Hiện nay, trên địa bàn xã quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này đã gây áp lực mạnh tới việc sử dụng đất đai, chuyển đổi cơ cấu đất đai và cơ cấu lao
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai Khoa : Quản lý Tài nguyên Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Quản lý đất đai Lớp : K43B - QLĐĐ Khoa : Quản lý Tài nguyên Khóa học : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS Nguyễn Quang Thi
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3Thực tập tốt nghiệp là một khâu rất quan trọng trong quá trình học tập của mỗi sinh viên nhằm hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn, bước đầu làm quen với kiến thức khoa học Qua
đó sinh viên ra trường sẽ hoàn thiện hơn về kiến thức lí luận, phương pháp làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của công việc sau này
Được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu nhà trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên, em đã tiến hành
nghiên cứu đề tài:“Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”
Đến nay khóa luận tốt nghiệp đã hoàn thành, cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Nguyễn Quang Thi người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Quản lý Tài nguyên Cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường, cùng với toàn thể cán bộ UBND xã Yên Hân đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều song bản khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến đóng góp của bạn bè để bài khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái nguyên, ngày 20 tháng 05 năm 2015
Sinh Viên
Trần Thị Nhung
Trang 4Bảng 2.1 Các bước chính trong đánh giá đất theo FAO 14
Bảng 4.1: Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế xã qua các năm 31
Bảng 4.2: Hiện trạng đường trục xã 34
Bảng 4.3: Hiện trạng dân số và lao động năm 2014 37
Bảng 4.4: Tổng hợp hiện trạng dân số và lao động theo đơn vị thôn bản 38
Bảng 4.5: Hiện trạng sử dụng đất của xã Yên Hân năm 2014 40
Bảng 4.6 Hiện trạng sử dụng đất nông lâm nghiệp của xã Yên Hân 44
Bảng 4.7 Biến động đất nông lâm nghiệp của xã Yên Hân 46
Bảng 4.8 Các loại hình sử dụng đất chính của xã Yên Hân 47
Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng chính trên địa bàn xã Yên Hân năm 2014 48
Bảng 4.10 Mức đầu tư chi phí cho các loại cây trồng chính trên địa bàn xã Yên Hân (Tính trung bình cho 1ha) 52
Bảng4.11 Hiệu quả kinh tế của các loại cây trồng chính 53
Bảng 4.12 Các LUT sản xuất nông lâm nghiệp của xã Yên Hân 55
Bảng 4.13: Bảng phân cấp hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tính bình quân/1ha 56
Bảng 4.14 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất chính trên địa bàn xã Yên Hân ( tính cho 1ha) 57
Bảng 4.15 Hiệu quả xã hội của một số loại hình sử dụng đất 59
Bảng 4.16 Hiệu Quả môi trường của một số kiểu sử dụng đất 61
Trang 5Hình 4.1: Cơ cấu sử dụng đất 2013 của xã Yên Hân 46
Hình 4.2: Biểu đồ sự biến động đất nông nghiệp của xã Yên Hân 47
Hình 4.3 Cảnh quan LUT chuyên lúa ở xã Yên Hân 49
Hình 4.4 Cảnh quan LUT 2 lúa - 1 màu ở xã Yên Hân 50
Hình 4.5 Cảnh quan LUT 1 lúa - màu ở xã Yên Hân 50
Hình 4.6 Cảnh quan cây lâm nghiệp ở xã Yên Hân 51
Trang 6Csx Chi phí sản xuất
FAO Food and Agriculture Organization - Tổ chức
nông nghiệp và lương thực thế giới
Trang 7PHẦN 1.ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài 3
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 15
2.2 Những quan điểm về sử dụng đất nông lâm nghiệp bền vững 16
2.2.1 Quan điểm sử dụng đất nông lâm nghiệp bền vững trên thế giới 16 2.2.2 Quan điểm sử dụng đất bền vững ở Việt Nam 17
2.3 Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn 18
2.4 Quan điểm và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 19
2.4.1 Quan điểm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 19
2.4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất 20
2.5 Định hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp 22
PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 24
Trang 83.3.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Yên hân 25
3.3.2.Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Yên Hân năm 2014 25
3.3.3.Thực trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân 25
3.3.4.Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 25
3.3.5.Định hướng sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã.25 3.3.6.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp cho xã Yên Hân 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 24
3.4.2 Phương pháp tính hiệu quả các loại hình sử dụng đất 25
3.4.3 Phương pháp đánh giá tính bền vững 26
3.4.4 Phương pháp tính toán phân tích số liệu 26
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 27
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
4.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Yên hân năm 2014 40
4.2.1 Tình hình sử dụng đất của xã Yên Hân 40
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp xã Yên Hân 43
4.2.3 Các loại hình sử dụng đất của xã Yên Hân 47
4.3 Thực trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân 48
4.3.1 Loại hình sử dụng đất chuyên lúa 48
Trang 94.3.3 Loại hình sử dụng đất chuyên canh cây hàng năm 50
4.3.4.Loại hình sử dụng đất nương rẫy 50
4.3.5 Loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả 51
4.3.6 Loại hình sử dụng đất lâm nghiệp 51
4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 51
4.4.1 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 51
4.4.2 Hiệu quả xã hội 58
4.4.3 Hiệu quả Môi trường 60
4.5 Định hướng sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân 62
4.5.1 Những căn cứ để định hướng sử dụng đất 62
4.5.2 Quan điểm sử dụng đất nông lâm nghiệp 63
4.5.3 Định hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân 64
4.6 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp cho xã Yên Hân 65
4.6.1 Nhóm giải pháp về chính sách 65
4.6.2 Nhóm giải pháp khoa học kỹ thuật 66
4.6.3 Nhóm giải pháp thị trường 66
4.6.4 Nhóm giải pháp sản xuất nông lâm nghiệp 66
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Đề nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với con người và các sinh vật trên trái đất, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội an ninh và quốc phòng Vì vậy đất đai luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương Nông lâm nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó Trong những năm qua nền nông, lâm nghiệp nước
ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của đất nước Nông nghiệp cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát triển tương đối toàn diện Sản xuất nông nghiệp không những đảm bảo an toàn lương thực quốc gia mà còn mang lại nguồn thu cho kinh tế với việc tăng hàng hóa nông sản xuất khẩu.Tuy nhiên đất đai, đặc biệt là đất nông lâm nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông lâm nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế Do vậy, việc đánh giá tiềm năng đất đai để sử dụng hợp lý theo quan
Trang 11điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm Đối với một nước có nền kinh tế nông lâm nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết
Xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn là một xã miền núi, do đó địa hình của xã mang đặc trưng miền núi, bị chia cắt mạnh, có dộ dốc lớn.Xã Yên Hân là một xã thuần nông nên nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính Hiện nay, trên địa bàn xã quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này đã gây áp lực mạnh tới việc sử dụng đất đai, chuyển đổi cơ cấu đất đai và cơ cấu lao động đặc biệt là việc chuyển diện tích đất nông lâm nghiệp sang sử dụng vào các mục đích khác đòi hỏi xã Yên Hân phải phát huy được thế mạnh về tiềm năng đất đai cũng như lao động của mình Đồng thời để đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của tỉnh, Yên Hân cần phải có những định hướng lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện đặc biệt phải quan tâm đến vấn đề sản xuất nông lâm nghiệp Đánh giá tiềm năng đất đai để biết được quỹ đất và khả năng hiện có từ đó chỉ ra phương hướng sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là việc làm cần thiết
Từ những vấn đề thực tế nêu trên, được được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài nguyên– Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo Th.s Nguyễn Quang Thi, em tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá được thực trạng các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân
Trang 12- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã Yên Hân
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Số liệu tài liệu thu thập được phải đảm bảo khách quan, trung thực, chính xác
- Các nội dung nghiên cứu phải cụ thể, thực tế, phản ánh đúng thực trạng khu vực nghiên cứu và có thể sử dụng tốt cho việc định hướng sử dụng đất có hiệu quả tại địa phương
1.4 Ý nghĩa nghiên cứu đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức đã được học nghiên cứu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lư thông tin trong quá tŕnh làm đề tài
- Đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu học tập tốt cho các bạn sinh viên
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Đề tài hoàn thiện sẽ là tài liệu cụ thể mang tính định hướng quan trọng cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai tại địa phương nghiên cứu
- Đưa ra được các giải pháp cụ thể về sử dụng đất có hiệu quả tại địa phương nghiên cứu
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về đất đai và đất sản xuất nông nghiệp
V.V Docutraiep (1846-1903) người Nga là người đầu tiên đã xác định một cách khoa học về đất rằng: Đất là tầng ngoài của đá bị biến đổi một cách
tự nhiên dưới tác dụng tổng hợp của nhiều yếu tố Theo Đôcutraiep: Đất trên
bề mặt lục địa là một vật thể thiên nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp cực kỳ phức tạp của 5 yếu tố: sinh vật, đá mẹ, địa hình, khí hậu và thời gian Đất được xem như một thể sống, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển (Nguyễn Thế Đặng, 1999)[4]
V.R.Viliam (1863-1939) Viện sĩ thổ nhưỡng nông hóa Liên Xô (cũ) thì cho rằng đất là lớp tơi xốp của vỏ lục địa, có độ dày khác nhau, có thể sản xuất ra những sản phẩm của cây trồng Tiêu chuẩn cơ bản để phân biệt giữa "đá mẹ" và đất là độ phì nhiêu, nếu chưa có độ phì nhiêu, thực vật thượng đẳng chưa sống được thì chưa gọi là đất Độ phì nhiêu là khả năng của đất có thể cung cấp nước, thức ăn và đảm bảo các điều kiện khác để cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất Như vậy độ phì không phải chỉ là số lượng chất dinh dưỡng tổng số trong đất mà là khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nhiều hay ít Độ phì cao hay thấp là do các tính chất lý học, hóa học và sinh học của đất quyết định; ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện thiên nhiên và tác động của con người ( Đào Châu Thu, 1998) [14]
Độ phì là một chỉ tiêu rất tổng hợp, là sự phản ảnh tất cả các tính chất của đất
Như vậy, nguồn gốc của đất là từ các loại "đá mẹ" nằm trong thiên nhiên lâu đời bị phá hủy dần dần dưới tác dụng của yếu tố lý học, hóa học và
Trang 14sinh học, tạo ra độ phì nhiêu để cây trồng sinh trưởng phát triển và cho năng suất Đối với đất trồng trọt ngoài những yếu tố tự nhiên, thì yếu tố con người
có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đất
Các nhà kinh tế, thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng: “Đất đai
là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được”
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
2.1.1.2 Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
a) Khái niệm sử dụng đất
Sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người với đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất
Hiệu quả sử dụng đất bị chi phối bởi các điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế -
xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy có thể khái quát những điều kiện, nhân
tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất gồm 4 nội dung chính sau:
- Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên là tiền đề cơ bản nhất, là nền móng để phát triển và phân bố nông nghiệp Mỗi một loại cây trồng, vật nuôi chỉ có thể sinh trưởng
và phát triển trong những điều kiện tự nhiên nhất định nào đó, ngoài điều kiện
đó cây trồng và vật nuôi sẽ không thể tồn tại hoặc kém phát triển Các điều kiện tự nhiên quan trọng nhất là đất, nước và khí hậu Chúng quyết định khả năng nuôi trồng các loại cây, con cụ thể trên từng điều kiện đất, nước và khí hậu khác nhau, cũng như việc áp dụng các quy trình sản xuất nông nghiệp trong các điều kiện tự nhiên khác nhau, đồng thời có ảnh hưởng lớn đền năng suất cây trồng, vật nuôi
Trang 15Một trong những yếu tố hạn chế năng suất cây trồng chính là điều kiện
về độ phì của đất, điều kiện nước tưới, điều kiện khí hậu
- Nhóm các yếu tố kỹ thuật canh tác
Theo Frank Ellis và Douglass C.North, ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với tổ chức sử dụng đất Có nghĩa là sử dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh dựa trên việc sử dụng đất Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt
có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ( Đào Châu Thu, 1998 )[14]
- Nhóm các yếu tố kinh tế tổ chức
+ Công tác quy hoạch và bố trí sản xuất: Phát triển sản xuất hàng hoá
phải gắn với công tác quy hoạch và phân vùng sinh thái nông nghiệp Cơ sở
để tiến hành quy hoạch dựa vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc trưng cho từng vùng Việc phát triển sản xuất nông lâm nghiệp phải đánh giá, phân tích thị trường tiêu thụ và gắn với quy hoạch công nghiệp chế biến Đó sẽ là
cơ sở để phát triển sản xuất, khai thác các tiềm năng của đất đai, nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển sản xuất hàng hoá
+ Hình thức tổ chức sản xuất: Các hình thức tổ chức sản xuất ảnh hưởng
trực tiếp đến việc khai thác, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Vì vậy, cần phải thực hiện đa dạng hoá các hình thức hợp tác trong nông nghiệp, xác lập một hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh phù hợp và giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất, dịch vụ và tiêu thụ nông sản hàng hoá
+ Dịch vụ kỹ thuật: Sản xuất hàng hoá của hộ nông dân không thể tách
Trang 16rời những tiến bộ kỹ thuật và việc ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất Vì sản xuất nông nghiệp hàng hoá phát triển đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng nông sản và hạ giá thành nông sản phẩm
- Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
+ Nền kinh tế thị trường: Cung - cầu có tác dụng điều tiết đối với sự
hình thành và phát triển đối với các hàng hoá nông nghiệp, các nông hộ hoàn toàn tự do lựa chọn hàng hoá họ có khả năng sản xuất, đồng thời họ có xu hướng hợp tác, liên doanh, liên kết để sản xuất ra những nông sản hàng hoá
mà nhu cầu thị trường cần với chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng
+ Hệ thống chính sách, pháp luật về phát triển nông nghiệp, đất đai, có vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và sản xuất nông nghiệp, cách thức tổ chức, sắp xếp, cơ cấu sản xuất nông nghiệp Mỗi một sự thay đổi của chính sách, pháp luật thường tạo ra sự thay đổi lớn, sự thay đổi đó có thể thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển hoặc giới hạn, hạn chế một khuynh hướng phát triển nhằm mục đích can thiệp và phát triển theo định hướng của nhà nước
+ Sự ổn định chính trị - xã hội và các chính sách của Nhà nước: Ổn định chính trị là yếu tố then chốt để tạo nên sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước khác trong khu vực Đầu tư vào một nước có nền chính trị ổn định tạo tâm lý yên tâm về khả năng tìm kiếm lợi nhuận và thu hồi vốn, giúp các nhà đầu tư có thể tính toán chiến lược đầu tư lớn và dài hạn Vai trò của ổn định chính sách cũng tương tự như vậy, môi trường cởi mở và rõ ràng thu hút, hấp
dẫn các nhà đầu tư ngoại quốc
2.1.1.3 Một số khái niệm cơ bản về đánh giá đất
a Khái niệm về đánh giá đất
Đánh giá đất đai đã ra đời từ lâu, từ những cảm nhận đơn giản, chủ quan, cách thức phân nhóm đất thành các mức “tốt”, “xấu” đến những phân
Trang 17tích có cơ sở khoa học, Khoa học đánh giá đất đai ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của khoa học nông nghiệp và các lĩnh vực khoa học khác ( Nguyễn Thế Đặng, 1999) [4]
Như vậy đánh giá đất gắn liền với sự tồn tại của loài người và sự phát triển của khoa học công nghệ; gắn liền với việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai; và là cơ sở cho việc sử dụng đất bền vững
Một quốc gia hay một dân tộc sử dụng đất đai của họ như thế nào là tuỳ thuộc vào những nhân tố tổng hợp có quan hệ mật thiết với nhau bao gồm cả các đặc tính của đất, các yếu tố kinh tế - xã hội, hành chính và những hạn chế
về chính trị, cũng như nhu cầu về các mục tiêu của con người
Đánh giá đất đai là một bộ phận quan trọng của việc đánh giá tài nguyên thiên nhiên, được sử dụng trong nền kinh tế Quốc dân và cũng là một
bộ phận quan trọng của quá trình quy hoạch sử dụng đất, là cơ sở đề ra những quyết định sử dụng đất hợp lý (Nguyễn Thế Đặng, 1999) [4]
Sự phát triển ngày càng cao của khoa học kinh tế trong lĩnh vực đánh giá đất đai, nhu cầu sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển vững bền là cơ sở cốt yếu của nền nông nghiệp bền vững Hiện nay, công tác đánh giá đất đai được thực hiện trên nhiều quốc gia và trở thành một khâu trọng yếu trong các hoạt động đánh giá tài nguyên hay quy hoạch sử dụng đất Công tác đánh giá đất trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng ngoài thực tế sản xuất nông lâm nghiệp
b Tình hình nghiên cứu đánh giá đất trên thế giới
Tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể, mỗi quốc gia đã đề ra nội dung và phương pháp đánh giá đất của mình Có nhiều phương pháp khác nhau nhưng nhìn chung có hai khuynh hướng: Đánh giá đất theo điều kiện tự nhiên có xem xét tới những điều kiện kinh tế - xã hội và đánh giá kinh tế đất có xem xét tới những điều kiện tự nhiên Dù là phương pháp nào thì cũng phải lấy đất đai làm
Trang 18nền và loại sử dụng đất cụ thể để đánh giá, kết quả được thể hiện bằng các bản
đồ, báo cáo và các số liệu thống kê (Đào Châu Thu, 1998) [14]
- Liên xô cũ
Ở Liên Xô (cũ), đánh giá đất đai đã bắt đầu từ thế kỷ XIX, tuy nhiên đến những năm 60 của thế kỷ XX, việc phân hạng và đánh giá đất đai mới được nhà nước quan tâm và tiến hành trên cả nước Công tác nghiên cứu, đánh giá về đất và phân loại đất đã trở thành đối tượng khoa học và hình thành bộ môn khoa học từ những công trình nghiên cứu toàn diện của nhà bác học Nga V.V Docutraiep
Quan điểm đánh giá đất đai của Docutraiep áp dụng phương pháp cho điểm các yếu tố đánh giá trên cơ sở thang điểm đã được xây dựng thống nhất Dựa trên quan điểm khoa học của ông các thế hệ học trò đã bổ sung, hoàn thiện dần dần, do
đó phương pháp đánh giá đất của Docutraiep đã được thừa nhận và phổ biến ra nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước thuộc hệ thống XHCN cũ
Đánh giá đất đai theo Liên Xô cũ gồm 3 bước:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng (so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự nhiên)
+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai (yếu tố được xem xét kết hợp với khí hậu, độ ẩm, địa hình)
+ Đánh giá kinh tế đất (chủ yếu đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của đất đai)
- Đánh giá đất ở Mỹ
Năm 1951 Cục Cải tạo đất đai - Bộ Nông nghiệp Mỹ (USBR) đã xây dựng phương pháp phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irrigation land suitabitily classification) Việc phân loại bao gồm 6 lớp, từ lớp có thể trồng được (arable) đến lớp có thể trồng trọt được một cách giới hạn (limited arable) và lớp không thể trồng trọt được (non - arable) Trong hệ thống phân
Trang 19loại này ngoài đặc điểm đất đai một số chỉ tiêu về kinh tế định lượng cũng được xem xét có giới hạn ở phạm vi thủy lợi
Phương pháp này được sử dụng thành công ở Mỹ và sau đó được vận dụng ở nhiều nước Khái niệm chủ yếu nêu lên trong hệ thống phân loại tiềm năng đất đai là những khái niệm về hạn chế, đó là những tính chất đất đai gây trở ngại cho việc sử dụng đất
Ở Mỹ việc đánh giá đất đai được áp dụng rộng rãi theo 2 phương pháp: + Phương pháp đánh giá đất tổng hợp: Lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn và chú ý đi sâu vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng Phương pháp này chia lãnh thổ thành các tổ hợp đất (đơn vị đất đai) và tiến hành đánh giá đất đai theo năng suất bình quân của cây trồng trong nhiều năm (thường là lớn hơn 10 năm) và chú ý đánh giá cho từng loại cây trồng (thường chọn lúa mì làm đối tượng chính) Qua đó các nhà nông học xác định các mối tương quan giữa đất và các giống lúa mì để đề ra các biện pháp tăng năng suất
+ Phương pháp đánh giá đất theo từng yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% để làm mốc so sánh lợi nhuận ở các loại đất khác nhau
Ngoài ra, ở nhiều nước châu Âu khác, đều thực hiện phổ biến theo cả 2 hướng: nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác định tiềm năng của đất (phân hạng định tính) và nghiên cứu các yếu tố kinh tế, xã hội nhằm xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (phân hạng định lượng) Thông thường là áp dụng phương pháp so sánh tính bằng điểm hoặc %
- Đánh giá đất ở Canađa
Canada đánh giá đất theo các tính chất tự nhiên của đất và năng suất ngũ cốc nhiều năm Trong nhóm cây ngũ cốc lấy cây lúa mì làm tiêu chuẩn và khi có nhiều loại cây thì dùng hệ số quy đổi ra lúa mì Trong đánh giá đất đai các chỉ
Trang 20tiêu thường được lưu ý là thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ muối độc trong đất, xói mòn và đá lẫn
- Đánh giá đất ở ấn Độ và vùng nóng ẩm Bắc phi
Thường áp dụng phương pháp tham biến, có tính đến sự phụ thuộc của một
số tính chất đất đai với sức sản xuất Các tác giả đi sâu phân tích về các đặc trưng thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến sức sản xuất như sự phân tầng, cấu trúc của đất, màu sắc đất, độ chua, độ no bazơ, hàm lượng mùn v.v Các đặc tính, các mối quan
hệ của các yếu tố được thể hiện dưới dạng phương trình toán học Kết quả phân hạng đánh giá đất được thể hiện dưới dạng % hoặc cho điểm
- Phương pháp đánh giá đất theo FAO
Thấy rõ vai trò quan trọng của đánh giá đất làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất, tổ chức Nông - Lương của Liên Hợp Quốc (FAO) cùng với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành đã tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước xây dựng nên bản đề cương đánh giá đất đai (FAO, 1976) Tài liệu này đã được cả thế giới quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp
Tài liệu này đã đưa ra hàng loạt các khái niệm dùng trong đánh giá đất đai như chất lượng đất đai, đơn vị đất đai và bản đồ đơn vị đất đai, loại hình
sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất
Tiếp đó, luận văn này được bổ sung , chỉnh sửa cùng với hàng loạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá đất đai chi tiết cho các vùng sản xuất khác nhau như: đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nước trời (Land evaluation for rainfed agriculture), đánh giá đất cho nền nông nghiệp có tưới (Land evaluation irigated agriculture), đánh giá đất đai cho trồng trọt đồng cỏ quảng canh (Land evaluation for extensive grazing), đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (Land evaluation for development), đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho việc quy hoạch sử dụng đất (Land evaluation and farming
Trang 21system analysis for land use planning) Đề cương đánh giá đất đai của FAO mang tính khái quát toàn bộ những nguyên tắc và nội dung cũng như các bước tiến hành quy trình đánh giá đất đai cùng với những gợi ý và ví dụ minh họa giúp cho các nhà khoa học đất ở các nước khác nhau tham khảo Tùy theo điều kiện sinh thái đất đai và sản xuất của từng nước để vận dụng những tài liệu của FAO cho phù hợp và có kết quả tại nước mình
Phương pháp đánh giá đất của FAO đã “dung hòa” các phương pháp đánh giá đất đai trên thế giới, lựa chọn và phát huy được ưu điểm của các phương pháp đánh giá đất đai khác nhau FAO đã đề ra phương pháp đánh giá đất đai dựa trên cơ sở phân loại đất thích hợp “Land suitability classification”
Cơ sở của phương pháp này là sự so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội và môi trường để lựa chọn phương án sử Phương pháp đánh giá đất đai theo quan điểm thích hợp của FAO là cơ sở cho dụng tối ưu Việc quy hoạch sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng và công nhận Đánh giá đất đai là một bước quan trọng trong công tác quy hoạch sử dụng đất cho một vùng lãnh thổ Đề cương đánh giá đất của FAO đã nêu ra các nguyên tắc như sau:
- Mức độ thích hợp của đất đai được đánh giá phân hạng cho các loại
sử dụng đất cụ thể
- Việc đánh giá khả năng thích hợp đất đai yêu cầu có sự so sánh giữa lợi nhuận thu được (bao gồm cả năng suất, lợi ích) với đầu tư (chi phí cần thiết) trên các loại đất khác nhau
- Đánh giá đất đai đòi hỏi một phương pháp tổng hợp đa ngành yêu cầu
có một quan điểm tổng hợp, có sự tham gia đầy đủ của các nhà nông học, lâm nghiệp, kinh tế, xã hội học v.v
- Việc đánh giá đất phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
Trang 22hội, các loại hình sử dụng đất được lựa chọn phải phù hợp với mục tiêu phát triển, bối cảnh và đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu
- Khả năng thích hợp đưa vào sử dụng cần đặt trên cơ sở sử dụng đất bền vững.- Đánh giá đất cần phải so sánh các loại hình sử dụng đất được lựa chọn (so sánh hai hay nhiều loại sử dụng đất) Mục đích của đánh giá đất theo FAO
là nhằm tăng cường nhận thức, hiểu biết về phương pháp đánh giá đất đai trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm tăng cường lương thực cho một số nước trên thế giới và giữ gìn nguồn tài nguyên đất đai không
bị thoái hóa, sử dụng đất được lâu bền
* Yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO
Yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO là gắn liền đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quá trình quy hoạch
sử dụng đất Vì vậy yêu cầu cần phải đạt được là:
- Thu thập được những thông tin phù hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của khu vực nghiên cứu
- Đánh giá được sự thích hợp của vùng đất đó với các mục tiêu sử dụng khác nhau và theo nhu cầu của con người
- Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm
vi quy hoạch toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất
- Mức độ thực hiện đánh giá đất đai phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ
* Nội dung chính của đánh giá đất đai theo FAO
- Xác định các chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Trang 23Bảng 2.1 Các bước chính trong đánh giá đất theo FAO
sử dụng đất
Xác định đơn vị đất đai
Đánh giá khả năng thích hợp
Xác định hiện trạng kinh tế –
xã hội và môi trường
Xác định loại hình
sử dụng đất thích hợp nhất
Quy hoạch
sử dụng đất
Áp dụng của việc đánh giá đất
(Nguồn: Nguyễn Ngọc Nông, Nông Thu Huyền, 2009) [11]
c Tình hình nghiên cứu đánh giá ở Việt Nam
Sử dụng đất ở Việt Nam là cả một quá trình bốn nghìn năm lịch sử nhưng công tác điều tra, nghiên cứu mới phát triển sau này Sự tìm hiểu đất đai để phát triển ấp, trại trong chế độ phong kiến được tiếp bước bằng các cuộc điều tra, nghiên cứu có kiến thức hơn trong thời kỳ Pháp thuộc Năm
1954 hòa bình lập lại, ở miền bắc Vụ Quản lý ruộng đất và Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, sau đó là Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã nghiên cứu phân hạng đất vùng sản xuất nông nghiệp (áp dụng phương pháp đánh giá đất đai của Docutraev) Dựa vào các chỉ tiêu chính về điều kiện sinh thái và tính chất đất của từng vùng sản xuất nông nghiệp, đất được chia thành 5 - 7 hạng theo phương pháp tính điểm Nhiều tỉnh đã xây dựng được các bản đồ phân hạng đất đai đến cấp xã, góp phần đáng kể cho công tác quản lý đất đai trong giai đoạn kế hoạch hóa sản xuất
Từ năm 1990 đến nay, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư (Phan
Sĩ Mẫn, 2001) [15]
Trang 24Quy trình đánh giá đất của FAO được vận dụng trong đánh giá đất đai
ở Việt Nam từ các địa phương đến các vùng, miền của toàn quốc Những công trình nghiên cứu triển khai sâu rộng ở một số vùng sinh thái lớn có đóng góp của rất nhiều nhà nghiên cứu
Có thể khẳng định rằng: nội dung và phương pháp đánh giá đất cuả FAO đã được vận dụng có kết quả ở Việt Nam, phục vụ hiệu quả cho chương trình quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới cũng như trong các dự án quy hoạch sử dụng đất ở các địa phương Các cơ quan nghiên cứu đất ở Việt Nam đang và sẽ tiếp tục nghiên cứu, vận dụng các phương pháp đánh giá đất của FAO vào các vùng sản xuất nông lâm nghiệp khác nhau phù hợp với điều kiện sinh thái, cấp tỷ lệ bản đồ, đặc biệt với các điều kiện kinh tế - xã hội, để nhanh chóng hoàn thiện các quy trình đánh giá đất và phân hạng thích hợp đất đai cho Việt Nam (Đỗ Nguyên Hải,1999) [9]
2.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Đất là tư liệu sản xuất cần thiết và không thể thiếu đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Đối với nông nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như: Cày, bừa, xới, xáo ) và công cụ lao động hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt hay chăn nuôi ) Quá trình sản xuất luôn có mỗi quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất
Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3 – 5 tỷ ha Nhân loại đang làm hư hại đất nông nghiệp khoảng 1,4 tỷ ha và hiện nay có khoảng 6 – 7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang do xói mòn và thoái hóa Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp, con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp
Trang 25Để nắm vững số lượng và chất lượng đất đai cần phải điều tra thành lập bản
đồ đất, đánh giá phân hạng đất, điều tra hiện trạng, quy hoạch sử dụng đất hợp lý
là điều rất quan trọng mà các quốc gia đặc biệt quan tâm nhằm ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn về sử dụng đất và quản lý đất đai sao cho nguồn tài nguyên này được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì sản xuất trong tương lai
Phát triển nông lâm nghiệp bền vững có tính chất quyết định trong sự phát triển chung của toàn xã hội Điều cơ bản nhất của phát triển nông lâm nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp xúc đúng đắn về môi trường để giữ gìn tài nguyên cho thế hệ sau này
2.2 Những quan điểm về sử dụng đất nông lâm nghiệp bền vững
2.2.1 Quan điểm sử dụng đất nông lâm nghiệp bền vững trên thế giới
Để đáp ứng nhu cầu về lương thực của con người nên quá trình khai thác đất đai ngày càng tăng, làm cho độ phì nhiêu của đất ngày càng giảm và cuối cùng đã dẫn đến hiện tượng thoái hoá đất Tổng diện tích đất bị thoái hoá của châu Á là 452 triệu ha, chiếm 37,2% tổng diện tích đất bị thoái hoá trên toàn thế giới Tổng diện tích đất bị thoái hoá ở Châu Phi là 321 triệu ha, chiếm 26,4% tổng diện tích đất bị thoái hoá trên toàn thế giới (Lê Văn Khoa, 2005) [15]
Ngày nay những vùng đất đai màu mỡ đã giảm sức sản xuất một cách
rõ rệt và có nguy cơ thoái hoá nghiêm trọng, không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường Trước những biểu hiện trên, nhằm đảm bảo cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không chỉ duy trì những khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất (Đường Hồng Dật, 1994) [3]
Trang 26Trước những thách thức mà con người cần phải đối mặt với một tình trạng thoái thoá đất hiện nay thì tại hội thảo năm 1991 ở Nairobi đã đề ra 5 nguyên tắc chính là nền tảng cho việc sử dụng đất bền vững:
- Duy trì và nâng cao sản lượng
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất
- Bảo vệ tiềm năng tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hoá đất
- Đất có khả năng sử dụng lâu bền
- Được xã hội chấp nhận
Năm nguyên tắc xác định trên được coi như năm trụ cột quản lý đất đai bền vững và các chỉ tiêu thực hiện của mỗi nguyên tắc được người ta sử dụng
để đánh giá sự đóng góp của trụ cột đó” (Đào Châu Thu, 1998) [14]
2.2.2 Quan điểm sử dụng đất bền vững ở Việt Nam
FAO đã đưa ra được những chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:
- Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản cho thế hệ về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác
- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống tốt cho những người trực tiếp làm nông nghiệp
- Duy trì và có thể tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên thiên, khả năng tái sản suất của các tài nguyên tái tạo được không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở và cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hóa – xã hội của cộng đồng sống ở nông thôn hoặc không gây ô nhiễm môi trường
- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin cho nông dân
Những nguyên tắc được coi là trụ cột trong sử dụng đất bền vững và là
Trang 27những mục tiêu cần đạt được:
- Duy trì, nâng cao sản lượng
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất
- Có hiệu quả lâu dài
Ba yêu cầu trên là để xem xét và đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất
ở thời điểm hiện tại, thông qua đó để có những định hướng phát triển nông
lâm nghiệp ở từng vùng
2.3 Tình hình sử dụng đất nông lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn
Tỉnh Bắc Kạn thuộc vùng miền núi phía Bắc với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 485.941ha, chiếm 1,47% diện tích của cả nước Với 485.941 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 413.713 ha (chiếm 85,14% tổng diện tích tự nhiên), diện tích đất lâm nghiệp là 378.7ha, diện tích đất chuyên dùng là 12.633ha (chiếm 2,6% tổng diện tích tự nhiên), diện tích đất ở là 3.344ha (chiếm 10,45%) Là một tỉnh chủ yếu sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất nên thu nhập của người dâncòn thấp Trong những năm gần đây với tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh đã làm
Trang 28cho diện tích đất nông lâm nghiệp của toàn tỉnh ngày càng thu hẹp Vì vậy, việc đánh giá khả năng sử dụng của đất đai nhằm đưa ra biện pháp và phương hướng sử dụng đất đai hợp lý, hiệu quả là rất cần thiết Diện tích đất chưa sử dụng còn rất lớn, do đó cần có những biện pháp thích hợp khai thác phần diện tích này Cần khuyến khích người dân thâm canh, luân canh tăng vụ, tăng hệ
số sử dụng đất nhằm dần dần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
2.4 Quan điểm và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
2.4.1 Quan điểm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất là sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm bảo phát triển một nền nông lâm nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các nước trên thế giới
Bản chất của hiệu quả là sự thể hiện yêu cầu tiết kiệm thời gian, trình
độ sử dụng nguồn lực xã hội C.Mác cho rằng: “Quy luật tiết kiệm thời gian là quy luật có tầm quan trọng đặc biệt tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất Mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật đó, nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh xã hội
và nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại” (Các Mác, 1930) [12]
- Sử dụng đất phải gắn liền với định hướng phát triển kinh tế - xã hội nông thôn mới của địa phương Sử dụng đất phải đảm bảo khai thác tối đa lợi thế
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở quy hoạch và lập kế hoạch
sử dụng đất “Quản lý đất đai thông qua quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất đai vừa đảm bảo tính thống nhất của quản lý nhà nước về đất đai vừa tạo điều kiện để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc sử dụng đất” (Lương Văn Hinh, 2003) [3]
- Khai thác sử dụng đất phải đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường và tiến tới sự ổn định bền vững lâu dài
Trang 29- Khai thác sử dụng đất phải gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông lâm nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo ưu tiên trước hết cho mục đích an toàn lương thực của các hộ gia đình của địa phương
- Khai thác sử dụng đất phải dựa trên cơ sở kinh tế hộ, nông trại phù hợp với trình độ dân trí, phong tục tập quán nhằm phát huy kiến thức bản địa
lỗ lực của địa phương
- Khai thác sử dụng đất phải đảm bảo ổn định về xã hội - an ninh - quốc phòng
2.4.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất người ta thường đánh giá trên ba mặt: hiệu quả về mặt kinh tế, hiệu quả về mặt xã hội và hiệu quả về mặt môi trường
* Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào
Hiệu quả được hiểu như một hiệu số giữa kết quả và chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép trừ hoặc phép trừ
đó không có ý nghĩa Như vậy có thể nói một cách dễ hiểu hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp với mong muốn và không lãng phí
Tóm lại, hiệu quả kinh tế là điều mà người sản xuất mong muốn đạt được ở mức cao Muốn vậy thì mức chi phí bỏ ra cũng phải nhất định; những chi phí đó là nhân lực, vật lực, vốn, So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ
ra để đạt được kết quả đó sẽ có hiệu quả kinh tế Tiêu chuẩn của hiệu quả là
sự tối đa hóa kết quả và một lượng chi phí định
Trang 30Các nhà sản xuất và quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng các hoạt động kinh tế nhằm đạt mục tiêu có một khối lượng sản phẩm lớn nhất từ một lượng chi phí tài nguyên nhất định
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả về mặt xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người Các chỉ tiêu phản ánh về mặt xã hội như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hộ, nâng cao mức sống toàn dân
Trong sử dụng đất nông lâm nghiệp hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông lâm nghiệp, thu nhập bình quân trên đầu người và bình quân diện tích trên đầu người
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hóa học, sinh học, vật lý, Chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: Hiệu quả hóa học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường, hiệu quả sinh vật môi trường
- Hiệu quả hóa học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hóa học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Được đánh giá trong thông qua mức độ hóa học trong nông nghiệp như việc
sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao
- Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến Thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt tài nguyên khí hậu như: ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa, của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào
Trang 31- Hiệu quả sinh học môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do phát sinh biến hóa của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả
ba hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội
và môi trường Ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền vững
2.5 Định hướng sử dụng đất nông lâm nghiệp
Định hướng sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp là xác định phương hướng
sử dụng đất nông lâm nghiệp theo điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, điều kiện vật chất xã hội, thị trường…đặc biệt mục tiêu chủ trương, chính sách của nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường Nói cách khác, định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là việc xác định một cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp trong đó cơ cấu cây trồng, cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng Trên cơ
sở nghiên cứu hệ thống cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường
để định hướng sử dụng đất phù hợp với điều kiện vùng
Trang 32- Điều kiện sử dụng đất, cải tạo đất bằng các biện pháp thủy lợi, phân bón và các tiến bộ khoa học kỹ thuật về canh tác
- Mục tiêu phát triển của vùng nghiên cứu trong những năm kế tiếp
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Người sử dụng đất, các loại hình sử dụng đất trên địa bàn xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các loại hình sử dụng đất nông lâm nghiệp trên
địa bàn xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
- Địa điểm: xã Yên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Thời gian tiến hành: Từ 20/01/2015 đến 20/05/2015
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Yên hân
3.3.2.Hiện trạng sử dụng đất đai của xã Yên Hân năm 2014
3.3.3.Thực trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp trênđịa bàn xã Yên Hân
3.3.4.Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn xãYên Hân, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
3.3.5.Định hướng sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn xã 3.3.6.Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông lâm nghiệp cho xã Yên Hân
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
3.4.1.1 Điều tra thu thập số liệu thứ cấp
Trang 34Thu thập thông tin, số liệu về hiện trạng sử dụng ðất nông lâm nghiệp và các loại hình sử dụng ðất nông lâm nghiệp trên ðịa bàn xã Yên Hân từ các phòng ban chuyên môn của huyện Chợ Mới, UBND xã Yên Hân
3.4.1.2 Điều tra thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Thông qua việc đi thực tế quan sát, phỏng vấn người dân địa phương để thu thập số liệu điều tra hiện trạng sử dụng đất, thu thập thông tin liên quan đến đời sống và tình hình sản xuất nông lâm nghiệp
Điều tra 50 hộ gia đình với phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên Nội dung phỏng vấn bao gồm các câu hỏi về: Chi phí sản xuất, phân bón, lao động, năng xuất cây trồng, loại cây trồng bằng hệ thống các câu hỏi đóng từ những câu trả lời có hoặc không, và câu hỏi mở nhằm gợi ý vấn đề thu thập được
nhiều thông tin chính xác khách quan ( Chi tiết phiếu điều tra tại phụ lục 01)
3.4.2 Phương pháp tính hiệu quả các loại hình sử dụng đất
3.4.2.1 Hiệu quả về kinh tế
- Tổng giá trị sản phẩm: (T) : T= p1.q1 + p2.q2 +…+pn.qn
Trong đó:
+ q: khối lượng của từng loại sản phẩm được sản xuât/ha/năm
+ p: Là giá của từng loại sản phẩm trên thị trường cùng một thời điểm + T: Là tổng giá trị sản phẩm của 1ha đất canh tác/ năm
Giá trị sản xuất ( GO):GO = Sản lýợng ×giá bán
- Thu nhập thuần (N): N = T - Csx
Trong đó:
+ N: là thu nhập thuần túy của 1ha đất canh tác/ năm
+ Csx: Là chi phí sản xuất cho 1ha đất canh tác/ năm
- Hiệu quả đồng vốn (H): H = N/ Csx
Trang 353.4.3.2 Hiệu quả về xã hội
- Đánh giá dựa trên các tiêu chí:
- Đảm bảo lương thực, đáp ứng nhu cầu nông hộ
- Thu hút lao động
- Yêu cầu vốn đầu tư
- Sản phẩm đáp ứng nhu cầu hàng hóa
- Giảm tỷ lệ hộ đói nghèo
- Thu nhập bình quân/lao động nông nghiệp
- Giá trị ngày công lao động nông nghiệp
3.4.3.3 Hiệu quả môi trường
- Độ che phủ của các loại hình sử dụng đất
- Khả năng bảo vệ, cải tạo đất
- Ý thức của người dân trong việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
3.4.4 Phương pháp tính toán phân tích số liệu
- Số liệu được kiểm tra, xử lý, tính toán trên máy tính bằng phần mềm microsoft office excel
Trang 36PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Yên Hân,huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí, địa lý
Xã Yên Hân nằm cách trung tâm huyện Chợ Mới 25 km về phía Đông , cách thị xã Bắc Kạn 70 km về phía Nam và giáp với các xã như sau:
- Bắc giáp: Xã Nông Hạ, Yên Cư huyện Chợ Mới
- Nam giáp:Xã Bình Văn và tỉnh Thái Nguyên
- Đông giáp: Xã Yên Cư và tỉnh Thái Nguyên
- Tây giáp: Xã Nông Hạ và xã Bình Văn
Phạm vi nghiên cứu lập quy hoạch là toàn bộ địa giới hành chính xã Yên Hân, huyện Chợ Mới
4.1.1.2.Ðịa hình, ðịa mạo
Tổng diện tích ðất tự nhiên của xã là 2.658,26 ha, ðịa hình phức tạp, ðộ dốc trung bình từ 15 ðến 400
Ðịa hình xã Yên Hân ðýợc chia thành 2 vùng rõ rệt với ðộ cao trung bình khoảng 800m, phía Tây Bắc và Tây Nam là những dãy núi cao xế tầng chiếm 2/3 tổng diện tích tự nhiên toàn xã , khu vực trung tâm là những cánh ðồng lúa, bãi màu chạy dài từ Bắc xuống Nam
Với địa hình địa mạo như vậy ảnh hượng rất lớn đến quá trình sử dụng đất đai Đất nông nghiệp thường hay bị khô hạn vào đầu vụ xuân và vụ đông, có đến 2/3 diện tích đất trồng lúa thường bị ngập úng vào vụ đông xuân Do đó cần tập trung nâng cao hệ số sử dụng đất, đầu tư phân bón, thuốc trừ sâu và chuyển dịch cơ cấu cây trồng cho phù hợp nhằm mang lại hiệu quả cho người dân
Trang 37Theo kết quả khảo sát ðịa hình, ðịa chất một số công trình trên ðịa bàn
xã một số hang ðộng Caster và các dòng chảy ngầm, gây khó khãn cho việc khảo sát xây dựng các công trình kiến trúc nặng và nhiều tầng Do vậy cần có các biện pháp khảo sát thãm dò thực tế trýớc khi xây dựng các công trình
4.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu xã Yên Hân mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình trong năm 21° C Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6,7 và tháng 8 (27 - 27,5° C), các tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (14 - 14,5° C) Tổng tích nhiệt bình quân năm là 7.850°
C Mặc dù nhiệt độ còn phân hoá theo độ cao và hướng núi, nhưng không đáng kể
Ngoài chênh lệch về nhiệt độ theo các mùa trong năm, khí hậu xã Yên Hân còn có những đặc trưng khác như sương mù, sương muối Một năm bình quân có khoảng 87 - 88 ngày sương mù vào các tháng 10, 11 số ngày sương mù thường cao hơn Đôi khi có sương muối, mưa đá nhưng không nhiều, bình quân mỗi năm
có 2 - 3 ngày, thường vào các tháng 12 và tháng 1 và đầu mùa xuân
Lượng mưa thuộc loại trung bình 1.500 - 1510mm/năm Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 7 và tháng 8, có ngày mưa tới 100mm/ngày Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm
tới 75 - 80% lượng mưa cả năm Thịnh hành là các chế độ gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí khô lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông tạo ra mưa về mùa hè
4.1.1.4 Thuỷ văn
Trên địa bàn xã có suối Nà Ha chảy qua và hệ thống suối nhỏ tương đối dày dốc tụ hội chảy vào suối Nà Ha Nguồn nước này phuc vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Ngoài ra suối Nà Ha còn là nơi để nhân
Trang 38dân trong xã khai thác cát sỏi, làm nguyên vật liệu xây dựng góp phần làm tăng thu nhập và giải quyết công ăn việc làm lúc nông nhàn
4.1.1.5 Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, xã Yên Hân có 2 loại đất chính sau:
- Đất ruộng: Là do tích tụ phù sa của các suối Đất có tầng phù sa dày,
có màu xám đen, hàm lượng đạm, lân, kali ở mức trung bình, thích hợp cho các loại cây lương thực và cây hoa màu
- Đất đồi: Là đất Feralits màu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, nghèo dinh dưỡng và thường ở những nơi có độ dốc tương đối lớn, loại đất này thích hợp cho cây công nghiệp lâu năm và trồng rừng
4.1.1.6 Tài nguyên rừng
Theo kết quả thống kê hiện trạng và sử dụng đất lâm nghiệp tính đến ngày 01/01/2010 của toàn xã là 2.301,16 ha, chiếm 86,56% diện tích tự nhiên Trong đó:
- Đất rừng phòng hộ: 674,69 ha, chiếm 25,38% diện tích tự nhiên toàn
xã Toàn bộ là đất có rừng tự nhiên phòng hộ
- Đất rừng sản xuất: 1.627,34 ha, chiếm 61,21% diện tích tự nhiên toàn
xã Bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất là 1.253,75 ha và đất có rừng trồng sản xuất là 243,15 ha, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất 112,38 ha và đất trồng rừng sản xuất 18,06 ha
Nhìn chung, tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng trong phòng hộ, bảo vệ môi trường và điều hoà không khí, chống xói mòn đất, giữ nguồn nước Tuy nhiên, do quá trình khai thác lợi dụng rừng chưa thực sự hợp lý, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ít nhiều còn bất cập, nên tài nguyên rừng bị suy giảm, hệ động vật, thực vật rừng ngày càng suy giảm về
số lượng và chất lượng tổ thành động thực vật, diễn thế hệ sinh thái rừng đi
Trang 39theo chiều hướng không có lợi Vì vậy, thời gian tới cần có biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng và phát triển rừng một cách hợp lý nhằm đem lại hiệu qủa cao về mọi mặt
4.1.1.7 Tài nguyên nước
+ Nước mặt: Có hệ thống sông, suối, ao hồ phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn các thôn bản là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của nhân dân Song do các suối nhỏ hẹp, độ dốc tương đối lớn, chênh lệch lưu lượng nước theo mùa, nhất là mùa mùa khô thường gây hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cũng như sản xuất của nhân dân
+ Nước ngầm: Xã chưa có điều tra, khảo sát, đánh giá đầy đủ về trữ lượng và chất lượng nước ngầm, nhưng qua khảo sát các giếng đào trong xã cho thấy trữ lượng và chất lượng nước ngầm ở độ cao khoảng 20m khá dồi dào có quanh năm và chất lượng đảm bảo vệ sinh
Nhìn chung nguồn nước cung cấp chủ yếu hiện nay của xã là nước mặt, xong
do tập quán sinh hoạt và sản xuất của nhân dân gây nên ô nhiễm nguồn nước cần phải xử lý trước khi sử dụng cho sinh hoạt đồng thời cần bảo vệ phát triển rừng và môi trường sinh thái để bảo vệ nguồn sinh thuỷ
4.1.1.8 Tài nguyên nhân văn
Yên Hân là vùng đất có truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và cách mạng Nhân dân có tinh thần đoàn kết yêu quê hương Xã có 87% số hộ được công nhận là gia đình văn hóa, 3/3 thôn được công nhận danh hiệu làng văn hóa Các phong trào văn hóa văn nghệ - thể thoa được duy trì năm 2014 như Tuyên truyền nông thôn mới, Luật đất đai, Luật an toàn vệ sinh thực phẩm, Luật giao thông Đó là những nhân tố cơ bản và sức mạnh tinh thần để hướng tới sự phát triển kinh tế xã hội, trong xu hướng hội nhập với khu vực và quốc tế Yên Hân hiện có 4 dân tộc anh em cùng sinh sống với các nhóm ngôn ngữ khác nhau,
Trang 40mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa đặc trưng riêng, gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể; những thiết chế văn hóa xã hội truyền thống của từng dân tộc Các phong tục tập quán như đám ma, đám cưới…và các nhạc cụ như đàn tính, hát then… đã góp phần tạo cho vùng đất nhỏ một kho tàng văn hóa phong phú và hấp dẫn
4.1.1.9 Nguồn tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã Yên Hân không có tài nguyên khoáng sản quý hiếm, tuy nhiên vẫn có tài nguyên như cát sỏi, đá nhân dân đang tận dụng khai thác làm vật liệu xây dựng cho nhu cầu của địa phương và kinh doanh thành phẩm
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế
Bảng 4.1: Cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế xã qua các năm
Bình quân lương thực đầu người Kg/người/năm 300 380 500
Cơ cấu kinh tế
(Nguồn:UBND xã Yên Hân ) [21]
Qua bảng cơ cấu trên ta rút ra được nhận xét sau: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của địa phương chưa ổn định, nông nghiệp còn bị ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên Sự đầu tư của Nhà nước thông qua các dự án còn nhiều hạn chế Tuy nhiên trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã