Thơ Đường là một sản phẩm văn hóa, văn học đặc sắc của Trung Quốc. Tuy nhiên, với vị thế “đỉnh cao của nghệ thuật thi ca” nên việc tiếp nhận nó là không hề dễ dàng. Nắm bắt cái đẹp cho mình đã khó, huống hồ truyền tải được cái đẹp ấy cho người học lại càng khó hơn. Trước đây với lối giảng dạy truyền thống, thầy đọc trò chép, thầy bình giảng trò thưởng thức đã khiến nhiều tác phẩm khi phân tích bị áp đặt, khiên cưỡng. Thực tế ấy đòi hỏi một hướng tiếp cận mới để có thể phát huy được toàn bộ năng lực của người học trong việc tìm tòi và khám phá thế giới thơ ca. Đây là một nhu cầu bức thiết, là nỗi lòng trăn trở của nhiều thế hệ người dạy. Tác phẩm “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quản Lăng” là một trong số những tác phẩm thơ Đường được đưa vào chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 và được coi là một tác phẩm “kinh điển” tiêu biểu cho vẻ đẹp nghệ thuật Đường thi.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA TRƯỜNG THPT LANG CHÁNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ THƠ ĐƯỜNG QUA BÀI:
“TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG
LĂNG” CỦA LÝ BẠCH
SGK Ngữ Văn 10 – tập 1 (Chương trình cơ bản)
Người thực hiện: Đinh Thị Linh Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ Văn
THANH HÓA, 2022
Trang 2MỤC LỤC:
1 MỞ ĐẦU 3 1.1 Lý do chọn đề tài _3 1.2 Mục đích nghiên cứu 3 1.3 Đối tượng nghiên cứu _4 1.4 Phương pháp nghiên cứu _4 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 4
2.1.1 Khái niệm dạy học theo phát triển năng lực 5 2.1.2 Đặc điểm của dạy học theo phát triển năng lực 5 2.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của thơ Đường _6
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm _6 2.3 Phát triển năng lực cảm thụ thơ Đường qua bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lý Bạch _7
2.3.1 Phát triển năng lực nghệ thuật _7 2.3.2 Phát triển năng lực ngôn ngữ _10 2.3.3 Phát triển năng lực tư duy _11 2.3.4 Phát triển năng lực tạo lập văn bản 12 2.3.5 Phát triển năng lực hoạt động nhóm _13
2.4 Hiệu quả thực hiện sau khi ứng dụng sáng kiến 14
2.4.1 Kết quả khảo sát _14 2.4.2 Các năng lực hình thành cho học sinh sau khi vận dụng sáng kiến 15
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ _16 3.1 Kết luận _16 3.2 Kiến nghị 17
4 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
5 PHỤ LỤC (GIÁO ÁN THAM KHẢO) _19
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục những năm gần đây, vấn đề phát triển năng lựccủa người học đã và đang là một vấn đề nhận được sự quan tâm hàng đầu của các bộngành và đặc biệt là những người làm giáo dục Với một nền giáo dục đang trên đà đổimới và hội nhập theo sự phát triển chung của nhân loại như nền giáo dục Việt Nam,việc chủ thể của giờ học từ người dạy sang người học đã đặt ra nhiều vấn đề cần phảigiải quyết Khi chuyển sang việc lấy người học làm trung tâm thì người dạy sẽ đóngvai trò định hướng và hỗ trợ người học trên hành trình tìm kiếm và bổ sung tri thức.Đây được coi là triết lý giáo dục đổi mới căn bản và cốt lõi nhất của nền giáo dục hiệnnay
Trong nền giáo dục hiện nay, người học trở thành chủ thể trong quá trình tiếp
nhận tri thức Người giáo viên sẽ đứng ở đâu trong bối cảnh mình mất đi vị thế “trung tâm”? Đó là một câu hỏi lớn cho những giáo viên đứng lớp hiện nay Tất nhiên khi mất
đi vị thế cũ ấy, người giáo viên muốn tồn tại cần phải thiết lập một vị thế mới: Vị thếdẫn dắt học trò Thay vì thuyết giảng thì người giáo viên cần cung cấp cho học sinhcác giải pháp để học sinh tiếp cận được tri thức theo định hướng phát triển năng lực Việc phát triển năng lực của người học với đặc thù môn học trở thành một nhiệm
vụ tạo nên cốt lõi của một nền giáo dục đổi mới theo phương châm “lấy người học làm trung tâm” Phát triển năng lực trở thành một chiếc chìa khóa vạn năng để người dạy
hướng dẫn tiếp nhận tri thức và người học trên cơ sở ấy hình thành cho mình hoạtđộng tiếp nhận tri thức Thay vì phải tiếp nhận tri thức một chiều mang tính thụ động,học sinh sẽ có nhiều cách tiếp cận mới, đây là điều kiện để phát triển được toàn diệnnăng lực của bản thân người học Bên trong người học luôn tiềm ẩn những năng lựchọc tập khác nhau, mà người dạy có nhiệm vụ phải đánh thức, khơi mở nó
Thơ Đường là một sản phẩm văn hóa, văn học đặc sắc của Trung Quốc Tuy
nhiên, với vị thế “đỉnh cao của nghệ thuật thi ca” nên việc tiếp nhận nó là không hề dễ
dàng Nắm bắt cái đẹp cho mình đã khó, huống hồ truyền tải được cái đẹp ấy chongười học lại càng khó hơn Trước đây với lối giảng dạy truyền thống, thầy đọc - tròchép, thầy bình giảng - trò thưởng thức đã khiến nhiều tác phẩm khi phân tích bị ápđặt, khiên cưỡng Thực tế ấy đòi hỏi một hướng tiếp cận mới để có thể phát huy đượctoàn bộ năng lực của người học trong việc tìm tòi và khám phá thế giới thơ ca Đây làmột nhu cầu bức thiết, là nỗi lòng trăn trở của nhiều thế hệ người dạy
Tác phẩm “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quản Lăng” là một trong
số những tác phẩm thơ Đường được đưa vào chương trình Sách giáo khoa Ngữ Văn 10
và được coi là một tác phẩm “kinh điển” tiêu biểu cho vẻ đẹp nghệ thuật Đường thi
Vì những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển năng lực cảm thụ thơ
Đường qua bài “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” của Lý Bạch” làm đề tài trong sáng kiến kinh nghiệm của mình.
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
Trong quan niệm dạy học mới theo định hướng phát triển năng lực của người học,
việc tổ chức một giờ học tốt là một giờ học mà người dạy lẫn người học đều phải pháthuy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo nhằm nâng cao tri thức, bồi dưỡngnăng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn; bồi dưỡng phương pháp tựhọc, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thú học tập cho người
học. Ngoài những yêu cầu có tính chất truyền thống như bám sát mục tiêu giáo dục,
nội dung dạy học, đặc trưng của môn học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổihọc sinh; giờ học đổi mới phương pháp dạy học còn phải có thêm những yêu cầu mớinhư được thực hiện thông qua việc giáo viên tổ chức các hoạt động học tập cho họcsinh theo hướng chú trọng đến việc rèn luyện khả năng tư duy, khả năng tự học, thái
độ tự tin và giờ học được thực hiện theo nguyên tắc tương tác nhiều chiều giữa giáoviên với học sinh, giữa học sinh với học sinh (chú trọng cả hoạt động dạy của giáoviên cũng như hoạt động học của học sinh) Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp
nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ
học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Bài thơ: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng của Lý Bạch (SGK Ngữ Văn 10 – tập 1)
- Học sinh lớp 10A6, 10A10 Trường THPT Lang Chánh
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu thực trạng sáng kiến, cơ sở lý luậncủa sáng kiến, nghiên cứu chủ đề thơ Đường trong chương trình giáo dục trung họcphổ thông
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Tìm hiểu lý do họcsinh gặp khó khăn trong việc học các tác phẩm thơ Đường nói riêng cũng như học
phân môn Ngữ Văn nói chung, khảo sát kết quả học tập trước và sau khi áp dụng sáng
kiến kinh nghiệm trong công tác giảng dạy cho học sinh lớp 10 trường trung học phổthông Lang Chánh
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thống kê tỉ lệ học sinh lớp 10 trườngTHPT Lang Chánh hứng thú học tập bộ môn Ngữ văn, thống kê kết quả học tập sau
khi học sinh học xong bài “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng”
của Lý Bạch
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập
Trang 5trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Để có thể thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT
theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, người giáo viên cần có nhận thức đúng đắn về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng này
2.1.1 Khái niệm dạy học theo phát triển năng lực
Dạy học dựa trên phát triển năng lực là gì và điều gì làm cho nó trở nên khác biệt? Đặc điểm quan trọng nhất của dạy học phát triển năng lực là phương pháp này
giúp giáo viên đo được “năng lực” của học sinh Người học thể hiện sự tiến bộ bằng
cách chứng minh năng lực của bản thân, điều đó đồng nghĩa với việc người học phải chứng minh được mức độ làm chủ, mức độ nắm vững kiến thức và kỹ năng (được gọi
là năng lực) trong một môn học cụ thể Mặc dù các mô hình học tập truyền thống vẫn
có thể đo lường được năng lực của người học, song với những phương pháp dạy học này, kết quả học tập của học sinh phải dựa vào thời gian thông qua các bài đánh giá cuối mỗi kỳ học, do đó các môn học phải được sắp xếp theo từng cấp học và được thựchiện trong từng kỳ học, năm học Vì vậy, trong khi hầu hết các trường học đều cố định thời gian học tập (theo năm học) thì dạy học phát triển năng lực lại cho phép chúng ta giữ nguyên nội dung học và thay đổi thời gian học, học sinh không chỉ học trên lớp học mà có thể học ở bất kỳ đâu và trong bất kỳ thời gian nào
Chúng ta đều thừa nhận rằng, mỗi học sinh là một cá thể độc lập và chúng có sựkhác biệt về năng lực, trình độ, sở thích, nhu cầu và nền tảng xuất thân Dạy học pháttriển năng lực thừa nhận thực tế này và tìm ra được những cách tiếp cận khác nhau để
phù hợp với mỗi học sinh Không giống như phương pháp “một cỡ vừa cho tất cả”
một chiếc áo tất cả đều mặc vừa, phương pháp dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực cho phép học sinh được áp dụng những gì đã học với cuộc sống, thông quaphương pháp dạy học phát triển năng lực và tích hợp liên môn Điều này cũng giúphọc sinh thích ứng với những thay đổi của cuộc sống trong tương lai Đối với một sốhọc sinh, dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho phép đẩy nhanh tốc độ hoànthành chương trình học, tiết kiệm thời gian và công sức của việc học tập
2.1.2 Đặc điểm của dạy học theo phát triển năng lực
- Đánh giá “năng lực” của học sinh hơn là thời gian học.
- Khai thác các thế mạnh của công nghệ thông tin trong việc dạy và học
- Thay đổi căn bản vai trò của giáo viên Trước kia, giáo viên thường làm việc vớihọc sinh từng lớp, từng tiết học theo quy định Giáo viên là người trực tiếp làm chủ tiếthọc và kiểm soát quá trình học tập của học sinh Khi dạy học theo hướng phát triểnnăng lực của người học, giáo viên trở thành người hướng dẫn học sinh làm chủ trithức, tức là giáo viên cùng làm việc với học sinh, hướng dẫn học sinh học tập, hướng
Trang 6dẫn thảo luận và giúp học sinh tổng hợp kiến thức môn học và thậm chí có thể liên hệtích hợp kiến thức liên môn
- Xác định năng lực người học và phát triển các năng lực này phù hợp và đáng tincậy Tiền đề cơ bản của dạy học theo định hướng phát triển năng lực là xác định đượcnhững năng lực cần hình thành cho học sinh Điều này có nghĩa là chúng ta phải xácđịnh các năng lực được hình thành trong quá trình học tập một cách rất rõ ràng và chitiết
2.1.3 Một số đặc trưng cơ bản của thơ Đường
- Tính hàm súc: Một bài thơ Đường luật thường rất ngắn gọn và hàm súc Đầu
tiên, thơ Đường luật được quy định luật rất chặt chẽ về niêm luật và số lượng câu, chữ
Một bài thơ thất ngôn bát cú bao gồm tám câu thơ, mỗi câu thơ có bảy chữ Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt thì chỉ có bốn câu thơ, mỗi câu thơ có bảy chữ Như vậy, cả một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt chỉ có hai mươi tám chữ còn một bài thơ thất ngôn bát cú chỉ
có năm mươi sáu chữ So với các thể thơ khác, thơ Đường luật thường ngắn gọn hơnrất nhiều nên khi phân tích thể thơ thất ngôn Đường luật, người giáo viên cần nói đếntính hàm súc rất riêng của thể thơ này
- Tính quy phạm: Đây là một trong những đặc tính nổi bật của thơ ca trung
đại Tính quy phạm ở thơ Đường luật trước hết thể hiện ở sự quy định chặt chẽ về luật
thơ (luật bằng – trắc, niêm luật, quy định về vần và đối) và cấu tứ (khai – thừa – chuyển – hợp với thể thất ngôn tứ tuyệt, đề – thực – luận – kết với thể thất ngôn bát cú,
kết cấu theo mô hình Kim Thánh Thán,…) Một tuyệt tác thơ thất ngôn, theo quanniệm người xưa phải vừa đảm bảo ý tứ và luật, tức ngoài nội dung còn cần quan tâmđến mặt hình thức
- Tính đối xứng: Tính đối xứng ở thể thơ Đường luật là một trong những đặc
trưng nổi bật Tính đối xứng ở thể thơ này thể hiện ở nhiều phương diện, với hai kiểuđối: tương phản hoặc tương hỗ Sự đối xứng của thơ Đường luật chủ yếu thể hiện ởphương diện ý tứ và ngữ âm, ngữ pháp
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong nhà trường hiện nay, việc dạy và học môn Ngữ văn được coi là một tronghai môn quan trọng hàng đầu cùng với môn Toán Nhưng vị thế này của môn Ngữ vănđang dần bị mất đi trong suy nghĩ và nhận thức của học sinh, đặc biệt là học sinhtrường trung học phổ thông Lang Chánh
Xét về nguyên nhân thì có nhiều nguyên nhân khác : Do chương trình - một số
tác phẩm văn học được đưa vào chương trình còn mang nặng tính lý thuyết và xã hộihọc, học sinh học văn học nghệ thuật mà như đang học môn giáo dục đạo đức bởi
lượng kiến thức cần tiếp thu quá khô khan Do phương pháp truyền thụ của người thầy
còn mang tính áp đặt, khiến học sinh hiểu theo cách hiểu của giáo viên, của người soạnsách, của văn mẫu… lâu dần làm cho các em thui chột cảm xúc, không mở rộng tâmhồn cũng như tư duy sáng tạo Một nguyên nhân đáng quan tâm từ phía người học và
của phụ huynh đó là: tính thực dụng chủ yếu tập trung vào các môn học tự nhiên (như
Toán, Lý, Hóa…) để thi vào các trường Đại học, Cao đẳng Những ngành học đó có
Trang 7khả năng giúp các em khi ra trường dễ kiếm việc làm và có thu nhập cao Vì thế ngàycàng có nhiều học sinh xếp môn Ngữ văn vào hàng thứ yếu, không học hành nghiêm
túc, chỉ học với tính chất đối phó Ngoài ra, xuất phát từ tâm lý, sở thích của tuổi trẻ hiện nay như ưa tìm tòi, thích khám phá khoa học, ưa thích thực tế, không thích văn
chương sách vở dài dòng,… Từ những lý do đó, dần dần học sinh ngày càng thờ ơ vớimôn Ngữ Văn
Thực trạng trên không chỉ xảy ra với học sinh trường trung học phổ thông LangChánh nói riêng mà còn là bức xúc chung của toàn ngành giáo dục và là thử thách lớnđối với những giáo viên giảng dạy chuyên môn Ngữ Văn như chúng ta Chúng ta
không thể buông xuôi, thoái mặc; lại càng không thể lên lớp giao giảng triết lý: “Các
em phải học văn, văn học là nhân học, văn học hướng các em tới cái Chân Thiện
-Mĩ, giúp các em dần hoàn thiện nhân cách…”; mà người thầy phải vất vả hơn trong
việc tạo hứng thú cho tiết học, trăn trở tìm tòi những phương pháp dạy học hấp dẫn vàhiệu quả để học sinh dần dần thay đổi lối suy nghĩ phiến diện, trở nên yêu thích bộmôn Ngữ Văn
Để thay đổi được điều đó, theo tôi, giáo viên phải chú ý đến từng đối tượng ngườihọc, biết đánh trúng vào tâm lý, tình cảm của học sinh Các em chán học, không cóhứng thú thì chúng ta nên đổi mới phương pháp giảng dạy, giúp các em thấy được vănhọc là cả một chân trời mới lạ, nơi mà các em có thể thỏa sức vẫy vùng, khám phá.Thêm nữa chúng ta phải dạy cho học sinh biết lợi ích, tính thực tiễn của môn Ngữ vănkhi áp dụng vào trong đời sống (như viết đơn từ, lập văn bản, viết báo cáo; trong lời ăntiếng nói hàng ngày, tạo nên những trò chơi trí tuệ, mang tính nghệ thuật trong cácbuổi sinh hoạt tập thể…)
Để làm rõ hơn thực trạng nêu trên, tôi xin đưa ra kết quả thi vào lớp 10 bộ mônNgữ Văn của học sinh hai lớp 10 trường trung học phổ thông Lang Chánh là 10A6 (40HS) và 10A10 (44 HS):
2.3 Phát triển năng lực cảm thụ thơ Đường qua bài thơ: Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của Lý Bạch
2.3.1 Phát triển năng lực nghệ thuật
2.3.1.1 Năng lực diễn xuất
Giáo viên cho học sinh xây dựng một kịch bản văn học chứa đựng nội dung liênquan tới tác phẩm Thông qua đó, học sinh được thỏa sức sáng tạo những kịch bản văn
Trang 8học gắn liền với nội dung bài học Với cách học này, học sinh phải chủ động tìm hiểusâu hơn về các giai thoại của tác giả, hoàn cảnh sáng tác hay giá trị nội dung, tư tưởng,chủ đề của tác phẩm Từ đó giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn kiến thức bài học, đồng thờigiúp học sinh hình thành năng lực chủ động tìm hiểu và phân tích tri thức.
2.3.1.2 Năng lực hội họa
Học sinh có thể dựa vào khả năng hội họa kết hợp với khả năng liên tưởng để
vẽ một số hình ảnh mang tính chất mô phỏng nội dung bài học Đặc trưng thơ Đường
là “thi trung hữu họa” (trong thơ có họa) nên việc khai thác năng lực hội họa trong thơ
Đường có một ý nghĩa quan trọng để thưởng thức tác phẩm một cách đa chiều
Hơn nữa, khi được tự do cảm thụ kiến thức và trình bày những kiến thức cá nhântìm hiểu từ trước qua tranh vẽ, các em học sinh đều tỏ ra hứng thú Kết quả là học sinhchủ động tiếp nhận tri thức thông qua quá trình nghiên cứu và hoàn thiện các tác phẩmhội họa của cá nhân, đồng thời rèn luyện sự tự tin khi trình bày những hiểu biết củamình về nội dung bài học
(Học sinh thuyết trình về tác giả Lý Bạch thông qua tranh vẽ) 2.3.1.3 Năng lực âm nhạc
Giáo viên có thể cho học sinh nghe hoặc biểu diễn một đoạn nhạc (với nhiềukiểu nhạc cụ khác nhau) liên quan tới tác phẩm Ví dụ mở đầu bài dạy, để bộc lộ tâmtrạng, cảm xúc của chủ thể trữ tình ta có thể sử dụng tiếng sáo biệt ly để mô phỏng nỗilòng cho người ở lại với người ra đi
Trang 9Minh họa: (Hoạt động Khởi động giao nhiệm vụ cho học sinh tái hiện vở kịch về trích
đoạn chia tay của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên Vở kịch có âm nhạc và hội họa, họcsinh chuẩn bị trước ở nhà và trình)
Chuẩn bị:
- Diễn xuất: Hai học sinh đóng vai Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên
- Đạo cụ:
Tranh ảnh: Về dòng sông Trường Giang khi thuyền bè tập nập và khi chỉ còn lại
1 cánh buồm ảm đạm đang trôi về phía hoàng hôn
Âm thanh: Thương tiến tửu (thơ: Lý Bạch, nhạc: Diệp Thiên Ân), Tống biệthành (thơ: Thâm Tâm, nhạc: Khánh Ly)
Thực hiện:
Cảnh 1: Lý Bạch ngâm thơ
Lý Bạch tư thái ung dung, tay cầm sách để sau lưng, vừa đi vừa ngâm thơ Phía đằng
sau là hình ảnh sông Trường Giang “giữa mùa hoa khói”, thuyền bè tấp nập ngược
Cảnh 2: Sự gặp gỡ của những tâm hồn yêu thơ
Mạnh Hạo Nhiên xuất hiện từ phía sau, vỗ tay khen ngợi
Mạnh Hạo Nhiên: Tuyệt! Tuyệt! Lời thơ thật cao sâu, uyên thâm vô ngần, chỉ có thể
Mạnh Hạo Nhiên tâm trạng đang vui chuyển sang buồn, khuôn mặt lộ rõ sự tiếc nuối
Mạnh Hạo Nhiên: Thời gian như bóng câu qua cửa, ta đến đây để nói lời từ biệt đệ
Mạnh Hạo Nhiên cũng nhìn ra khoảng không, không trả lời Lý Bạch
Lý Bạch: Huynh đi, đệ không thể can ngăn, chỉ có tấm lòng tri kỉ đi cùng huynh
Quan san cách trở muôn trùng, hiền huynh phải gìn giữ tấm thân bình an!
Mạnh Hạo Nhiên: Đệ ở lại cũng phải giữ gìn…
Cảnh 4: Chia tay
Trang 10(Khung cảnh chuyển từ dòng sông Trường Giang “giữa mùa hoa khói” thuyền bè tấp nập sang bức tranh một cánh buồm bé nhỏ cô độc lạc trôi trên dòng Trường Giang –
Nhạc Tống biệt hành nổi lên)
Hai người sau khi nói lời tạm biệt thì chia tay nhau, Mạnh Hạo Nhiên khuất dần sau khán đài Lý Bạch nhìn vào khoảng không gian xa xôi, thở dài tiếc nuối
(Học sinh diễn kịch Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên chia tay trong hoạt động khởi động)
2.3.2 Phát triển năng lực ngôn ngữ
2.3.2.1 Năng lực nhận biết từ ngữ
Đây là năng lực nhận thức đầu tiên và đơn giản đối với học sinh Sau khi đượchướng dẫn, học sinh biết phân tích, đánh giá nội dung và đặc điểm nổi bật về hình thứcbiểu đạt mà văn bản muốn hướng tới theo cách nghĩ và cảm quan riêng của mỗi ngườihọc
Minh họa: Anh (chị) hãy đọc 2 câu thơ đầu bài “Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh
Hạo Nhiên đi Quảng Lăng” của Lý Bạch rồi điền vào chỗ trống ?
Trang 11Kết quả:
Cố nhân Lầu Hoàng Hạc Dương Châu Yên hoa tam
nguyệt 2.3.2.2 Năng lực liên tưởng, tưởng tượng ngôn ngữ
“Trí tưởng tượng là cội nguồn sáng tạo của nghệ thuật, là vầng thái dương vĩnh cửu và là chúa trời của nó” (thơ La tinh) Nhận định trên đã nhấn mạnh vai trò của
năng lực tưởng tượng trong sáng tạo văn học Thông qua việc liên tưởng, tưởng tượng,học sinh có thể biểu đạt ngôn ngữ và mạch cảm xúc của nhân vật trữ tình theo cáchhiểu và sự cảm thụ của cá nhân mỗi học sinh
Minh họa: Dựa vào mạch cảm xúc trong 2 câu thơ sau, em hãy hoàn thiện vào
dấu (…) (Giáo viên có thể gợi ý học sinh bằng các tính từ: 1 – Xa; 2 - Đầy; 3 - Đủ; 4
- Lớn; 5 - Nhỏ)
Tầm nhìn càng…(1) Con thuyền càng (2) Không gian càng (3) Nỗi buồn càng (4)
(Kết quả: 1 - Xa; 2 - Nhỏ; 3 - Lớn; 4 - Đầy) 2.3.2.4 Năng lực tái hiện bằng ngôn ngữ
Với năng lực này, giáo viên cần định hướng cho học sinh phát hiện các tín hiệuthẩm mỹ Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh xác lập mối liên hệ giữa các tín hiệu thẩm
mỹ và tái hiện nó bằng ngôn ngữ
Minh họa: Tìm các hình ảnh độc đáo ở 2 câu thơ sau:
“Cô phàm viễn ảnh bích không tận, Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.”
(Dự kiến: Học sinh liên tưởng đến cuộc chia ly đầy lưu luyến với hình ảnh con thuyền,dòng sông, bầu trời và một đôi mắt dõi theo con thuyền trôi về phía xa Người ở lại –thi nhân dõi theo chiếc thuyền chở bạn xa mãi, xa mãi rồi khuất vào khoảng khôngxanh biếc, ngậm ngùi thương nhớ bạn.)
2.3.3 Phát triển năng lực tư duy
2.3.3.1 Năng lực tư duy cùng chiều
Từ tín hiệu thẩm mỹ giáo viên định hướng, học sinh cần phải phân tích để làm
rõ tình cảm, tư tưởng của tác giả được thể hiện qua tác phẩm
Minh họa:
- Giáo viên định hướng học sinh phân tích từ “cố nhân” (Dự kiến: Cố nhân có
nghĩa là bạn cũ, bạn lâu năm và hơn nữa đó phải là người mà ta đã từng rất trân trọng,
gắn bó Hai từ “cố nhân” gợi mối quan hệ gắn bó thân thiết từ lâu của hai người bạn)
- Không gian chia ly có gì đặc biệt (Dự kiến: Không gian rộng, thể hiện niềm côđơn, lo âu về con đường trở về của bạn)
- Thời gian: Tháng ba “mùa hoa khói” gợi cho em điều gì? (Dự kiến: Tiết trời đẹp
nhưng phải chia ly - ly tán nên cảnh đẹp mà tình buồn Có thể liên hệ các câu thơ có sựtương quan giữa cảnh vật và tâm trạng con người)
Trang 122.3.3.2 Năng lực tư duy phản biện
Giáo viên định hướng, chỉ ra cho học sinh những điều trái với thực tế khách
quan, từ những điều tưởng chừng “trái nghịch” ấy lại thể hiện một mạch cảm xúc nhất
quán của thi nhân
Minh họa
Câu hỏi 1: Sông Trường Giang là huyết mạch giao thông chính của miền Nam TrungQuốc vì vậy trên dòng Trường Giang thuyền bè tấp nập Vậy tại sao trong bài thơ, Lý
Bạch chỉ thấy “cánh buồm lẻ loi” của cố nhân?
Dự kiến: Trong lòng thi sĩ lúc bấy giờ chỉ tồn tại nỗi bận tâm duy nhất đó là người bạnthân thiết của mình đang đi đến một nơi rất xa Cho nên, ánh mắt của ông chăm chú vàdõi theo cánh buồm của con thuyền chở bạn cứ thế xa dần, xa dần trên mặt sông rộnglớn mà không chú ý đến cảnh vật xung quanh
Câu hỏi 2: Mạnh Hạo Nhiên sắp đến thành Dương Châu – đây là một thắng cảnh đôhội phồn hoa Tại sao nhà thơ buồn trong khi thực tế phải vui cho bạn vì bạn lựa chọnđến nơi phồn hoa của đất nước?
Dự kiến: Vì chuyến hành trình của Mạnh Hạo Nhiên là hành trình ngược dòng Thời
thế suy vi, nhiều danh sĩ “lánh đục về trong” ấy vậy Mạnh Hạo Nhiên lại có hành trình
đi ngược lại, báo hiệu nhiều bất trắc ở phía trước
2.3.3.3 Năng lực tư duy vận dụng tạo lập kiến thức mới
Giáo viên phân tích những tín hiệu thẩm mỹ chứa đựng cảm xúc trong bài thơ.Trên cơ sở ấy, giáo viên định hướng cho học sinh liên hệ với thực tế Đây là năng lựcgiúp học sinh có cái nhìn đa chiều về vấn đề được nhắc đến trong văn bản
Minh họa:
CH: Từ cuộc chia tay đầy xúc cảm của Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên, em suy nghĩ gì
về một tình bạn đẹp? Theo em, để tạo nên một tình bạn đẹp yếu tố nào là quan trọngnhất?
(Dự kiến: Một tình bạn đẹp là một tình bạn có sự sẻ chia, yêu thương, kính trọng v.v…
Để làm nên một tình bạn đẹp điều cần thiết là sự chân thành Sự chân thành được thểhiện qua hành động, ánh mắt và tấm lòng)
CH: Từ các tín hiệu thẩm mỹ ở 2 câu thơ cuối, em suy nghĩ gì về mối liên hệ mang
tính đặc trưng của thơ Đường ?
Dự kiến:
Cái xác lập (Nhìn thấy)
Cái liên tưởng (Cảm thấy)
Trang 132.3.4 Phát triển năng lực tạo lập văn bản
2.3.4.1 Năng lực tìm từ, cụm từ ngữ thích hợp
Giáo viên định hướng cho học sinh các từ ngữ phù hợp với văn cảnh, thể hiện
rõ được tình cảm, cảm xúc của chủ thể trữ tình Đây là phương pháp rất quan trọnggóp phần giúp học sinh nâng cao khả năng tạo lập văn bản ở mức độ thấp
Minh họa: Tả cảnh ngụ tình là một trong những thủ pháp quen thuộc của Đường
thi Trong hai câu thơ đầu, nhà thơ tả cảnh nhưng thực chất là tả tình Vậy tình cảmnhà thơ muốn gửi gắm ở đây là gì? Các tính từ nào thể hiện cảm xúc của nhà thơ?
Dự kiến: Cô đơn, lo âu, băn khoăn, trăn trở, luyến tiếc, thương nhớ v.v…
2.3.4.2 Năng lực tạo lập văn bản
Đây là một năng lực đòi hỏi khá cao ở học sinh Thường là phần viết đoạn vănnghị luận, được tiến hành vào cuối buổi học (mang tính tổng kết và liên hệ mở rộng)
Người tạo lập văn bản phải “tích hợp” được nhiều kiến thức: kiến thức trong bài học,
kiến thức trong thực tiễn cuộc sống…
Minh họa: Từ tình cảm giữa Lý Bạch và Mạnh Hạo Nhiên, em suy nghĩ gì về
tình bạn của giới trẻ hiện nay Em hãy viết một đoạn văn khoảng 200 chữ để bàn luận
Minh họa: Trong hai câu thơ đầu, nhà thơ đã sử dụng các từ ngữ thể hiện tình
cảm của mình Em hãy tìm ra các từ ngữ đó?
Dự kiến: Liệt kê các tính từ thể hiện tình cảm
Trang 14(Các nhóm nhỏ trong lớp học tích cực thảo luận nhiệm vụ học tập)
Câu hỏi: Tại sao nhà thơ chỉ thấy một cánh buồm cô đơn trên dòng Trường Giang? Từ
cánh buồm cô đơn, em suy nghĩ gì về tâm tình của nhà thơ?
Câu hỏi: Từ hai câu thơ cuối “Cô phàm thiên tế lưu”, em suy nghĩ gì về tâm tình,
thiên nhiên và phong cách thơ của Lý Bạch?