Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn do hiện tượng El Nino tăng lên làm cho lượng mưa ít hơn, thêm vào đó là tác động chặt phá rừng,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TP.HCM
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
ĐẶNG THỊ TIẾN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HẠN HÁN Ở NINH THUẬN
TRONG GIAI ĐOẠN 10 NĂM 2006-2015
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ KHÍ TƯỢNG HỌC
Mã ngành: 52410221
TP HỒ CHÍ MINH - 11/2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TP.HCM
KHOA KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HẠN HÁN Ở NINH THUẬN
TRONG GIAI ĐOẠN 10 NĂM 2006-2015
Sinh viên: Đặng Thị Tiến MSSV: 0250010040
Khóa: 2013 – 2017
GVHD: Nguyễn Minh Giám
TP HỒ CHÍ MINH - 11/2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đại học và viết bài đồ án này, em luôn nhận được
sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình từ các thầy, cô trong khoa Khí tượng và Thủy văn của trường đại học tài nguyên và môi trường Tp.HCM
Trước hết, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy, cô trong khoa Khí tượng và Thủy văn của trường đại học tài nguyên và môi trường Tp.HCM
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn đến thầy-Thạc sỹ Nguyễn Minh Giám, người
đã dành rất nhiều thời gian để hướng dẫn và giúp đỡ tân tình cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bài đồ án này
Em xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Đài Khí tượng- Thủy văn tỉnh Ninh Thuận
đã hết sức hợp tác và hỗ trợ em trong suốt quá trình thực hiện đồ án
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những người luôn bên cạnh tạo mọi điều kiện tốt nhất và động viên giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình hoàn thành bài đồ án, tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy, cô và các bạn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I DANH MỤC BẢNG………III DANH MỤC HÌNH IV
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1TỔNGQUANVỀHẠNHÁN 3
1.1.1 Khái niệm về hiện tượng hạn hán 3
1.1.2 Một số thành tựu nghiên cứu liên quan đến vấn đề hạn hán 6
1.2TỔNGQUANVỀVÙNGNGHIÊNCỨU 7
1.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên 8
1.2.2 Khái quát về điều kiện khí hậu 9
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG HẠN HÁN Ở NINH THUẬN 13
2.1PHÂNTÍCHHIỆNTƯỢNGHẠNHÁNỞNINHTHUẬN 13
2.1.1 Ảnh hưởng của ENSO 13
2.1.2 Xu thế biến đổi của lượng mưa……….14
2.1.3 Xu thế biến đổi của nhiệt độ 18
2.1.4 Xu thế biến đổi của nắng nóng, nắng nóng gay gắt 21
2.1.5 Xu thế biến đổi của độ ẩm 23
2.1.6 Xu thế biến đổi của bốc hơi 24
2.1.7 Chỉ tiêu hạn hán 25
2.2ẢNHHƯỞNGCỦAHẠNHÁNĐẾNSẢNXUẤTNÔNGNGHIỆPTẠI NINHTHUẬN 27
2.2.1 Đối với đời sống sinh hoạt của nhân dân 28
2.2.2 Đối với sản xuất trồng trọt 29
2.2.3 Đối với phát triển chăn nuôi 30
2.2.4 Đối với công tác phòng chống cháy rừng 31
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ HIỆN TƯỢNG HẠN HÁN DỰA TRÊN CÁC YẾU TỐ KHÍ HẬU TẠI TỈNH NINH THUẬN 32
3.1ĐÁNHGIÁTÌNHHÌNHHẠNHÁNDỰAVÀOCÁCYẾUTỐKHÍHẬU 32 3.2GIẢIPHÁPTHÍCHỨNGVỚIHIỆNTƯỢNGHẠNHÁN 34
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng mây tổng quan trung bình tháng và năm 9Bảng 1.2 Thống kê nhiệt độ tháng trong giai đoạn 10 năm 2006-2015 tại trạm Phan Rang (0C) 11Bảng 1.3 Các thời kỳ Enso 14 Bảng 1.4 Kết quả tính chỉ số khô hạn trong giai đoạn 10 năm 2006-2015 26
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận 8
Hình 1.2 Số giờ nắng ngày trung bình tháng nhiều năm tại trạm Phan Rang 10
Hình 1.3 Chuẩn sai lượng mưa mùa khô tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 15
Hình 1.4 Chuẩn sai lượng mưa mùa mưa tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 16
Hình 1.5 Phân bố lượng mưa mùa khô 16
Hình 1.6 Phân bố lượng mưa mùa mưa 16
Hình 1.7 Phân bố tổng lượng mưa năm tỉnh Ninh Thuận 17
Hình 1.8 Chuẩn sai lượng mưa năm tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 18
Hình 1.9: Phân bố nhiệt độ trung bình năm tỉnh Ninh Thuận 19
Hình 1.10 Nhiệt độ tối cao tuyệt đối và xu thế tại trạm Phan Rang trong giai đoạn 10 năm 2006-2015 20
Hình 1.11 Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối và xu thế tại trạm Phan Rang trong giai đoạn 10 năm 2006-2015 21
Hình 1.12 Tổng số giờ nắng năm, nắng nóng và nắng nóng gay gắt tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 21
Hình 1.13 Độ ẩm trung bình năm và xu thế tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 23
Hình 1.14 Độ ẩm thấp nhất năm và xu thế tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 24
Hình 1.15 Tổng lượng bốc hơi năm và xu thế tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 24 Hình 1.16 Biểu đồ thể hiện chỉ số khô hạn trong giai đoạn 10 năm 2006-2015 26
Hình 1.17 Tình trạng khan hiếm nước xảy ra tại tỉnh Ninh Thuận 27
Hình 1.18 Tình trạng đất đai khô cằn do ảnh hưởng của hán hạn tác động đến sản xuất nông nghiệp 28
Hình 1.19 Nhiều hộ gia đình trên địa bàn tỉnh thiếu nước sinh hoạt 28
Hình 1.20 Chính quyền địa phương phải can thiệp tiếp nước sinh hoạt cho người dân trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận 29
Hình 1.21 Tình trạng thiếu nước gây ảnh hưởng đến trồng trọt 29
Hình 1.22 Hạn hán ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển chăn nuôi 30
Hình 1.23 Hạn hán thường xuyên gây nên tình trạng cháy rừng 31
Hình 1.24 Người dân oằn mình ra sức trồng trọt trong hạn 34
Hình 1.25 LLVT Quân khu tham gia chở nước phục vụ nhân dân vùng hạn hán tại Ninh Thuận 35
Trang 7MỞ ĐẦU
Hạn hán là thiên tai lớn thứ 3 sau lũ lụt và bão Nó gây ra những thiệt hại to lớn
về người, tiền của, kinh tế xã hội và môi trường Thiên tai này không có cách “phòng chống” mà chỉ có thể tránh và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra Hơn nữa, hiện tượng hạn hán đã ảnh hưởng đến rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các vùng khô hạn, bán khô hạn Ảnh hưởng của hạn ngày càng nghiêm trọng hơn: với tần suất và thời gian kéo dài đợt hạn tăng lên, mức độ hạn khắc nghiệt, phạm vi hạn cũng mở rộng hơn nên đã gây rất nhiều khó khăn cho người dân, nghiêm trọng nhất là tình trạng thiếu điện, thiếu nước trên diện rộng, gây ra tình trạng đói nghèo ở nhiều quốc gia, điển hình nhất là ở Châu Phi
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tình trạng hạn hán ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn do hiện tượng El Nino tăng lên làm cho lượng mưa ít hơn, thêm vào
đó là tác động chặt phá rừng, đốt nương làm rẫy…của con người dẫn đến hàng ngàn hecta hoa màu bị mất trắng, nhiều người dân sống trong cảnh đói nghèo
Khác với các vùng khác trên lãnh thổ Việt Nam, Ninh Thuận là vùng khí hậu khô nóng đặc trưng, đặc biệt Ninh Thuận được biết đến là vùng có nền khí hậu khô nóng bậc nhất cả nước Đây cũng là vùng mà môi trường sinh thái thường xuyên bị đe doạ, đất đai khô cằn, tình trạng hạn hán xảy ra thường xuyên, gây nhiều khó khăn cho
sự phát triển kinh tế và cuộc sống của nhân dân Cho nên, việc nghiên cứu tình trạng hạn hán đang diễn ra tại tỉnh Ninh Thuận có ý nghĩa hết sức quan trọng
Từ thực tế và trình độ kiến thức của bản thân, đề tài “Đánh giá thực trạng hạn hán ở Ninh Thuận”, với hi vọng trước hết năng cao hiểu biết về tình hình hạn hán đang diễn điển hình là Ninh Thuận, giúp cho bản thân cả nhân có cái nhìn tổng quan
và nắm rõ hơn về hiện tượng này, việc tìm hiểu về vấn đề này giúp cho bản thân áp dụng những điều đã học trên sách vở vận dụng để phân tích và đi sâu để làm rõ hơn về vấn đề đang được nghiên cứu, từ đó phân tích và đánh giá tình trạng hạn hán đang diễn
ra trong giai đoạn 10 năm 2006-2015, từ các số liệu thu thập được tại trạm Phan Rang
về các yếu tố nắng, mưa, nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, dựa trên các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, thu thập số liệu, kế thừa,… để có thể trình bày cũng như phân tích các yếu tố khí hậu từ đó nêu lên được tình trạng hạn hán tại tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn 10 năm 2006-2015
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, cấu trúc đồ án gồm ba chương:
Chương I Tổng quan: Khái quát về hiện tượng hạn hán, vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu
tại tỉnh Ninh Thuận
Chương II Phân tích hiện tượng hạn hán ở Ninh Thuận: Trình bày các yếu tố về khí
hậu ảnh hưởng đến Ninh Thuận, gây nên tình trạng hạn hán
Trang 8Chương III Đánh giá hiện tượng hạn hán dựa trên các yếu tố khí hậu tại tỉnh Ninh Thuận: Dựa vào các phân tích trong chương II, từ đó đánh giá lại tình trạng hạn hán
đang diễn ra tại tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn 10 năm 2006-2015
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 TỔNG QUAN VỀ HẠN HÁN
1.1.1 Khái niệm về hiện tượng hạn hán
Hạn hán là một hiện tượng thiên tai tự thiên, khi một khu vực phải trải qua tình trạng thiếu nước trong một thời gian dài nhều tháng, nhiều năm, làm giảm thiểu lượng
ẩm không trong không khí, hàm lượng nước trong đất, gây suy kiệt dòng chảy của sông suối…ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, suy thoái môi trường dẫn tới đói nghèo và dịch bệnh Ở những khu vực xảy ra hạn hán, lượng nước mưa luôn ở dưới mức trung bình, vì vậy nó sẽ tác động rất lớn đến hệ sinh thái và nông nghiệp của những khu vực đó, gây thiệt hại rất lớn đến hệ sinh thái và nông nghiệp của những khu vực đó, gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế ở đó
Tên gọi tiếng trung là “can hạn” hay “hạn” ( âm Hán-Việt) nghĩa là “khô hạn” hay “hạn” Như vậy thuật ngữ “hạn” tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán, nên nói “hạn” hay “hạn hán” đều như nhau
Hạn hán là một phần tự nhiên của khí hậu mặc dù nó vẫn bị nhầm lẫn là sự kiện hiếm và ngẫu nhiên Hiện tượng hạn hán có thể xảy ra ở hầu hết tất cả các vùng khí hậu, với các đặc tính của hạn biến đổi đáng kể từ vùng này sang vùng khác Hạn hán là một sự sai khác theo thời gian, rất khác với sự khô hạn Bởi khô hạn bị giới hạn trong những vùng lượng mưa thấp, nhiệt độ cao và là một đặc trưng lâu dài của khí hậu (Wilhite, 2000) So với các thảm họa tự nhiên như: xoáy, lũ lụt, động đất, sự phun trào núi lửa, và sóng thần có sự khởi đầu nhanh chóng, có ảnh hưởng trực tiếp và có cấu trúc, thì hạn hán lại ngược lại Hạn hán khác với các thảm họa tự nhiên khác theo các khía cạnh quan trọng sau (Wilhite, 2000):
- Không tồn tại một định nghĩa chung về hạn hán
- Hạn hán có sự khởi đầu chậm, là hiện tượng từ từ, dẫn đến khó có thể xác định được
- Phạm vi không gian của hạn hán thường lớn hơn nhiều so với các thảm họa khác, do
đó các ảnh hưởng của hạn thường trải dài trên nhiều vùng địa lý lớn
- Các tác động của hạn nhìn chung không theo cấu trúc và khó định lượng
Các tác động tích lũy lại và mức độ ảnh hưởng của hạn sẽ mở rộng khi các sự kiện hạn tiếp tục kéo dài từ mùa này sang mùa khác hoặc sang năm khác
Trang 10Mặt khác, hạn hán ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực kinh tế và xã hội nên các định nghĩa
về hạn sẽ được đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau: như các ngưỡng sử dụng, theo mục đích sử dụng, khu vực, địa phương…Hơn nữa, hạn xảy ra với tần suất thay đổi gần như ở tất cả các vùng trên toàn cầu, các tác động của hạn đến nhiều lĩnh vực cũng khác nhau theo không gian và thời gian Như vậy để có được một định nghĩa chung nhất về hạn hán thì rất khó
Theo Wilhite (2000), tác giả cho rằng mặc dù các nhân tố khí hậu (nhiệt độ cao, gió mạnh, độ ẩm tương đối thấp) thường gắn liền với hạn hán ở nhiều vùng trên thế giới và có thể làm nghiêm trọng thêm mức độ hạn, song lượng mưa vẫn là nhân tố ảnh hưởng chính gây ra hạn hán và tác giả cũng đã đưa ra một định nghĩa về hạn: “hạn hán là kết quả của sự thiếu hụt lượng mưa tự nhiên trong một thời kỳ dài, thường là một mùa hoặc lâu hơn” Chính vì vậy, hạn hán thường được gắn liền với các khoảng thời điểm (mùa hạn chính, sự khởi đầu muộn của mùa mưa, sự xuất hiện mưa trong mối liên hệ với các giai đoạn sinh trưởng chính của cây trồng) và đặc tính của mưa (cường độ mưa, các đợt mưa) Với các thời điểm hạn xuất hiện khác nhau sẽ dẫn đến các sự kiện hạn khác nhau về tác động, phạm vi ảnh hưởng cũng như các đặc tính khí hậu của hạn khác nhau
Theo tổ chức khí tượng Thế giới (WMO) hạn hán được phân ra bốn loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội
Hạn khí tượng (Meteorological Drought): thường là một biểu hiện về sư ̣chênh lệch (thiếu hụt ) lượng giáng thủy trong suốt một khoảng thơì gian nào đó Các ngưỡng
đã được chọn, (như 50% lượng mưa chuẩn của thời kì 6 tháng) sẽ biến đổi theo nhu cầu và ứng dụng của người sử dụng ở từng địa phương Những trị số đo khí tượng là những chỉ số đầu tiên của hạn hán
Hạn nông nghiệp (Agricultural Drought): Hạn nông nghiệp thường xảy ra ở nơi
độ ẩm đất không đáp ứng đủ nhu cầu của một cây trồng cụ thể ở thời gian nhất định và cũng ảnh hưởng đến vật nuôi và các hoạt động nông nghiệp khác Mối quan hệ giữa lượng mưa và lượng mưa thấm vào đất thường không được chỉ rõ Sự thẩm thấu lượng mưa vào trong đất sẽ phụ thuộc vào các điều kiện ẩm trước đó, độ dốc của đất, loại đất, cường độ của sự kiện mưa Các đặc tính của đất cũng biến đổi Ví dụ, một số loại đất có khả năng giữ nước tốt hơn, nên nó giữ cho các loại đất đó ít bị hạn hơn
Hạn thuỷ văn (Hydrological Drought): Hạn thủy văn liên quan đến sự thiếu hụt nguồn nước mặt và các nguồn nước mặt phụ Nó được lượng hóa bằng dòng chảy, tuyết, mực nước hồ, hồ chứa và nước ngầm Thường có sự trễ thời gian giữa sự thiếu hụt mưa, tuyết, hoặc ít nước trong dòng chảy, hồ, hồ chứa, làm cho các giá trị đo đạc của thủy văn không phải là chỉ số hạn sớm nhất Cũng giống như hạn nông nghiệp, hạn thủy văn không chỉ ra được mối quan hệ rõ ràng giữa lượng mưa và trạng thái cung cấp nước bề mặt trong các hồ, bể chứa, tầng ngập nước, dòng suối Bởi vì các thành phần của hệ thống thủy văn rất hữu ích cho những mục tiêu cạnh tranh và phức tạp, như sự tưới tiêu, tái tạo lại, ngành du lịch, kiểm soát lũ lụt, vận chuyển, sản xuất
Trang 11năng lượng thủy nhiệt điện, cung cấp nước trong nhà, bảo vệ các loài vật nguy hiểm và việc quản lý và bảo tồn môi trường và xã hội
Hạn kinh tế-xã hội khác hoàn toàn với các loại hạn khác Bởi nó phản ánh ánh mối quan hệ giữa sự cung cấp và nhu cầu hàng hóa kinh tế (ví dụ như cung cấp nước, thủy điện), nó phụ thuộc vào lượng mưa Sự cung cấp đó biến đổi hàng năm như là một hàm của lượng mưa và nước Nhu cầu nước cũng dao động và thường có xu thế dương do sự tăng dân số, sự phát triển của đất nước và các nhân tố khác nữaTheo tổ chức khí tượng Thế giới (WMO) hạn hán được phân ra bốn loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội
Các loại hạn có quan hệ mật thiết với nhau Sự thiếu hụt lượng mưa và bốc hơi cao có thể dẫn đến hạn khí tượng; sự thiếu hụt lượng ẩm trong đất dẫn đến hạn độ ẩm đất, không đủ độ ẩm cung cấp cho cây trồng, dẫn đến hạn nông nghiệp; tiếp đến do không có mưa hay mưa ít, kết hợp với lượng bốc hơi cao, lượng trữ nước trong lưu vực giảm, sự cung cấp nước cho nước ngầm bị giảm sút, làm cho dòng chảy sông suối cạn kiệt và do đó xảy ra hạn thuỷ văn
Hiện tượng hạn hán có tác động lớn đối với nông nghiệp Liên Hợp Quốc ước tính rằng một phần lớn diện tích đất đai màu mỡ của Ukraina bị mất mỗi năm vì ạn hán, phá rừng, và bất ổn khí hậu Hạn án kéo dài từ lâu là nguyên nhân chính cho việc
di cư hàng loạt và đóng một vai trò quan trọng trong lượng di cư hiện nay, cũng như các cuộc khủng hoảng nhân đạo khác đang diễn ra trong khu vực rừng châu Phi và Sahel
Ở Việt Nam, cụ thể là tại tỉnh Ninh thuận, hạn hán có tác động to lớn đến môi trường kinh tế, chính trị và sức khỏe con người Hạn hán là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, bệnh tật Hạn hán tác động đến môi trường như hủy hoại các loài thực vật, các loài động vật, quần cư hang dã, làm giảm chất lượng không khí, nước, làm cháy rừng, xói lở đất Các tác động này có tể kéo dài và không khôi phục được Tác động đến kinh tế, xã hội như giảm năng suất cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây lương thực Tăng chi phí sản xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nông nghiệp, tăng giá thành và giá cả các lương thực Giảm tổng giá trị sản phẩm chăn nuôi Các nhà máy thủy điện gặp nhiều khó khan trong quá trình vận hành
Ở Việt Nam, hạn hán xảy ra ở vùng này hay vùng khác với mức độ và thời gian khác nhau, gây ra những thiệt hại to lớn đối với kinh tế-xã hội, đặt biệt là nguồn nước
và sản xuất nông nghiệp
Nguyên nhân gây ra hạn hán có nhiều song tập trung chủ yếu là 2 nguyên nhân chính:
Nguyên nhân khách quan, do khí hậu thời tiết bất thường gây nên lượng mưa thường xuyên ít ỏi hoặc nhất thời thiếu hụt Mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể trong thời gian dài hầu như quanh năm, đây là tình trạng phổ biến trên các vùng khô hạn và bán khô hạn Lượng mưa trong khoảng thời gian dài đáng kể thấp hơn rõ rệt
Trang 12mức trung bình nhiều năm cũng kỳ Tình trạng này có thể xảy ra trên hầu khắp các vùng mưa nhiều, kể cả vùng mưa nhiều
Mưa không ít lắm, nhưng trong một thời gian nhất định trước đó không mưa hoặc mưa chỉ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của sản xuất và môi trường xung quanh Đây
là tình trạng phổ biến trên cá vùng khí hậu gió mùa, có sự khác biệt rõ rệt về mưa giữa mùa mưa và màu khô Bản chất và tác động của hạn hán gắn liền với định loại về hạn hán
Nguyên nhân chủ quan, chủ yếu do con người gây ra, cụ thể là tình trạng phá rừng bừa bãi làm mất nguồn nước ngầm dẫn đến cạn kiệt nguồn nước Việc trồng cây không phù hợp, vùng ít nước cũng trồng cây cần nhiều nước (như lúa) làm cho việc sử dụng nước quá nhiều, dẫn đến việc cạn kiệt nguồn nước Công tác quy hoạch sử dụng nước, bố trí công trình không phù hợp, làm cho nhiều công trình không phát huy được tác dụng…Vùng cần nhiều nước lại bố trí công trình nhỏ, còn vùng nhiều nước (nguồn nước tự nhiên) lại bố trí xây dựng công trình lớn…
1.1.2 Một số thành tựu nghiên cứu liên quan đến vấn đề hạn hán
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hạn hán Tuy vậy do mức độ phức tạp khó dự báo cảnh báo cũng như phát hiện thời điểm bắt đầu của hiện tượng hạn hán mà đến nay vẫn chưa thể có được một phương pháp nghiên cứu chung về hạn hán Với những nghiên cứu đánh giá hạn hán (việc xác định, nhận dạng, giám sát và cảnh báo hạn hán ), các nhà nghiên cứu thường xuyên áp dụng công cụ chính là các chỉ số về hạn hán Các chỉ số về hạn hán đều thể hiện những
ưu điểm nhược điểm khác nhau, và tùy vào mỗi khu vực, quốc gia đều sử dụng các chỉ
số phù hợp với điều kiện của khu vực, quốc gia mình Công tác nghiên cứu hạn hán áp dụng các chỉ số hạn không chỉ đơn thuần sử dụng bộ số liệu quan trắc mà còn sử dụng
bộ số liệu là sản phẩm của mô hình khí hậu khu vực và mô hình khí hậu toàn cầu Các công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề xác định hạn hán, cảnh báo, giám sát có thể
kể đến:
Những nghiên cứu đánh giá về hạn hán trên quy mô toàn cầu (Meshcherskaya
A V và cs, 1996; Dai và cs, 2004; Niko Wanders và cs, 2010), khu vực và địa phương (Benjamin Lloyd-Hughes và cs 2002; Hayes, 1999) Việc áp dụng các chỉ số hạn được xây dựng dựa trên số liệu mưa, nhiệt độ và độ ẩm quan trắc trong quá khứ cho thấy số đợt hạn, tần suất và mức độ hạn hán, cũng như thời gian kéo dài hạn ở một số khu vực
Trang 13Nhiều nghiên cứu về hạn hán cho thấy sự giảm lượng mưa mạnh cùng với sự tăng nhiệt độ đã làm tăng quá trình bốc hơi, gây ra hạn hán nghiêm trọng hơn (Loukas
A và Vasiliades L., 2004) Đi đôi với xu thế ấm lên trên toàn cầu thời kỳ (1980-2000), tần suất và xu thế hạn tăng lên và xảy ra nghiêm trọng hơn vào bất cứ mùa nào trong năm, điển hình như ở Cộng hòa Séc cứ khoảng 5 năm lại xảy ra đợt hạn hán nặng trong suốt mùa đông hoặc mùa hè, với mức độ nặng và tần suất lớn nhất vào tháng IV
và tháng VI (xảy ra trên toàn bộ lãnh thổ với tổng diện tích là 95%) (Potop và cs, 2008); hạn xảy ra vào các tháng mùa hè ở Hy Lạp ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoa màu và sự cung cấp nước trong thành phố (Loukas A và Vasiliades L., 2004); ở Cộng hòa Moldova, cứ 2 năm thì lại có một đợt hạn nặng vào mùa thu (Potop V và Soukup J., 2008)
Ở Việt Nam, những nghiên cứu về hạn hán cũng đã được tiến hành đến từng vùng khí hậu, tỉnh, địa phương Vào năm 1995, GS Nguyễn Trọng Hiệu đã nghiên cứu sự phân bố hạn hán và tác động của hạn hán ở các vùng khí hậu Việt Nam Các kết quả tính toán cho thấy, hạn mùa đông chủ yếu ở khu vực Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên, hạn mùa hè thịnh thành ở Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Hạn mùa đông tần suất cao hơn hạn mùa hè và tần suất hạn mùa đông có thể lên đến 100% ở một số nơi thuộc Tây Nguyên và Nam Bộ GS Nguyễn Trọng Hiệu và cs (2003) sử dụng các
số liệu lượng mưa và lượng bốc hơi của khoảng 160 trạm khí tượng bề mặt với thời gian quan trắc phổ biến (1961-2000) để nghiên cứu tính chất, mức độ hạn và phân vùng hạn ở Việt Nam Dựa trên các kết quả tính toán, tác giả đã chia hạn hán thành 5 loại: từ khô hạn đến ít khô hạn nhất và phân chia Việt Nam thành 8 vùng có mùa khô khác nhau: vùng Tây Bắc xảy ra hạn cả trong mùa đông và mùa xuân; vùng Đông Bắc xảy ra hạn trong mùa đông; vùng Đồng bằng Bắc bộ xảy ra hạn trong mùa đông; vùng Bắc Trung Bộ xảy ra hạn vào nửa cuối mùa đông; vùngNam Trung Bộ xảy ra hạn vào cuối mùa đông và kéo dài đến giữa mùa hè; vùng Cực Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên và vùng Nam Bộ xảy ra hạn nặng trong cả mùa đông và mùa xuân Tác giả đưa ra kết luận, hạn chỉ xảy ra vào các tháng mùa đông, mùa xuân, mùa hè và không có tình trạng hạn vào các tháng mùa thu
TS Mai Trọng Thông (2006) đánh giá mức độ khô hạn của vùng Đông Bắc và Đồng bằng Bắc bộ thời kỳ (1975-2004) và cho thấy kết quả tính toán khá phù hợp với điều kiện khí hậu thực tế ở hai khu vực này Cùng năm 2008, một số nghiên cứu khác
về hạn hán cũng thu được những kết quả đáng kể trong việc ứng dụng sản xuất nông nghiệp, quản lý nguồn nước (TS Nguyễn Văn Liêm, GS TS Lê Sâm và cs)
1.2 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU
Ninh Thuận thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ có hình thể giống như một hình bình hành, hai góc nhọn về phía tây bắc và đông nam với tọa độ địa lý từ
11018’14” đến 12009’15” vĩ độ Bắc, 108009’08” đến 109014’25” kinh độ Đông
Diện tích toàn tỉnh là 3.358km2 Tiếp giáp với các tỉnh như sau:
Trang 14- Phía Bắc giáp với tỉnh Khánh Hòa
- Phía Nam giáp với tỉnh Bình Thuận
- Phía Tây giáp với tỉnh Lâm Đồng
- Phía Đông giáp với biển Đông
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận (nguồn internet)
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 335,83 nghìn ha với dân số 595.960 người chiếm 1,01% (theo cục thống kê,2015) về diện tích và 0,62% về dân số của cả nước; đứng hàng thứ 41 về diện tích và thứ 40 về dân số trong 63 tỉnh, thành phố nước ta
Tỉnh Ninh Thuận được chia thành 7 đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh là thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, các huyện Bác Ái, Ninh Sơn, Ninh Hải, Ninh Phước, Thuận Bắc và Thuận Nam, toàn tỉnh có 65 xã, phường, thị trấn, cụ thể: 47 xã, 3 thị trấn và 15 phường Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh, cách thành phố Hồ Chí Minh 350 km, cách sân bay quốc tế Cam Ranh 60 km, cách thành phố Nha Trang 105 km và cách thành phố Đà Lạt 110 km, thuận tiện cho việc giao lưu phát triển kinh tế - xã hội
1.2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên
Ninh Thuận là vùng đất cuối của dãy Trường Sơn với nhiều dãy núi đâm ra biển đông, có địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam Lãnh thổ tỉnh được bao bởi 3 mặt núi với 3 dạng địa hình gồm núi, đồi gò bán sơn địa và đồng ven biển Trong đó,
Trang 15đồi núi chiếm 63,2% diện tích của tỉnh, chủ yếu là núi thấp, cao trung bình từ
200-1000 mét Vùng đồi gò bán sơn địa chiếm 14,4% và vùng đồng bằng ven biển chiếm 22,4% diện tích đất tự nhiên
Ninh Thuận có 3 cửa khẩu ra biển là Đông Hải, Cà Ná, Khánh Hải, có đường
bờ biển dài 105km với vùng lãnh hải rộng trên 18.000km2, có trên 500 loài cá, tôm
Do thuộc vùng có niệt độ cao, cường độ bức xạ lớn nên tỉnh Ninh Thuận có điều kiện
lý để sản xuất muối công nghiệp Khoáng sản nơi đây tương đối phong phú về chủng loại bao gồm nhóm khoáng sản kim loại có wolfram, molipden, thiếc gốc Nhóm khoáng sản phi kim loại có thạch anh thinh thể, cát thủy tinh, muối khoáng thạch anh Nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng có kết vôi, sét phụ gia, đá xây dựng
1.2.2 Khái quát về điều kiện khí hậu
1.2.2.1 Đặc điểm mây, nắng và nhiệt độ
Ở Ninh Thuận lượng mây tổng quan trung bình năm khoảng 7 phần bầu trời, thời
kỳ mùa mưa 7 - 8 phần, mùa khô 6 - 7 phần bầu trời Phân bố ở phía bắc nhiều hơn phía nam, vùng núi nhiều hơn ven biển Lượng mây biến đổi trong năm như sau, tháng 5 lượng mây bắt đầu tăng lên đạt cực đại vào tháng 10, sau đó giảm dần và đạt cực tiểu vào tháng 2 năm sau
Bảng 1.1 Lượng mây tổng quan trung bình tháng và năm
Nắng là một yếu tố khí tượng phụ thuộc vào bức xạ mặt trời và bị chi phối bởi lượng mây trên khu vực Khu vực tỉnh Ninh Thuận nằm sâu trong khu vực nội chí tuyến Bắc bán cầu với số giờ nắng trong năm thuộc loại cao nhất cả nước Tổng số giờ nắng trong năm rất cao đạt 2.500-3.100 giờ/năm Số giờ nắng trung bình ngày trong năm là 7,6 giờ Số giờ nắng trung bình mùa khô từ 8-10 giờ/ngày và trong mùa mưa 6-
7 giờ/ngày Từ tháng 1 đến tháng 8 là thời kỳ nhiều nắng và từ tháng 9 đến tháng 12 là thời kỳ ít nắng
Trang 16Hình 1.2 Số giờ nắng ngày trung bình tháng nhiều năm tại trạm Phan Rang
Ninh Thuận được thừa hưởng một chế độ Mặt Trời nhiệt đới mà tiêu biểu là hiện tượng hàng năm Mặt Trời đi qua thiên đỉnh 2 lần và độ cao Mặt Trời thay đổi không nhiều trong cả năm Độ cao Mặt Trời lúc giữa trưa thấp nhất xảy ra vào ngày 15/01, 15/6, 15/12 đều không dưới 530,cao nhất xảy ngày 15/4 và 15/10 đều trên 850
Tỉnh Ninh Thuận nằm trong khu vực nội chí tuyến nên độ dài ban ngày (từ lúc Mặt Trời mọc đến lúc Mặt Trời lặn), độ dài ban ngày biến đổi trong khoảng 11 - 13 giờ, thời gian ban ngày cũng khá dài và ít thay đổi trong năm, độ dài ban ngày dài nhất là tháng 6, ngắn nhất là tháng 1
Năng lượng bức xạ Mặt Trời tỉnh Ninh Thuận nhận được trong năm là khá dồi dào, đặc trưng của vùng vĩ độ thấp trong vành đai nhiệt đới Bức xạ tổng cộng từ 162 đến 165 kcal/cm2/năm; đạt cực đại vào khoảng tháng 3-5 (14,6-17,0 kcal/cm2/tháng), gắn liền với thời kỳ độ cao mặt trời lên cao, thời tiết ít mây, bầu trời trong sáng Cực tiểu xảy
ra vào tháng 12 đạt từ 9,4-9,8 kcal/cm2/tháng, đây là thời kỳ mùa mưa chính vụ ở Ninh Thuận, kết hợp với gió mùa Đông Bắc tràn về, thời tiết âm u, độ trong suốt khí quyển kém Chênh lệch giữa tháng có bức xạ tổng cộng lớn nhất và tháng nhỏ nhất không lớn từ 7,1 đến 7,2 kcal/cm2/tháng
Nhiệt độ trung bình 27,20C, cao nhất là 38,00C (tháng VI), thấp nhất 16,20C (tháng I ), chênh lệch nhiệt độ ngày đêm từ 8,5-90C
Trang 17Bảng 1.2 Thống kê nhiệt độ tháng trong giai đoạn 10 năm 2006-2015 tại trạm
Phan Rang (0C)
1.2.2.2 Đặc điểm mưa
Ninh Thuận có từ khí hậu nhiệt đới Xavan đến cận hoang mạc với đặc trưng khô nóng, gió nhiều, bốc hơi mạnh Chính vì vậy thời tiết Ninh Thuận phân hóa thành
2 mùa rõ rệt gồm mùa mưa và mùa khô Trong đó, mùa mưa bắt đầu từ tháng
9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến 8 năm sau Lượng mưa trung bình 700–
800 mm, độ ẩm trung bình hằng năm là 75%, cao nhất 83% (tháng 10), thấp nhất 71% (tháng 1-2) Nguồn nước phân bổ không đều, tập trung chủ yếu ở khu vực phía Bắc và trung tâm tỉnh Nguồn nước ngầm trong địa bàn tỉnh chỉ bằng 1/3 mức bình quân cả nước
1.2.2.3 Đặc điểm gió
Tỉnh Ninh Thuận nằm trong khu vực có chế độ gió theo hai hướng chính là Đông Bắc và Tây Nam với tốc độ trung bình năm dao động từ 2,8-3,6m/s Từ tháng 11 đến tháng 3 có tốc độ gió cao, đạt giá trị lớn nhất vào khoảng tháng 12, tháng 1 và 2 với tốc độ 5,0m/s Trong những tháng này, ngoài gió Đông-Bắc thổi về ban ngày, thường xuất hiện gió thung lũng về ban đêm theo hướng Tây Bắc Từ tháng 3 trở đi, về ban ngày gió Đông-Nam dần thay thế cho gió Đông Bắc, về ban đêm gió thung lũng vẫn chế ngự theo hướng Tây-Bắc Vận tốc gió thấp nhất trung bình đạt 2,0 m/s vào tháng
9
Đối với khu vực tỉnh Ninh Thuận thì thời gian tồn tại của gió mùa Đông Bắc là
từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Thời kỳ tiến triển của gió mùa Mùa Đông (từ tháng 10 đến giữa tháng 11) Thời kỳ thịnh hành gió mùa Mùa Đông (giữa tháng
12 đến tháng 01 năm sau) Thời kỳ suy yếu gió mùa mùa đông (tháng 2 đến tháng 3) Thời kỳ này hệ thống gió mùa Mùa Đông vẫn chiếm ưu thế, song tần suất những đợt gió mùa Đông Bắc giảm đi chỉ còn trên dưới 10% và ảnh hưởng đến Ninh Thuận ít hơn Tháng 2 ở Ninh Thuận hướng gió đông bắc vẫn thịnh hành, sang tháng 3, 4 thì hướng đông bắc đến đông Đây là thời kỳ thời tiết ổn định nhất trong năm
Gió mùa mùa hè đối với tỉnh Ninh Thuận với hướng gió thịnh hành tây nam và thường bắt đầu từ tháng 5, thịnh hành vào tháng 6 - 8 và suy yếu vào tháng 9 Người ta
Trang 18có thể chia gió mùa Tây Nam thành hai loại gió mùa Tây Nam chính thống và gió mùa Tây Nam không chính thống
Gió mùa Tây Nam hoạt động liên quan chặt chẽ đến quá trình bắt đầu xuất hiện mưa dông ở vùng núi phía tây của tỉnh Ninh Thuận Thời kỳ bắt đầu của gió mùa Tây Nam thường xuất hiện giữa tháng 5, năm sớm có thể xuất hiện vào cuối tháng 4 hoặc đầu tháng 5, năm muộn cũng chỉ có thể xảy ra vào nửa cuối tháng 5
Loại gió mùa Tây Nam không chính thống này thường xuất hiện đầu mùa hè vào cuối tháng 4, tháng 5 hoặc trong những thời kỳ gián đoạn gió mùa Tây Nam và vùng núi phía tây tỉnh Ninh Thuận Đây là loại gió tây nam khô nóng, không mưa và thường kèm theo dông khan vào chiều tối và phát triển mở rộng từ bắc xuống nam
Thời kỳ bắt đầu của gió mùa Tây Nam chính thống liên quan đến thời kỳ bắt đầu xuất hiện các cơn mưa dông vào chiều tối ở tỉnh Ninh Thuận Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng khu vực tỉnh Ninh Thuận và nam Biển Đông trong thời gian tháng 9 hoặc đầu tháng 10 có nhiều năm vẫn còn hoạt động của gió mùa Tây Nam đặc biệt trong thời kỳ có những nhiễu động nhiệt đới như bão, ATNĐ hoặc ITCZ hoạt động trên Biển Đông
Tháng 9, thời kỳ chuyển tiếp gió mùa Mùa Hè sang gió mùa Mùa Đông Tháng này được xem như tháng kết thúc của gió mùa Mùa Hè nhưng vẫn ảnh hưởng với tần suất trên dưới 20% Tỉnh Ninh Thuận với hướng gió tây nam vẫn thịnh hành Hệ thống gây ra mưa chủ yếu do những nhiễu động mạnh ở phía nam của rãnh thấp, nhiều năm còn kết hợp của gió mùa tây nam ở giai đoạn thoái trào
Trang 19CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG HẠN HÁN Ở NINH
THUẬN
2.1 PHÂN TÍCH HIỆN TƯỢNG HẠN HÁN Ở NINH THUẬN
2.1.1 Ảnh hưởng của ENSO
Ấm lên toàn cầu hay hâm nóng toàn cầu là hiện tượng nhiệt độ trung bình của không khí và các đại dương trên Trái Đất tăng lên theo các quan sát trong các thập
kỷ gần đây Trong thế kỉ 20, nhiệt độ trung bình của không khí gần mặt đất đã tăng 0,6
± 0,2°C (1,1 ± 0,4°F) Theo báo cáo của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA), nhiệt độ trung bình của Trái đất ở cuối thế kỉ 19 đã tăng +0,8°C và thế kỉ 20 tăng 0,6 ± 0,2°C Các dự án mô hình khí hậu của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) chỉ
ra rằng nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ có thể tăng 1,1 đến 6,4°C trong suốt thế kỷ 21 Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) nghiên cứu sự gia tăng nồng độ khí nhà kính sinh ra từ các hoạt động của con người như đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên kể từ giữa thế kỷ 20 IPCC cũng nghiên cứu
sự biến đổi các hiện tượng tự nhiên như bức xạ mặt trời và núi lửa gây ra phần lớn hiện tượng ấm lên từ giai đoạn tiền công nghiệp đến năm 1950 và có sự ảnh hưởng lạnh đi sau đó Các kết luận cơ bản đã được chứng thực bởi hơn 45 tổ chức khoa học
và viện hàn lâm khoa học, bao gồm tất cả các viện hàn lâm của các nước công nghiệp hàng đầu
Các dự án thiết lập mô hình khí hậu được tóm tắt trong báo cáo gần đây nhất của IPCC chỉ ra rằng nhiệt độ bề mặt Trái Đất sẽ có thể tăng 1,1 đến 6,4°C (2,0 đến 11,5°F) trong suốt thế kỷ 21 Các yếu tố không chắc chắn trong tính toán này tăng lên khi khi các mô hình sử dụng nồng độ các khí nhà kính có độ chính xác khác nhau và
sử dụng các thông số ước tính khác nhau về lượng phát thải khí nhà kính tương lai Các yếu tố không chắc chắn khác bao gồm sự ấm dần lên và các biến đổi liên quan sẽ khác nhau giữa các khu vực trên toàn thế giới Hầu hết các nghiên cứu tập trung trong giai đoạn đến năm 2100 Tuy nhiên, sự ấm dần lên sẽ tiếp tục diễn ra sau năm 2100 cả trong trường hợp ngừng phát thải khí nhà kính, đều này là do nhiệt dung riêng của đại dương lớn và carbon dioxide tồn tại lâu trong khí quyển
Nhiệt độ toàn cầu tăng sẽ làm mực nước biển dâng lên và làm biến đổi lượng giáng thủy,có thể bao gồm cả sự mở rộng của các sa mạc vùng cận nhiệt đới Hiện tượng ấm lên được dự đoán sẽ diễn ra mạnh nhất ở Bắc Cực
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu nói chung,các hiện tượng thời tiết và khí hậu không phải lúc nào cũng diễn ra bình thường, theo quy luật mà có những dị thường Enso là hiện tượng, mà bản chất thể hiện mói tương tác giữa khí quyển và đại dương miền vĩ độ thấp Thái Bình Dương Nằm trong khu vực Đông Nam Á, nơi thường bị ảnh hưởng mạnh của hiện tượng El Nino và La Nina nên thời tiêt, khí hậu Việt Nam, trong đó có khu vực của tỉnh Ninh Thuận cũng bị biến động mạnh khi xảy ra các hiện tượng này.Do ảnh hưởng của El Nino, nền nhiệt độ trên toàn quốc thời gian qua đã
Trang 20tăng cao, lượng mưa thiếu hụt Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng hạn hán
Số liệu dị thường nhiệt độ mặt nước biển, trong một số tài liệu còn được gọi là hiệu sai nhiệt độ mặt nước biển được cung cấp bởi NCEP đường dẫn http://www.cpc.noaa.gov/data/indices/sstoi.indeces, với chỉ số và ngưỡng đã nêu trên các đợt Enso được xác định và mô tả theo bảng 1.2 sau:
Trong tháng 5 đến tháng 6 gió mùa Tây Nam bắt đầu hoạt động ổn định, kèm với đó là hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới nâng trục lên phía bắc nên lượng mưa trong trong hai tháng này tăng lên rõ rệt phổ biến từ 55-115mm Sang đến tháng 7 và tháng 8 lượng mưa có giảm hơn chút so với hai tháng trước lượng mưa vùng đồng bằng ven biển đạt 47-80mm, vùng núi lượng mưa đạt từ 100-175mm
Từ trung tuần tháng 9 gió mùa Tây Nam hoạt động yếu dần thay vào đó là đới gió đông bắc hoạt động và xâm nhập xuống phía nam, kèm với đó là hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới có trục đi qua Nam Trung Bộ và Nam Bộ, mùa mưa ở Ninh Thuận chính thức bắt đầu Lượng mưa trung bình các tháng từ tháng 9 đến tháng 11 thường đạt từ 119-300mm Tháng 12 lượng mưa bắt đầu giảm dần các nơi chỉ còn phổ biến từ 46-143mm
Trang 21Khí hậu tỉnh Ninh Thuận được phân chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Lượng mưa tập trung chính trong bốn tháng mùa mưa với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm từ 430-940 mm, chiếm 52-71% tổng lượng mưa năm Với mùa khô tổng lượng mưa khoảng 200-550mm, chiếm 29-44% tổng lượng mưa năm; riêng vùng núi do ảnh hưởng của địa hình và gió mùa Tây Nam nên lượng mưa mùa khô tương đối cao đạt trên 600mm, chiếm trên 45% tổng lượng mưa năm
2.1.2.1.1 Lượng mưa tháng mùa khô,ít mưa (từ tháng 12-8 năm sau)
Hình 1.3 Chuẩn sai lượng mưa mùa khô tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015
Trong thời kỳ mùa khô (từ tháng 12-8 năm sau) tại tỉnh Ninh Thuận lượng mưa khá thấp Lượng mưa trung bình trong thời kỳ mùa khô này chỉ đạt gần 40 mm
Các tháng có tổng lượng mưa lớn rơi vào các tháng 6, 7, 8, nhưng các trận mưa này đều có cường độ rất thấp, không có khả năng gây ngập, số ngày có lượng mưa trên
40 mm rất ít
Lượng mưa trong tháng 9 và tháng 12, đây là hai tháng chuyển tiếp giữa mùa khô và mùa mưa Vào cuối tháng 9 hoặc đầu tháng 12 đều có thể có các cơn mưa lớn xảy ra, nhưng khả năng gây mưa trên diện rộng là rất nhỏ
Theo khảo sát lượng mưa tại tỉnh Ninh Thuận ngày càng có xu hướng giảm rõ rệt, tổng lượng mưa trung bình trong một năm trong thời kỳ mùa khô dao động từ 300-600mm nhưng ngày càng có xu hướng giảm đáng kể
Vào thời kỳ mùa khô trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận thường xảy ra tình trạng thiếu nước ảnh hưởng đến cây trồng và vật nuôi
Trang 222.1.2.1.2 Lượng mưa tháng mùa mưa (từ tháng 9-11)
Hình 1.4 Chuẩn sai lượng mưa mùa mưa tại trạm Phan Rang thời kì 2006-2015 Ninh Thuận là khu vực có lượng mưa thấp nhất cả nước, tình trạng hạn hán thường xuyên xảy ra Lượng mưa trong năm xảy ra rất ít rơi vào tháng 9-11 Lượng mưa lớn nhất tập trung chủ yếu vào tháng 11 trung bình 200 mm
Trong giai đoạn 10 năm từ năm 2006-2015, trong đó mùa mưa xảy ra nhiều trong năm 2010 tổng lượng mưa gần 1200 mm, tổng lượng mưa ngày càng giảm, thấy
rõ trong năm 2014 chiếm khoảng 200 mm
Hình 1.5 Phân bố lượng mưa mùa
khô (Nguồn internet)
Hình 1.6 Phân bố lượng mưa mùa mưa (Nguồn internet)