II. Đặc điểm thơ Haicư của Basô Trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, thơ Hai cư giữ một vị trí rất quan trọng. Nó là một viên ngọc quý giá và là một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học Nhật Bản. Thơ Haicư dung hợp và kết tinh nhiều giá trị văn hóa tinh thần của người Nhật nói riêng và người phương Đông nói chung. Chính vì thế mà thơ Haicư mang hơi thở của Thiền tông, in đậm dấu ấn của thế giới u huyền, thoát tục, đồng thời chứa đựng trong mình bức tranh thiên nhiên rộng lớn với những âm thanh màu sắc đặc trưng cho bốn mùa, được thể hiện dưới một hình thức ngắn gọn, cô đọng. Thơ Hai cư gắn liền với tên tuổi của Bashô, Kikaku, Chiyô, Buson, Chôra, lssa, Shiki... Thơ Hai cư được liệt vào thể thơ ngắn nhất thế giới. Basô không phải là người sáng tạo ra Hai cư nhưng lại đem lại cho nó dạng hoàn mĩ nhất và biến nó trở thành thơ ca thật sự. 1. Đôi nét về sự hình thành thể thơ Haicư Nhật Bản Thơ ca Nhật Bản truyền thống thường dựa trên hình mẫu các câu 5 và 7 âm tiết và tồn tại dưới các hình thức thơ chôka (trường ca), waca (hòa ca) hay còn gọi là tanca (đoản ca), renca (liên ca). Từ thế kỷ XVl đến thế kỷ XlX, một thể thơ mới ra đời thay thế cho thể thơ renca, đó là thể haiku.Thuật ngữ haiku (đọc theo âm Hán Việt là bài cú hay hài cú) không phải xuất hiện từ thời thịnh hành thể thơ này mà nó được sáng tạo vào năm 1890 theo đề xướng của nhà thơ Shihi (18671902) dùng để chỉ những bài thơ ngắn gồm 3 câu, 17 âm tiết đứng độc lập được bố trí theo thứ tự: 575. Thể thơ này vốn được tách ra từ ba câu khổ đầu của thể renca (phần phát cú hay còn gọi là hokku) đứng độc lập và phát triển mạnh mẽ dưới thời Edo. Từ đó nó trở thành một thể thơ với tên gọi là haiku hay haikai, hokku 2. Tiêu chuẩn của một bài thơ Hai cư: Số lượng âm tiết: chỉ có 17 âm tiết đứng độc lập được bố trí theo thứ tự: 575 và chia làm ba dòng xuống dòng không viết hoa và dấu chấm ở cuối câu thứ 3. Một bài thơ Hai cư phải đảm bảo đề tài (quý đề). Đề tài trong thơ Hai cư là đề tài về thiên nhiên. Thế giới thiên nhiên trong thơ haiku mang nhiều màu sắc rực rỡ, huyền bí và đầy quyến rũ. Đó là bức tranh thiên nhiên không chỉ có trăng, sao, hoa, lá, cỏ, cây mà còn là tiếng chim gù trong ban trưa tĩch mịch, tiếng dế mèn kêu trong đêm, tiếng chim gọi bầy và những áng mây xa, những cơn sóng, những cánh hoa anh đào... Đứng trước biển, trước những chuyển động của đất trời, con người càng ý thức về bản ngã của mình và lắng nghe được bước chuyển của thiên nhiên. Một bài thơ Hai cư phải đảm bảo quý ngữ hình ảnh thiên nhiên trở thành biểu tượng của mùa, là yếu tố mùa, trở thành biểu tượng thời gian trong năm. Khi cái nóng oi nồng làm tàn lụi những cánh anh đào rực rỡ của mùa xuân qua đi thì cái se lạnh của mùa thu ùa về làm cho màu xanh chuyển sang màu vàng, tiếng chim hót bỗng dừng và rồi những bông tuyết trắng xóa bắt đầu rơi báo hiệu mùa đông đến. Sự xoay vần của tạo hóa trên đất nước đã tạo cho con người Nhật mang những nét tính cách thật đặt biệt.
Trang 1Insert or Drag and Drop Image Here
TÌM HIỂU VỀ THƠ HAIKU CỦA BASHO
Logo
BÀI 5
NHÓM 5
Trang 2Logo hoặc tên của bạn ở đây
Chèn hoặc kéo và thả hình ảnh ở đây
BỐ CỤC
TÌM HIỂU VỀ THƠ HAIKU CỦA BASHO
1 Tìm hiểu về tác giả Basho
1.1 Thời đại1.2 Gia đình1.3 Bản thân Basho
2 Đặc điểm thơ Haiku
2.1 Đôi nét về sự hình thành thể thơ Haiku2.2 Tiêu chuẩn thơ Haiku
2.3 Tứ trụ thơ Haiku Nhật Bản
3 Phân tích bài thơ số 5 của Basho
4 Tổng kết
2
Trang 3Your Logo or Name Here
1.1 Thời đại
Thời kỳ Edo, hay còn gọi là thời kỳ Tokugawa, là một giai đoạn trong lịch sử Nhật Bản, kéo dài từ năm 1603 đến 1868 Thời kỳ Edo được đánh dấu bằng sự thống trị của Mạc phủ Tokugawa, do Chinh di Đại Tướng quân Tokugawa Ieyasu (1543-1616) thành lập sau khi chiến thắng các thế lực quân sự đối lập, kết thúc thời
kỳ nội chiến ở Nhật Bản, mở đầu cho một giai đoạn hòa bình kéo dài hơn 250 năm.
Thời kỳ Edo được xem là thời kỳ đỉnh điểm của xã hội phong kiến Nhật Bản Giáo dục phát triển mạnh, các trường học ý thức được
sự phát triển kinh tế và văn hóa của phương Tây, và đến cuối thời kỳ đã có sự khuyến khích tiếp cận văn hóa phương Tây.
3
1 Tìm hiểu về tác giả Basho
Tokugawa Ieyasu (1543-1616 )
Trang 4Your Logo or Name Here 4
Insert or Drag and Drop Image Here
Vào thời kỳ Edo, tầng lớp bình dân đã tham gia đóng góp cho nền văn hóa Nhật Bản những yếu tố mới, văn hóa này được gọi là “văn hóa thị dân” Văn hóa thị dân là văn hóa của các tầng lớp thị dân, nghệ sĩ,
kỹ nữ
Thời kỳ Edo kết thúc bằng sự thoái vị của vị Tướng quân thứ 15, Tokugawa Yoshinobu (1837-1913), chấm dứt chế độ Mạc phủ ở Nhật Bản Thiên hoàng Minh Trị (Meiji) (1852-1912) phục hồi Đế quyền, thành phố Edo được đổi tên thành Tokyo (Đông Kinh, 1868), trở thành thủ đô chính thức của Nhật Bản Thời kỳ Edo được xem là mở đầu cho thời kỳ cận đại
ở Nhật Bản.
Sumo, Geisha, Kabuki, Bunraku – những sản phẩm của “văn
hóa thị dân”
Trang 5Your Logo or Name Here 5
Nhà hát kịch thời Edo
Trang 6Your Logo or Name Here 6
Đường phố thời Edo
Trang 7Your Logo or Name Here 7
Bộ ảnh Nhật Bản thời kỳ Edo
Trang 8Your Logo or Name Here
Insert or Drag and Drop Image Here
1.2 Gia đình
thấp phục vụ cho lãnh chúa thành Ueno trong thời Tokugawa (1603-1868).
Trang 9Your Logo or Name Here 9
1.3 Bản thân
Basho được xem là đỉnh cao của thơ Haiku Nhật Bản Ông đã tự nói về mình như sau:
Tên tôi trên đời một người lữ khách mưa mùa thu ơi.
Ông chính là “một người lữ khách” cuộc đời ông đã trải qua bao nhiêu mùa gió bụi Có người
bảo ông đi trong im lặng, “như ngày đi, như đêm đi, như mùa đi” Cuộc đời thiền sư, nhà thơ
Basho trôi qua như vậy đấy.
Trang 10Your Logo or Name Here 10
Trang 11Logo hoặc tên của bạn ở đây
1.3.1 BIÊN NIÊN SỬ CUỘC ĐỜI CỦA BASHO
Rời An Basho
Trang 12Logo hoặc tên của bạn ở đây
Chèn hoặc kéo và thả hình ảnh ở đây
Trang 13Logo hoặc tên của bạn ở đây
Chèn hoặc kéo và thả hình ảnh ở đây
Những tác phẩm của Ba-sô để lại cho đời
+ Ngày Đông (Fuyu no hi 1684) gồm 5 tập viết chung với bạn thơ
+ Du kí lang thang đồng nội (Nozarashi Kiko, dã sái kỉ hành 1685)
+ Ngày Xuân (Haru no hi 1686) viết chung với đồ đệ
+ Nhật kí hành trình Kashima (Kashima Kiko, 1687)
+ Ghi chép trên chiếc túi hành hương (Oi no kubun, cập chi tiểu văn 1688)
+ Lối lên miền Oku (Oku no hoshomichi, áo chi tế đạo 1689)
+Áo tới cho khỉ (Sarumino, viên thoa 1691) 13
Trang 14Logo hoặc tên của bạn ở đây 14
Trang 15Logo hoặc tên của bạn ở đây
Phong cách thơ Hai-cư của Matsuo Baso
Trang 16Logo hoặc tên của bạn ở đây 16
• Trên thực tế Sabi đã trở thành khái niệm căn bản trong thơ Basho
Trang 17
Logo hoặc tên của bạn ở đây 17
Cảm thức Wabi
• Có nghĩa là cái đẹp cao nhất nằm trong vẻ đơn sơ và thanh tịnh Đó chính là tư tưởng “vạn vật hữu linh” – thái độ trân trọng cuộc sống thực tại
• Thơ Hai-cư không rực rỡ, khoa trương, đạo của nó là trái tim bình
thường
Mái lều im một con chim gõ kiến
gõ ngoài trụ hiên.
Trang 18Logo hoặc tên của bạn ở đây
Trang 19Logo hoặc tên của bạn ở đây
Ngay tức thì, nhà thơ say mê nó và đem trồng trong sân nhà Khách đến thăm gọi nhà ông là "ba tiêu am" ( Basho-an) Cũng trong những năm này, ông tu tập thiền đạo với một thiền sư tại một ngôi chùa địa phương
19
Chèn hoặc kéo và thả hình ảnh ở đây
Trang 20Logo hoặc tên của bạn ở đây 20
Năm 1682 Basho am bị cháy, ông dời về Koshu và từ đó lấy bút hiệu là Basho (Ba Tiêu) Năm sau ông trở lại Edo và dựng
lại "ba tiêu am" Bắt đầu từ đây, định mệnh thơ haikai rơi vào tay của Basô: ông đã sáng tạo ra một phong cách mới là
Shofu (Tiêu Phong, ẩn ý về đời người nghệ sĩ như những tàu lá ba tiêu bị xé tan trong gió những đêm giông bão), một
phong cách dung hợp giữa sự trào lộng đời thường của haikai đương thời với yếu tố cao nhã tâm linh của thể thơ renga (liên
ca) cổ điển Ông cũng dần hoàn thiện một loại thơ ngắn 17 âm tiết trong 3 câu 5+7+5 từ những câu đầu (hokku) của thể thơ
renga và thể thơ cực ngắn ấy về sau được mọi người biết đến với cái tên đã trở thành bất hủ hai-cư
Trang 21Logo hoặc tên của bạn ở đây
1.5 Các chuyến du hành của Basho
21
Du hành bờ Tây
• Mùa thu năm 1684, ông từ bỏ cuộc sống yên ổn ở am Ba tiêu và bắt đầu làm một lữ của cõi phù thế Theo con đường ven biển về hướng Tây, ông lang thang thăm lại cố hương Ueno rồi đi Nagoya
• Ở đó, ông cầm đầu một nhóm thi sĩ soạn nên 5 tập renga xuất sắc mang tên Đông nhật (Fuyu no hi) Đến mùa hạ năm sau, Basho mới trở về Edo sau khi thăm viếng nhiều nơi Chuyến đi lớn đầu tiên này được ông ghi lại trong kỷ mang tên Nhật ký phơi thân đồng nội (Nozarashi kiko, Dã sái kỷ hành, 1685)
Trang 22Logo hoặc tên của bạn ở đây 22
Hành trình Kashima
• Chuyến đi kế tiếp của Basho hướng về Kashima được ông mô tả trong
“Kỷ hành Kashima” (Kashima kiko, 1687)
• Đây là chuyến đi mà đích đến của Basho là đền Kashima thăm viếng sư phụ, thiền sư Bucho, và thăm lại cây anh đào nổi tiếng ở Yoshino mà nhớ
về người bạn yểu mệnh tại Ueno năm xưa
Trang 23Logo hoặc tên của bạn ở đây 23
Đường đến Sarashina
• Ngay sau chuyến đi Kashima, Matsuo Basho lại khăn gói hành hương trong một năm trời từ Edo về bờ biển Suma, từ Akashi đến thôn
Sarashina để được tận hưởng mùa trăng trên đỉnh núi Obasute
• Chuyến đi này lại sinh thành hai tập nhật ký thơ ca khác là Ghi chép trên chiếc túi hành hương (Oi no kubun, cập chi tiểu văn, 1688 và Nhật ký về thôn Sarashina (Sarashina kiko, 1688) Đây là những trang ca ngợi thiên nhiên vô cùng nồng nàn, là lời kêu gọi say đắm "trở về với thiên nhiên"
Trang 24Logo hoặc tên của bạn ở đây 24
Bắc hành
• Chuyến đi dài nhất của Basho với một người đệ tử là cuộc du hành phương Bắc đảo Honshu vào năm ông 45 tuổi Đây là một chuyến đi kéo dài 151 ngày đầy gian khổ, bất trắc trên con đường thiên lý đến những vùng đất còn
nguyên sơ, khởi đầu từ Edo ngày 27 tháng ba âm lịch năm 1689
• Basho tiếp tục đi Kyoto về quê thăm nhà và cùng các bạn thơ du ngoạn hồ Biwa Trên đường thiên lý Basho đã dừng trú tại Huyền trú am (Genju-an) trong khu rừng bên hồ Biwa và tại đây ông viết nên bài tùy bút kỳ tuyệt mang tên Tùy bút Huyền trú am (Genjuan no ki, 1690)
Trang 26Your Logo or Name Here
2 Đặc điểm thơ Haiku
Click icon to add picture
1 Đôi nét về sự hình thành thể
thơ Haiku Nhật Bản
Click icon to add picture
2 Tiêu chuẩn của một bài thơ
Trang 27Your Logo or Name Here 27
• Trong truyền thống thơ ca Nhật Bản, thơ Haiku giữ một
vị trí rất quan trọng Nó là một viên ngọc quý giá và là
một phần tài sản tinh thần trong kho tàng văn học Nhật
Bản.
• Thơ Hai-cư dung hợp và kết tinh nhiều giá trị văn hóa
tinh thần của người Nhật nói riêng và người phương
Đông nói chung Thơ Haiku được liệt vào thể thơ ngắn
nhất thế giới Basho không phải là người sáng tạo ra
Haiku nhưng lại đem lại cho nó dạng hoàn mĩ nhất và
biến nó trở thành thơ ca thật sự.
• Thơ Haiku gắn liền với tên tuổi của Basho, Kikaku,
Chiyo, Buson, Chora, lssa, Shiki
Trang 28Your Logo or Name Here 28
2.1 Đôi nét về sự hình thành thể thơ Haiku
Thơ ca Nhật Bản truyền thống thường dựa trên hình mẫu các câu
5 và 7 âm tiết và tồn tại dưới các hình thức thơ choka (trường ca),
waca (hòa ca) hay còn gọi là tanca (đoản ca), renga (liên ca)
Từ thế kỷ XVl đến thế kỷ XlX, một thể thơ mới ra đời thay thế cho
thể thơ renga, đó là thể haiku.Thuật ngữ haiku không phải xuất
hiện từ thời thịnh hành thể thơ này mà nó được sáng tạo vào năm
1890 theo đề xướng của nhà thơ Shiki (1867-1902) dùng để chỉ
những bài thơ ngắn gồm 3 câu, 17 âm tiết đứng độc lập được bố
trí theo thứ tự: 5-7-5
Thể thơ này vốn được tách ra từ ba câu khổ đầu của thể renca
(phần phát cú hay còn gọi là hokku) đứng độc lập và phát triển
mạnh mẽ dưới thời Edo Từ đó nó trở thành một thể thơ với tên
gọi là haiku hay haikai, hokku Masaoka Shiki (1867 – 1902)
Trang 29Your Logo or Name Here 29
2.2 Tiêu chuẩn của một bài thơ Haiku
- Số lượng âm tiết: chỉ có 17 âm tiết đứng độc lập
được bố trí theo thứ tự: 5-7-5 và chia làm ba dòng
- Một bài thơ Haiku phải đảm bảo quý đề và quý
ngữ
- Quý đề trong thơ Haiku là đề tài về thiên nhiên
- Quý ngữ là từ miêu tả một mùa nào đó trong năm
Có thể trực tiếp hay gián tiếp thông qua các hình
ảnh, hoạt động hay những cái gì đó mà mang đặc
trưng của một mùa trong năm
Bài thơ “Con ếch” của Basho
Trang 30Your Logo or Name Here
4 mùa trong thơ Haiku
Mùa xuân
Thực vật:
Mơ (ume), lan tím
(sumire), anh đào
(Sakura), hải đường
(tsubaki), lê (nashi),
tử đằng (fuji), đào
(momo), liễu
(yanagi), hồng vàng
(yamabuki), ngải cứu
(yomogi), cây đuôi
ko)
Vụ mùa:
Ngày dài (hinaga),
đêm 88 (hachijuhachiya) để chỉ mùa hái trà, tiết xuân (haruoshimu), vãn xuân (yukuharu)
Thiên văn - Địa lý:
Trăng mờ sương (oborozuki), tuyết tan (yukidoke), sương lam (kasumi)
Sinh hoạt - hội hè:
Bánh nếp bọc lá (kusamochi), diều (tako), vỡ ruộng (hatakeuchi), ngắt lá chè (chatsumi)
Trang 31Một đám mây hoa chuông đền Ueno vang vọng
hay đền Asakasa.
Thiên nhiên, con người và vũ trụ cùng biến đổi Cái động của thiên nhiên đang bừng lên sức sống,
tiếng động của âm thanh là sự mời gọi lòng rạo rực, háo hức của con người phải hành
31
Trang 32Your Logo or Name Here
Mùa hè (tháng tư đến tháng sáu âm lịch)
(hachisu), kim tước
chi (hahakigi), mẫu
đơn (botan), hoa lưu
Vụ mùa:
Đêm vắn (mijikayo), đầu mùa mưa hè
(nyuubai), cái nóng (atsusa), kề thu (akichikashi)
Thiên văn - Địa lý:
Sấm (kaminari), mống trời (niji), mưa rào (yuudachi)
Sinh hoạt - hội hè:
Gặt lúa mạch (mugikari), áo mát (yukata), mùng (kaya), cấy lúa (taue ), Furin (chuông gió), hanabi (pháo
hoa),
Trang 33Tiếng ve mãi kêu không hề để lộ cái chết cận kề.
Trang 34Your Logo or Name Here
Mùa thu (tháng bảy đến tháng chín âm lịch)
Thực vật:
Lau sậy (ashi), cúc
(kiku), chuối (basho),
lau già (ogi), quả
hồng (kaki)
34
Động vật:
Chuồn chuồn (kagero), dế mèn (kirigirisu), dế tùng (matsumushi), chim cút (uzura), ngỗng trời (kari), chim "cát"
(sandpiper, shigi), hải âu (miyakodori),
gà gô (yamadori)
Vụ mùa:
Đêm lạnh (yosamu), hơi nóng còn sót (zansho), trung thu (chuushuu)
Thiên văn - Địa lý:
Sông ngân (Amanokawa), chớp nháng (inazuma), trăng (tsuki), sương thu (kiri), tiếng thu (aki no koe)
Sinh hoạt - Hội hè:
Thất tịch (tanabata), chày (kinuta), ngắm trăng (tsukimi), tảo
mộ (hakamairi), được
mùa (honen)
Trang 35Trăng thu cùng tôi phiêu lãng suốt đêm quanh hồ.
Meigetsu ya ike wo megurite yomosugara.
Dù là ở trạng thái nào thiên nhiên cũng làm giúp ta lấy lại thăng bằng, sự thoải
mái, thanh tịnh trong tâm hồn.
35
Trang 36Your Logo or Name Here
Mùa đông (tháng mười đến tháng chạp âm lịch)
sò (kaki), một loại chim cú (mimizuku).
Vụ mùa:
Lập đông (ritto), cuối năm (toshi no kure), trừ tịch (oomisoka)
Thiên văn - Địa lý:
Đồng khô lá (kareno), sương giá (shimo), lửa ma trơi (kitsunebi), tuyết đầu mùa (hatsuyuki)
Sinh hoạt - Hội hè: Tất (tabi), ho (seki), nệm (futon), đốt than (sumiyaki), quét
bồ hóng (susuhaki)
Trang 37đã rơi năm nào tuyết mà ta ngắm bây giờ lại rơi.
Thiên nhiên biến đổi theo vòng luân hồi của vũ trụ Thiên nhiên không
đứng yên một chỗ mà di chuyên theo vòng xoay vô tận của các mùa để
rồi “biến đổi hóa sinh”, ra đi rồi lại trở về.
37
Trang 38Your Logo or Name Here
2.3 Tứ trụ của thơ Haiku Nhật Bản
38
Insert or Drag and Drop Image Here
Trang 39Your Logo or Name Here 39
tiếng nhất của thời Edo, Nhật Bản.
câu đầu ( 発発 , phát cú) của thể renga ( 発発 , liên ca)
có tính hài hước gọi là Renga no Haikai thành một
thể thơ độc lập mang âm hưởng sâu thẳm của Thiền đạo
vi Nhật Bản mà đã có tầm ảnh hưởng quốc tế.
Matsuo Basho ( 発発発発 ) (1644 - 1694)
Trang 40Your Logo or Name Here
Yosa Buson ( 発発発発 ) (1716 - 1784)
người Nhật trong thời kỳ Edo
ngoại ô thành Osaka Mồ côi cha mẹ từ nhỏ
theo Basho Năm 1772, ra mắt tập thơ đầu tiên
Người ta biết đến Ông nhiều như là một họa sĩ Ông
mất năm 1784
thặng, Buson đã rút kinh nghiệm khi tiếp xúc với
thiên nhiên, đã đạt tự do biểu cảm và một độ cao
trữ tình ít người sánh kịp trong thơ Haiku
•
40
Trang 41Your Logo or Name Here
Kobayashi Issa ( 発発発発 ) (1763 - 1828?)
41
nhà thơ và nhà sư Nhật Bản.
Basho, Buson và Shiki
tương đương Basho
có ít nhất 9000 bài đã được dịch ra tiếng Anh.
Trang 42Your Logo or Name Here
Masaoka Shiki ( 発発発発 ) (1867 - 1902)
42
qua đời ngày 19 tháng 9 năm 1902 tại Tokyo.
báo nước Nhật
Nhật Bản và là một trong những nhà thơ đổi mới thơ waka, đặt tên là tanka vào khoảng đầu thế kỷ thứ 20.
đổi và đặt ra từ "haiku" thay thế cho "hokku" cũng như đổi "waka" thành "tanka".
làm sống lại thể văn ngắn này.
Trang 433 Phân tích bài thơ số 5 của
Basho
43
Trang 44Your Logo or Name Here 44
• Năm 1690, Basho đã bước sang tuổi 46, năm đó ông đang trên đường đi du ngoạn
• Bài thơ này Basho sáng tác khi du hành ngang qua một cánh rừng, ông thấy một chú khỉ nhỏ đang lạnh run lên trong cơn mưa mùa đông
• Bài thơ được viết tại Shirouma
• Nhà thơ tưởng tượng thấy chú khỉ đang thầm ước
có một chiếc áo tơi để che mưa, che lạnh.
• Câu thơ thứ nhất, chữ "đông" là một "quý ngữ"
Trang 45Your Logo or Name Here 45
• Bài thơ có ba hình ảnh – biểu tượng: mưa đông, chú khỉ con thầm ước, chiếc áo tơi.
• Mùa đông ở Nhật Bản lạnh Núi Phú Sĩ phủ trắng tuyết
Những hôm trời có mưa, thời tiết lại càng lạnh Hình ảnh "Mưa đông giăng đầy trời" tượng trưng cho mọi khó khăn gian khổ.
• "Một chú khỉ đơn độc" biểu tượng cho một thân phận "bé nhỏ" đói rét, lẻ loi, cô đơn trong cuộc đời Chú khỉ đang sống trong lạnh lẽo, đói rét, không một chốn nương thân khi "mưa đông giăng đầy trời".
• Chiếc áo tơi đối với con khi trong cảnh gió mưa lạnh lẽo là tấm chăn ngự hàn Thấy được cái rét sự cô đơn, niềm ước mong của con khỉ, của kiếp người nhỏ bé đau khổ đói rét, và đó cũng
là tấm lòng của Ba-sô
Trang 46- Hình ảnh chú khỉ đơn độc trong bài thơ gợi lên hình ảnh người nông dân
Nhật Bản, gợi hình ảnh những em bé nghèo đang rét co ro.
- Bài thơ thể hiện tình thương yêu sâu sắc của nhà thơ đối với những kiếp
Trang 47Bài thơ đã khái quát hoá một vấn đề rất lớn và rất phổ biến của nhân sinh, đó
là khao khát, là ước mơ Con người luôn khao khát và ước mơ về một cuộc
sống đủ đầy, hạnh phúc hơn Những ước mơ rất đỗi giản dị, như chú khỉ ước
có được chiếc áo tơi trong cơn mưa đông
Chỉ một hình ảnh, một biện pháp tu từ nhân hoá mà nhà thơ đã nói lên điều
mà bao nhiêu người đều muốn nói, đó là ước muốn có một cuộc sống bình ổn,
hạnh phúc
Giữa những phút giây bề bộn của cuộc sống, con người luôn hướng đến
những điều tốt đẹp hơn Và điều đó khiến cho xã hội loài người ngày càng
phát triển.
47