1. Mô hình thiết kế bài học theo chủ đề Dạy học theo chủ đề là một trong những con đường hình thành và phát triển NL cho HS. Theo định hướng này, các văn bản văn học sẽ được sắp đặt theo các chủ đề nhất định. Ở đây, chúng tôi lựa chọn chủ đề là thể loại. Có thể xác định cấu trúc của một chủ đề dạy học văn bản văn học như sau : (1) Tên chủ đề (2) Lớp, học kỳ (3) Thời lượng (4) Bối cảnh của việc học chủ đề (ý nghĩa, sự cần thiết của chủ đề học tập đối với HS và cuộc sống của chúng ta) (5) Những kết quả mong đợi/cần đạt của người học (những phương diện, biểu hiện, cấp độ cụ thể của các năng lực, nhất là năng lực đặc thù sẽ được hình thành qua chủ đề). (6) Những năng lực và phẩm chất hướng tới của chủ đề học tập (bao gồm những năng lực chung và đặc thù; những phẩm chất sẽ hình thành và phát triển ở HS qua chủ đề. Những NL và phẩm chất này bám sát Chương trình Ngữ văn mới sau 2015.) (7) Các hoạt động dạy học và đánh giá HS trong chủ đề. Các hoạt động này được tổ chức dựa theo các NL và các biểu hiện NL đã được xác định ở phần (5), đồng thời căn cứ vào các điều kiện về tài liệu và nguồn tài liệu học tập của chủ đề bài học. Ở phần này, các NL chung và NL đặc thù của HS được mô tả một cách cụ thể theo hướng kết quả đầu ra giống như mục (5), thậm chí chi tiết hơn mục (5), và được lặp lại qua các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá. Ứng với mỗi biểu hiện NL đó sẽ là các hoạt động dạy học và đánh giá tương ứng. Chẳng hạn : tái hiện lại hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là một biểu hiện và cấp độ của NL đọc hiểu văn học. Với mục tiêu này, hoạt động học của HS là đọc và tái hiện hình tượng nhân vật, kỹ thuật dạy học được áp dụng là bản đồ tư duy và minh chứng để đánh giá chính là bản đồ tư duy mà HS đã thiết kế với nội dung là các chi tiết miêu tả sông Đà trong tác phẩm. Để đạt được mục tiêu về năng lực với các biểu hiện cụ thể, cần có các hướng dẫn và chỉ báo cho HS về tài liệu và nguồn tài liệu học tập. Ở đây, việc ứng dụng CNTT là rất cần thiết và cần được đẩy mạnh. Phần tiếp theo là các hoạt động dạy - học và đánh giá. Nhìn chung, HS hoàn toàn là chủ thể của hoạt động dạy học và đánh giá. Vai trò của GV chỉ là hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ, khích lệ HS trong quá trình triển khai hoạt động học và tham gia đánh giá kết quả học tập của HS trong từng nhiệm vụ mà chính các em đã xây dựng và tiến hành. Ở (7), GV sẽ tổ chức các hoạt động học cho HS thông qua các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực. Mỗi hoạt động học đều được kiểm tra để xem xét tiến độ học của từng HS, từng nhóm HS và đều được đánh giá thông qua các tiêu chí cụ thể, bằng các hình thức, công cụ khác nhau, kèm theo các minh chứng chi tiết làm căn cứ để đánh giá chung vào cuối chủ đề học tập.
Trang 1ĐỔI MỚI THIẾT KẾ VÀ TÔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
PGS.TS Bùi Minh Đức Trường ĐHSP Hà Nội 2
Cũng như nhiều môn học khác ở trường trung học, môn Ngữ văn đang có sự đổi mới mạnh mẽ trên nhiều phương diện theo tiếp cận năng lực (NL) người học Trong sự đổi mới ấy, thiết kế và tổ chức dạy học là hai trong số những khâu được giáo viên (GV) phổ thông quan tâm nhất, không chỉ vì chúng gắn bó chặt chẽ với thực tiễn lao động nghề nghiệp hằng ngày của họ
mà còn bởi đó là những điểm đột phá được Bộ Giáo dục và Đào tạo lựa chọn để GV thay đổi và đi dần vào quỹ đạo của giáo dục hiện đại cũng như chuẩn bị tích cực cho việc triển khai CT, SGK Ngữ văn sau 2018
Bài báo này trình bày những nghiên cứu thể nghiệm về một trong những hướng đổi mới thiết kế và tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo tiếp cận năng lực
1 Mô hình thiết kế bài học theo chủ đề
Dạy học theo chủ đề là một trong những con đường hình thành và phát triển NL cho HS Theo định hướng này, các văn bản văn học sẽ được sắp đặt theo các chủ đề nhất định Ở đây, chúng tôi lựa chọn chủ đề là thể loại Có thể xác định cấu trúc của một chủ đề dạy học văn bản văn học như sau :
(1) Tên chủ đề
(2) Lớp, học kỳ
(3) Thời lượng
(4) Bối cảnh của việc học chủ đề (ý nghĩa, sự cần thiết của chủ đề học tập đối với HS và cuộc sống của chúng ta)
Trang 2(5) Những kết quả mong đợi/cần đạt của người học (những phương diện, biểu hiện, cấp độ cụ thể của các năng lực, nhất là năng lực đặc thù sẽ được hình thành qua chủ đề)
(6) Những năng lực và phẩm chất hướng tới của chủ đề học tập (bao gồm những năng lực chung và đặc thù; những phẩm chất sẽ hình thành và phát triển ở HS qua chủ đề Những NL và phẩm chất này bám sát Chương trình Ngữ văn mới sau 2015.)
(7) Các hoạt động dạy học và đánh giá HS trong chủ đề Các hoạt động này được tổ chức dựa theo các NL và các biểu hiện
NL đã được xác định ở phần (5), đồng thời căn cứ vào các điều kiện về tài liệu và nguồn tài liệu học tập của chủ đề bài học Ở phần này, các NL chung và NL đặc thù của HS được mô tả một cách cụ thể theo hướng kết quả đầu ra giống như mục (5), thậm chí chi tiết hơn mục (5), và được lặp lại qua các hoạt động dạy học và kiểm tra, đánh giá Ứng với mỗi biểu hiện NL đó sẽ là các hoạt động dạy học và đánh giá tương ứng Chẳng hạn : tái hiện lại hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò sông Đà” là một biểu hiện và cấp độ của NL đọc hiểu văn học Với mục tiêu này, hoạt động học của HS là đọc và tái hiện hình tượng nhân vật, kỹ thuật dạy học được áp dụng là bản đồ tư duy và minh chứng để đánh giá chính là bản đồ tư duy mà HS đã thiết kế với nội dung là các chi tiết miêu tả sông Đà trong tác phẩm Để đạt được mục tiêu về năng lực với các biểu hiện cụ thể, cần có các hướng dẫn và chỉ báo cho HS về tài liệu và nguồn tài liệu học tập Ở đây, việc ứng dụng CNTT là rất cần thiết và cần được đẩy mạnh Phần tiếp theo là các hoạt động dạy - học và đánh giá Nhìn chung, HS hoàn toàn là chủ thể của hoạt động dạy học và đánh giá Vai trò của GV chỉ là hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ, khích lệ HS trong quá trình triển khai hoạt động học và tham gia đánh giá kết quả học tập của HS trong từng nhiệm vụ mà chính các em đã xây dựng và tiến hành Ở (7), GV sẽ tổ chức các hoạt động học cho HS thông qua các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực Mỗi hoạt động học đều được kiểm tra để xem xét tiến độ học của từng HS, từng nhóm HS và đều được đánh giá thông qua các tiêu chí cụ thể, bằng các hình thức, công cụ khác nhau, kèm theo các minh chứng chi tiết làm căn cứ để đánh giá chung vào cuối chủ đề học tập
Trang 3(8) Phụ lục cho chủ đề học tập (nếu có) : tài liệu học, phiếu học tập, bảng chỉ dẫn, sơ đồ, tài liệu đọc thêm…
2 Một ví dụ cụ thể
MÔN NGỮ VĂN
MODULE 2 : KẾ HOẠCH BÀI HỌC “ĐỌC HIỂU VĂN BẢN KÝ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM”
Chủ đề : Đọc hiểu văn bản ký hiện đại Việt Nam
Lớp 12, học kỳ : I Thời lượng : 03 tuần
Bối cảnh bài học
Ký (bút ký, tùy bút…) là một trong những loại thể văn học lớn và chiếm số lượng nhiều trong kho tàng văn học Việt Nam hiện đại Cũng như đọc hiểu thơ, truyện, kịch…, đọc hiểu các tác phẩm ký là một kĩ năng cần thiết trong cuộc sống Biết đọc ký không chỉ là biết đọc một áng văn, biết thưởng thức nghệ thuật, biết hưởng thụ thẩm mĩ, nâng cao đời sống tinh thần mà còn là biết “đi du lịch trên các trang sách”, biết tìm tòi và khám phá ra bao điều mới mẻ, bổ ích mà mỗi người không dễ gì có thể trải nghiệm trong cuộc sống Vậy, làm thể nào để có thể đọc hiểu được các tác phẩm ký, để đạt được các giá trị tốt đẹp nêu trên ? Câu trả lời sẽ được tìm thấy trong chủ đề bài học này
Chuẩn cần đạt của bài học
Hiểu và trình bày được các kiến thức cơ bản về thể loại ký Việt Nam hiện đại
Đọc, nhận ra được các thông tin miêu tả trong hai văn bản Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông?.
Lý giải được đặc điểm, biểu hiện, ý nghĩa… của các chi tiết, các hình tượng được nhà văn thể hiện trong hai văn bản
Rút ra được ý nghĩa tư tưởng, chỉ ra được thái độ, quan điểm của người viết trong các văn bản
Nêu và giải thích được những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm
Trang 4 Bày tỏ được tình cảm, thái độ và đánh giá của bản thân về các khía cạnh nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Liên hệ, vận dụng được các nội dung bài học vào thực tiễn cuộc sống của bản thân
Biết chủ động làm việc cá nhân và hợp tác với bạn trong giải quyết các nhiệm vụ đọc hiểu
Trình bày được ý kiến của mình và phản biện quan điểm của các thành viên khác trong lớp một cách thuyết phục
Thể hiện được sự yêu mến và trân trọng vẻ đẹp thiên nhiên và con người của quê hương Việt Nam cũng như thái độ bảo vệ, gìn giữ những vẻ đẹp ấy trong bối cảnh hiện nay
Những năng lực và phẩm chất hướng tới
1 Năng lực :
Năng lực chung : năng lực giao tiếp, năng lực thẩm mĩ, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực hợp tác
Năng lực đặc thù : năng lực đọc hiểu/tiếp nhận văn học
2 Phẩm chất :
Nhân ái : thể hiện ở tình cảm yêu mến đối với thiên nhiên và con người Việt Nam
Tự chủ : thể hiện ở thái độ tự lực, chủ động trong giải quyết các nhiệm vụ học tập
Trách nhiệm : thể hiện ở sự tham gia, đóng góp, phối hợp với các bạn cùng nhóm trong việc giải quyết nhiệm vụ học tập chung
Những phương pháp và phương tiện dạy học chính
1 Phương pháp và kỹ thuật dạy học : Phương pháp giải quyết vấn đề, thảo luận nhóm, dự án; Kĩ thuật khăn phủ bàn, công đoạn, bản đồ tư duy…
2 Phương tiện dạy học : SGK, máy tính, máy chiếu, giấy Ao, bút dạ, băng dính…
Phương pháp và công cụ đánh giá
1 Phương pháp đánh giá : đánh giá quá trình; kết hợp đánh giá định tính và định lượng
Trang 52 Công cụ : quan sát, sản phẩm dự án, bài trình bày, bài tập đọc hiểu,…
Nội dung, hoạt động dạy - học và đánh giá
GV giới thiệu bài học : chủ đề, bối cảnh của chủ đề học tập, các chuẩn cần đạt, những năng lực cần hướng tới hình thành và phát triển
GV sử dụng kĩ thuật công não để thu thập thông tin về HS, kích hoạt tri thức nền và tạo ra
tình huống học tập cho bài học : kí là gì ? thế nào là bút kí ? thế nào là tùy bút ? kí khác truyện thế nào ? kí khác kịch ra sao ? em đã đọc/học tác phẩm kí nào chưa, đó là tác phẩm nào?
Đọc hiểu
-Đọc và trình bày
được các tri thức
về thể loại và
cách đọc hiểu
văn bản theo đặc
trưng thể loại
Thể loại ký
và đọc hiểu văn bản ký
*GV phát phiếu học tập số 1 để HS nghiên cứu về thể loại ký và cách đọc hiểu văn bản ký :
Phiếu học tập số 1
1 Ký là một loại thể văn học gồm nhiều thể : bút ký, ký sự, hồi ký, tùy bút, du
ký, phóng sự… Nghĩa gốc của “ký” là ghi chép Ký miêu tả, phản ánh hiện thực khách quan theo quan điểm tôn trọng sự thật đời sống, không hư cấu theo kiểu của truyện, thơ, kịch Ở ký, nhà văn luôn chú ý đảm bảo tính xác thực của hiện thực được phản ánh tức là con người, sự vật, hiện tượng được thể hiện trong tác phẩm phải có thật, có địa chỉ rõ ràng Cho nên, đọc hiểu ký, việc trước tiên là phải xác định được sự vật, hiện tượng, con người nào được nhà văn phản ánh trong tác phẩm Để làm được việc này, cần dựa vào nhan đề, vào các từ định danh, gọi tên sự vật, hiện tượng, con người được lặp đi lặp lại trong văn bản
2 Tuy ký không hư cấu nhưng ký cũng không phản ánh hiện thực một cách đơn
Trang 6giản Các tác giả vẫn dùng trí tưởng tượng và các thủ pháp nghệ thuật để làm cho các hình tượng đời sống hiện lên một cách sống động, như là một sinh thể ngoài đời, như những tính cách văn học, giàu chất nghệ thuật Do đó, khi đọc hiểu các hình tượng ký, cần phân tích, đánh giá các biện pháp nghệ thuật mà nhà văn đã
sử dụng để thấy sự độc đáo, đặc sắc của hiện thực trong tác phẩm với hiện thực ngoài đời sống dù bản chất, địa chỉ của hai hiện thực ấy không khác nhau
3 Ký dẫu sao vẫn là tác phẩm văn học Vì thế, đằng sau hiện thực được phản ánh
là một quan niệm nhân sinh, một góc nhìn cuộc đời, một niềm cảm hứng trước thời cuộc, một tư tưởng thẩm mĩ, một thế giới tâm hồn với nhiều cung bậc tình cảm, cảm xúc của người viết Đọc ký cũng như đọc thơ, truyện… phải “đọc” ra những điều đó Đấy là lớp nghĩa hàm ẩn của văn bản ký
4 Cũng như các thể loại văn học khác, ký bắt nguồn từ đời sống và lại quay về phục vụ đời sống Đọc ký, do đó, phải huy động vốn sống, kinh nghiệm để có thể hiểu được ý nghĩa của hình tượng ký cũng như phải liên hệ, vận dụng những nội dung trong tác phẩm ký vào thực tiễn cuộc sống của bản thân để nâng cao chất lượng cuộc sống và thấy được giá trị của những tác phẩm ký đối với cuộc đời và con người
* HS đọc rồi trình bày lại một cách ngắn gọn những kiến thức trong Phiếu
* GV và HS dựa vào Phiếu để đánh giá và tự đánh giá phần nhận thức ban đầu của HS
Đọc hiểu, giao Bài 1 : *GV tổ chức, hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản ký thứ nhất : Người lái đò sông Đà
Trang 7tiếp, hợp tác,
thẩm mĩ, giải
quyết vấn đề
Người lái
đò sông Đà
(Nguyễn Tuân)
-Đọc và trình bày
được các tri thức
đọc hiểu
Vài nét về tác giả và tác phẩm
*Học sinh nghiên cứu phần Tiểu dẫn và trình bày các tri thức đọc hiểu về tác giả và tác phẩm, chuẩn bị cho việc đọc hiểu văn bản
*GV và HS đánh giá và tự đánh giá theo phần Tiểu dẫn trong SGK
-Đọc và xác định
được các hiện
thực phản ánh
trong văn bản
Văn bản và chú thích
*HS đọc văn bản, chú thích
*GV đánh giá hoạt động đọc của HS qua quan sát thái độ đọc, hành động đọc của HS :
- Thái độ đọc : rất chăm chú; chăm chú; tương đối chăm chú; không chăm chú
- Hành động đọc : đọc kết hợp ghi chép; đọc không kết hợp ghi chép; không đọc
*GV, HS đánh giá và tự đánh giá kết quả ban đầu của hoạt động đọc qua việc trả lời các câu hỏi trong Phiếu học tập số 2 (Phiếu hỏi) sau :
Phiếu học tập số 2
1 Qua nhan đề và nội dung văn bản, hãy cho biết : nhà văn đã phản ánh những hiện thực khách quan nào trong đời sống ?
2 Những hiện thực ấy có thật không? Nếu có thì ở vùng miền nào trên đất nước ta và vào thời gian nào? Dựa vào đâu, anh/chị khẳng định được những điều đó?
*Chuẩn đánh giá :
- Hiện thực 1 : sông Đà
- Hiện thực 2 : người lái đò trên dòng sông Đà
Trang 8- Cả hai hiện thực đều ở miền Tây Bắc của Tổ quốc vào những năm 60 của thế kỷ XX.
- Đọc và tái hiện
lại được các đặc
điểm của hình
tượng văn học
- Phối hợp hiệu
quả với các thành
viên khác trong
nhóm
- Giải quyết được
nhiệm vụ học
tập - Cảm nhận
vẻ đẹp của hình
tượng
Hình tượng sông Đà qua các chi tiết miêu tả
cụ thể
* HS làm việc nhóm (4-6HS/nhóm, nhóm theo bàn) sử dụng kỹ thuật “bản đồ tư duy” để
tái hiện lại các đặc điểm của hiện thực 1 – hình tượng sông Đà
* GV, HS đánh giá và tự đánh giá theo các tiêu chí : -Về hình thức : bản đồ tư duy
-Về nội dung : đặc điểm của sông Đà + Hùng vĩ và dữ dội : những cảnh đá bờ sông “dựng vách thành”, một khúc sông hẹp bị đá chẹt lại như cái “yết hầu”; mặt ghềnh Hát Loóng sóng nước dữ dội; quãng Tà Mường Vát với những cái hút nước chết người; những thác nước mà từ xa đã nghe thấy tiếng nước réo; những “khúc sông” đầy những đá to, đá bé như đang dàn “thạch trận”
+ Trữ tình và lãng mạn : dòng chảy uốn lượn như mái tóc thiếu nữ; sắc nước đẹp, thay đổi theo mùa; cái nắng đầy chất thơ Đường trên sông; vẻ đẹp thơ mộng của cảnh sắc hai bên bờ sông
- Đọc, phát hiện
và lý giải tác
dụng của các
biện pháp nghệ
thuật trong việc
khắc họa hình
tượng văn học
Hình tượng sông Đà qua nghệ thuật khắc họa của nhà văn
* HS tiếp tục làm việc nhóm theo kỹ thuật công đoạn.
- Nhóm 1,2,3 cùng thảo luận vấn đề : Để khắc họa sự hùng vĩ, dữ dội của sông Đà , nhà văn
đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào ? Nhà văn đã có những liên tưởng, tưởng tượng nào để làm nổi bật đặc điểm của con sông ? Hãy phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật và lối liên tưởng, tưởng tượng ấy
- Nhóm 4,5,6 cùng thảo luận vấn đề : Để khắc họa vẻ đẹp trữ tình của sông Đà , nhà văn đã
sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào ? Nhà văn đã có những liên tưởng, tưởng tượng
Trang 9- Phối hợp hiệu
quả với các thành
viên khác trong
nhóm
- Biết trình bày,
trao đổi ý kiến cá
nhân
- Giải quyết
nhiệm vụ học tập
một cách sáng
tạo
- Cảm nhận vẻ
đẹp của hình
tượng
nào để làm nổi bật các vẻ đẹp khác nhau của dòng sông ? Hãy phân tích tác dụng của các biện pháp nghệ thuật và lối liên tưởng, tượng ấy
* Các nhóm HS luân chuyển sản phẩm (giấy Ao đã ghi kết quả thảo luận của nhóm mình) đến nhóm bạn :
- Nhóm 1 chuyển nhóm 2, nhóm 2 chuyển nhóm 3, nhóm 3 chuyển nhóm 1;
- Nhóm 4 chuyển nhóm 5, nhóm 5 chuyển nhóm 6, nhóm 6 chuyển nhóm 4
* Các nhóm HS đọc, đánh giá kết quả của nhóm bạn và bổ sung kết quả thảo luận của nhóm mình (Lưu ý : ghi chú kết quả bằng màu mực khác hoặc dùng kí hiệu để phân biệt phần ghi
bổ sung của nhóm với phần kết quả của nhóm bạn trước đó)
* HS đại diện nhóm 1,2,3 trình bày những nội dung về nghệ thuật khắc họa sự hùng vĩ và dữ dội của sông Đà và trả lời các câu hỏi từ các HS nhóm 4,5,6
* HS đại diện nhóm 4,5,6 trình bày những nội dung về nghệ thuật khắc họa vẻ đẹp của sông
Đà và trả lời các câu hỏi từ các HS nhóm 1,2,3
* GV đánh giá HS qua quan sát hoạt động nhóm, sản phẩm của các nhóm trên tờ Ao và phần trình bày, đặt câu hỏi, trao đổi của các HS
* HS tự đánh giá nhóm mình và nhóm bạn qua sản phẩm của hoạt động nhóm
Chuẩn đánh giá của hoạt động
-Rất tích cực -Tích cực -Tương đối
* Nhóm 1,2,3 : Bằng so sánh và nhân hóa, bằng
kể và tả, bằng những liên tưởng và tưởng tượng bất ngờ, nhà văn đã khiến cho con sông hung bạo
Giấy Ao ghi kết quả thảo luận nhóm Nhóm hoàn
Trang 10tích cực -Chưa tích cực
của miền Tây Bắc hiện hình dưới nhiều góc độ khác nhau, giống như một sinh thể sống với tích cách dữ dội và thâm hiểm
* Nhóm 4,5,6 : Cũng sử dụng so sánh, nhân hóa với nhiều liên tưởng độc đáo nhưng chủ yếu là qua những từ ngữ gợi hình, gợi cảm và nhịp điệu chậm rãi, êm ái của câu văn, tác giả đã giúp độc giả cảm nhận được một “dòng sông thiếu nữ” với
vẻ đẹp yêu kiều, đậm sắc màu văn hóa
thành tốt là nhóm đạt được nhiều nội dung so với chuẩn, ít nhận được những bổ sung từ nhóm bạn
- Phát hiện và lý
giải được ý nghĩa
của văn bản
- Phối hợp hiệu
quả với các thành
viên khác trong
nhóm
- Giải quyết
nhiệm vụ học tập
một cách sáng
tạo
Ý nghĩa của hình tượng sông Đà
*GV định hướng : Như trong Phiếu học tập 1 đã chỉ rõ : đằng sau những hiện thực được phản ánh là tình cảm, thái độ, quan niệm, suy ngẫm… của nhà văn về cuộc sống Chính
Nguyễn Tuân cũng từng nói : ông đến sông Đà với một mục đích trước tiên là “tìm thứ vàng của màu sắc sông núi Tây Bắc” Nhà văn đã tìm thấy “thứ vàng” nào của con sông Đà nói
riêng và thiên nhiên Tây Bắc nói chung đằng sau những biểu hiện kia của Đà giang? Tình cảm, thái độ của nhà văn khi tìm thấy “thứ vàng” ấy là gì ?
* Các nhóm HS giải quyết nhiệm vụ học tập trên theo kĩ thuật khăn phủ bàn Mỗi cá nhân
ghi nhận thức, đánh giá của mình vào ô dành cho cá nhân trước khi thảo luận để thống nhất quan điểm chung của cả nhóm
* GV, HS đánh giá và tự đánh giá qua sản phẩm (giấy Ao) với kết quả của từng cá nhân và của cả nhóm