Trong sự hình thành và phát triển triết học Mác, “Hệ tư tưởng Đức” (tháng 11 năm 1845 tháng 4 năm 1846) là tác phẩm chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và mang một ý nghĩa lớn lao. Trong tác phẩm này, những tư tưởng cơ bản về một thế giới quan mới thế giới quan duy vật biện chứng đã được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh. Cũng ở đây, một trong hai phát kiến vĩ đại tạo nên bước ngoặt lịch sử trong các học thuyết xã hội và làm nên thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại quan niệm duy vật về lịch sử lần đầu tiên đã được các ông trình bày một cách toàn diện chi tiết. Và với việc đề xuất một thế giới quan triết học mới, với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, các ông đã bước đầu đặt ra cơ sở lý luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học chủ nghĩa duy vật thực tiễn. Chính vì vậy, 160 năm qua, kể từ khi ra đời đến nay, “Hệ tư tưởng Đức” đã đi vào lịch sử hình thành và phát triển triết học Mác với tư cách nền tảng, bước ngoặt cách mạng và cùng với nhiều tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen, làm nên cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học và trở thành vũ khí tinh thần không thế thiếu của giai cấp vô sản toàn thế giới trong công cuộc cải tạo xã hội bằng thực tiễn cách mạng. Giờ đây, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ý nghĩa lớn lao này của “Hệ tư tưởng Đức” vẫn còn nguyên giá trị.
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN MÔN: TÁC PHẨM KINH ĐIỂM MÁC - LÊNIN
Đề tài : Chủ nghĩa duy vật lịch sử trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong sự hình thành và phát triển triết học Mác, “Hệ tư tưởng Đức” (tháng
11 năm 1845 - tháng 4 năm 1846) là tác phẩm chiếm vị trí đặc biệt quan trọng và mang một ý nghĩa lớn lao Trong tác phẩm này, những tư tưởng cơ bản về một thế giới quan mới - thế giới quan duy vật biện chứng - đã được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh Cũng ở đây, một trong hai phát kiến vĩ đại tạo nên bước ngoặt lịch sử trong các học thuyết xã hội và làm nên thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại - quan niệm duy vật về lịch sử - lần đầu tiên đã được các ông trình bày một cách toàn diện chi tiết Và với việc đề xuất một thế giới quan triết học mới, với việc phát hiện ra quan niệm duy vật về lịch sử, các ông đã bước đầu đặt ra cơ sở lý luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học - chủ nghĩa duy vật thực tiễn Chính vì vậy, 160 năm qua, kể từ khi ra đời đến nay, “Hệ tư tưởng Đức” đã đi vào lịch sử hình thành và phát triển triết học Mác với tư cách nền tảng, bước ngoặt cách mạng và cùng với nhiều tác phẩm khác của C.Mác và Ph.Ăngghen, làm nên cơ sở lý luận, phương pháp luận khoa học và trở thành vũ khí tinh thần không thế thiếu của giai cấp vô sản toàn thế giới trong công cuộc cải tạo xã hội bằng thực tiễn cách mạng Giờ đây, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ý nghĩa lớn lao này của “Hệ tư tưởng Đức” vẫn còn nguyên giá trị
Trang 3NỘI DUNG
1 Hoàn cảnh ra đời, mục đích và kết cấu của tác phẩm
1.1- Hoàn cảnh ra đời và mục đích của tác phẩm
Cuối tháng 8 năm 1844 Mác và Ăngghen đã gặp nhau ở Pari và hai ông thường xuyên trao đổi với nhau và đều nhận thấy ở nhau sự nhất trí cao trong mọi lĩnh vực lý luận Cũng chính thời gian ở Pari, Mác đã chuyển hẳn sang lập trường của chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cộng sản Vào lúc gặp Ăngghen, Mác đang có ý định viết một tác phẩm nhằm chống lại phái Hêghen trẻ Mác
đã đề nghị Ăngghen cùng cộng tác để hoàn thành tác phẩm này Nhưng sau đó vào khoảng tháng 2 năm 1845 sau khi bị chính phủ Pháp trục xuất, ông đã rời Pari đến Bruc-xen, khi đó mục đích trước mắt của ông là phải hoàn thành việc luận chứng và đề xuất một học thuyết cách mạng mới, tuyên truyền và phổ biến những tư tuởng đó trong phong trào vô sản
Trong thời gian ở Bruc-xen, Mác đã đề xuất những cơ sở khoa học của một thế giới quan mới trên lập trường của giai cấp vô sản Đồng thời Ông tiến hành hàng loạt các hoạt động thực tiễn nhằm tiến tới thành lập một chính đảng
vụ sản cách mạng Tại đây Mác đã trình bày quan niệm về duy vật lịch sử trong luận cương về Phơbach
Trong thời kỳ này, những người ủng hộ Mác và Ăngghen còn là thiểu số trong phong trào công nhân Trong khi đó các phe phái đủ màu sắc của chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản đang chiếm ưu thế Trước tình hình đó, Mác và Ăngghen chủ trương phải chứng minh một cách khoa học những cơ sở hệ tư tưởng của giai cấp vô sản và tuyên truyền những tư tưởng đó trong phong trào công nhân và trong các tầng lớp xã hội để tranh thủ những người vô sản tiên tiến trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản Để thực hiện chủ
Trang 4trương này Mác và Ăngghen thấy rõ nhiệm vụ trước mắt phải làm là phê phán triệt để quan điểm duy tâm về xã hội của nền triết học Đức và chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản Đức lúc đó, đồng thời trình bày một cách chính diện những nguyên
lý cơ bản của một thế giới quan triết học mới và đặt cơ sở lý luận cho chủ nghĩa cộng sản khoa học
Do phong trào công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa vào thời kỳ này đang phát triển mạnh, riêng ở nước Đức có những điều kiện hết sức đặc biệt nên Mác và Ăngghen thấy rõ cần phải đẩy mạnh sự phát triển của phong trào công nhân bằng cách định hướng cho phong trào không bị lệ thuộc vào hệ tư tưởng của các giai cấp khác, mà phải được mở rộng và phát triển trên cơ sở tiếp thu mét thế giới quan mới, một học thuyết cách mạng mới Muốn vậy cần phải nghiên cứu và đề xuất một thế giới quan mới, chính điều đó đã thôi thúc Mác và Ăngghen và hai ông đã tập trung vào việc khái quát lý luận về vai trò lịch sử của giai cấp vô sản và đề xuất các quan điểm về duy vật lịch sử
Chính trong thời gian ở Brucxen Mác đã đề xuất những cơ sở khoa học của một thế giới quan mới trên lập trường của giai cấp vô sản và tiến hành các hoạt động thực tiễn nhằm mục đích đi đến thành lập một chính đảng vô sản cách mạng
Trên cơ sở phê phán quan điểm duy tâm về lịch sử của Phơbach, Mác và Ăngghen đã trình bày rõ ràng và chi tiết một thế giới quan mới - các quan điểm duy vật về lịch sử của mình trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”
1.2- Kết cấu của tác phẩm
Tác phẩm có nội dung đồ sộ này được phân thành hai tập Tập I: Phê phán triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là L.Phoi-ơ-bách, B.Bau-ơ và M.Stiếc- nơ Tập II: Phê phán chủ nghĩa xã hội Đức qua những nhà tiên tri khác nhau của nó Tập I có nội dung hàm súc và chứa đựng hàng loạt tư tưởng cơ bản
Trang 5quan trọng vào thời kỳ hình thành những luận điểm nền tảng của chủ nghĩa Mác, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử
Tập I gồm ba mục, lần lượt tìm hiểu tư tưởng của Phoi- ơ-bách (“Phoi-ơ-bách, sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm”), của B.Bau (“Thánh Bruno”) và của M.Stiếc-nơ (“Thánh Maxo”) Có ba quan điểm cần lưu
ý ở tập này Thứ nhất, tính luận chiến của tác phẩm thể hiện ở việc trich có phê phán từng quan điểm một Thứ hai, sự đan xen các ý tưởng của Mác và Ăng ghen, buộc người đọc phải tập trung cao, sử dụng tốt khả năng xử lý và tổng hợp dữ liệu để hiểu được nội dung nhất quán trong quan điểm của hai ông Thứ
ba, các thật ngữ mà Mác và Ăng-ghen nêu trong “Hệ tư tưởng Đức” vẫn còn chịu của phái Hê ghen trẻ; chúng sẽ được điều chỉnh trong quá trình hoạt động thực tiễn và lý luận của hai ông
Trong tập II, do chương II và chương III không có trong bản thảo nên sau mục I (“Rheinische Jahrbucher” hay là triết học của “chủ nghĩa xã hội chân chính”) là mục IV (các Grun, “phong trào xã hội ở Pháp và Bỉ” hay thuật biên soạn lịch sử của “chủ nghĩa xã hội chân chính” Mặc dù vậy, nội cung các vấn
đề cần thể hiện không hề bị ảnh hưởng
2 Những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Mác và Ăngghen đã chỉ rõ nội
dung của quan niệm duy vật về lịch sử của mình, phân biệt thế giới quan mới của mình với các quan điểm trước đây và cùng thời với các ông Dưới đây, chúng ta sẽ đi vào xem xét phân tích mét sè vấn đề cơ bản của quan điểm này:
2.1- Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Trang 6Quan niệm duy tâm về lịch sử đã cho rằng ý thức xã hội quyết định tồn tại xã hội, các phái duy tâm đã dựa vào tư tưởng đó để giải thích thực tiễn sự phát sinh, phát triển của xã hội loài người
Quan niệm của tôn giáo thì cho rằng con người là một thực thể hoàn toàn thụ động trước hoàn cảnh, vì thế sự tin tưởng tuyệt đối vào các đấng tối cao là động lực cứu cánh cho sù phát triển xã hội
Khác với các quan niệm đó trước khi trình bày quan điểm của mình Mác và Ăngghen đã nghiên cứu kỹ lưỡng xã hội công dân, tìm hiểu ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển của lịch sử và khả năng giải thích các trào lưu tư tưởng và các sản phẩm lý luận được hình thành và phát triển trong quá trình tồn tại của xã hội công dân đó
Cuối cùng Mác và Ăngghen đã đi tới khẳng định tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối quan hệ nhân quả hết sức biện chứng Qua các giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội loài người thì tồn tại xã hội thế nào sẽ có ý thức xã hội phù hợp tương ứng, nhưng điều biện chứng ở đây là ý thức xã hội có vai trò tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển Mối quan hệ giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội chính là con đường phát triển của xã hội loài người
2.2- Vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Theo quan điểm này xã hội loài người bắt đầu sự tồn tại của mình từ khi con người bắt đầu biết lao động, biết sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho đời sống của chính con người, đó cũng là đặc trưng cơ bản để phân biệt giữa con người và giới động vật Khi biết sản xuất ra của cải vật chất và hưởng thụ thành quả của hoạt động đó trong xã hội loài người bắt đầu xuất hiện nhu cầu khác nhau về hưởng thụ của cải vật chất làm ra và các vấn
đề về lợi Ích cá nhân, lợi ích tập đoàn, lợi ích cộng đồng xuất hiện
Trang 7Nhu cầu lợi ích là động lực phát triển sản xuất vì để đáp ứng nhu cầu lợi Ích con người phải nghiên cứu, sáng tạo ra công cụ sản xuất Công cụ sản xuất từ thô sơ đến hoàn thiện sẽ làm cho lượng của cải vật chất được làm ra ngày càng nhiều và chất lượng của cải ngày càng cao, điều đó dẫn tới đời sống xã hội ngày càng được cải thiện và nâng cao từ đó chúng ta thấy sự hoàn thiện của công cụ sản xuất sẽ làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển và thúc đẩy toàn bộ đời sống xã hội phát triển, khi xã hội phát triển lại xuất hiện nhu cầu mới cao hơn v.v , cứ liên tục như vậy từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác xã hội loài người ngày càng phát triển và ngày càng văn minh hơn Như vậy sản xuất vật chất quyết định toàn bộ đời sống xã hội
Sản xuất vật chất quyết định tồn tại xã hội cũng có nghĩa là nó quyết định đến ý thức xã hội Khi sản xuất vật chất phát triển thì khả năng nhận thức thế giới của con người càng sâu sắc, con người có thêm các điều kiện đày đủ hơn để khái quát, tổng kết các hoạt động thực tiễn của mình và các vấn đề của thế giới cũng sẽ được giải thích với các cơ sở khoa học đầy đủ hơn, đồng thời sản xuất vật chất phát triển sẽ làm cho khả năng sáng tạo của con người ngày càng phong phó và điều đó sẽ tác động trở lại thúc đẩy sản xuất vật chất phát triển
Cụ thể trong tác phẩm, để khắc phục tính không triệt để của chủ nghĩa duy vật cũ trong việc xem xét tự nhiên một cách siêu hình và coi tự nhiên là cái bất biến, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra và luận giải tính lịch sử của những điều kiện
tự nhiên mà trong đó, con người tồn tại và hoạt động Phân biệt những điều kiện tự nhiên sẵn có với những điều kiện tự nhiên do hoạt động con người tạo nên, các ông cho rằng, trong xã hội hiện tồn, bản thân môi trường vật chất đã trở thành sản phẩm hoạt động lịch sử của con người Và khi phê phán Phoiơbắc đã không hiểu, không tính đến tác động trở lại tự nhiên của con người, các ông đã khẳng định
Trang 8“hoạt động đó, lao động đó và sự sáng tạo vật chất không ngừng đó, sự sản xuất đó
là cơ sở của toàn bộ thế giới cảm giác được, đúng y như thế giới hiện đang tồn tại, đến mức là nếu như nó bị ngưng lại dù chỉ một năm thì Phoiơbắc không những sẽ thấy những biến đổi lớn lao trong thế giới tự nhiên, mà toàn bộ thế giới loài người
và năng lực quan sát của bản thân ông, thậm chí cả sự tồn tại của bản thân ông cũng chẳng mấy chốc cũng sẽ không còn nữa”1 Với khẳng định này, các ông đã đi đến kết luận rằng, xã hội càng phát triển thì những điều kiện tự nhiên ngày càng trở thành những sản phẩm lịch sử của hoạt động con người Rằng, môi trường tự nhiên
là điều kiện vật chất khách quan cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Khi coi kết cấu vật lý và thể chất của con người là cái quyết định mối quan
hệ nhất định giữa con người và tự nhiên bên ngoài, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tập trung xem xét hoạt động con người với tư cách nhân tố quyết định tiến trình phát triển lịch sử Hoạt động con người, theo các ông, có hai mặt: hoạt động sản xuất -quan hệ của con người với tự nhiên, tác động của con người đến tự nhiên và hoạt động giao tiếp - quan hệ giữa người với người, trước hết là trong quá trình sản xuất Hai mặt hoạt động này tác động lẫn nhau, nhưng cái đóng vai trò quyết định trong sự tác động qua lại đó là hoạt động sản xuất Rằng, toàn bộ lịch sử xã hội loài người bắt đầu từ sản xuất vật chất Sản xuất vật chất là cái phân biệt con người với động vật Các ông viết: “Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng
tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh
hoạt của mình” Và, bằng việc “sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình”,
“con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình”2 Đó là hành động lịch sử đầu tiên của con người
1 Mác- Ăng ghen toàn tập – tập III- tr63
2 Mác- Ăng ghen toàn tập – tập III- tr29
Trang 92.3- Tính biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất (hình thức giao tiếp)
Từ việc phân tích các hình thức sở hữu, mà thực chất là các hình thức của quan hệ sản xuất trong lịch sử, Mác và Ăng ghen đã là sáng tỏ nội dung cốt lõi, quy luật cơ bản, chi phối sự phát triển xã hội, đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hiểu được quy luật này sẽ đi đến hiểu một cách khoa học quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúng thượng tầng cũng như thực chất của nhà nước, của cách mạng
xã hội Quá trình vận động của lực lượng sản xuất trong điều kiện các quan hệ sản xuất hiện tồn, sẽ phá vỡ tất yếu các quan hệ tỏ ra chật hẹp, lỗi thời để thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp hơn với trình độ của lực lượng sản xuất đang phát triển Mác và Ăng ghen rút ra nhận định sau: “Hình thức giao tiếp – cái
mà trong tất cả các giai đoạn lịch sử từ trước đến nay đều được quyết định bởi lực lượng sản xuất và đến lượt nó lại quyết định lực lượng sản xuất”3, “Tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất
và hình thức giao tiếp"4 Ngược lại, nếu “hình thức giao tiếp phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định của lực lượng sản xuất”5, thì các cá nhân cảm nhận được trong các giai đoạn ấy sự hợp lý của những điều kiện hoạt động của mình Nhận định tiếp theo là, cách mạng xã hội là sự giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, sự thay thế phương thức sản xuất lỗi thời lạc hậu bằng phương thức mới
Sự phân tích ấy của Mác và Ăng ghen về những nét chính của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đã làm sâu sắc hơn quan niệm duy vật về lịch sử
3 Mác- Ăng ghen toàn tập – tập III- tr51
4 Mác- Ăng ghen toàn tập – tập III- tr107
5 Mác- Ăng ghen toàn tập – tập III- tr102
Trang 102.4- Mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Sự phân tích tiếp theo làm sáng tỏ cách hiểu về hình thức giao tiếp như cơ sở
hạ tầng của xã hội Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng: “Trong mọi thời đại, những tư tưởng của giai cấp thống trị là những tư tưởng thống trị Điều đó có nghĩa là giai cấp nào là lực lượng vật chất thống trị trong xã hội thì cũng là lực lượng tinh thần thống trị trong xã hội Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, Những tư tưởng thống trị không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện tinh thần của những quan hệ vật chất thống trị, chúng là những quan hệ vật chất thống trị được biểu hiện dưới hình thức tư tưởng”.6
Trong tác phẩm này Mác và Ăngghen đã chỉ ra tính biện chứng của quá trình thay thế các hình thức sở hữu phụ thuộc vào trình độ phát triển của phân công lao động Tõ sù phân tích mối quan hệ giữa cá nhân những người lao động với nhau và mối quan hệ của họ với tư liệu lao động, công cụ lao động và sản phẩm lao động hai ông đã phân chia các hình thức sở hữu trong lịch sử thành bốn loại ứng với mỗi hình thức sở hữu là một cơ sở hạ tầng và ứng với mỗi cơ sở hạ tầng là một chế
độ nhà nước, một kiến trúc thượng tầng xác định Trong quá trình phát triển của lịch sử, khi lực lượng sản xuất phát triển tới một giới hạn nào đó thì cơ sở hạ tầng
cũ không còn phù hợp và mâu thuẫn này ngày càng sâu sắc, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn này là sự mâu thuẫn giữa tầng lớp nắm giữ các tư liệu sản xuất chủ yếu và chiếm đoạt phần lớn các sản phẩm của xã hội với các tầng lớp lao động khác Giải quyết mâu thuẫn này sẽ thay thế kiến trúc thượng tầng cũ bằng một kiến trúc thượng tầng mới phù hợp với quan hệ sản xuất mới tiến bộ
6 Mác- Ăng ghen toàn tập – tập III- tr66-67