Cơ sở để hình thành nên nhà nước phong kiến ở Việt Nam và Trung Quốc có rất nhiều điểm tương đồng với nhau, chính vì vậy em xin chọn đề bài số 4: “So sánh cơ sở kinh tế, xã hội, tư tưởng
Trang 1Đề 4: So sánh cơ sở kinh tế, xã hội, tư tưởng của nhà nước phong kiến Trung Quốc và Việt Nam
Bài làm:
A. Đặt vấn đề
Việt Nam và Trung Quốc là 2 quốc gia nằm ở phía Đông của thế giới Cả 2 quốc gia đã có một thời kỳ phong kiến khá dài Cơ sở để hình thành nên nhà nước phong kiến ở Việt Nam và Trung Quốc có rất nhiều điểm tương
đồng với nhau, chính vì vậy em xin chọn đề bài số 4: “So sánh cơ sở kinh tế, xã hội, tư tưởng của nhà nước
phong kiến Trung Quốc và Việt Nam” làm bài tập học kỳ môn Lịch sử nhà nước và pháp luật.
B. Giải quyết vấn đề
I. Khái quát chung về nhà nước phong kiến Trung Quốc và Việt Nam
1. Trung Quốc
Thời kỳ phong kiến của Trung Quốc kéo dài suốt 2132 năm và bắt đều từ khá sớm, từ năm 221 TCN đến năm
1911 SCN, qua 12 triều đại là nhà Tần (221- 206 TCN), nhà Hán (206 TCN-220SCN), Tam Quốc ( 220- 280), Ngụy- Tấn (280- 420), Nam Bắc Triều (420- 581), nhà Tùy (581- 618), nhà Đường (618- 908), Ngũ Đại- Thập Quốc (908-960), nhà Tống (960- 1279), nhà Nguyên (1279- 1368), nhà Minh (1368- 1644) và nhà Thanh (1644-1911)
2. Việt Nam
Khác với Trung Quốc, thời kỳ phong kiến của Việt Nam bắt đầu muộn hơn Trung Quốc, sau khoảng 10 thế kỷ bị Bắc thuộc, vì thế đến mãi thế kỷ X chế độ phong kiến ở Việt Nam mới hình thành Thời kỳ phong kiến Việt Nam trải qua 10 triều đại, từ năm 938 (khi Ngô Quyền chiến thắng Bạch Đằng) đến năm 1884 (khi thực dân Pháp nổ tiếng súng xâm lược Việt Nam ở bán đảo Sơn Trà- Đà Nẵng) Các triều đại phong kiến Việt Nam là: nhà Ngô (938-965), nhà Đinh (968- 980), Tiền- Lê (980- 1009), nhà Lý (1010- 1225), nhà Trần (1225- 1400), nhà Hồ (1400-1427), Hậu Lê (1428- 1786), Tây Sơn (1778- 1802) và nhà Nguyễn (1802- 1884)
Có 3 yếu tố cốt lõi được coi là cơ sở để hình thành nên nhà nước phong kiến nói riêng, nhà nước các thời kỳ nói chung đó là cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng(hệ tư tưởng) Và ở cả 3 cơ sở hình thành nên nhà nước phong kiến này vừa có sự tương đồng, vừa có sự khác biệt giữa Trung Quốc và Việt Nam Cụ thể như sau:
II. Điểm giống nhau
1. Cơ sở kinh tế
Trước hết là về chế độ sở hữu, ở cả nhà nước Trung Quốc và Việt Nam đều có 2 chế độ sở hữu làm cơ sở thúc đẩy sự ra đời nhà nước phong kiến là sở hữu công và sở hữu tư Trong đó, ở cả 2 nhà nước đều lấy chế độ sở hữu công làm chế độ sở hữu đóng vai trò chủ đạo và chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất chiếm vai trò thứ yếu
Về tính chất nền kinh tế, ở cả Trung Quốc và Việt Nam, đều có nền kinh tế tự cấp, tự túc Như vậy, nhìn chung
về cơ sở kinh tế thúc đẩy nhà nước phong kiến ở cả 2 quốc gia đều có những nét tương đồng với nhau
2. Cơ sở xã hội
Xét về cơ sở xã hội, trong kết cấu giai cấp và kết cấu đẳng cấp ở cả Trung Quốc và Việt Nam đều có những điểm giống nhau nhất định Trước hết là về kết cấu giai cấp, trong xã hội Trung Quốc và Việt Nam đều có 2 giai cấp là
Trang 2giai cấp địa chủ- giai cấp thống trị và giai cấp nông dân- giai cấp bị trị Riêng giai cấp địa chủ, xã hội Việt Nam cũng như xã hội Trung Quốc đều có 2 bộ phận Trong đó có một bộ phận quý tộc có nguồn gốc từ hoàng tộc, quan chức trong triều đình và một bộ phận quý tộc được hình thành từ những người không có nguồn gốc hoàng tộc, quan lại Về tầng lớp nông dân, cũng có 2 bộ phận là nông dân lĩnh canh và nông dân tự canh
Xét về kết cấu đẳng cấp theo địa vị xã hội thì ở xã hội Trung Quốc và xã hội Việt Nam đều có 2 đẳng cấp là bình dân và quý tộc, quan liêu Trong đó, tầng lớp quý tộc quan liêu thường là những người nắm cương vị chủ chốt trong
bộ máy nhà nước, triều đình; được phong tước phẩm, ban cấp đất đai; được pháp luật cũng như lễ nghi bảo vệ, là đẳng cấp cách biệt hoàn toàn với bình dân Những người bình dân là tập hợp chủ yếu của tầng lớp lao động với thân phận thấp kém, bị bóc lột về sức lao động và bị khinh rẻ1 Còn nếu xét theo nghề nghiệp thì xã hội được phân định thành các đẳng cấp khác nhau, trong đó đều có 4 đẳng cấp là sĩ, nông, công và thương
3. Cơ sơ tư tưởng
Tư tưởng Nho giáo và tư tưởng pháp trị là 2 cơ sở tư tưởng thúc đẩy sự ra đời của nhà nước phong kiến ở cả Việt Nam và Trung Quốc
a. Tư tưởng Nho giáo
Nho giáo là học thuyết chính trị- đạo đức, vì vậy trong nội dung của tư tưởng Nho giáo ở cả Việt Nam và Trung Quốc thời phong kiến đều đề cập đến Ngũ luân và Ngũ thường Trên 3 cấp độ quốc gia, xã hội và gia đình, Nho giáo đề cao Ngũ luân với 5 mối quan hệ là vua- tôi, cha- con, chồng- vợ, anh- em, bạn bè và dùng thuyết âm dương
để xã lập trật tự trên dưới giữa các chủ thể trong các quan hệ đó Ngũ luân là quan trọng nhất trong đạo đức Nho giáo và trung hiếu là 2 đức hàng đầu trong ngũ luân Còn Ngũ thường là 5 đức Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín và đức Nhân được coi trọng nhất Chính bởi vậy, đạo đức Nho giáo đã xác lập chế độ tông pháp gia trưởng làm cơ sở cho chế độ quân chủ chuyên chế ở cả 2 quốc gia Trung Quốc và Việt Nam
Về quan điểm chính trị- pháp lý, Nho giáo đề cập đến 5 quan điểm là thuyết Thiên mệnh, quan điểm Tôn quân quyền, quan điểm chính danh, quan điểm đức trị và quan điểm Pháp tiên vương Từ những hệ chính trị- pháp lý này
mà Nho giáo đã rất được coi trọng trong nhà nước phong kiến, chính Nho giáo đã được lấy làm cơ sở để xây dựng các thiết chế nhà nước và xã hội, hoạch định đường lối cai trị.2
b. Tư tưởng pháp trị
Tư tưởng pháp trị là một trong những tư tưởng có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến việc xây dựng các thiết chế Nhà nước và pháp luật, hoạch định đường lối cai trị của cả nhà nước phong kiến Việt Nam và Trung Quốc Tư tưởng pháp trị thể hiện qua một số nội dung như: Thứ nhât, lấy pháp luật làm công cụ trị nước, pháp luật phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, thực thi pháp luật phải nghiêm minh và công khai, mọi người bình đẳng trước pháp luật Thứ hai, bậc làm vua phải củng cố địa vị độc tôn và đề cao uy quyền, phải thâu tóm toàn bộ quyền lực nhà nước để bảo đảm cho pháp luật được thi hành Thứ ba là bậc làm vua phải có thuật cai trị.3 Như vua Lê Thái Tổ từng hạ lệnh rằng “Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, người mà không có pháp để trị thì loạn cho nên bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật…” hay như vua Lê Thánh Tông đề cao tư tưởng thượng tôn pháp luật trong hoạt động cai trị là
“Pháp luật là phép công của nhà nước, ta cùng các ngươi phải tuân theo”
1 Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam”- Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, 2017, trang 62
2 Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam”- Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, 2017, trang 64
3 Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam”- Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, 2017, trang 66
Trang 3Trên đây là một số điểm tương đồng trong cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng của nhà nước phong kiến Trung Quốc và Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tương đồng đó trong những cơ sở này vẫn có sự khác biệt giữa 2 quốc gia
III. Điểm khác biệt
1. Cơ sở kinh tế
a. Chế độ sở hữu
Mặc dù xét về chế độ sở hữu, ở cả Trung Quốc và Việt Nam đều có sở hữu công và sở hữu tư và sở hữu công đều đóng vai trò chủ đạo tuy nhiên trong 2 hình thức sở hữu này vẫn có khá nhiều điểm khác biệt giữa 2 quốc gia Nếu như sở hữu công ở Trung Quốc chỉ có sở hữu nhà nước thì sở hữu công ở Việt Nam tồn tạo dưới 2 hình thức là
sở hữu nhà nước và sở hữu làng xã Ruộng đất do nhà nước trực tiếp quản lý và sử dụng ở Việt Nam không lớn như
ở Trung Quốc, chỉ bao gồm tịch điền, ruộng sơn lăng, ruộng phong cấp, ruộng quốc khố, đồn điền, đất hoang,… 4
Đối với sở hữu làng xã ở Việt Nam tồn tại dưới dạng công điền và quan điền Hình thức sở hữu này là hình thức
sở hữu kép, về danh nghĩa vẫn thuộc sở hữu Nhà nước nhưng thực tế lại thuộc sở hữu của làng xã Ở Trung Quốc không tồn tại hình thức sở hữu này Tuy nhiên, đây lại là một hình thức sở hữu có rất nhiều ưu điểm như giúp nhà nước thực hiện được chính sách đoàn kết dân tộc, duy trì, phát huy được truyền thống tự trị, tự quản làng xã, đảm bảo nguồn thu tô, thuế, lao dịch, bình dịch Để bảo vệ ruộng đất công, ngoài việc nghiêm cấm hành vi bán ruộng đất của làng xã, nhà nước còn sẵn sàng can thiệp tới mức thô bạo khi ruộng đất công bị thu hẹp mà các biện pháp cải cách của Hồ Quý Ly và Minh Mạng thể hiện rất rõ
Về chế độ sở hữu tư nhân, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã có sự khác biệt khá lớn Nếu như Trung Quốc ngày càng phát triển hình thức sở hữu tư nhân lớn về ruộng đất thì ở Việt Nam hình thức sở hữu tư nhân vừa và nhỏ là chủ yếu Ở Việt Nam, mặc dù nhà nước thừa nhận quyền sở hữu tư nhưng luôn tìm cách can thiệp vào sở hữu tư nhân với hàng loạt các chính sách khác nhau và ruộng đất tư chỉ bao gồm đất ở và đất canh tác, tồn tại xen kẽ bới ruộng đất thuộc sở hữu công chứ không có sự tích tụ ruộng đất, chuyển ruộng đất của nhà vua thành của riêng của quý tộc để thu hẹp sở hữu nhà nước như Trung Quốc Ở Trung Quốc, tình trạng địa chủ kiêm tính ruộng đất xảy ra khá phổ biến trong lịch sử, điển hình là ngoại thích Lương Ký thời Hán đã sở hữu vùng đất có chu vu 1000 dặm
b. Tính chất nền kinh tế
Tính chất nền kinh tế của Việt Nam và Trung Quốc tuy đều là nền kinh tế khép kín, tự cấp tự túc- đặc điểm chung của thời phong kiến ở tất cả các quốc gia nhưng giữa 2 quốc gia này cũng có sự khác biệt Nếu như tính chất nền kinh tế của Trung Quốc khá đa dạng thì ở Việt Nam, kinh tế nông nghiệp lại trở thành nền kinh tế chính Trong nền kinh tế, bên cạnh nông nghiệp, Trung Quốc chú trọng phát triển cả thủ công nghiệp và thương nghiệp Nhưng ở Việt Nam, do manh mún trong chế độ sở hữu và chiếm hữu ruộng đất nên chỉ có nông nghiệp phát triển còn thủ công nghiệp, thương nghiệp thì bị chèn ép Cho đến tận thế kyru thứ XV, Đại Việt chỉ cón 1 trung tâm sản xuất thủ công nghiệp và giao thương là thành Thăng Long
2. Cơ sở xã hội
a. Kết cấu giai cấp
Ở cả 2 quốc gia, Trung Quốc và Việt Nam đều có 2 giai cấp chính trong kết cấu giai cấp là gia cấp địa chủ và giai cấp phong kiến tuy nhiên xét về tính chất thì ở mỗi quốc gia, mỗi giai cấp lại có những đặc thù riêng Giai cấp
4 Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam”- Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, 2017, trang 58
Trang 4địa chủ ở Trung Quốc chủ yếu là trung địa chủ và đại địa chủ còn ở Việt Nam, phần lớn là địa chủ nhỏ và vừa Về tên gọi, ở Trung Quốc địa chủ có 2 loại là địa chủ quan lại và địa chủ thường, trong khi Việt Nam chia thành địa chỉ quý tộc quan liêu và địa chủ bình dân xét về bản chất, 2 bộ phận địa chủ này ở cả 2 quốc gia không có sự khác nhau nhiều Tuy nhiên nếu như địa chủ thường ở Trung Quốc là tầng lớp có nhiều đất đai và không giữ bất kỳ chức
vụ gì trong bộ mát nhà nước thì địa chủ bình dân ở Việt Nam lại là những người gia nhập, lũng đoạn hội đồng hàng xãm chi phối mọi mặt đời sống Địa chủ bình dân có nguồn gốc từ thợ thủ công, thương nhân, nông dân tự canh,…
Về giai cấp nông dân cũng có sự khác biệt giữa nông dân lĩnh canh, nông dân tự canh của Việt Nam và Trung Quốc Nếu ở Trung Quốc, nông dân lĩnh canh nộp tô cho địa chủ bằng ½ thu hoạch của mình và không phải chịu bất cứ nghĩa vụ gì với nhà nước thì nông dân lĩnh canh ở Việt Nam ngoài việc nộp thuế tô, thuế thân họ còn phải thực hiện nghĩa vụ lao dịch, binh dịch cho nhà nước Đặc biệt, nông dân tự canh ở Trung Quốc có nghĩa vụ nộp thuế 1/10 thu hoạch cho nhà nước trong khi nông dân tự canh Việt Nam có thể được nhà nước miễn thuế hoặc thu 1 khoản thuế đất rất nhẹ
b. Kết cấu đẳng cấp
Ngay trong kết cấu đẳng cấp theo nghề nghiệp trong xã hội Việt Nam và xã hội Trung Quốc, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt rất lớn Trong khi Việt Nam xét theo nghề nghiệp chỉ phân định 4 đẳng cấp là sĩ, nông, công, binh thì Trung Quốc phân định đến 12 đẳng cấp trong đó có 8 ngành xếp theo thứ tự ưu tiên và 4 thứ bậc cao thấp về quyền lực Cụ thể về 4 thức bậc quyền lực cao thấp có Công, Hầu, Bá, Tử Đây không được coi là nghề nghiệp mà là các tước phong cho các quý tộc 8 ngành được xếp theo thứ tự ưu tiên là canh (canh tác, trồng trọt), tiều (nghề đốn củi), ngư (nghề đánh cá), mục (chăn nuôi), sĩ (trí thức), nông (nông dân), công (người làm thủ công nghiệp), thương (thương nhân)
Ở Việt Nam thì sĩ được đưa lên đầu tiên, chỉ những sĩ tử, người có tri thức, hiểu biết Tiếp theo ở vị trí thứ hai là nông dân- lực lượng lao động, sản xuất chính trong xã hội Ở vị trí thứ 3 là công- những người làm thuê ở các làng nghề thủ công nghiệp, những người này chiếm quy mô nhỏ, số lượng ít Và cuối cùng là những người thương nhân, buôn bán Vị trí của họ ở cuối cùng bởi trong nền kinh tế tự cấp tự túc thì buôn bán trao đổi là điều rất hiếm.5
Về kết cấu đẳng cấp, ngoài việc phân định đẳng cấp theo địa vị, đẳng cấp theo nghề nghiệp giống Trung Quốc, ở Việt Nam còn phân định đẳng cấp theo tập quán, xã hội có 2 đẳng cấp là chính cư và ngụ cư; quan viên và dân hàng
xã Dân chính cư có nhiều đặc quyền đặc quyền đặc lợi hơn dân ngụ cư, chẳng hạn như tham dự việc làng: tế lễ, hội họp, ăn khao, bầu bộ máy quản lý làng xã,…được ưu tiên chia ruộng quân điền
c. Kết cấu xã hội và cấu trúc gia đình truyền thống
Xét về kết cấu xã hội, ở Trung Quốc có nước- nhà, còn ở Việt Nam theo tập quán có nước- làng- nhà, đây là một cấu trúc xã hội truyền thống ở Việt Nam Cấu trúc này đã góp phần hình thành thế ứng xử chính trị hòa đồng, mềm dẻo giữa làng và nước Về cấu trúc gia đình, ở Trung Quốc và Việt Nam cũng có sự khác biệt khi cấu trúc gia đình
ở Trung Quốc là gia đình lớn thì cầu trúc gia đình ở Việt Nam lại là gia đình nhỏ
3. Cơ sơ tư tưởng
Ngoài cơ sở tư tưởng của Nho giáo và tư tưởng pháp trị giống như ở Trung Quốc thì trong cơ sở hình thành và phát triển của nhà nước phong kiến Việt Nam còn chịu ảnh hưởng từ tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật và các tư tưởng truyền thống Tư tưởng từ bi hỉ xả, luân hồi và giải thoát rất gần với tín ngưỡng và nguyện vọng của cư dân Việt vì đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên Đạo Phật có vai trò khá quan trọng trong đời sống chính trị, giúp cho các triều đại thống nhất được tín ngưỡng và nhân tâm, những điều kiện cần thiết để thống nhất
5 http://lazi.vn/qa/d/si-nong-cong-thuong-la-gi-tu-dan
Trang 5đất nước và xây dựng nhà nước tập quyền Ngay trong bộ máy nhà nước, có các chức tăng quan trong triều và các cao tăng tham gia vào chính sự như sư Vạn Hạnh đưa Lý Công Uẩn lênn gôi, sư Đa Bảo được vua Lý Thái Tổ mời tham gia quyết định chính sự hay quốc sư Viênn Thông thường được vua Lý Thần Thông hỏi về các lễ hưng vong
bi loạn, ngang hàng với Thái Tử khi triều kiến vua, Họ là chỗ dựa tinh thần, cố vấn quốc sự của nhà vua Chính sách cai trị thân dân của một số triều đại phong kiến Việt Nam như Lý, Trần đã ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng từ bi
hỉ xả, bác ái, vị tha của đạo Phật Trong khi đó, ở Trung Quốc, tư tưởng này không trở thành cơ sở tư tưởng chủ đạo cho sự hình thành, phát triển nhà nước phong kiến Bởi vậy mà nhiều hình phạt ở Trung Quốc có tính chất dã man hơn ở Việt Nam rất nhiều Bên cạnh đó Trung Quốc thời phong kiến cũng có khá nhiều vị vua dâm ô, hoang độ và tàn bạo như Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên, vua Trụ- có ái phi là Đát Kỷ hay Tùy Dạng Đế Dương Quảng
Khác xa với Trung Quốc, người dân Việt Nam luôn có một tình yêu nước nồng nàn, mãnh liệt Dân Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình và mong muốn độc lập tự chủ Chính bởi vậy, tư tưởng yêu nước và độc lập tự chủ đã trở thành những tư tưởng truyền thống, kết hợp với tư tưởng chính trị pháp lý trở thành những cơ sở tư tưởng chủ đạo thúc đẩy sự phát triển của nhà nước phong kiến Ở Việt Nam, đã trung quân thì phải ái quốc, đại nghĩa thì luôn đặt quyền lợi của dân tộc, quốc gia lên trên quyền lợi của gia tộc và dòng họ
Ngoài ra, những tư tưởng như tư tưởng tự trị tự quản, tư tưởng trọng lệ hơn trọng luật, tư tưởng lão quyền, tư tưởng tộc quyền hat tư tưởng địa vị quan liêu,… cũng là những tư tưởng ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành
và các thiết chế của nhà nước thời kỳ phong kiến ở Việt Nam mà Trung Quốc không có
IV. Lí do có sự tương đồng và khác biệt
1. Nguyên nhân có sự tương đồng
Nhà nước phong kiến Việt Nam ra đời muộn hơn nhà nước phong kiến Trung Quốc , vả lại lại chịu hơn 10 thế
kỷ Bắc thuộc nên một số yếu tố trong cơ sở kinh tế, xã hội và tư tưởng đã du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam, hình thành sẵn và ăn sâu vào tâm lý, con người Việt Hơn 1000 năm Bắc thuộc, Trung Quốc ít nhiều cũng đã đặt nền tảng, cơ sở nhất định cho việc xây dựng tổ chức nhà nước phong kiến Việt Nam Bên cạnh đó thì Trung Quốc
là một trong những quốc gia khá phát triển ở khu vực và trên thế giới, Việt Nam lại ở cạnh ngay sát Trung Quốc nên có rất nhiều yếu tố Việt Nam đã học hỏi ở Trung Quốc và dần hình thành nên cơ sở để xây dựng nhà nước phong kiến
2. Nguyên nhân có sự khác biệt
Tuy nhiên thì xuất phát từ điều kiện lịch sử, địa lý, văn hóa, kinh tế đặc thù nên nhà nước phong kiến Việt Nam cũng được hình thành dựa trên những cơ sở kinh tế, xã hội, tư tưởng riêng biệt, không giống hoàn toàn với Trung Quốc Ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, bên cạnh chính quyền đô hộ của phong kiến phương Bắc, luôn tồn tại chính quyền độc lập tự chủ của người Việt Cũng xuất phát từ chính quy luật lịch sử, dựng nước đi đôi với giữ nước và chống nguy cơ tái Bắc thuộc mà Việt Nam cũng có những cơ sở riêng để hình thành và phát triển bộ máy nhà nước phong kiến vững mạnh, là đặc trưng riêng biệt của người Việt Nam
C. Kết thúc vấn đề
Tìm hiểu về lịch sử phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, chúng ta có thể thấy được rất nhiều điểm kế thừa của Việt Nam và Trung Quốc đồng thời cũng thấy được những cơ sở riêng, đặc trưng nhất của Việt Nam Chính từ những cơ sở kinh tế, xã hội và tư tưởng có điểm giống nhau, khác nhau này mà chúng ta có thể lý giải được rất nhiều vấn đề trong thiết chế của nhà nước phong kiến ở cả 2 quốc gia này
Trang 6Trên đây là toàn bộ bài viết của em Với trình độ kiến thức còn nhiều hạn hẹp, kinh nghiệm còn ít, nên chưa thể
đi sâu phân tích một cách toàn diện triệt để vấn đề và trong bài làm còn có nhiều sai sót Em rất mong nhận được những góp ý, nhận xét, sửa chữa của thầy cô để kiến thức của em hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
D. Danh mục tài liệu tham khảo
1. Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới”- Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, 2017
2. Giáo trình “Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam”- Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản công an nhân dân, 2017
3. Các trang web:
• https://sites.google.com/site/traidattoantap/lich-su/ket-cau-giai-cap-cua-xa-hoi-phong-kien-trung-quoc
• http://lazi.vn/qa/d/si-nong-cong-thuong-la-gi-tu-dan