtNam chủ trương xây dựng nền đạo đức mới xã hộichủ nghĩa với đặc trưng cơ bản: chủ nghĩa nhân đạo,chủ nghĩa tập thể; đồng thời, phát huy tinh hoa vănhóa truyền thống dân tộc: yêu nước, đoàn kết, tránhnhiệm, cần cù, yêu lẽ phải, ghét sự giả dối

+ Chuẩn mực pháp luật, đó là việc hìnhthành những quy tắc ứng xử có tính chất bắt buộcchung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, đượcbảo đảm thực hiện bằng nhà nước, thể hiện ý chícủa nhà nước trên cơ sở ghi nhận các yêu cầu thựctiễn của xó hội, các lợi ích xã hội, điều chỉnh cácquan hệ xã hội nhằm xác lập trật tự ổn định và pháttriển xã hội Hệ thống chuẩn mực của pháp luậtnước ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tưtưởng Đây là hệ tư tưởng không chỉ đại diện, phảnánh lợi ích của giai cấp công nhân, mà còn phản ánhlợi ích của nhân dân lao động, bảo vệ cơ sở kinh tếcủa chủ nghĩa xã hội và trật tự xã hội chủ nghĩa.Pháp luật xã hội chủ nghĩa là công cụ bảo vệ chủnghĩa xã hội, bảo vệ lợi ích chính đáng của cá nhân,của mọi giai tầng trong xã hội

+ Chuẩn mực thẩm mỹ, đó là toàn bộnhững cảm xúc, thị hiếu, quan điểm và lý tưởngthẩm mỹ Con người nhận thức, đánh giá theo

Trang 22

quan điểm thẩm mỹ tất cả các sự kiện và hiện

tượng của tự nhiên, của cuộc sống theo tiêu

chuẩn cái đẹp Trong các hệ chuẩn về chuẩn

mực thẩm mỹ trong đời sống văn hóa tinh thần

thì nghệ thuật là hình thức biểu hiện cao nhất

của hệ chuẩn thẩm mỹ

- Kế thừa, đổi mới văn hóa trong xây

dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà

bản sắc dân tộc:

+ Kế thừa, đổi mới các giá trị văn hóa

truyền thống là một nhiệm vụ quan trong việc

xây dựng đời sống văn hóa ở nước ta hiện nay;

đây cũng là quy luật chủ yếu trong sự phát triển

ý thức xã hội

+ Trong sự phát triển đời sống văn hóa

hiện nay cần loại bỏ những yếu tố truyền thống:

thói quen lạc hậu, tính chất bảo thủ của nền sản

xuất nhỏ như là những trở lực cho sự phát

triển xã hội; mặt khác, cần kế thừa giá trị văn

hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tuy nhiên,

cần nhận thức rằng, kế thừa giá trị truyền thống

văn hóa không có nghĩa lặp lại nguyên si những

hình thức cổ truyền văn hóa mà phải nâng cấp

giá trị truyền thống ấy lên tầm cao mới, làm cho

truyền thống có sức sống trong xã hội hiện đại

-tức là kế thừa theo quan điểm biện chứng

Nhiệm vụ

Để thực hiện những nội dung trên trong

giai đoạn trước mắt cần thực hiện nhiệm vụ cơ

bản sau:

- Do đời sống tinh thần trong mối quan

hệ biện chứng với đời sống vật chất, chịu sự quy

định, chi phối của đời sống vật chất xó hội nên

nhiệm vụ đầu tiên phát triển đời sống vật chất xã

hội Nhiệm vụ này trong điều kiện cụ thể của

Việt Nam hiên nay là chúng ta đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế

thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa; Mặt

khác cần tích cực chủ động hội nhập kinh tế

quốc tế nhằm xây dựng thành công một nền

kinh tế vững mạnh- là tiền đề, cơ sở đảm bảo

điều kiện vật chất cho xây dựng đời sống văn

hóa tinh thần tiên bộ ở nước ta hiện nay

- Tiến hành đồng bộ công tác định

hướng, giáo dục các chuẩn giá trị trong xây

dựng đời sống tinh thần; đồng thời, đổi mới,

nâng cao công tác giáo dục tư tưởng lý luận: chủ

nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và cácnghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước

- Kế thừa, đổi mới trong việc phát huycác giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Nộidung này được Đại hội Đảng lần thứ XI cụ thểhóa: củng cố và tiếp tục xây dựng môi trườngvăn hóa lành mạnh, phong phú, đa dạng; tiếp tụcđẩy mạnh xây dựng nếp sống văn minh trongviệc cưới, việc tang, lễ hội…; triển khai cuộcvận động xây dựng gia đình Việt Nam, gúp phầngiữ gìn và phát triển những giá trị truyền thốngcủa văn hóa, con người Việt Nam, nuôi dưỡnggiáo dục thế hệ trẻ; phát triển sự nghiệp văn học,nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sảnvăn hóa truyền thống, cách mạng; cổ vũ, khẳngđịnh cái đúng, cái đẹp, đồng thời lên án cái xấu,cái ác; phát triển hệ thống thông tin đại chúngtrên cơ sở chú trọng nâng cao tính tư tưởng, pháthuy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổchức và phản biện xã hội của các phương tiệnthông tin đại chúng, vì lợi ích của nhân dân vàđất nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế về văn hóa

Trang 23

Câu 7 Phân tích nội dung cơ bản của

nguyên tắc toàn diện; ý nghĩa rút ra từ việc

học nội dung nguyên tắc này ???

- Nguyên tắc toàn diện?

- Cơ sở triết học (mỗi liên hệ phổ biến)

- Nội dung của nguyên tắc toàn diện

+ Xem xét mọi mặt, mọi liên hệ, kể cả trung

gian, gián tiếp và với nhu cầu thực tiễn

+ Xem xét sự vật phải chú ý đến sự phát triển

của mỗi quan hệ: từ bộ phận đến toàn thể và từ

toàn thể đến bộ phận để rút ra bản chất

- Ý nghĩa

+ Tính đồng bộ

+Tính trọng tâm, trong điểm

+ Phê phán phiến diện, dàn đều, ngụy biện,

chiến trung

- Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện

là nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Mối liên hệ phổ biến là mối liên hệ giữa

các mặt (thuộc tính) đối lập tồn tại trong mọi sự

vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực

Mối liên hệ mang tính khách quan và phổ

biến Nó chi phối tổng quát sự vận động, phát

triển của mọi sự vật, quá trình xãy ra trong thế

giới; và là đối tượng nghiên cứu của phép biện

chứng

Mối liên hệ phổ biến được nhận thức

trong các phạm trù biện chứng như mối liên hệ

giữa: mặt đối lập- mặt đối lập; chất – lượng, cái

cũ – cái mới; cái riêng- cái chung; nguyên

nhân-kết quả; nội dung – hình thức; bản chất- hiện

tượng; tất nhiên- ngẫu nhiên; khả năng – hiện

thực

- Nội dung nguyên lý:

Mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều

tồn tại trong muôn vàn mối liên hệ ràng buộc

lẫn nhau Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối

sự tồn tại của chúng có những mối liên hệ phổ

biến Mối liên hệ phổ biến tồn tại khách quan,

phổ biến; chúng chi phối một cách tổng quát quá

trình vận động, phát triển của mọi sự vật hiện

tượng xảy ra trong thế giới

- Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc

toàn diện:

Trong hoạt động nhận thức chủ thể phải

tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan

hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,

…) đang chi phối sự tồn tại của bản thân sự vậtcàng tốt

- Phân loại để xác định những mối liên

hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu

tố, mặt,…) nào là bên trong, cơ bản, tất nhiên,

ổn định ; còn những mối liên hệ, quan hệ (haynhững đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) nào

là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên, không

ổn định…;

- Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ(hay những đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…)bên trong cơ bản, tất nhiên, ổn định… Để lý giảiđược những mối liên hệ, quan hệ (hay nhữngđặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) còn lại Qua

đó xây dựng một hình ảnh về sự vật như sựthống nhất các mối liên hệ, quan hệ (hay nhữngđặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…); phát hiện raquy luật (bản chất) của nó

- Nguyên tắc toàn diện trong hoạt độngnhận thức và hoạt động thực tiễn là một trongnhững nguyên tắc phương pháp luận cơ bản,quan trọng của phép biện chứng duy vật Cơ sở

lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý vềmối liên hệ phổ biến Nguyên tắc toàn diện đòihỏi, muốn nhận thức được bản chất của sự vậthiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại củ

nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận,yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thểcủa sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệqua lại giữa sự vật hiện tượng đó với sự vật,hiện tượng khác, tránh xem xét phiến diện mộtchiều

- Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi phải xemxét, đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phảinắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chấtquy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiệntượng Trong nhận thức, nguyên tắc toàn diện làyêu cầu tất yếu của phương pháp tiếp cận khoahọc, cho phép tính đến mọi khả năng của vậnđộng, phát triển có thể có của sự vật, hiện tượngđang nghiên cứu, nghĩa là cần xem xét sự vật,hiện tượng trong một chỉnh thể thống nhất vớitất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, cácthuộc tính, cùng các mối quan hệ của chúng

- Nguyên tắc toàn diện còn đòi hỏi đểnhận thức được sự vật, hiện tượng chúng ta cầnxem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực

Trang 24

tiễn của con người Mối liên hệ giữa sự vật, hiện

tượng với nhu cầu của con người rất đa dạng

- Nguyên tắc toàn diện đối lập với cách

nhìn phiến diện, một chiều; đối lập với chủ

nghĩa chiết trung và thuật ngữ nguỵ biện Trong

hoạt động thực tiễn chủ thể phải đánh giá đúng

vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ (hay những

đặc điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) chi phối sự

vật

- Thông qua hoạt động thực tiễn, sử dụng

đồng bộ nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp

thích hợp (mà trước hết là những công cụ,

phương tiện, biện pháp vật chất) để biến đổi

những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc

điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) để biến đổi

những mối liên hệ, quan hệ (hay những đặc

điểm, tính chất, yếu tố, mặt,…) của bản thân sự

vật, đặc biệt là những mối liên hệ, quan hệ (…)

bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng… của

- Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên

hệ, quan hệ (hay những đặc điểm, tính chất, yếu

tố, mặt,…) của bản thân sự vật; kịp thời sử dụng

các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để

phát huy hay hạn chế hay hạn chế sự tác động

của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát

triển theo đúng quy luật và hợp lợi ích của

chúng ta

Việc quán triệt và vận dụng sáng tạo

nguyên tắc toàn diện sẽ giúp chúng ta khắc phục

được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết

trung, chủ nghĩa ngụy biện… trong hoạt động

thực tiễn và nhận thức của chính mình

Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ

thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó

mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan

hệ, nhiều tính chất của sự vật thường xem xét

dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau

của sự vật hay hiện tượng mà không làm nổi bật

cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hay

hiện tượng đó

Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ

chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự

vật nhưng không rút ra được mặt bản chất,

không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật

mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách

vô nguyên tắc, tùy tiện Do đó hoàn toàn bất lựckhi cần phải có quyết sách đúng đắn

Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua

đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản,cái chủ yếu với cái thứ yếu… hay ngược lạinhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mìnhmột cách tinh vi

Trong đời sống xã hội, nguyên tắc toàndiện có vai trò cực kỳ quan trọng Nó đòi hỏichúng ta không chỉ liên hệ nhận thức với nhậnthức mà cần phải liên hệ nhận thức với thực tiễncuộc sống, phải chú ý đến lợi ích của các chủthể (các cá nhân hay các giai tầng) khác nhautrong xã hội và biết phân biệt đâu là lợi ích cơbản (sống còn) và lợi ích không cơ bản, phảibiết phát huy hay hạn chế mọi tiềm năng haynguồn lực từ khắp các lĩnh vực hoạt động xã hội(kinh tế, chính trị, văn hóa…) từ các thành phầnkinh tế, từ các tổ chức chính trị - xã hội… để cóthái độ, biện pháp, đối sách hành động thích hợp

mà không sa vào chủ nghĩa bình quân, quanđiểm dàn đều, tức không thấy được trọng tâm,trọng điểm, điều cốt lõi trong cuộc sống vô cùngphức tạp

Trang 25

Câu 8 Thế nào là sự phù hợp giữa LLSX và

QHSX? Phân tích việc xây dựng QHSX phù

hợp với trình độ phát triển LLSX ở nước ta

hiện nay?

1 Phân tích sự phù hợp giữa lực lượng

sản xuất (LLSX) và quan hệ sản xuất

(QHSX).

- LLSX biểu thị mối quan hệ giữa con

người với tự nhiên, nó thể hiện năng lực của con

người trong quá trình chinh phục giới tự nhiên,

là nội dung của phương thức sản xuất

LLSX bao gồm người sản xuất, tư liệu SX,

trong đó người SX là yếu tố quan trọng nhất

Nhưng người SX không phải là cái gì đó nhất

thành bất biến mà trong mỗi thời đại kinh tế, với

tư cách là yếu tố quan trọng nhất trong LLSX nó

cũng luôn thay đổi Tư liệu SX bao gồm công cụ

SX (công cụ lao động), đối tượng SX (đối tượng

lao động), phương tiện SX (phương tiện lao

động) Trong LLSX, nếu người SX là yếu tố

quan trọng nhất thì công cụ SX (công cụ lao

động) là yếu tố động nhất Trình độ phát triển

của công cụ SX, công cụ lao động thể hiện trình

độ hay thước đo việc chinh phục giới tự nhiên

của con người

Trình độ của LLSX thể hiện ở trình độ của

những yếu tố cấu thành nó như trình độ của

công cụ lao động, trình độ khoa học kỹ thuật,

trình độ của người lao động (kinh nghiệm, kỹ

năng, tri thức, trình độ tổ chức, quản lý, phân

công, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật, cách

thức mà con người tiến hành trong quá trình

SX)

- QHSX là khái niệm dùng để chỉ quan hệ

giữa con người và con người trong quá trình SX

vật chất; nó là hình thức của phương thức SX, là

cơ sở kinh tế, cơ sở sâu xa của đời sống tinh

thần

QHSX bao gồm: quan hệ sở hữu đối với tư

liệu SX, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ

phân phối sản phẩm Ba quan hệ đó liên hệ

khăng khít với nhau, thống nhất với nhau tạo

nên một hệ thống mang tính ổn định tương đối

so với LLSX, trong đó yếu tố thứ nhất đóng vai

trò quyết định, nó quy định hai yếu tố sau

QHSX mặc dù là quan hệ giữa con người vớicon người trong quá trình SX vật chất, nhưng nókhông phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của họ,bởi lẽ riêng lẻ từng cá nhân thì không thắng nổi

tự nhiên; và như vậy, muốn SX ra của cải vậtchất, buộc người ta phải kết hợp với nhau Do

đó, QHSX cũng là vật chất dưới dạng xã hội

- LLSX và QHSX liên hệ mật thiết vớinhau, không tách rời nhau thể hiện ở chỗ mọiLLSX (người SX, công cụ SX, đối tượng SX,phương tiện SX) đều nằm trong những quan hệnhất định nào đó của QHSX (đều nằm trong một

tổ chức SX, dưới sự quản lý của một đơn vị SXnào đó); ngược lại mọi QHSX đều là nhữngquan hệ nhất định của một LLSX nào đó, nóphải chứa đựng một nội dung nào đó

- QHSX phù hợp với trình độ phát triểncủa LLSX, đó là một trạng thái trong đó QHSX

là hình thức phát triển tất yếu của LLSX, tứctrong đó, các yếu tố cấu thành của QHSX tạođịa bàn đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi choLLSX phát triển, tạo điều kiện tối ưu cho việckết hợp giữa con người, tư liệu SX và khoa học

kỹ thuật, làm cho LLSX phát triển hết khả năngcủa nó

Tuy nhiên không phải lúc nào QHSX cũngphù hợp với trình độ phát triển của LLSX.LLSX luôn thay đổi, biến đổi, đặc biệt là công

cụ SX, công cụ lao động, bởi vậy đến một giaiđoạn nào đó, trình độ của nó sẽ chuyển sang mộtgiai đoạn mới cao hơn, lúc đó, tình trạng phùhợp sẽ bị phá vỡ Mâu thuẫn này ngày càng trởnên gay gắt, và đến một lúc nào đó, QHSX trởthành xiềng xích của LLSX Yêu cầu kháchquan của sự phát triển của LLSX đòi hỏi xã hộibằng cách này hay cách khác phải xóa bỏ QHSX

cũ và thay bằng QHSX mới phù hợp với trình

độ của LLSX đã thay đổi, mở đường cho LLSXmới phát triển Giai cấp mới đại diện cho LLSXmới này phải phá bỏ QHSX cũ bằng cách tiếnhành cuộc cách mạng xã hội Điều đó cũng cónghĩa là sự diệt vong của một phương thức SXlỗi thời và ra đời một phương thức SX mới

Sự không phù hợp của QHSX đối với trình

độ phát triển của LLSX sẽ kìm hãm sự phát triểncủa LLSX, thể hiện ở những điểm sau:

Trang 26

Thứ nhất, QHSX lạc hậu so với trình độ

phát triển của LLSX Sự không phù hợp thể hiện

ở hình thức sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý,

quan hệ phân phối sản phẩm không theo kịp

trình độ phát triển của LLSX

Thứ hai, QHSX phát triển không đồng bộ,

có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát

triển của LLSX

- Tiêu chuẩn đánh giá sự phù hợp (Tự

phân tích):

+ Năng xuất lao động tăng

+ Sản xuất phát triển cả ở quy mô, tốc độ

+ Đời sống người dân đảm bảo ổn định,

phát triển

+ Môi trường kinh tế- xã hội ổn định

2 Phân tích việc xây dựng QHSX phù

hợp với trình độ phát triển LLSX ở nước ta

hiện nay?

- Trình độ của LLSX ở nước ta hiện nay,

nhìn chung là rất đa dạng, không đồng đều,

nhiều trình độ Điều này thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, công cụ sản xuất, công cụ lao

động hiện nay ở nước ta rất đa dạng, không

đồng đều Theo thống kê, công cụ lao động thủ

công chiếm phần lớn trong nông nghiệp, còn

trong công nghiệp chiếm đến 60% lao động giản

đơn Nhưng bên cạnh đó, ta cũng có công cụ lao

động ở trình độ cơ khí hóa, hiện đại hóa, tự

động hóa Những công cụ lao động này thậm chí

đan xen nhau trong một cơ sở SX, trong một nhà

máy Nếu như phương Tây nhìn một cách đại

thể đi từ lao động thủ công lên máy móc cơ khí,

rồi lên tự động hóa, thì ở nước ta hiện nay có tất

cả Điều này nói lên tính chất đa dạng, nhiều

trình độ của công cụ lao động ở nước ta hiện

nay

Thứ hai, thích ứng với sự đa dạng của

công cụ lao động SX như vậy, kinh nghiệm và

kỹ năng lao động của con người Việt Nam hiện

nay cũng rất khác nhau Từ đó, trình độ tổ chức

và phân công lao động, trình độ ứng dụng khoa

học kỹ thuật vào SX ở VN hiện nay ở những cơ

sở sản xuất khác nhau cũng rất khác nhau

Thứ ba, về khoa học kỹ thuật ở nước ta

hiện nay, nhìn chung trình độ là thấp, chậm phát

triển, nhưng cũng có những yếu tố hiện đại, đi

trước, đón đầu Từ đó, ta thấy trình độ khoa học,

kỹ thuật ở nước ta hiện nay cũng rất đa dạng

Do LLSX ở nước ta hiện nay đa dạng,không đồng đều, nhiều trình độ như vậy, nên tấtyếu, QHSX của chúng ta cũng phải đa dạng Đadạng thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, đa dạng trong thành phần kinh

tế, tức chúng ta phải xây dựng nền kinh tế nhiềuthành phần, kinh tế thị trường định hướngXHCN Hiện nay chúng ta có 4 thành phần kinhtế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tưnhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ hai, đa dạng trong hình thức sở hữu,

nhiều hình thức tổ chức quản lý, nhiều hình thứcphân phối Khác với trước kia (hai hình thức sởhữu là toàn dân và tập thể), ngày nay chúng ta

có ba hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể và tưnhân

Thứ ba, đa dạng trong phân phối Nếu như

trước kia, chúng ta phân phối theo chủ nghĩabình quân, cào bằng thì ngày nay phân phối theonhiều cách khác nhau như theo lao động (tứctheo khả năng, năng lực, trí tuệ), theo hiệu quảkinh tế, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồnlực khác, theo phúc lợi xã hội, an sinh xã hội

Từ phân tích QHSX phù hợp với trình độcủa LLSX ở trên, vậy, muốn phát triển sản xuất

ở nước ta hiện nay chúng ta cần phải:

Như Nghị quyết Đại hội XI đã chỉ ra làchúng ta phải phát triển mạnh mẽ lực lượng sảnxuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càngcao, hoàn thiện QHSX trong nền kinh tế thịtrường định hướng XHCN; phải xây dựngLLSX hiện đại và QHSX tiến bộ phù hợp

Phát triển LLSX ở nước ta hiện nay là phảiphát triển khoa học kỹ thuật, khoa học côngnghệ, cải tiến công cụ lao động, mở rộng đốitượng lao động, phát triển nguồn nhân lực, đặcbiệt là nguồn nhân lực chất lượng cao thông quacông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, chấn hưng nền giáo dục nước nhà Muốnphát triển SX ở nước ta hiện nay, chúng takhông chỉ phát triển LLSX, phát triển sức SX;

mà còn phải xây dựng, hoàn thiện từng bướcQHSX; tức phải từng bước xây dựng, hoàn thiệnQHSX phù hợp với trình độ phát triển củaLLSX, điều đó có nghĩa là chúng ta phải hoàn

Trang 27

thiện thể chế kinh tế thị trường định hướngXHCN

Một số phương hướng để tiếp tục vận dụngđúng đắn quy luật này ở Việt Nam:

- Không ngừng phát triển LLSX thông quaviệc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, phát triển khoa học, công nghệ, giáodục, đào tạo;

- Không ngừng xây dựng và phát triển cácQHSX phù hợp với trình độ phát triển củaLLSX thông qua việc xây dựng và hoàn thiệnnền kinh tế nhiều thành phần kinh tế theo địnhhướng XHCN;

- Giữ vững định hướng XHCN nền kinh

Trang 28

Câu 9 Trình bày quan điểm của triết học

Mác - Lê nin về quan hệ giữa cá nhân và xã

hội

* Cá nhân là khái niệm dùng để chỉ một

cá thể người, là mội thành viên của XH và là

người, các cộng đồng XH hẹp hơn là quốc gia,

dân tộc, giai cấp, gia đình

* Mối quan hệ giữa cá nhân và XH:

- Là mối quan hệ biện chứng, tác động

lẫn nhau giữa cái chung và cái riêng, cái toàn

thể và cái bộ phận, XH là tập hợp có tổ chức,

liên hệ giữa các cá nhân XH tồn tại và phát

triển thống qua sự hoạt động của cá nhân

Như vậy cá nhân vừa là sản phẩm, vừa là

chủ thể của xã hội, sự phát triển của cá nhân góp

phần thúc đẩy tiến bộ xã hội phát triển, XH càng

phát triển thì mỗi cá nhân lại tiếp nhận được

ngày càng nhiều những giá trị vật chất tinh thần

do XH đáp ứng Thỏa mãn nhu cầu chính đáng

của cá nhân là động lực liên kết mọi thành viên

XH và là mục đích của sự liên kết đó Nền tảng

của mối quan hệ CNXH là mối quan hệ lợi ích

giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi ích trước

mắt và lợi ích lâu dài

- XH không phải chỉ là tổng số các cá

nhân độc lập tách rời nhau mà là sản phẩm của

các mối mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau

Sự tồn tại và phát triển của con người phải nằm

trong mối quan hệ chặt chẽ với người khác,

những mối quan hệ XH Do đó cá nhân là sản

phẩm của XH

- XH là môi trường, điều kiện và phương

tiện để cá nhân phát triển Hoàn cảnh XH, quan

hệ XH tạo nên bản chất con người Tuy nhiên,

con người luôn chủ động trước sự tác động của

hoàn cảnh vfa tiếp nhận nó một cách có ý thức

Do đó con người có thể tác động lại hoàn cảnh,

biến nó phù hợp với nhu cầu của con người Vì

thế cá nhân có vai trò thức đẩy XH phát triển

* Vai trò của cá nhân có ảnh hưởng tới

XH, tùy thuộc vào trình độ phát triển của nhân

cách Những cá nhân có nhân cách lớn, tài năng

và có trách nhiệm cao đối với XH, có tác dụngtích cực đến XH và ngược lại sẽ là gánh nặngcho XH Quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi íchtập thể và lợi ích xã hội xét đến cùng là thốngnhất biện chứng Nó xuất phát từ chỗ con ngườivừa là chủ thể, vừa là khách thể tác động tácđộng của các lượng xã hội và các quan hệ khác

Quá trình hội nhập và phát triển hiện nayđang tạo điều kiện để mỗi cá nhân, mỗi cộngđồng, dân tộc tiếp cận nhanh chóng với nhữnggiá trị tiến bộ của nhân loại Mỗi con người đềuđược mở rộng phạm vi hoạt động và quan hệ xãhội là điều kiện phát triển nhân cách Sự xuấthiện những vấn đề mang tính toàn cầu như vấn

đề môi trường, thiên tai, bệnh tật, dân số, chiếntranh hạt nhân… đều liên quan đến lợi ích sốngcòn của cá nhân và xã hội

Như vậy, mối quan hệ giữa cá nhân và xãhội ngày càng được thực hiện theo hướng nhânđạo hóa XHCN Đại hội XI của Đảng xác định:

“Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố conngười, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủyếu là mục tiêu của sự phát triển Phải đảm bảoquyền con người, quyền công dân và các điềukiện để mọi người được phát triển toàn diện

Trang 29

Câu 10: Tổng kết thực tiễn và rút ra bài học

kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách

mạng Việt Nam, Đảng ta nhận định: "Trong

lãnh đạo Đảng có lúc cũng sai lầm, khuyết

điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm

trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi

phạm luật khách quan" (ĐCSVN 2011): Văn

kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI,

Nxb CTQG,HN,2011, Tr.64 Hãy vận dụng

quan điểm triêt học Mác - Lê nin chỉ ra biểu

hiện thực tế của những sai lầm, khuyết điểm

trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt nam;

phân tích nguyên nhân và đề xuất hướng

+Chỉ ra biểu hiện của bệnh giáo điều

+Nêu VD thực tế của bệnh giáo điều

+PT sự giáo điều thể hiện trong VD vừa nêu

+ Đề xuất giải pháp, hướng khắc phục của bệnh

giáo điều(gắn với vd vừa nêu)

- Về những sai lầm do chủ quan, duy ý chí, vi

phạm quy luật khách quan

+ Phân tích nguồn gốc triết học của bệnh chủ

quan, duy ý chí

+ Chỉ ra những biểu hiện của bệnh chủ quan duy

ý chí

+ Nêu vd phù hợp về chủ quan, duy ý chí

+ Phân tích sự chủ quan, duy ý chí trong vd vừa

nêu

+ Đề xuất phương hướng, giải pháp khắc phục

bệnh chủ quan, duy ý chí (gắn với vd vừa nêu)

Trả lời

* Về những sai lầm do giáo điều:

- Bệnh giáo điều:

Về bản chất, bệnh giáo điều là khuynh

hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý

luận, coi thường hạ thấp thực tiễn, không đánh

giá đúng vai trò của thực tiễn trong hoạt động

nhận thức cũng như hoạt động lý luận, hoặc áp

dụng lý luận và kinh nghiệm không tính tới điều

kiện thực tiễn lịch sử - cụ thể

Nước ta có hai loại bệnh giáo điều Một là, giáo

điều lý luận, thể hiện ở chỗ vận dụng lý luận

không căn cứ vào những điều kiện thực tiễn - cụthể; học tập lý luận tách rời thực tiễn, xa rờicuộc sống, rơi vào bệnh sách vở; bệnh “tầmchương, trích cú”; bệnh câu chữ, v.v Hai là,giáo điều kinh nghiệm, thể hiện ở chỗ vận dụngkinh nghiệm của ngành khác, người khác, địaphương khác, nước khác vào mình nhưng khôngtính tới những điều kiện thực tiễn lịch sử - cụthể của mình

- Nguồn gốc triết học của bệnh giáo điều:

Bệnh giáo điều ở Việt Nam xuất phát từảnh hưởng tiêu cực của cơ chế tập trung, baocấp quá lâu; ảnh hưởng của tư tưởng tiểu tư sản,như bệnh thành tích, bệnh hình thức, v.v Đặc

biệt là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và không hiểu quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn ở một số cán

bộ, đảng viên Đây là nguyên nhân cơ bản, trực

tiếp nhất của căn bệnh giáo điều ở nước ta (web)Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thìbệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về

tư duy lý luận nhất là lý luận của chủ nghĩa duyvật biện chứng do đó dẫn đến hạn chế khả năng

áp dụng tri thức một cách linh hoạt sáng tạo vàocuộc sống và không hiểu được tính biện chứngcủa quá trình nhận thức cũng như biện chứngcủa lịch sử xã hội

- Biểu hiện của bệnh giáo điều:

Biểu hiện của bệnh giáo điều là bệnh sách vở,nắm lý luận chỉ dừng ở câu chữ theo kiểu “tầmchương trích cú”; hiểu lý luận một cách phiếndiện, hời hợt, biến lý luận thành tín điều và ápdụng lý luận một cách máy móc; vận dụng sai lýluận vào thực tiễn, không bổ sung, điều chỉnh lýluận Nguyên nhân của bệnh giáo điều là do yếukém về lý luận, cụ thể:

+ Hiểu lý luận bằng kinh nghiệm, hiểu lýluận một cách đơn giản, phiến diện, cắt xén, sơlược…

+ Xuyên tạc, bóp méo lý luận…

Trong thực tiễn đôi khi bệnh giáo điềubiểu hiện ở việc áp dụng cái chung vào cái riêngmột cách đơn giản lấy cái phổ biến áp đặt chocái riêng cái đặc thù hoặc áp dụng một lý thuyếtmột mô hình chưa được kiểm nghiệm thực sựbởi thực tiễn)

Trang 30

- Ví dụ

Áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội của Liên Xô

vào Việt Nam

- Biểu hiện của bệnh giáo điều

Nước ta đã coi mô hình chủ nghĩa xã hội là

kiểu mẫu xây dựng đất nước duy nhất mà không

tính đến điều kiện đặc thù của Việt Nam Đó là

mô hình Chủ nghĩa xã hội thuần khiết với nền

kinh tế kế hoạch hóa tập trung, chỉ hai hình thức

sở hữu toàn dân và tập thể được phép tồn tại với

sự thống nhất tuyệt đối về chính trị và tinh thần

Áp dụng một cách máy móc, rập khuôn mô

hình, xa rời thực tiễn, không tôn trọng quy luật

khách quan nên đường lối, chính sách nhằm xây

dựng mô hình đó và các biện pháp, phương tiện

để thực hiện đường lối, chính sách này không có

tác dụng cải tạo thực tiễn, làm cho thực tiễn

kinh tế - xã hội của nước ta phát triển theo chiều

hướng tiến lên mà ngược lại còn kìm hãm sự

phát triển đó

- Đề xuất giải pháp, phương hướng khắc

phục của bệnh giáo điều:

Với vị dụ nêu trên, để khắc phục bệnh giáo

điều, cần thực hiện nhiều giải pháp Trước hết,

phải phân tích triệt để mọi vấn đề trong tính lịch

sử - cụ thể; Quán triệt nguyên tắc thống nhất

giữa lý luận và thực tiễn Có nghĩa rằng, mô

hình xã hội chủ nghĩa là mô hình lý tưởng Tuy

nhiên, không thể vận dụng máy móc vào Việt

Nam và khi phát hiện ra sai lầm chúng ta đã

chậm khắc phục sửa chữa nên căn bệnh này vẫn

còn tác động tiêu cực đến sự phát triển của đất

nước Để căn bản khắc phục căn bệnh này cần

thực hiện nhiều giải pháp bao gồm:

+ Tăng cường tổng kết thực tiễn, trên cơ sở

đó, kiểm tra sự đúng sai của lý luận để bổ sung,

hoàn thiện và phát triển lý luận, rút ra những bài

học kinh nghiệm chỉ đạo thực tiễn và hoạt động

lý luận tiếp theo

+ Học đi đôi với hành

+ Từng bước hoàn thiện cơ chế kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ ngĩa;

+ Khắc phục chủ nghĩa thành tích, chủ

nghĩa hình thức

+ Đặc biệt, phải quán triệt tốt trên sự thống

nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu và vận dụng

đúng đắn quan hệ biện chứng giữa lý luận vớithực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.+ Bám sát thực tiễn, lý luận phải gắn liềnvới thực tiễn, thường xuyên kiểm tra trong thựctiễn và không ngừng phát triển cùng thực tiễn,tăng cường học tập nâng cao trình độ lý luận, bổsung, vận dụng lý luận phù hợp với thực tiễn;+ Phải coi trọng lý luận và công tác lýluận; nâng cao dân trí, đẩy mạnh sự nghiệp giáodục và đào tạo, phổ biến rộng rãi tri thức khoahọc - công nghệ…; + Phải đổi mới công tác lýluận của Đảng dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác

- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Quán triệtnhiệm vụ, hướng nghiên cứu chủ yếu và phươngchâm lớn chỉ đạo hoạt động lý luận của Đảng; + Hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Vì kinh tế thị trường luôn vậnđộng và biến đổi, đòi hỏi mọi thành phần, mọichủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo, phảithường xuyên bám sát thị trường để ứng phócho phù hợp

+ Thường xuyên đối chiếu lý luận với cuộcsống, vận dụng lý luận vào hoàn cảnh thực tếcủa nước ta;

+ Coi trọng và thường xuyên tổng kết thựctiễn, qua đó sửa đổi, phát triển lý luận đã có, bổsung hoàn chỉnh đường lối, chính sách, hìnhthành lý luận mới, quan điểm mới để chỉ đạo sựnghiệm đổi mới xã hội

* Căn bệnh thứ hai Đảng ta không tránh khỏi trong quá trình lão đạo đó là bệnh chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan

Bệnh chủ quan duy ý chí là một sai lầmkép trong đó chủ thể tư duy vừa mắc phải chủnghĩa chủ quan lại vừa rơi vào chủ nghĩa duy ýchí Chủ nghĩa chủ quan chỉ thể hiện khuynhhướng tuyệt đối hoá vai trò của chủ thể trongquan niệm và hành động phủ nhận hoàn toànhay phần nào bản chất và tính quy luật của thếgiới vật chất của hiện thực khách quan

- Nguồn gốc triết học của bệnh chủ quan, duy ý chí

Bệnh chủ quan duy ý chí có nguồn gốc từyếu kém về trình độ văn hoá khoa học dẫn đến

tư duy kinh nghiệm và phạm phải sai lầm chủ

Trang 31

quan duy ý chí Do ý thức sai lầm về vai trò của

lý luận mà dẫn đến lãng quên việc thường xuyên

chủ động nâng cạo năng lực tư duy lý luận

(trong đó bao gồm cả quá trình học tập lý luận

và kiểm nghiệm thực tiễn) Do sự yếu kém về

trình độ nhận thức nói chung và sự hạn chế

trong quá trình áp dụng lý luận vào thực tiễn nói

riêng Do đó Lênin đã gọi căn bệnh này "là sự

mù quáng chủ quan" là sai lầm tự phát dẫn đến

rơi vào chủ nghĩa duy tâm một cách không tự

giác Về lý luận bệnh chủ quan duy ý chí có

nhiều biến thể phức tạp và trở thành mầm mống

cho nhiều căn bệnh mới trong nhận thức Ngoài

nguyên nhân hạn chế về trình độ nhận thức trình

độ lý luận dẫn đến lúng túng về biện pháp khắc

phục sửa chữa sai lầm theo chúng tôi còn có

nguyên nhân chủ quan khác Đó là do tính bảo

thủ hoặc vì lợi ích cá nhân nên chủ thể tìm cách

che giấu khuyết điểm sai lầm chủ quan tìm cách

thuyết minh cho "sự sáng tạo hợp quy luật" hoặc

tìm cách đổ lỗi cho người khác hoặc cho nguyên

nhân khách quan

- Ví dụ

Ở Việt Nam trong thời kỳ xây dựng

CHXH từ năm 1975-1986, ta đã mắc phải căn

bệnh chủ quan, duy ý chí trong việc đẩy mạnh

quá mức việc xây dựng và phát triển công

nghiệp nặng, sự sai lầm trong chính sách cải

cách tiền lương, giá cả, vi phạm nghiêm trọng

quy luật khách quan

- Biểu hiện

Sự chủ quan trong việc đánh giá những

khả năng hiện có, ảo tưởng về tốc độ cải tạo,

phát triển kinh tế, và do đó, dẫn đến việc đề ra

những chỉ tiêu quá cao trong xây dựng cơ bản

và phát triền sản xuất Không chú ý đến phát

triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp trong khi

nước ra là một nước nông nghiệp Tất cả những

điều kiện vật chất khách quan đều thuận lợi để

phát triển nông nghiệp Chúng ta đã duy trì quá

lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu,

bao cấp Trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã

hội trước đổi mới, chúng ta đã không có được

một đườnglối, chính sách phát triển kinh tế linh

hoạt và khoa học dẫn đường Sai lầm chủ quan

độ lý luận trong đó bao hàm cả việc nắm vữngphép biện chứng duy vật với việc đẩy mạnh đổimới và phát triển kinh tế

+ Đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy vềChủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên Chủnghĩa xã hội ở nước ta Đẩy mạnh công tác tổngkết thực tiễn để phát triển lý luận, dùng lý luận

để hướng dẫn, giải thích những vấn đề do thựctiễn đặt ra;

+ Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt đểvới những hình thức, bước đi và cách làm phùhợp, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm;

+ Tôn trọng và hành động theo quy luậtkhách quan, nâng cao năng lực nhận thức và vậndụng quy luật, tăng cường phát huy dân chủ,phát huy tiềm năng, trình độ chính trị, chuyênmôn nghiệp vụ, quản lý cán bộ khoa học kỹthuật, cán bộ Đảng viên nhằm đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước;

+ Đổi mới, nâng cao vai trò lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện mới,củng cố, bồi dưỡng tình cảm, ý chí cách mạngtrong toàn Đảng, toàn dân;

+ Hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa Vì kinh tế thị trường luôn vậnđộng và biến đổi, đòi hỏi mọi thành phần, mọichủ thể kinh tế phải năng động, sáng tạo, phảithường xuyên bám sát thị trường để ứng phócho phù hợp

+ Xây dựng và kiện toàn bộ máy Nhà nướctrong sạch, vững mạnh

Trang 32

Câu 11: V.I.Lê Nin viết: "Quan điểm về đời

sống, quan điểm về thực tiễn phải là quan

điểm thứ nhất về cơ bản của lý luận nhận

thức"(TT,1980,T18,Tr167) Hãy làm rõ cơ sở

triết học và ý nghĩa của luận điểm trên ???

- Định nghĩa và phân tích định nghĩa về

- Các hình thức cơ bản của thực tiễn

+ Sản xuất của cải vật chất

và trực tiếp của lý luận, nhận thức, khoa học

+ iêu chuẩn để kiểm tra chân lý(Tính

tuyệt đối, tính tương đối của chân lý)

- Ý nghĩa

+ Vị trí, tầm quan trọng của quan điểm

thực tiễn

+ Liên hệ vận dụng quan điểm thực tiễn

ở địa phương, đơn vị, bản thân

Trả lời:

+ Định nghĩa và phân tích định nghĩa về

phạm trù thực tiễn

+ Định nghĩa phạm trù thực tiễn: Thực

tiễn là phạm trù triết học chỉ toàn bộ hoạt động

vật chất có tính chất lịch sử – xã hội của con

người làm biến đổi tự nhiên và xã hội Chính

lao động đã biến vượn thành người và là điều

kiện quyết định cho sự tồn tại và phát triển của

xã hội loài người

+ Hoạt động sản xuất vật chất: là hoạt

động cơ bản đầu tiên của thực tiến đây là hoạt

động mà con người sử dụng công cụ lao động để

tác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải vậtchất các điều kiện cần thiết để duy trì và pháttriển con người và xã hội

+ Hoạt động chính trị xã hội: là hoạtđộng của các cộng đồng người các tổ chức khácnhau trong xã hội nhằm cải biến những quan hệchính trị xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển

+ Hoạt động khoa học: là hình thức đặcbiệt của hoạt động thực tiễn được tiến hànhtrong những điều kiện do con người tạo ra nhằmxác định những quy luật biến đổi, phát triển củađối tượng nghiên cứu Hoạt động này có vai tròrất quan trọng trong sự phát triển xã hội

Mỗi hình thức hoạt động thực tiễn cóchức năng khác nhau nhưng có mối quan hệchặt chẽ, tác động qua lại với nhau, trong đóhoạt động SXVC là quan trọng nhất, quyết địnhcác hoạt động thực tiễn khác Vai trò của thựctiễn đối với nhận thức được thể hiện trước hết ởchỗ: Thực tiễn là cơ sở của nhận thức, là độnglực của nhận thức, là mục đích của nhận thức và

là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuấtphát trực tiếp của nhận thức Nó đề ra nhu cầu,nhiệm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động

và phát triển của nhận thức Chính con người cónhu cầu tất yếu khách quan là giải thích và cảitạo thế giới mà buộc con người phải tác độngtrực tiếp vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạtđộng thực tiễn của mình Sự tác động đó làmcho các sự vật, hiện tượng bộc lộ những thuộctính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhaugiữa chúng, đem lại những tài liệu cho nhậnthức, giúp cho nhận thức nắm bắt được bản chất,các quy luật vận động và phát triển của thế giới

Trên cơ sở đó mà hình thành nên các lýthuyết khoa học Chẳng hạn, xuất phát từ nhucầu thực tiễn của con người cần phải "đo đạcdiện tích và đong lường sức chứa của những cáibình, từ sự tính toán thời gian và sự chế tạo cơkhí" mà toán học đã ra đời và phát triển Hoặc

sự xuất hiện học thuyết mácxít vào những năm

40 của thế kỷ XIX cũng bắt nguồn từ hoạt độngthực tiễn của các phong trào đấu tranh của giaicấp công nhân chống lại giai cấp tư sản bấy giờ.Ngay cả những thành tựu khoa học mới đây nhất

là khám phá và giải mã bản đồ gen người cũng

Trang 33

ra đời từ chính hoạt động thực tiễn, từ nhu cầu

đòi hỏi phải chữa trị những căn bệnh nan y và từ

nhu cầu tìm hiểu, khai thác những tiềm năng bí

ẩn của con người Có thể nói, suy cho cùng

không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không

xuất phát từ thực tiễn, không nhằm vào việc

phục vụ, hướng dẫn thực tiễn

Do đó, nếu thoát ly thực tiễn, không dựa

vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện

thực nuôi dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát

triển của mình Vì vậy, chủ thể nhận thức không

thể có được những tri thức đúng đắn và sâu sắc

về thế giới

Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích

của nhận thức còn là vì nhờ có hoạt động thực

tiễn mà các giác quan của con người ngày càng

được hoàn thiện; năng lực tư duy lôgíc không

ngừng được củng cố và phát triển; các phương

tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng

"nối dài" các giác quan của con người trong việc

nhận thức thế giới

Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động

lực, mục đích của nhận thức mà nó còn đóng vai

trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Điều này

có nghĩa là thực tiễn là thước đo giá trị của

những tri thức đã đạt được trong nhận thức

Đồng thời thực tiễn không ngừng bổ sung, điều

chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận

thức C.Mác đã viết: "Vấn đề tìm hiểu xem tư

duy của con người có thể đạt tới chân lý khách

quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề

lý luận mà là một vấn đề thực tiễn

Chính trong thực tiễn mà con người phải

Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất

phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết

định đối với sự hình thành và phát triển của

nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn

luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của

mình Nhấn mạnh vai trò đó của thực tiễn,

V.I.Lênin đã viết: "Quan điểm về đời sống, về

thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản

của lý luận về nhận thức"

Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức,

đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan

điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc

nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên

cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coitrọng công tác tổng kết thực tiễn Việc nghiêncứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôivới hành Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến sailầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều,máy móc, quan liêu Ngược lại, nếu tuyệt đốihóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩathực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa

- Liên hệ vận dụng quan điểm thực tiễn ởđịa phương, đơn vị, bản thân

Trang 34

Câu 12: Đồng chí hãy phân tích cơ sở

triết học và thực tiễn của việc phát triển nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa Việt Nam: "Đó là nền kinh tế thị

trường có quan hệ sản xuất tiễn bộ, phù hợp

với trình độ phát triển của LLSX" (ĐCSVN

2016: Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII,

Văn phòng tư tưởng Đảng, 2016, tr25) ???

- Cơ sở triết học: Biện chứng giữa LLSX

+ Những sai lầm chủ quan, duy ý chí;

hậu quả vận dụng sai quy luật QHSX phù hợp

với trình độ của LLSX trước đổi mới;

+ Kết quả vận dụng quy luật sau đổi mới:

Thực tiễn trình độ của LLSX ở Việt nam sau

năm 1975 như thế nào? Trình độ của các yếu tố

của LLSX đang như thế nào? Tại sao phải thực

hiện nhiều thành phần kinh tế? Cá QH sở hữu,

tổ chức, quản lý, phân phối như thế nào để phù

hợp với trình độ LLSX hiện có? Tại sao phải có

nhiều hình thức sở hữu, quản lý và phân phối?

Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà

- LLSX: biểu thị mỗi quan hệ giữa con

người với giới tự nhiên trong quá trình sản xuất

vật chất nó nói lên trình độ chinh phục tự nhiên

của con người LLSX gồm 2 mặt: người lao

động và tư liệu SX

- Người LĐ là những người có tri thức,

kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo nhất định, có

tham gia vào quá trình sản xuất vật chất Người

LĐ là LLSX hàng đầu, đóng vai trò quyết địnhđối với quá trình SX vật chất

- Tư liệu SX: là những tư liệu do XH tạo

ra và sử dụng để tiến hành SX vật chất Nó gồm

2 yếu tố: đối tượng lao động và tư liệu lao động

+ Đối tượng LĐ là bộ phận của tự nhiênhoặc nhân tạo mà người lao động tác động lên

để tạo ra của cải vật chất

+ Tư liệu LĐ là những vật dụng được sửdụng tác động lên đối tượng LĐ, trong đó công

cụ LĐ là quan trọng nhất, đó là vật dẫn truyềntrực tiếp tác động của người LĐ lên đối tượng

LĐ (công cụ LĐ thô sơ: cày, cuốc, búa; công cụ

là máy móc ) Công cụ LD được coi là LLSX

có tính động nhất, cách mạng nhất (luôn luônđược cải tiến) và quyết định nhất, vì nó quy địnhnăng suất lao động XH Ngoài ra còn có những

tư liệu LĐ hỗ trợ khác (nhà kho, sân phơi, bến,bãi ) Trong thời đại ngày nay do sự phát triểncủa cuộc cách mạng KHCN cho nên chính khoahọc cũng đang trở thành một LLSX trực tiếp(không phải là nhân tố thứ 3): tri thức khoa học

đã thâm nhập và trở thành bộ phận không thểthiếu của từng yếu tố trong LLSX (ngày càngngười ta càng sử dụng đối tượng LĐ nhân tạo,khoa học xã hội cũng tham gia vào sản xuất:quản lý sản xuất => xuất hiện kinh tế tri thức:sản phẩm làm ra có giá trị tri thức khoa học từ70% trở lên Ví dụ điện thoại di động)

* Quan hệ sản xuất: Là mối quan hệgiữa con người với con người trong quá trìnhsản xuất vật chất, đây là một quan hệ kinh tế cơbản của XH được hình thành một cách kháchquan, độc lập với ý thức của con người QHSXgồm 3 mặt:

- QH sở hữu đối với TLSX: QH này nóilên ai là người nắm giữ những TLSX chủ yếutrong XH (SX nông nghiệp: ai nắm giữ ruộngđất; SX công nghiệp: công xưởng, nhà máy ainắm giữ) Trong lịch sử có hai hình thức sở hữu

cơ bản đối với TLSX: sở hữu tư nhân và sở hữu

XH (sở hữu công cộng);

- QH về mặt tổ chức quản lý SX: nói lênvai trò của con người trong quá trình SX vậtchất: vai trò tổ chức quản lý hay là bị tổ chức, bịquản lý;

Trang 35

- QH về mặt phân phối sản phẩm: nói lên

hình thức và quy mô thu nhận sản phẩm do XH

tạo ra Tùy thuộc chế độ XH thì có hình thức và

quy mô thu nhận sản phẩm khác nhau Trong ba

mặt trên của QHSX thì QH sở hữu là quyết định

nhất, nó quy định những mặt còn lại

II MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG

GIỮA LLSX VÀ QHSX (Diễn biến của quy

luật về sự phù hợp của QHSX đối với trình độ

phát triển của LLSX)

1 Tính chất và trình độ của LLSX: Tính

chất của LLSX là tính chất của LĐ và của quá

trình SX LLSX có thể mang hai tính chất: tính

cá nhân hoặc tính XH: khi LLSX có trình độ

thấp kém thì tính chất của nó là cá nhân bởi vì

nó mang tính phân tán, tản mạn Còn khi LLSX

có trình độ cao đòi hỏi phải có sự hợp tác LĐ

của nhiều người thì LLSX mang tính XH Xu

hướng phát triển của LLSX là có tính XH ngày

càng cao (Xã hội hóa LLSX Ví dụ để SX một

chiếc ô tô thì phải do hàng nghìn người tham gia

sản xuất – mang tính xã hội cao Tính xã hội đó

mang tính hợp tác lao động) Trình độ của LLSX

là trình độ phát triển của công cụ LĐ, của người

LĐ, của quy mô SX, của trình độ sử dụng khoa

học và LLSX có trình độ ngày càng cao (năng

suất LĐ ngày càng cao )

2 Sự quyết định của LLSX đối với

QHSX: LLSX là nội dung, QHSX là hình thức

Nội dung quyết định hình thức nên LLSX đóng

vai trò quyết định đối với QHSX Điều đó được

thể hiện cụ thể là:

- LLSX nào thì sinh ra QHSX ấy, nên

tương ứng với mỗi LLSX ở trình độ nhất định

thì bao giỡ cũng phải có một QHSX phù hợp

nhất đối với nó được hình thành VD: thời

nguyên thủy chỉ là QHSX tập thể, vì công cụ lao

động thô sơ, LLSX chưa phát triển

- LLSX có xu hướng phát triển liên tục,

trong khi QHSX có xu hướng ổn định ít thay đổi

(sự phát triển LLSX là sự cải tiến công cụ LĐ

=> người lao động phải có trình độ nâng lên,

ngày càng cao, quy mô SX ngày càng mở rộng;

QHSX mang tính bền vững) Nên đến một giai

đoạn nhất định nào đó thì LLSX đã phát triển sẽ

mâu thuẫn với QHSX cũ lỗi thời (vì QHSX phát

triển không kịp sự phát triển của LLSX) Khi đó

đòi hỏi QHSX cũ phải bị xóa bỏ, QHSX mới sẽ

ra đời thay thế để phù hợp với LLSX đã pháttriển

Như vậy sự phát triển của LLSX quyếtđịnh sự phát triển, thay thế nhau của QHSX từthấp đến cao làm cho lịch sử XH loài người lầnlượt trải qua 5 kiểu QHSX và tương ứng là 5phương thức SX: Cộng sản nguyên thủy – nô lệ

- phong kiến – TBCN – CSCN

3 Sự tác động trở lại của QHSX đối vớiLLSX: đây là biểu hiện tác động trở lại của hìnhthức lên nội dung với 2 xu hướng chính:

- Nếu QHSX phù hợp với trình độ pháttriển của LLSX thì nó sẽ thúc đẩy sự phát triểncủa LLSX

- Nếu QHSX không phù hợp: tức là nó

đã trở nên cũ và lỗi thời hoặc là nó phát triểnkhông đồng bộ dẫn đến có yếu tố của nó vượttrước so với LLSX thì nó sẽ kìm hãm sự pháttriển của LLSX (làm nền SX XH không pháttriển được, dẫn đến khủng hoảng, suy thoái) Sở

dĩ có sự tác động trở lại này là bởi vì QHSX quyđịnh mục đích của nền SX (SX cho ai, SX làmgì), mục đích này quy định lợi ích của conngười, lợi ích sẽ tác động lên thái độ của người

LĐ từ đó tác động lên toàn bộ LLSX (người LĐ

là LLSX chủ yếu) Ở nước ta hiện nay do tồn tạinhiều khu vực kinh tế khác nhau với những trình

độ của LLSX không đồng đều, điều đó đòi hỏiphải sử dụng nhiều chế độ sở hữu, nhiều chế độ

tổ chức quản lý và nhiều hình thức phân phốikhác nhau, đây chính là cơ sở lý luận và thựctiễn của việc phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần ở nước ta hiện nay

III CƠ SỞ THỰC TIỄN:

1 Những sai lầm chủ quan, duy ý chí;hậu quả vận dụng sai quy luật QHSX phù hợpvới trình độ của LLSX trước đổi mới;

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng SảnViệt Nam, trong thực tiễn cách mạng của đấtnước, chúng ta đã đạt được những thành tựu rấtlớn, tuy nhiên trong quá trình đó chúng ta cũnggặp không ít khó khăn thử thách, có những giaiđọan phát triển mạnh mẽ nhưng cũng có lúcthoái trào, có bước tiến nhưng cũng có bước lùi.Nguyên nhân dẫn đến những lúc thoái trào,những bước lùi trên có phần nào bắt nguồn từ

Trang 36

các căn bệnh còn rơi rớt lại trong một số ít đảng

viên của ta Đó là các căn bệnh chủ quan duy ý

chí, bệnh bảo thủ trì trệ, bệnh phiến diện, bệnh

giáo điều và bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa

1.1 Đối với hai căn bệnh chủ quan duy ý

chí và bệnh bảo thủ trì trệ :

Bệnh chủ quan duy ý chí là căn bệnh có

khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố

chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức,

của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp

quy luật khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng

thay thế cho sự yếu kém về tri thức khoa học

Đây là lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng

vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan; thể hiện

rõ trong khi định ra những chủ trương, chính

sách và lựa chọn phương pháp tổ chức họat

động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo

tưởng, chủ quan Ví dụ như : mục tiêu đặt ra quá

cao, biện pháp không có tính khả thi v.v Ngòai

ra bệnh chủ quan duy ý chí còn do nguồn gốc

lịch sử, xã hội, giai cấp, tâm lý của người sản

xuất nhỏ chi phối Cơ chế quan liêu bao cấp

cũng tạo điều kiện cho sự ra đời của căn bệnh

này

Bệnh bảo thủ, trì trệ là tuyệt đối một

nhận thức nào đó về sự vật có được trong hòan

cảnh lịch sử phát triển nhất định của nó và xem

đó là nhận thức duy nhất đúng về tòan bộ sự vật

trong quá trình phát triển tiếp theo của nó Hay

nói cách khác, bệnh bảo thủ, trì trệ là khuynh

hướng cường điệu vai trò quyết định của vật

chất, sùng bái sức mạnh của quy luật, hạ thấp

vai trò của nhân tố chủ quan – khuynh hướng đó

sẽ dẫn đến bảo thủ, trì trệ, ngại gian khổ, bó tay

khuất phục trước khó khăn, trước hòan cảnh

khách quan Biểu hiện của “bệnh” này là tình

trạng ỷ lại, dựa dẫm, chờ đợi, ngại đổi mới,

thậm chí cản trở cái mới, bằng lòng thỏa mãn

với cái đã có – là bạn đồng hành với chủ nghĩa

quan liêu, độc đóan và hậu quả tất yếu là làm

cản trở, thậm chí còn kéo lùi sự phát triển

Hai căn bệnh này xuất phát từ khuynh

hướng sai lầm, cực đoan trong việc nhận thức

mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

Chúng ta đã biết theo chủ nghĩa duy vật

biện chứng, giữa vật chất và ý thức có mối quan

hệ biện chứng, thể hiện qua vai trò quyết định

của vật chất đối với ý thức và tính độc lập tươngđối, sự tác động trở lại của ý thức đối với vậtchất Vật chất là cơ sở, cội nguồn sản sinh ra ýthức Vật chất là cái có trước, nó sinh ra ý thức,quyết định nội dung và xu hướng phát triển của

ý thức Không có vật chất thì không thể có ýthức bởi vì nguồn gốc của ý thức chính là vật.Tuy nhiên, mặc dù do vật chất sinh ra và quyđịnh nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối

Sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sựphản ánh sáng tạo chủ động chứ không thụ độngmáy móc nguyên si, vì vậy nó có tác động trở lạiđối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễncủa con người Tuy vậy, sự tác động của ý thứcđối với vật chất cũng chỉ với mức độ nhất định,

nó không thể sinh ra hay tiêu diệt các quy luậtvận động của vật chất

Từ mối quan hệ biện chứng giữa vật chất

và ý thức, chúng ta rút ra được nguyên tắc kháchquan Nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta trongnhận thức và hành động phải xuất phát từ chínhbản thân sự vật với những thuộc tính, nhữngmối liên hệ vốn có của nó, những quy luật kháchquan, phải có thái độ tôn trọng sự thật, khôngđược lấy ý muốn chủ quan của mình làm chínhsách, không được lấy tình cảm làm điểm xuấtphát cho chiến lược, sách lược cách mạng Việcthực hiện nguyên tắc khách quan không cónghĩa là quan điểm khách quan xem nhẹ, tínhnăng động, sáng tạo của ý thức mà nó còn đòihỏi phải phát huy tính năng động sáng tạo của ýthức, của nhân tố chủ quan Bởi vì quá trình đạttới tính khách quan đòi hỏi chủ thể phải pháthuy tính năng động, sáng tạo trong việc tìm ranhững biện pháp, những con đường để từngbước thâm nhập sâu vào bản chất của sự vật,trên cơ sở đó thực hiện việc biến đổi từ cái “vật

tự nó” thành cái phục vụ cho nhu cầu lợi ích củacon người

Vì vậy trong thực tế nhận thức và hoạtđộng của con người, việc tuyệt đối hóa mộttrong hai mặt của vật chất và ý thức đã dẫn tớibệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệ

Trước thời kỳ đổi mới Đảng ta đã mắcbệnh chủ quan duy ý chí và bệnh bảo thủ trì trệtrong việc xác định mục tiêu và hướng đi về xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tạo XHCN và

Trang 37

quản lý kinh tế Đảng ta đã nóng vội muốn xóa

bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, chỉ còn

lại hai thành phần là : kinh tế quốc doanh và tập

thể; hay có lúc đẩy mạnh quá mức việc xây

dựng công nghiệp nặng mà không chú ý đến

phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp trong

khi nước ta là một nước nông nghiệp, tất cả

những điều kiện vật chất khách quan đều thuận

lợi để phát triển nông nghiệp; Đồng thời đã duy

trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan

liêu, bao cấp, cơ chế xin – cho, có nhiều chủ

trương sai lầm trong việc cải cách giá cả, tiền tệ,

tiền lương; công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ

phạm nhiều khuyết điểm nghiệm trọng Từ đó

đã kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội, làm

cho nhân dân bị nghèo nàn, đất nước lạc hậu,

hạn chế việc phát huy các nguồn lực, chậm khai

thác tiềm năng xây dựng đất nước

Để khắc phục hai căn bệnh nêu trên, cần

thực hiện những biện pháp là :

- Phải tiến hành đổi mới toàn diện, đồng

bộ và triệt để trên tất cả các lĩnh vực của đời

sống xã hội, đổi mới từ quan niệm, tư duy lý

luận đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức cán

bộ, phong cách và lề lối làm việc Thực hiện đổi

mới với những hình thức, bước đi, cách làm phù

hợp, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm

mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nâng cao

năng lực nhận thức và vận dụng quy luật, trình

độ chuyên môn nghiệp vụ của Đảng viên

- Tăng cường phát huy dân chủ, phát huy

tiềm năng cán bộ KHKT, đội ngũ cán bộ quản

- Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn,

tổng kết cái mới, không ngừng bổ sung, phát

triển, hoàn chỉnh lý luận

- Phải đổi mới và nâng cao vai trò lãnh

đạo của Đảng trong điều kiện mới

1.2 Đối với căn bệnh phiến diện :

Bệnh phiến diện là “bệnh” khi xem xét

sự vật hiện tượng chỉ nhìn thấy những sự vật cá

biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại

giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại

mà không nhìn thấy sự phát sinh và tiêu vong

của sự vật ấy, nhìn trạng thái tĩnh mà quên mất

sự vận động của sự vật “nhìn thấy cây mà

không thấy rừng” Có khi cũng chú ý tới nhiều

mặt, nhiều mối liên hệ nhưng dàn trải đều, đánhgiá ngang nhau ở vị trí, vai trò của các mối liên

hệ, không biết so sánh, phân tích để làm nối bậtcái cơ bản nhất, cái quan trọng nhất đang chiphối sự tồn tại, vận động, chuyển hóa và pháttriển của SVHT

Căn bệnh này xuất phát từ việc khôngnhận thức và vận dụng đúng nguyên lý về mốiliên hệ phổ biến trong chủ nghĩa duy vật biệnchứng

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là mộttrong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứngduy vật, trong đó mối liên hệ phổ biến là kháiniệm dùng để chỉ sự liên quan tác động, ràngbuộc, quy định và chuyển hóa lẫn nhau giữa cácmặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng(SVHT) hoặc giữa các SVHT với nhau MọiSVHT trong thế giới khách quan đều tồn tạitrong những mối liên hệ tác động lẫn nhau, sựvật này thay đổi kéo theo sự vật kia thay đổi vàkhông có một SVHT nào tồn tại một cách côlập, tách rời, do đó mối liên hệ giữa các SVHTmang tính phổ biến Mối liên hệ này còn mangtính khách quan do đây là cái vốn có từ bêntrong SVHT chứ không phải do áp đặt từ bênngoài, nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chấtcủa thế giới vật chất của thế giới, từ sự tồn tại vàphát triển của chính SVHT Các SVHT trong thếgiới vật chất rất đa dạng nên mối liên hệ giữachúng cũng đa dạng

Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến,chúng ta rút ra ý nghĩa phương pháp luận làtrong nhận thức và hoạt động thực tiễn đòi hỏichủ thể phải có quan điểm toàn diện và quanđiểm lịch sử cụ thể Quan điểm toàn diện đòi hỏikhi xem xét, đánh giá sự vật hiện tượng, ta phảiđặt chúng vào mối quan hệ với các SVHT khác,xem xét các SVHT trong mối quan hệ qua lạigiữa các bộ phận, các yếu tố các thuộc tính khácnhau của chính bản thân SVHT và giữa SVHT

đó với những SVHT khác (kể cả trực tiếp, giántiếp) Quan điểm lịch sử cụ thể đòi hỏi khi xemxét mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra hoặc khi đánhgiá một SVHT, để nhìn thấy được bản chất của

sự vật hiện tượng chúng ta gắn nó với khônggian và thời gian cụ thể, với những điều kiện,

Trang 38

những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự tồn tại

của sự vật, không được đánh giá chung

Vì vậy việc không nhận thức và vận

dụng đúng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến,

về quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ

thể, tách rời các mặt khi xem xét một vấn đề,

hoặc xem xét không gắn với những hoàn cảnh

lịch sử cụ thể dẫn tới căn bệnh phiến diện

Trước thời kỳ đổi mới ( Đại hội 6 ),

Đảng ta đã mắc phải “bệnh” phiến diện, một

chiều trong việc xây dựng phương thức sản xuất

XHCN : chỉ tập trung xây dựng QHSX mà

không thấy được vai trò của LLSX (tức là chưa

vận dụng đúng quy luật QHSX phải phù hợp với

tính chất và trình độ của LLSX), chỉ thấy một

mặt của PTSX là QHSX, dẫn đến xây dựng một

QHSX tiên tiến vượt xa với tính chất và trình độ

của LLSX đưa đến không phát triển được nền

kinh tế đất nước Hoặc là khi xây dựng QHSX

chỉ chú ý đến quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất

mà không chú ý đến mối quan hệ giữa nó với

việc tổ chức quản lý sản xuất và phân phối sản

phảm dẫn đến quốc hữu hóa TLSXC, phát triển

kinh tế quốc doanh và tập thể (2 thành phần

kinh tế chủ yếu lúc bấy giờ với 2 hình thức sở

hữu là : là sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể)

đưa đến nền sản xuất bị đình trệ, nền kinh tế

chậm phát triển

Để khắc phục bệnh phiến diện một chiều,

chúng ta cần phải có quan điểm toàn diện, quan

điểm lịch sử cụ thể khi xem xét nghiên cứu

SNHT, phải biết kết hợp chặt chẽ giữa “chính

sách có dàn đều” và “chính sách có trọng điểm”

trong phát triển kinh tế Đổi mới phải thực hiện

toàn diện, đồng bộ triệt để với những bước đi,

hình thức, cách làm phù hợp Trong mỗi bước đi

của công cuộc đổi mới đó phải xác định đúng

khâu then chốt để tập trung sức giải quyết, làm

cơ sở đổi mới các khâu khác, các lực lượng

khác, như lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm

thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực khác

1.3 Đối với căn bệnh giáo điều và bệnh

kinh nghiệm chủ nghĩa

Bệnh giáo điều là căn bệnh mà khuynh

hướng tuyệt đối hóa lý luận, coi thường kinh

nghiệm thực tiễn, coi lý luận là bất di bất dịch,

việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý

chung trừu tượng, không chú ý đến những hoànchỉnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận.Bệnh giáo điều thuộc lòng lý luận, cho rằng ápdụng lý luận áp dụng vào đâu cũng được khôngxem xét điều kiện cụ thể của mình Ví dụ nhưtheo Mác thì phải xóa bỏ tư hữu dẫn đến việc tatiến hành cải tạo XHCN xóa tất cả các thànhphần kinh tế nhằm mục đích chỉ còn 2 thànhphần kinh tế quốc doanh và tập thể mà khôngthấy được rằng "Nền kinh tế nhiều thành phần làmột đặc trưng của thời kỳ quá độ", sự có mặtcủa nhiều thành phần kinh tế với các mối quan

hệ tác động qua lại của nó sẽ tạo động lực cho

sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này

Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là căn bệnh

áp dụng nguyên si rập khuôn mô hình của nướckhác, của địa phương khác vào nước mình, địaphương mình mà không sáng tạo lại Bệnh kinhnghiệm chủ nghĩa có khuynh hướng tuyệt đốihóa vai trò của tri thức kinh nghiệm, coi thường

lý luận, đề cao thực tiễn, hạ thấp lý luận, ngạihọc tập lý luận

Một trong những nguyên nhân của bệnhkinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều xuấtphát từ khuynh hướng nhận thức sai lệch về mốiquan hệ giữa lý luận và thực tiển

Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệbiện chứng, tác động qua lại với nhau Trongmối quan hệ đó, thực tiễn có vai trò quyết định,

vì thực tiễn là hoạt động vật chất, còn lý luận làsản phẩm của hoạt động tinh thần Vai trò quyếtđịnh của thực tiễn đối với lý luận thể hiện ởchổ : chính thực tiễn là cơ sở, là động lực, làmục đích, là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức và

lý luận; nó cung cấp chất liệu phong phú sinhđộng để hình thành lý luận và thông qua hoạtđộng thực tiễn, lý luận mới được vật chất hóa,hiện thực hóa, mới có sức mạnh cải tạo hiệnthực Lý luận mặc dù được hình thành từ thựctiễn nhưng nó có vai trò tác động trở lại đối vớithực tiễn Sự tác động của lý luận thể hiện quavai trò xác định mục tiêu, khuynh hướng chohoạt động thực tiễn (lý luận là kim chỉ nam chohoạt động thực tiễn), vai trò điều chỉnh hoạtđộng thực tiễn, làm cho hoạt động thực tiễn cóhiệu quả hơn

Trang 39

Từ mối quan hệ biện chứng giữa lý luận

và thực tiễn, ta rút ra được quan điểm thực

tiễn Quan điểm thực tiễn đòi hỏi khi xem xét

sự vật hiện tượng phải gắn với thực tiễn, phải

theo sát sự phát triển của thực tiễn để điều chỉnh

nhận thức cho sự phù hợp với sự phát triển của

thực tiễn, hiệu quả của thực tiễn để kiểm tra

những kết luận của nhận thức, kiểm tra những

luận điểm của lý luận Quan điểm thực tiễn cũng

đòi hỏi những khái niệm của chúng ta về sự vật

phải được hình thành, bổ sung và phát triển

bằng con đường thực tiễn, trên cơ sở thực tiễn

chứ không phải bằng con đường suy diễn thuần

túy, không phải bằng con đường tự biện Do

thực tiễn luôn vận động và phát triển nên phải

thường xuyên tổng kết quá trình vận dụng lý

luận vào thực tiễn, xem nó thừa thiếu nhằm bổ

sung phát triển nó cho phù hợp

Vì vậy việc vi phạm sự thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn dẫn tới căn bệnh kinh

nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều

Trước thời kỳ đổi mới ( Đại hội 6 ), căn

“bệnh” giáo điều biểu hiện ở nước ta là qua việc

xóa bỏ chế độ tư hữu, tiến hành cải tạo XHCN;

xóa tất cả các thành phần kinh tế, chỉ còn kinh tế

quốc doanh và kinh tế tập thể Điều này do áp

dụng lý luận vào đâu cũng được mà không xem

xét điều kiện thực tiễn, điều kiện cơ sở vật chất

khách quan của đất nước

Còn đối với căn bệnh kinh nghiệm chủ

nghĩa biểu hiện ở việc bắt chước một cách rập

khuôn theo mô hình XHCN ở Liên Xô ( cũ ) :

Liên Xô có bao nhiêu bộ ta cũng có bấy nhiêu

bộ, Liên Xô phát triển công nghiệp nặng thì ta

cũng phát triển công nghiệp nặng mà không

xem xét đến điều kiện cụ thể của Việt Nam,

đồng thời không chú ý đến phát triển nông

nghiệp và công nghiệp nhẹ trong khi nước ta là

một nước nông nghiệp với tất cả những điều

kiện vật chất khách quan đều thuận lợi để phát

triển nông nghiệp

Để khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ

nghĩa, bệnh giáo điều chúng ta cần phải nâng

cao trình độ lý luận; Đẩy mạnh tổng kết thực

tiễn và nghiên cứu lý luận, thảo luận dân chủ,

sớm làm rõ và kết luận những vấn đề mới, bức

xúc nảy sinh từ thực tiễn; từng bước cụ thể hóa,

bổ sung phát triển đường lối, chính sách củaĐảng, đấu tranh với khuynh hướng, tư tưởng sai

; đổi mới và nâng cao chất lượng công tácnghiên cứu lý luận, công tác giảng dạy và họctập lý luận; mở rộng dân chủ và giữ vững địnhhướng chính trị trong họat động lý luận; đổi mớicông tác lý luận của Đảng viên trên nền tảngChủ Nghĩa Marx – Lénin và tư tưởng, đạo đức

Hồ Chí Minh và tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng đối với công tác lý luận, Đảng định hướngcho công tác lý luận

Từ những sai lầm về việc không nhậnthức và vận dụng đúng các quan điểm của phépduy vật biện chứng đã dẫn đến những “ cănbệnh “ như đã phân tích ở trên đã dẫn đến mộtcái giá mà những người cộng sản đã phải trả quáđắt, đó là sự tan vở của hệ thống xã hội chủnghĩa, sự thóai trào của phong trào cộng sản vàcông nhân quốc tế Đó là bài học xương máu màĐảng Cộng Sản Việt Nam đã rút ra được để tiếnhành họach định và thực hiện đường lối đổi mới

từ Đại Hội tòan quốc của Đảng lần thứ 6 đếnnay

Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục tổng kết

từ sự vận động của thực tiễn trong nước và trênthế giới đã khẳng định một trong những bài họcchủ yếu đưa công cuộc đổi mới ở nước ta đi đếnthắng lợi là : “ đường lối đúng đắn của Đảng lànhân tố quyết định thành công của đổi mới.Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổimới, tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận,hòan thiện đường lối đổi mới; thường xuyên xâydựng, chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất vềquan điểm, ý chí và hành động trong tòan Đảng;lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng và kiệntòan bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh”.( VK-ĐHĐBTQ lần thứ IX – NXB – CTQG,H.2001, trang 82 ) /

IV Kết quả vận dụng quy luật sau đổimới:

1 Thực tiễn sự vận dụng quy luật QHSXphù hợp với trình độ phát triển của LLSX ở ViệtNam hiện nay

1.1 Thời kì trước đổi mới (Sau 1975 đếntrước 1986)

Trước thời kì đổi mới nước ta nước ta cónền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao

Trang 40

cấp và sự thể hiện quy luật QHSX phù hợp với

trình độ phát triển của LLSX biểu hiện cụ thể:

+ Nước ta đã thiết lập một chế độ công

hữu về tư liệu sản xuất một cách ào ạt, trong khi

đó đang tạo địa bàn cho sự phát triển LLSX (vi

phạm tính lịch sử cụ thể)

+ Đồng thời, trong quá trình cải tạo nền

sản xuất chỉ tập trung cải tạo QHSX, chủ trương

xây dựng QHSX tiến bộ mở đường cho LLSX

phát triển (đi ngược lại với quy luật QHSX phù

hợp với phát triển của LLSX)

Thực tế vận dụng quy luật này cho thấy

chúng ta đã quá coi trọng vai trò của QHSX và

cho rằng có thể đưa QHSX đi trước để mở

đường, thúc đẩy LLSX cùng phát triển Việc áp

dụng quan niệm ấy là hoàn toàn sai lầm, minh

chứng cho điều đó là LLSX trong thời gian qua

thấp kém, QHSX được duy trì ở trình độ quá

cao Từ đó làm mâu thuẫn giữa yêu cầu phát

triển LLSX với hình thức kinh tế - xã hội được

áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta Mâu

thuẫn đó đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho

nền kinh tế nước nhà: kinh tế chậm phát triển,

sản xuất trì trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4% (trong

khi chỉ tiêu đặt ra là 13-14%), tình trạng thiếu

lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập

khẩu 1,576 triệu tấn lương thực, ngân sách thiếu

hụt, giá cả hàng năm tăng 20%, nhập khẩu

chiếm 4-5 phần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn

đầu tư cho nền kinh tế, hàng tiêu dùng thiếu

trầm trọng, Qua đó, ta có thể thấy một thực tế

của việc làm trái quy luật đã gây ra hậu quả

nặng nề cho nền kinh tế đất nước là rơi vào tình

trạng khủng hoảng trầm trọng Như vậy, QHSX

không phù hợp với trình độ LLSX sẽ kìm hãm

sự phát triển của LLSX

1.2, Sự vận dụng quy luật này ở Việt

Nam hiện nay

a Trình độ phát triển của LLSX ở Việt

Nam hiện nay: “người ta không được tự do lựa

chọn lực lượng sản xuất cho mình vì mọi lực

lượng sản xuất là lực lượng đã đạt được, tức là

một sản phẩm của một hoạt động đã qua

không phải do họ tạo ra, mà do thế hệ trước tạo

ra Mỗi thế hệ sau đã có sẵn những lực lượng

sản xuất do những thế hệ trước xây dựng lên và

được thế hệ mới dùng làm nguyên liệu cho sựsản xuất mới:

- Thứ nhất, là trình độ của người laođộng: đã được nâng cao rõ rệt và không ngừngtăng cao, cụ thể: tỉ lệ người lao động đã qua đàotạo có xu hướng tăng nhanh từ 9.357.532 ngườinăm 2003 ( chiếm 22,5% tổng số lao động của

cả nước) lên 10.770.688 người năm 2005( chiếm 25% tổng số lao động của cả nước)trong đó, số lao động có trình độ cao đẳng, đạihọc là 5.708.465 người (chiếm 5,3 %) Ngườilao động năng động, sáng tạo, cần cù, chịu khó,

…kinh nghiệm và kĩ năng lao động của conngười Việt Nam cũng khác nhau: có kinhnghiệm và kĩ năng của người lao động cơ khí,máy móc, có kinh nghiệm và kĩ năng của ngườilao động đối với máy móc hiện đại, tự động hóa,

… Từ đó, trình độ tổ chức và phân công laođộng, trình độ ứng dụng khoa học công nghệvào sản xuất ở Việt nam hiện nay đã có nhiềutiến bộ Qua đó, cho thấy trình độ chuyên môntay nghề của lao động nước ta đang có nhữngchuyển biến tích cực đáp ứng ngày càng tốt hơnnhu cầu cũng như đòi hỏi thực tế của nền kinh tếđất nước ta trong giai đoạn hiện nay

-Thứ hai, là trình độ của tư liệu sản xuấttiến bộ hơn so với thời kì trước đổi mới cụ thể:

+ Công cụ lao động hiện đại hơn với sựđầu tư, mua mới nhiều máy móc, công cụ hiệnđại vào trong quá trình sản xuất góp phần làmcho năng suất lao động tăng cao, giảm bớt đượcchi phí sức lao động Điển hình, trước thời kìđổi mới chúng ta sử dụng trâu, bò để cày, máymóc đưa vào sản xuất còn hạn chế và thô sơ.Nhưng đến giai đoạn hiện nay, đã được thaybằng máy cày,…việc sản xuất đã được trang bịbởi một hệ thống máy móc hiện đại nhập khẩu

từ nước ngoài góp phần làm cho nền kinh tế đấtnước phát triển nhanh

+ Đối tượng lao động hiện nay cũng hiệnđại hơn rất nhiều: nếu trước đây với nền vănminh nông nghiệp thì đối tượng lao động chủyếu là ruộng đất còn trong giai đoạn hiện nay,với nền văn minh cơ khí thì đối tượng lao độngđược mở rộng với các nguyên liệu như: than đá,chất đốt, dầu khí,…Tất cả tạo điều kiện cho sự

Ngày đăng: 24/10/2018, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w