Câu 5: Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân Câu 6: Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta? Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Câu 8: Phân tích vai trò của đấu tranh giai cấp đối với sự phát triến của xã hội có giai cấp? Liên hệ cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay ? Câu 9: Phân tích vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ với việc vân dụng quan điểm quần chúng nhân dân của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng xã hội Câu 10: Ý thức xã hội là gì? Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội? Ý nghĩa phương pháp luân rút ra từ nghiên cứu này?
Trang 1Câu 5: Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận rút
ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân
1 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
1.1 Thực tiễn
1.1.1 Khái niệm thực tiễn
Thực tiễn là phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ những hoạt động vật chất – cảm tính, mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội
1.1.2 Đặc điểm thực tiễn
Thực tiễn không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất – cảm tính Đó là những hoạt động mà con người sử dụng các công cụ vật chất, lực lượng vật chất để tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng Ví dụ hoạt động sản xuất ra của cải vật chất như xây nhà, làm thủy lợi, đắp đê, làm ruộng, …
Thực tiễn là những hoạt động có tính lịch sử-xã hội Nghĩa là hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người và trải qua những giai đoạn lịch sử nhất định
Thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và xã hội phục
vụ con người tiến bộ, nghĩa là làm biến đổi nó theo chiều hướng thúc đẩy xã hội phát triển Đặc trưng này nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn
1.1.3 Hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn
Hoạt động sản xuất vật chất: Hình thức hoạt động thực tiễn sớm nhất, cơ bản nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội Đó là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, thỏa mãn như cầu tiêu dùng và trao đổi của con người Ví dụ sản xuất lương thực thực phẩm, quần áo…
Hoạt động chính trị - xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển Ví dụ hình thức đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh chính trị xã hội, nó trực tiếp thúc đẩy xã hội phát triển
Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định bản chất và qui luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu Từ đó, con người có thể cải tạo xã hội có kết quả hơn
1.2 Lý luận
1.2.1 Khái niệm
Lý luận là hệ thống những tri thức, được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh mối liên hệ, bản chất, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng và biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù Ví dụ trong triết học, vật chất quy định ý thức
1.2.2 Đặc điểm của lý luận
Lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao và tính logic chặt chẽ
Lý luận có cơ sở từ những tri thức kinh nghiệm thực tiễn: được hình thành từ tri thức kinh nghiệm Nếu không có tri thức kinh nghiệm thì không có cơ sở để khái quát thành lý luận
Vì tri thức bao gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, tri thức lý luận được hệ thống và phát triển dựa trên tri thức kinh nghiệm Ví dụ lòng yêu nước, tinh thần yêu nước là tri thức kinh nghiệm Chủ nghĩa yêu nước là lý luận
Trang 2Lý luận phản ánh các bản chất, các quy luật vận động, phát triển của các sự vật hiện tượng
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn: Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1.3.1 Vai trò của thực tiễn đối với lý luận Thực tiễn quyết định lý luận
Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức, của lý luận: LL xuất phát từ TT là lấy
TT làm căn cứ nguồn gốc, làm tiền đề, làm điểm xuất phát để xây dựng lý thuyết
• Thực tiễn cung cấp vật liệu cho nhận thức, không có thực tiễn thì không thể có nhận thức Bởi vì lịch sử loài người được phát triển bắt đầu từ hoạt động thực tiễn chứ không phải là nhận thức thế giới, mà cụ thể là bằng hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, nhờ đó con người, xh loài người xuất hiện và tồn tại Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Hay nói cách khác là thực tiễn đặt hàng cho nhận thức giải quyết Ví dụ đối mặt với bệnh HIV đặt ra nhiệm vụ nhân loại phải chế tạo loại vắc xin hoặc một cách thức phòng chống hiệu quả cho căn bệnh này
• Thực tiễn rèn luyện giác quan của con người Ví dụ thông qua hoạt động lao động sản xuất, các cơ quan cảm giác như thị giác, thính giác…được rèn luyện phát triển với mục đích là tạo cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn
• Thực tiễn là cơ sở để chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn Quá trình hoạt động thực tiễn sẽ hoàn thiện cơ thể, các giác quan và bộ óc của con người cũng như không ngừng chế tạo ra các phương tiện, các công cụ để “nối dài” các giác quan của con người nhờ đó khám phá bí ẩn của TG sâu xa, đầy đủ, chính xác hơn Ví dụ con người phát minh ra kính thiên văn, kính hiển vi, máy vi tính, robot…nhằm hỗ trợ con người trong sản xuất
Thực tiễn là động lực là mục đích của nhận thức, của lý luận: Nhận thức không có
mục đích tự thân, nhận thức là để tạo ra các tri thức và sau đó áp dụng vào thực tiễn Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu thực tiễn, để sống thì con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh, nghĩa là con người cần phải có nhận thức Kết quả của quá trình nhận thức
là tri thức, và thực tiễn chính là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức, tri thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Ví dụ mưa bão là một thực tiễn, để
có thể tồn tại thì con người cần có kiến thức về mưa bão như mưa bão thì hay xảy ra trong những điều kiện nào, nơi nào sẽ là nơi để ở an toàn, làm sao dự trữ lương thực cho mùa mưa bão…Ung thư là một thực tiễn, để nâng cao chất lượng cuộc sống thì con người cần phải có tri thức về các bệnh ung thư
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, của lý luận: Tiêu chuẩn
của nhận thức không phải ở số đông, không phải ở tiền bạc và quyền lực, ở sức mạnh mà tiêu chuẩn của nhận thức xét đến cùng chính là ở thực tiễn, chỉ có thông qua thực tiễn mới chứng được nhận thức nào là đúng, nhận thức nào là sai và đúng sai đến mức độ nào Ví dụ Sự phù hợp giữa LLSX và QHSX là quy luật Khi chúng ta áp dụng sai quy luật này thì thực tiễn sẽ thể hiện kết quả ngay, đó là sự khủng hoảng kinh tế Khi chúng ta cải cách, tuân thủ quy luật này, thực tế cho thấy, chúng ta đã đạt được nhiều thành công
Tuy nhiên thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý một cách biện chứng nghĩa là vừa có tính tuyệt đối và vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch
sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tính tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi phát triển Khi thực tiễn
Trang 3thay đổi thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp Nghĩa là tri thức đã đạt được trước đây hiện nay vẫn phải kiểm nghiệm thông qua thực tiễn
Đánh giá vai trò của thực tiễn đối với lý luận, Lênin viết: "Thực tiễn cao hơn nhận thức,
lý luận Vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà còn của tính hiện thực trực tiếp"
1.3.2 Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận khoa học và ngược lại có thể kìm hãm sự phát triển của thực tiễn nếu đó là lý luận phản khoa học, phản động, lạc hậu Vai trò của lý luận khoa học là:
• Lý luận hướng dẫn, soi đường, chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người: Lý luận
khoa học thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan, biến đổi chính thực tiễn và biến đổi chính con người Ví dụ CN Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cách mạng Việt Nam Lý luận khoa học
sẽ trở thành kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Nó hướng dẫn, chỉ đạo, soi sáng cho thực tiễn, vạch ra phương pháp giúp hoạt động thực tiễn đi tới thành công Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: "Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" Lý luận đem lại cho thực tiễn những tri thức đúng đắn về những quy luật vận động và phát triển của thế giới khách quan, giúp con người xác định đúng mục tiêu để hành động có hiệu quả hơn, tránh được những sai lầm, vấp váp
• Giáo dục, thuyết phục, tập hợp, động viên quần chúng nhân dân cho các phong trào thực tiễn rộng lớn: tập hợp, tổ chức, giác ngộ và phát động phong trào quần
chúng đứng lên để làm CM Nếu không có lý luận cách mạng sẽ không có phong trào cách mạng Ví dụ cương lĩnh, văn kiện của Đảng chứa đựng các lý luận khoa học tập hợp lực lượng Liên minh Công-nông-trí và nhân dân cùng xây dựng CNXH Lý luận cách mạng có vai trò to lớn đối với thực tiễn cách mạng Lênin cho rằng: "Không có
lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng" Mác thì nhấn mạnh: "Lý luận khi thâm nhập vào quần chúng thì nó biến thành lực lượng vật chất"
• Lý luận đóng vai trò định hướng dự báo cho hoạt động thực tiễn: để hướng dẫn
hoạt động của con người thật sự tự giác Nếu không có lý luận KH soi đường, dự báo
dự đoán sẽ dẫn tới hoạt động tự phát, nước đến chân mới nhảy, mất bò mới lo làm chuồng, gió chiều nào che chiều ấy Ví dụ dự báo thời tiết, thiên tai, mùa vụ để có biện pháp phòng tránh, canh tác thích hợp Lý luận khoa học dự kiến sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong tương lai, từ đó chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển Con người ngày càng đi sâu khám phá giới tự nhiên vô cùng vô tận bằng những phương tiện khoa học hiện đại thì càng cần có những dự báo đúng đắn Nếu dự báo không đúng sẽ dẫn đến những sai lầm, hậu quả xấu không thể lường được trong thực tiễn Vì thế, chức năng dự báo tương lai là chức năng quan trọng của lý luận
Vai trò của lý luận khoa học ngày càng tăng lên, đặc biệt trong giai đoạn mới của thời đại ngày nay, thời đại của cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc diễn ra gay go, phức tạp, cùng với sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ Ph Ăngghen chỉ ra rằng: một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao khoa học thì không thể không có
tư duy lý luận Sự lạc hậu, giáo điều về lý luận dẫn đến sự khủng hoảng về lý luận của chủ nghĩa xã hội trong thời gian qua là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội nói chung, cụ thể là sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu trước đây
Trang 4Theo quan điểm mácxít, lý luận và thực tiễn không tách rời nhau mà giữa chúng có sự liên hệ, xâm nhập và tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc căn bản của triết học Mác – Lênin Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: "Thống nhất lý luận với thực tiễn là nguyên tắc căn bản của triết học Mác – Lênin Thực tiễn không có
lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông" hoặc "Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ"
2 Ý nghĩa phương pháp luận
Việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn có ý nghĩa rất quan trọng, giúp chúng ta tránh được bệnh kinh nghiệm cũng như bệnh giáo điều và rút ra được những quan điểm đúng đắn trong nhận thức và cuộc sống
Trước hết, cần phải quán triệt quan điểm thực tiễn, quan điểm thực tiễn yêu cầu:
• Trong nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, phải bám sát thực tiễn, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Do đó, phải tìm hiểu nhu cầu của thực tiễn ở từng giai của lịch sử
Ví dụ xây dựng một bệnh viện mới thì phải khảo sát xem tại địa phương thực sự có nhu cầu không, nếu có thì quy mô cần bảo nhiêu giường bệnh, những chuyên khoa hoặc mảng nào cần được đầu tư mạnh…
• Bác Hồ đã từng nói lý luận mà không có thực tiễn là lý luận suông, thực tiễn mà không
có lý luận là thực tiễn mù quá Do đó trong hoạt động cần thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, tránh bệnh lý thuyết suông (việc xây dựng lý thuyết dựa vào chủ quan duy ý chí, không dựa vào nhu cầu của xã hội dẫn đến lý thuyết được xây dựng không áp dụng được vào thực tiễn), giáo điều (giáo điều sách vở, giáo điều kinh nghiệm) Nhận thức phải luôn bám sát vào thực tiễn vì thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng, luôn đặt ra nhu cầu khác, việc bám sát
sự thay đổi của thực tiễn giúp ta có sự điều chỉnh lý luận cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nếu việc điều chỉnh không được thực hiện phù hợp với sự thay đổi của thực tiễn sẽ dẫn đến bệnh giáo điều
• Thường xuyên tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học,
lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước Lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng đắn của lý luận
Ví dụ việc ban hành văn bản luật thì cần phải có các thông tư hướng dẫn cụ thể để các ngành, các cấp áp dụng đúng Văn bản luật đó cũng cần được kiểm chứng có phù hợp với tình hình thực tế hay không
Đồng thời cần phải phát huy vai trò của lý luận đối với thực tiễn Phát huy vai trò của
lý luận yêu cầu phải nâng cao trình độ tư duy lý luận, đổi mới phương pháp tư duy cho toàn Đảng, toàn dân nghĩa là chuyển từ tư duy kinh nghiệm sang tư duy lý luận, từ tư duy siêu hình, duy tâm sang tư duy biện chứng duy vật; đổi mới công tác lý luận, hướng công tác lý luận vào những vấn đề do cuộc sống đặt ra, làm rõ những căn cứ khách quan của đường lối chính sách của Đảng
Nếu coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn thì sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
+ Bệnh kinh nghiệm: là căn bệnh tuyệt đối hóa kinh nghiệm, nhận thức và hành động chỉ dựa vào kinh nghiệm, đề cao vai trò thực tiễn, hạ thấp lý luận, không chịu học hỏi để vương lên, không coi trọng việc tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận Thể hiện ở chỗ tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi thường lý luận, “chỉ biết tối ngày vùi đầu vào công tác sự vụ”, ít đào
Trang 5sâu suy nghĩ, nhất là đối với những người trình độ văn hoá kém, ít quen đọc sách và suy nghĩ,
áp dụng kinh nghiệm một cách thiếu sáng tạo
+ Bệnh giáo điều: là căn bệnh tuyệt đối hóa lý luận, nhận thức và hành động chỉ dựa vào lý luận, coi lý luận là "chìa khóa vạn năng" cho tư duy và hành động, bất chấp điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Thể hiện ở chỗ: coi tri thức là chân lý tuyệt đối, là cứng nhắc, tách lý luận khỏi thực tiễn, rơi vào bệnh lý luận suông, không biết cụ thể hóa lý luận cách mạng cho thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng lúc, từng nơi, không biết bổ sung lý luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động và vận dụng một cách máy móc, rập khuôn, cứng nhắc, thiếu sáng tạo vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể đối tượng, mang lại hiệu quả xấu cho hoạt động lý luận và thực tiễn Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy lý luận, nhất là lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Để khắc phục hai căn bệnh trên cần phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận, đồng thời phải coi trọng lý luận, nâng cao trình độ tư duy lý luận Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu “phải học tập tinh thần chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta” Từ nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giưa lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh đã phê phán sai lầm của chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều Khi đặt vấn đề phải học tập lý luận theo Người, học lý luận không phải để thuộc lòng từng câu từng chữ, cũng không phải học lý luận để đem loà thiên hạ, để kiêu ngạo, để mặc cả với Đảng, để trở thành những người lý luận suông Mà mục đích học tập lý luận để tự cải tạo mình, để tránh mò mẫm, để đỡ phạm sai lầm trong công tác, để hoàn thành tốt hơn các nhiệm vụ cách mạng mà Đảng và nhân dân giao phó Học tập lý luận là cốt áp dụng vào thực tế và khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm
lý luận bằng những lý luận mới sinh ra từ trong thực tiễn
3 Liên hệ công tác bản thân:
Tất cả các hoạt động tại đơn vị phải phù hợp với thực tiễn, xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Khi xây dựng kế hoạch hoạt động cho một chương trình thì phải xem xét nhiều khía cạnh: nguồn lực (nhân lực, vật lực); tính cấp thiết (hoạt động này có cần thiết cho thực tiễn không, nếu có thì mức độ như thế nào); tính khả thi (liệu việc thực hiện theo kế hoạch là có khả thi trong điều kiện thực tế)
Khi đánh giá một vấn đề hoặc đọc một báo cáo thì cần xem xét tính hợp lý của vấn đề ứng với hoàn cảnh cụ thể Nếu số liệu có những diễn biến bất thường thì cần phải kiểm tra và xác định lý do Vì thực tiễn luôn vận động nên khi đánh giá vấn đề cần phải bám sát vào hoàn cảnh lúc đó, không thể dựa vào kinh nghiệm hoặc kiến thức từ sách vở Bên cạnh đó những kiến thức đã được học cũng cần phải kiểm chứng xem nó còn phù hợp với tình hình thực tế hay không, áp dụng vào thực tiễn có khả thi hay không
Vì thực tiễn luôn biến đổi nên cá nhân cũng cần phải học hỏi không ngừng, cập nhật những kiến thức mới để áp dụng một cách hiệu quả các công việc tại cơ quan
Trong quá trình làm việc thì cần tổng hợp lại các kinh nghiệm ứng với các vấn đề cụ thể để có thể chia sẽ cùng các đồng nghiệp Tổng kết các hoạt động đơn vị, những thách thức, thuận lợi, khó khăn để làm cơ sở lý luận cho việc lên kế hoạch phù hợp cho đơn vị trong năm
kế tiếp
Trang 6Câu 6: Phân tích nội dung và ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta?
1 Nội dung của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
1.1 Khái niệm
Phương thức sản xuất: Là cách thức tổ chức sản xuất vật chất của xã hội trong những
giai đoạn lịch sử nhất định PTSX bao gồm LLSX và QHSX Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao
Lực lượng sản xuất: Là sự thống nhất hữu cơ giữa người lao động và tư liệu sản xuất
Lực lượng sản xuất gồm 2 yếu tố:
• Người lao động với những tri thức và kỹ năng lao động, là nhân tố cơ bản, hàng đầu của lực lượng sản xuất Bởi vì con người là chủ thể của sản xuất vật chất, luôn sáng tạo ra công cụ tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất
• Tư liệu sản xuất: bao gồm 3 yêu tố:
✓ Công cụ lao động: là những công cụ phương tiện tham gia trực tiếp vào quá tình sản xuất Ví dụ cái cày, con trâu là công cụ lao đông của người nông dân Công
cụ lao động là yếu tố quyết định đến hiệu quả, năng suất lao động Ví dụ người nông dân sử dụng công cụ lao động là cái cày và con trâu thì năng suất và hiệu quả không thể bằng người sử dụng máy cày
✓ Phương tiện lao động: là tổng hợp các yếu tố vật chất kỹ thuật của xã hội phục
vụ cho nền sản xuất xã hội Ví dụ các cơ sở hạ tầng bến cảng, sân bay, cầu, đường, kho bãi lưu trữ…
✓ Đối tượng lao động: là vật mà con người tác động đến nó để tạo ra của cải vật chất Có hai dạng đối tượng lao động: dạng có sẵn trong tự nhiện như đất đai, hoặc qua quá trình lao động như các máy móc để chế biến thức ăn
Trình độ của lực lượng sản xuất: dùng để chỉ năng lực, mức độ, hiệu quả chinh phục giới tự nhiên thông qua việc sử dụng công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu con người
Quan hệ sản xuất: là mối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản
xuất Ba mặt của quan hệ sản xuất:
• Quan hệ về sở hữu tư liệu sản xuất: Ví dụ trong xã hội tư bản thì giới tư sản sở hữu tư liệu sản xuất, tầng lớp vô sản không có tư liệu sản xuất nên là tầng lớp bị phụ thuộc
• Quan hệ về mặt tổ chức quản lý sản xuất
• Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động Đây là mối quan hệ phân chi lợi ích giữa người lao động với nhau Ví dụ trong một nhà máy thì mỗi công nhân đảm bảo nhiệm vụ ở một khâu nhất định Kết quả sản phẩm được làm ra thì mỗi người đều có một phần giá trị trong
đó và thông thường phần này sẽ được quy ra thành tiền
Trong ba mặt của quan hệ sản xuất, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, đặc trưng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ về tổ chức quản lý sản xuất, quan hệ phân phối sản phẩm cũng như các quan hệ xã hội khác
Trang 71.2 Nội dung quy luật
❖ Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất
Khuynh hướng của sản xuất xã hội là không ngừng biến đổi theo chiều hướng tiến bộ
Sự biến đổi đó xét cho cùng thì bắt đầu từ sự biến đổi và phát triển của LLSX mà trước hết là công cụ lao động Do đó trong một PTSX, LLSX là nội dung, QHSX là hình thức biểu hiện của quá trình sản xuất Vì vậy LLSX giữ vai trò quyết định, nội dung quyết định hình thức, trình độ sản xuất quyết định đến quá trình sản xuất Ví dụ hàng hóa của nước ta chất lượng chưa cao, khó thâm nhập các thị trường thế giới là bởi vì trình độ sản xuất còn thấp, quy mô nhỏ lẻ Thêm vào đó là nhà nước chưa có lộ trình cụ thể, chưa đóng vai trò tốt Như Thái Lan,
để cho hàng hóa họ thâm nhập thị trường nước ta tốt, bên cạnh họ đầu tư nâng cao chất lượng
và mẫu mã hàng hóa, họ còn thâu tóm cũng như mở ra hàng loạt cửa hàng bán lẻ, hệ thống siêu thị Đây là một lộ trình tốt để chuẩn bị cho sự đổ bộ hàng hóa Thái Lan vào nước ta
Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành của quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất
ở trình độ thế nào sẽ quy định một quan hệ sản xuất tương ứng, phù hợp với nó Ví dụ nếu trình độ sản xuất thấp thì quan hệ sản xuất chỉ có thể là quy mô nhỏ, cá thể hoặc sở hữu tư nhân Khi trình độ sản xuất ở mức cao, người lao động có kỹ năng, làm việc trong các dây chuyền hiện đại thì lúc này QHSX không còn là quy mô nhỏ, cá thể nữa
Lực lượng quyết định sự biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất LLSX có tính động, thường xuyên biến đổi Khi lực LLSX phát triển đến một tình độ nhất định sẽ mâu thuẫn gay gắt với QHSX cũ, đỏi hỏi phá vỡ, QHSX cũ, lạc hậu, hình thành QHSX mới, tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của LLSX, thúc đẩy LLSX phát triển Ví dụ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ (cũ) mất đi, phương thức sản xuất phong kiến (mới) ra đời thay thế nó Phương thức sản xuất phong kiến (cũ) mất đi, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (mới) ra đời thay thế
nó
❖ Quan hệ sản xuất sẽ tác động trở lại với lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ
và do đó tác động đến sự phát triển của lực lượng sản xuất Ví dụ các công ty tư nhân phụ vụ lợi ích cho một nhóm nhỏ người, họ có quyền sa thải nhân viên khi thấy không đáp ứng được yêu cầu, do đó người lao động sống trong môi trường cạnh tranh cao, không cào bằng về lợi ích thì nên đòi hỏi phải luôn nâng cao trình độ chuyên môn, không ngừng sáng tạo nếu không
sẽ bị đào thải Các doanh nghiệp nhà nước thường hoạt động thiếu hiệu quả vì nó là sở hữu toàn dân (tư liệu sản xuất là của nhà nước – sở hữu toàn dân) nên người đứng đầu sẽ có xu hướng chỉ hoàn thành nhiệm vụ, không quan tâm đến sự sáng tạo, đổi mới trong công việc bởi
dù có cố làm hoặc không làm thì họ cũng chỉ nhận được một khoản lương nhất định Đối với người lao động thì lương cào bằng, môi trường không có tính cạnh tranh, bộ máy nhân sự phình to và người lao động thì hầu như không lo bị sa thải
Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất thì sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại, sẽ kềm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của QHSX và LLSX là trạng thái mà ở đó QHSX, các yếu tố cấu thành của nó tạo địa bàn đầy
đủ cho LLSX phát triển và sự phù hợp này là sự phù hợp biện chứng và chứa đựng mâu thuẫn Quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc "tiên tiến" hơn một cách giả tạo so với trình độ phát
Trang 8triển của lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất
cũ sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tuy nhiên, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất không phải giản đơn Nó phải thông qua nhận thức và hoạt động cải tạo xã hội của con người Trong xã hội có giai cấp phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế, phát triển của lịch
sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất
Tóm tắt quy luật: PTSX là thể thống nhất giữa LLSX và QHSX, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau Trình độ của LLSX sẽ quy định QHSX tương ứng phù hợp với
nó Khi LLSX phát triển đến một trình độ nhất định sẽ mâu thuẫn gay gắt với QHSX cũ Giải quyết mâu thuẫn này sẽ tạo động lực thúc đẩy LLSX phát triển, qua đó thúc đẩy xã hội phát triển (nguồn gốc sâu xa của sự phát triển xã hội là do LLSX phát triển, động lực của sự phát triển là giải quyết những mâu thuẫn)
2 Ý nghĩa phương pháp luận
Đây là quy luật chi phối quá trình phát triển của xã hội loài người Nghiên cứu quy luật này là cơ sở lý luận khoa học để xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử để giải thích nguồn gốc, động lực sự vận động, phát triển của xã hội, của các phương thức sản xuất trong lịch sử Bác bỏ quan điểm duy tâm và những quan điểm sai lầm khác Theo đó quan điểm duy tâm cho rằng sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng; đồng thời, nó cũng xem sự phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp Ngược lại, quan điểm biện chứng xem xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến cao Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần
về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu
kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn Dù trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định Quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đó, cũng là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật Nghiên cứu quy luật này cũng giúp bác bỏ quan điểm tuyệt đối hóa môi trường địa lý và dân số Theo đó quan điểm này cho rằng sự phát triển của xã hội là do môi trường địa lý và dân số quy định Theo quan điểm biện chứng, tồn tại xã hội gồm ba yếu tố là môi trường địa lý, dân số và phương thức sản xuất Trong đó PTSX đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của xã hội
Đây cũng là cơ sở lý luận khoa học để Đảng ta vạch định đường lối phát triển kinh tế đất nước:
• Muốn thúc đẩy nền sản xuất của xã hội thì phải ưu tiên phát triển LLSX, đồng thời xây dựng các QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX
• Cần phải phát hiện và giải quyết kịp thời mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX
Trang 9Từ quy luật ta có thể thấy rằng muốn thúc đẩy xã hội phát triển thì phải tạo điều kiện
để phát triển LLSX, phải nâng cao chất lượng lao động, cải tạo công nghệ, công cụ sản xuất hay nói cách khác là phải phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Phải thiết lập QHSX cho phù hợp với sự phát triển của LLSX Đối với Việt Nam ta là đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở đường cho LLSX phát triển, là nền kinh tế có đa hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế
3 Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta
❖ Giai đoạn trước đổi mới (1975-1985) Đảng ta đã mắc phải những sai lầm nhất định: Trước thời kì đổi mới nước ta nước ta có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp và sự thể hiện quy luật QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX biểu hiện cụ thể:
+Nước ta đã thiết lập một chế độ công hữu về tư liệu sản xuất một cách ào ạt, trong khi
đó đang tạo địa bàn cho sự phát triển LLSX (vi phạm tính lịch sử cụ thể)
+ Đồng thời, trong quá trình cải tạo nền sản xuất chỉ tập trung cải tạo QHSX, chủ trương xây dựng QHSX tiến bộ mở đường cho LLSX phát triển (đi ngược lại với quy luật QHSX phù hợp với phát triển của LLSX)
Chưa chú trọng tìm kiếm giải phát để phát triển LLSX khi mà LLSX vẫn còn yếu do hậu quả của quá trình chiến tranh lâu dài và những tàn dư của xã hội phong kiến, nhưng Đảng lại chú trọng việc cải tạo QHSX Việc này vi phạm quy luật phù hợp của LLSX và QHSX, trong đó LLSX đóng vai trò quyết định QHSX Trong quá trình cải tạo QHSX, Đảng ta đã duy
ý chí vì QHSX không phù hợp với LLSX mà có dấu hiệu vượt trước QHSX phải do LLSX quy định chứ không phải do ý muốn chủ quan Đầu tiên đó là việc sở hữu TLSX không đúng,
sở hữu tư liệu sản xuất chỉ có công hữu, không công nhận tư hữu TLSX tách ra khỏi người lao động làm giảm sự nhiệt tình, hăng hái của người lao động Kế đến là sai lầm trong tổ chức sản xuất, nhà nước tổ chức quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, có nghĩa là bằng mệnh lệnh hành chính nhà nước, bất chấp quy luật kinh tế, vì vậy đã tước đi, không tạo điều kiện cho người lao động chủ động trong sản xuất Cuối cùng là sai lầm trong việc phân phối sản phẩm, áp dụng hình thức phân phối sản phẩm theo bình quân, cào bằng thông qua chế độ tem, phiếu Điều này dẫn đến việc lao động không hiệu quả, người lao động
dù làm nhiều hay ít đều hưởng sản phẩm như nhau nên triệt tiêu đi ý chí của người lao đọng
Thực tế vận dụng quy luật này cho thấy chúng ta đã quá coi trọng vai trò của QHSX và cho rằng có thể đưa QHSX đi trước để mở đường, thúc đẩy LLSX cùng phát triển Việc áp dụng quan niệm ấy là hoàn toàn sai lầm, minh chứng cho điều đó là LLSX trong thời gian qua thấp kém, QHSX được duy trì ở trình độ quá cao Từ đó làm mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển LLSX với hình thức kinh tế - xã hội được áp đặt một cách chủ quan trên đất nước ta Mâu thuẫn đó đã để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nền kinh tế nước nhà: kinh tế chậm phát triển, sản xuất trì trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4% (trong khi chỉ tiêu đặt ra là 13-14%), tình trạng thiếu lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập khẩu 1,576 triệu tấn lương thực, ngân sách thiếu hụt, giá cả hàng năm tăng 20%, nhập khẩu chiếm 4-5 phần xuất khẩu Nhà nước thiếu vốn đầu tư cho nền kinh tế, hàng tiêu dùng thiếu trầm trọng…Qua đó, ta có thể thấy một thực
tế của việc làm trái quy luật đã gây ra hậu quả nặng nề cho nền kinh tế đất nước là rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Như vậy, QHSX không phù hợp với trình độ LLSX sẽ kìm hãm
sự phát triển của LLSX
❖ Giai đoạn sau đổi mới (1986 – nay)
Trang 10Đảng ta chủ trương tiến hành đồng bộ việc ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp Đặt mục tiêu giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ là quất sách hàng đầu để nâng cao chất lượng LLSX Do trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta còn thấp, phát triển chưa đồng bộ, đòi hỏi phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận nhiều hình thức sở hữu (các thành phần kinh tế qua các kỳ đại hội) 4 thành phần: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế liên kết nước ngoài Trong 4 thành phần này còn nhiều hình thức nhỏ hơn Có 3 hình thức sở hữu chủ yếu: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể,
sở hữu nhà nước Nhà nước tổ chức điều tiết nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực hiện phân phối theo kết quả lao động, làm theo năng lực, hưởng theo lao động Bên cạnh đó còn có các hình thức phân phối sản phẩm khác như góp vốn, thông qua phúc lợi xã hội…
Tại Đại hội lần thứ VI (năm 1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm với nội dung cơ bản là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ đó đến nay, đất nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và luôn đạt mức tăng trưởng cao Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới nói chung
và chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nói riêng Điểm nổi lên là kinh tế của chúng ta còn quá nghèo nàn, lạc hậu … vì vậy khâu trọng yếu mà chúng ta phải xây dựng đó
là phát triển lực lượng sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng
cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.Tuy nhiên cũng không phải đạt được kết quả ngay tức thì,mặc dù lực lượng sản xuất của nước ta không ngừng phát triển, trình độ của người lao động không ngừng được nâng lên công tác giáo dục và đào tạo được chú trọng… nhưng chưa đúng yêu cầu của thời kì đổi mới, không có tính cạnh tranh.Tư liệu sản xuất tuy phát triển song vẫn còn thấp kém, lạc hậu, không đều,sở hữu tư liệu sản xuất dẫn đến tình trạng phân hóa giàu nghèo.Nhưng Đảng và Nhà nước nhạy bén trước thời cuộc khắc phục tình hình,với việc đưa
ra quan hệ sản uất bằng con đường đúng đắn với cơ chế tồn tại nhiều thành phần kinh tế do đó tồn tại cùng một lúc nhiều quan hệ sản xuất khác nhau tương ứng với trình độ phát triển cao, thấp khác nhau, với lực lượng sản xuất thấp kém không đồng đều nước ta sử dụng quan hệ sản xuất không đồng đều, khắc phục tình trạng lực lượng sản xuất thấp kém lại sử dụng quy luật quan hệ sản xuất quá cao hoặc không phù hợp diều này hợp quy luật bước đầu vận dụng đúng quy luật
Hiện nay, Đảng ta đang lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ Muốn làm tốt trọng trách này, thì phải tạo điều kiện cho bản thân nền kinh tế, trong đó thành phần kinh tế tư nhân là một thành phần rất năng động, hiệu quảTrong suốt quá trình đổi mới 25 năm qua, Ðảng ta không ngừng tìm tòi, phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trên tổng thể và đối với từng yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất Ðó là một quá trình vận động, phát triển liên tục về nhận thức thông qua lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễnCông cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu to lớn:
1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý
cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất
Giai đoạn 2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7% Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào
Trang 11nước ta đạt cao Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra Tổng số vốn đăng ký mới và tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so với giai đoạn 2001-2005 Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31
tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỉ USD, vượt 16% GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD, chỉ số HDI đã liên tục tăng cao
Đến nay Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối ngoại
Hệ thống kết cấu hạ tầng có bước phát triển khá, đáp ứng yêu cầu trước mắt và tọa được những năng lực gối đầu cho thời kì sau Cơ sở vật chất của các ngành giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể duc thể thao…đều được tang lên đáng kể
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô, chất lượng hình thức và cơ sở vật chất, chất lượng giáo dục – đào tạo từng bước chuyển biến phát triển
Vấn đề việc làm và đời sống của nhân dân được giải quyết có nhiều hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ, rộng khắp nhất là ở các vùng cao, xã nghèo, đạt được kết quả tốt Đời sống nhân dân của người vùng cao được cải thiện rõ rệtCác công tác xã hội ngày càng nhiều, được mở rộng và đạt được những kết quả tốt
Qua 25 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ Hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần và bộ máy quản lý của Nhà nước được đổi mới một bước quan trọng
Đạt được những thành tựu như trên là do Đảng và Nhà nước ta vận dụng đúng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta đem lại
Kết luận: Qua phần phân tích trên ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa phát triển LLSX với xây dựng hoàn thiện từng bước QHSX trong thời kì quá độ là mối quan hệ biện chứng, không tách dời nhau Qua đó, đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh việc phát triển mạnh mẽ LLSX với một trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao làm cơ sở cho việc lựa chọn, vận dụng quy luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX Góp phần đưa nền kinh tế nước ta phát triển với tốc độ nhanh, bền vững, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân cả nước Với những thành tựu mà nước ta đã đạt được ta thấy hiệu quả của việc Đảng
và Nhà nước ta đã nhạy bén với thời cuộc, xem xét, nắm bắt tình hình nước ta một cách chính xác để đưa ra các chính sách phù hợp, và không thể phủ nhận hiệu quả của việc vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ của lưc lượng sản xuất của nước ta trong công cuộc đổi mới đất nước
Câu 7: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng?
Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam?
1 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1.1 Khái niệm
Cơ sở hạ tầng: là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã
hội nhất định Cơ sở hạ tầng của một xã hội bao gồm:
• Quan hệ sản xuất thống trị, ví dụ QHSX phong kiến trong xã hội phong kiến
Trang 12• Quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ, ví dụ QHSX chiếm hữu nô lệ trong xã hội phong kiến (một số địa chủ thu nhận những người ở đợ về làm cho họ mà không phải trả lương, một dạng của nô lệ thời chiếm hữu nô lệ)
• Quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai, ví dụ QHSX TBCN hình thành vào giai đoạn cuối xã hội phong kiến, khi mà nhiều địa chủ đầu tư xây dựng các đồn điền, nhà máy sau đó thuê người vào làm để bóc lột giá trị thặng
dư
Kiến trúc thượng tầng: Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị,
pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v được hình thành trên cơ sở
hạ tầng nhất định
Mối quan hệ giữa CSHT và KTTT thực chất là mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt cấu thành của hình thái kinh tế xã hội, chúng thống nhất biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, song kiến trúc thượng tầng cũng tác động tích cực trở lại cơ
sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
CSHT quyết định nội dung, tính chất kết cấu của KTTT CSHT của một xã hội nhất định như thế nào, tính chất của nó ra sao, giai cấp đại diện cho nó như thế nào thì hệ thống thiết chế chính trị pháp quyền, đạo đức, triết học… và quan hệ của các thể chế tương ứng với các thiết chế ấy cũng như vậy CSHT quyết định KTTT thể hiện ở những mặt sau:
• CSHT giữ vai trò quyết định sự hình thành KTTT, quy định đặc điểm, tính chất, nội dung của KTTT, CSHT nào sinh ra KTTT nấy
• CSHT quyết định sự biến đổi của KTTT trong một hình thái kinh tế xã hội nhật định, khi CSHT biến đổi thì KTTT cũng biến đổi theo Cơ sở hạ tầng quyết định sự thay đổi căn bản của kiến trúc thượng tầng Khi cơ sở hạ tầng nào mất đi thì kiến trúc thượng tầng do nó sinh ra cũng mất theo, khi cơ sở hạ tầng mới xuất hiện thì nó lại sản sinh ra kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với nó
• Giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế thì sẽ thống trị về mặt đời sống chính trị (các
tư tưởng xã hội, mâu thuẫn xã hội…thực chất là phản ánh mâu thuẫn về kinh tế)
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng là quy luật phổ biến của mọi hình thái kinh tế xã hội
Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng: Kiến trúc thượng tầng do cơ
sở hạ tầng sinh ra nhưng sau khi xuất hiện nó có tính độc lập tương đối, do đó nó tác động lại
cơ sở hạ tầng thể hiện ở những mặt sau:
Kiến trúc thượng tầng củng cố, bảo vệ, duy trì cơ sở hạ tầng sinh ra nó và đấu tranh chống lại cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đối lập với nó Ví dụ trong nhà nước TBCN thì KTTT phải bảo vệ CSHT của nó là chế độ tư hữu tư liệu sản xuất
Trong các yếu tố của kiến trúc thượng tầng thì Nhà nước là yếu tố cơ bản có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cơ sở hạ tầng Vai trò của Nhà nước tác động đối với cơ sở hạ tầng thể hiện ở 3 chiều hướng: bằng công cụ pháp luật, bằng sức mạnh kinh tế và sức mạnh bạo lực của Nhà nước có thể tác động làm cho kinh tế phát triển theo chiều hướng tất yếu (nhà nước
có sức mạnh về chính trị và kinh tế để quản lý xã hội, trong khi Đảng chỉ có sức mạnh về chính
Trang 13trị) Nhà nước là yếu tố tác động trở lại mạnh mẽ nhất đối với cơ sở hạ tầng vì nó là công cụ bạo lực tập trung trong tay giai cấp thống trị Nó không chỉ thực hiện chức năng kinh tế bằng
hệ thống chính sách kinh tế - xã hội đúng, nó còn có tác dụng trực tiếp thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng cũng phải thông qua thì mới có hiệu lực đối với cơ sở hạ tầng
KTTT phù hợp với quy luật kinh tế sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại Khi KTTT tác động cùng chiều với những quy luật vận động của cơ sở hạ tầng thì nó thúc đẩy cơ
sở hạ tầng phát triển Do đó, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Khi KTTT tác động ngược chiều với những quy luật vận động của cơ sở hạ tầng, khi nó là sản phẩm của quan hệ kinh tế lỗi thời thì nó cản trở, kìm hãm sự phát triển của cơ sở hạ tầng Do đó, nó kìm hãm sự phát triển kinh tế
2 Ý nghĩa phương pháp luận
Đây là cơ sở lý luận khoa học để xây dựng quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử trong việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị và bác bỏ quan điểm duy tâm (thổi phồng chính trị, lấy yếu tố chính trị áp cho kinh tế, tuyệt đối hóa vai trò của lãnh tụ, của Đảng cầm quyền), duy vật kinh tế tầm thường (xem kinh tế là yếu tố quyết định, tác kinh tế ra khỏi yếu tố chính trị) Một trong những nguyên nhân dẫn đến Liên Xô sụp đổ là chủ tâm cải cách chính trị mà bỏ qua kinh tế, đó là quan điểm tuyệt đối hóa chính trị
Từ khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường và tiếp tục đổi mới hơn 20 năm qua, mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị ngày càng thể hiện tầm quan trọng của nó trong những thành tựu đổi mới cũng như trong những sai lầm, khuyết điểm đó vấp phải Vì vậy, để chủ động giải quyết mối quan hệ này có hiệu quả cả về kinh tế và chính trị, cần thiết nhận từ những đặc điểm của mối quan hệ này Trước hết, mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị là mối quan hệ giữa khách quan với chủ quan Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Chính trị không thể không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế Nguyên lý đó chỉ ra rằng: đường lối chính sách phải phản ánh được nhu cầu và quy luật kinh tế Chỉ trong điều kiện đó, chính trị mới lãnh đạo, quản lý kinh tế có hiệu quả, mới giữ được vai trò chính trị Thứ hai, mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị cũng là mối quan hệ giữa xã hội với chính trị Thứ ba, mối quan hệ giữa văn hoá với chính trị - một khía cạnh ở chiều sâu của mối quan hệ kinh tế với chính trị
Đây cũng là cơ sở lý luận khoa học để Đảng ta xây dựng đường lối kết hợp đồng bộ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị trong quá trình đổi mới đất nước Thời kỳ trước đổi mới, về nhận thức, chúng ta đã nhấn mạnh quá mức vai trò kiến trúc thượng tầng, coi chính trị
là thống soái, quyết định kinh tế và tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; chưa đánh giá đúng vai trò của kinh tế trong quan hệ với chính trị Về cơ chế, chúng ta cũng nhận thức một cách đơn giản về tác động của kiến trúc thượng tầng chính trị đối với cơ sở kinh tế Chính trị can thiệp quá sâu vào các quá trình kinh tế - xã hội bằng hệ thống những mệnh lệnh chủ quan của các cơ quan quản lý các cấp Và thiết chế, bộ máy hành chính còn quan liêu, cửa quyền, cồng kềnh, kém hiệu quả Từ khi đổi mới đến nay, về quan điểm Đảng ta chủ trương “Kết hợp ngay
từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị” Đây là nhận thức đúng cả về mặt lý luận cả về mặt thực tiễn
Đổi mới kinh tế là quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung, bao cấp chủ yếu dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và tập thể sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hướng XHCN Đó là bước chuyển từ nền kinh tế cơ bản là khép kín
Trang 14sang nền kinh tế mở đối với khu vực và thế giới, kết hợp tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và từng bước đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đổi mới chính trị là đổi mới tư duy chính trị về CNXH; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị, trước hết là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước XHCN nhằm giữ vững ổn đinh chính trị để xây dựng chế độ XHCN ngày càng vững mạnh; thực hiện tốt nền dân chủ XHCN nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và phát triển kinh tế-xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng ta cho rằng ổn định chính trị không có nghĩa là bảo thủ, trì trệ, ngược lại nó có vai trò quan trọng đảm bảo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển, làm cho quá trình đổi mới trở nên toàn diện hơn Ổn định chính trị cũng đồng thời góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quá trình đổi mới đất nước
Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị được Đảng ta đặc biệt chú trọng, thể hiện trong Hội nghị lần 6 Ban Chấp hành Trung ương khoá VI, văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII, những quan điểm này tiếp tục được khẳng định trong các kỳ Đại hội IX, X với mục tiêu: “đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của hệ thống chính trị” Đại hội XI của Đảng đã đưa ra quan điểm về đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị: “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương ” Như vậy, về đổi mới kinh tế, Đại hội XI của Đảng tập trung vào đổi mới để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN
3 Liên hệ vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nước ta đã trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau từ xã hội công xã nguyên thủy tiến lên xã hội chiếm hữu nô lệ, đến xã hội phong kiến rồi tiến lên CNXH bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa và đỉnh cao nhất trong quá trình tiến hóa này là chủ nghĩa cộng sản Nước ta đang trong giai đoạn xây dựng CNXH theo hướng xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Do đó mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT là 1 quá trình đấu tranh lâu dài giữa cái mới và cái cũ CNXH đang trong quá trình xây dựng nên là cái mới còn rất non yếu, muốn xóa bỏ hết tàn dư của xã hội cũ - đại diện cho cái cũ rất khó bởi nó đã tồn tại lâu dài Tuy nhiên con đường đi lên CNXH ở nước ta diễn ra theo các quy luật khách quan của thời đại chứ không phải do ý muốn chủ quan của con người quyết định nên nó là cái mới nhưng hợp quy luật nên ngày càng phát triển và ngược lại cái cũ không hợp quy luật sẽ ngày càng yếu đi Cơ sở hạ tầng ở nước ta là sự kết cấu kinh tế không thuần nhất, là kết cấu kinh tế nhiều thành phần (đại hội XII xác định nền kinh tế nước ta gồm có kinh tế nhà nước, tư nhân, tập thể, và có vốn đầu tư nước ngoài), trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo Các thành phần đó vừa khác nhau về vai trò, chức năng, tính chất, lại vừa thống nhất với
Trang 15nhau trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất, chúng vừa cạnh tranh nhau, vừa liên kết với nhau, bổ xung với nhau
Kiến trúc thượng tầng có chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm tư tưởng về tôn giáo, triết học, đạo đức, khoa học nghệ thuật, … và các tổ chức tương tự Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước CHXHCNVN, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức giáo hội, các trung tâm trường, viện nghiên cứu trên đất nước ta
Đảng ta đã vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT trong quá trình xây dựng CHXH ở nước ta hiện nay Để định hướng xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh
tế, nhà nước phải sử dụng tổng thể các biện pháp kinh tế hành chính và giáo dục Trong đó biện pháp kinh tế có vai trò quan trọng nhất nhằm từng bước xã hội hoá nền sản xuất với hình thức và bước đi thích hợp theo hướng: kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển vươn lên giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể dưới hình thức thu hút phần lớn những người sản xuất nhỏ trong các ngành nghề, các hình thức xí nghiệp, công ty cổ phần phát triển mạnh, kinh tế
tư nhân và gia đình phát huy được mọi tiềm năng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng
cơ sở kinh tế hợp lý Trong văn kiện Hội nghị đại biểu Đảng giữa nhiệm kỳ khoá VII, Đảng ghi rõ: “Phải tập trung nguồn vốn đầu tư nhà nước cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và một số công trình công nghiệp then chốt đã được chuẩn bị vốn và công nghệ Nâng cấp
và xây dựng mới hệ thống giao thông, sân bay, bến cảng, thông tin liên lạc, giáo dục và đào tạo, y tế” Đồng thời văn kiện Đảng cũng ghi rõ: “Từ nay tới cuối thập kỷ, phải quan tâm tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đưa ra quan điểm chỉ đạo là phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển nhanh và bền vững; đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Nhận thức đầy đủ, tôn trọng và vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan của kinh tế thị trường Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là quá trình phát triển liên tục; kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại và kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn đổi mới ở nước ta; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội Hoàn thiện thể chế kinh tế đi đôi với hoàn thiện thể chế chính trị mà trọng tâm là đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy và cán bộ Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị Mục tiêu tổng quát là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo tiền đề vững chắc cho việc xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần huy động và phân bổ, sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh"
Về kiến trúc thượng tầng, Đảng ta khẳng định: Lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hành động của toàn Đảng, toàn dân ta Bởi vậy, trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, việc giáo dục truyền bá chủ nghĩa Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội là