Quan niệm phổ biến hiện nay về ngân sách nhà nước thường coi ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế xuất hiện trong quá trình phân phối của cải xã hội.. Từ quan niệm đó, người ta cho
Trang 1Nước Việt Nam ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất
nước, để xây dựng đất nước ta ngày càng giàu đẹp hơn, to đẹp hơn, sánh vai với
các nước trong khu vực và trên thế giới, xây dựng một đất nước Việt Nam dân giàu
nứơc mạnh xã hội công bằng văn minh
Để trở thành một nước có nền kinh tế phát triển thì tất yếu bất kỳ nhà nước
nào cũng phải có một sự quản lý tốt về nguồn lực, nhất là nguồn lực nhà nước Một
trong những nguồn lực đó là ngân sách nhà nước (NSNN), nó giữ vai trò rất quan
trọng, chi phối hầu như toàn bộ hoạt động của nhà nứơc Có ngân sách thì nhà nước
mới hoạt động được, mới thực hiện được các mục tiêu đề ra.Vì vậy mà quản lý tốt
hơn NSNN, nhất là quản lý chi ngân sách sao cho phù hợp, sao cho hợp lý có hiệu
quả là một điều rất quan trọng, không phải bất kỳ quốc gia nào cũng làm được Nó
là sự thách thức mà nước Việt nam ta phải vượt qua được để hoàn thành quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước không chỉ ở hiện tại mà còn cả trong tương
lai Trong khuôn khổ phạm vi một đề án, em chỉ đề cập tới một số vấn đề về quản
lý chi NSNN ở Việt Nam hiện nay nhằm mục đích nêu rõ vai trò của việc quản lý
sao cho tốt hơn, chi ngân sách sao cho có hiệu quả hơn
Như vậy tức là trả lời câu hỏi: NSNN là gì? nó quan trọng như thế nào? nó
tác đọng như thế nào tới nền kinh tế đất nước? Cần có những biện pháp nào để
quản lý tốt hơn chi NSNN?
Em xin trình bày 3 phần chính của đề án:
Chương I : Những vấn đề lý luận về quản lý chi NSNN
Chương II : Quản lý chi NSNN hiện nay
Chương III : Phương hướng và kiến nghị
Trang 2I NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm ngân sách Nhà nước
Ngân sách nhà nước xuất hiện sau khái niệm nhà nước Sự xuất hiện nhà
nước trong lịch sử đòi hỏi nhà nước cần phaỉ có nguồn tài lực để đáp ứng các
khoản chi của mình Đây là điều kiện cần để cho khái niệm ngân sách nhà nước
xuất hiện
Khái niệm ngân sách nhà nước ra đời trong lịch sử chỉ khi quan hệ hàng hoá
tiền tệ phát triển mạnh Nói cách khác, sự phát triển kinh tế hàng hoá tiền tệ là điều
kiện đủ để cho khái niệm ngân sách nhà nước xuất hiện
Cho đến nay danh từ “ngân sách nhà nước” được dùng phổ biến trong đời
sống kinh tế xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhà nước chưa
có sự thống nhất
Quan niệm phổ biến hiện nay về ngân sách nhà nước thường coi ngân sách
nhà nước là một phạm trù kinh tế xuất hiện trong quá trình phân phối của cải xã
hội Từ quan niệm đó, người ta cho rằng : ngân sách nhà nước là những quan hệ
kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối giá trị của cải xã hội gắn liền với việc
thực hiện chức năng của nhà nước
Nhận thức ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế giúp cho chúng ta
có một nhãn quang rộng về ngân sách, gắn sự hoạt động của ngân sách nhà nước
với môi trưòng ra đời, tồn tại và phát triển của nó
2 Đặc điểm các quan hệ kinh tế thuộc nội dung ngân sách Nhà nước
Các quan hệ kinh tế thuộc nội dung ngân sách nhà nước chỉ nảy sinh trong
quá trình phân phối giá trị của cải xã hôị
Các quan hệ kinh tế thuộc nội dung ngân sách nhà nước luôn luôn nảy sinh
Trang 3nhà nứơc đòi hỏi quá trình động viên, tập trung, phân phối và sử dụng giá trị các
nguồn của cải quốc gia Chính trong quá trình đó nảy sinh quan hệ kinh tế thuộc
nội dung ngân sách nhà nước
Bằng quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị, nhà nước tham gia vào quá
trình phân phối giá trị của cải xã hội Do đó các quan hệ kinh tế thuộc nội dung
ngân sách nhà nước chịu sự điêù chỉnh của nhà nước theo những yêu cầu quản lý
trong từng giai đoạn lịch sử
3 Tính chất cuả ngân sách nhà nước Việt nam
a Ngân sách nhà nước ta là ngân sách sản xuất
Tính chất này bắt nguồn từ 2 tiền đề cơ bản sau:
_ Nhà nước ta có chức năng tổ chức quản lý nền kinh tế
_Cơ sở quyết định tài chính là sản xuất
Tính chất sản xuất thể hiện qua hoạt động thu chi của nó.Đối với thu ngân
sách nhà nước, tính chất sản xuất của ngân sách nhà nước thể hiện thông qua việc
động viên nguồn thu, cũng như sự tác động của quá trình đối với sản xuất kinh
doanh theo phương châm : hướng dẫn, kích thích, điều tiết
Đối với chi ngân sách nhà nước, tính chất sản xuất của ngân sách nhà nước
tuỳ theo từng giai đoạn lịch sử, tuỳ theo mức độ, phương thức can thệp của nhà
nước vào quá trình kinh tế mà có những biểu hiện khác nhau
b Ngân sách nhà nước ta là ngân sách thống nhất
Tính thống nhất ở đây bắt nguồn từ sự thống nhất giữa các mặt lợi ích trong
xă hội, giữa kinh tế và chính trị, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa hiện vật và giá trị
Tính thống nhất được thể hiện trong quá trình tổ chức hệ thống ngân sách
nhà nước cũng như trong quá trình tổ chức, điêù hành quản lý hoạt động của ngân
sách các cấp
c Ngân sách nhà nước ta là ngân sách quần chúng
Trang 4Tính chất này bắt nguồn từ bản chất của nhà nước ta và cơ sở kinh tế của
ngân sách nhà nước ta Nhà nước ta là nhà nước do dân và vì dân, vì vậy mọi hoạt
động của nhà nước đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân lao động và được đặt dưới
sự kiểm tra, kiểm soát của nhân dân Cơ sở kinh tế của ngân sách nhà nước ta chính
là do kết quả lao động sản xuất của quảng đại quần chúng mang lại Quần chúng
lao động là người làm chủ ngân sách nhà nước thông qua đại diện của mình là quốc
hội
Do đó, tính chất quần chúng của ngân sách nhà nước ta được thể hiện qua
các nét chủ yếu sau:
_ Quốc hội là cơ quan quỳên lực cao nhất của nhà nước thể hiện ý chí, quyền
lợi của nhân dân lao động, quyết định các mặt thu chi của ngân sách nhà nước
_ Bằng kết quả lao động sản xuất của mình, nhân dân lao động có nghĩa vụ
và quyền lợi trong quá trình hoạt động của ngân sách nhà nước
d Ngân sách nhà nước ta là ngân sách mang tính kế hoạch
Tính kế hoạch bắt nguồn từ chức năng quản lý kinh tế của nhà nước, từ đặc
điểm hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước Tính kế hoạch được thể hiện ở chỗ
_ Ngân sách nhà nước ta được tổ chức quản lý trên cơ sở, đường lối, chủ
trương chính sách kinh tế xã hội của Đảng và nhà nước
_ Kế hoạch thu chi của ngân sách nhà nước luôn luôn gắn chặt với kế hoạch
kinh tế xã hội của nhà nước
_ Quá trình lập kế hoạch ngân sáchlà quá trình đánh giá phân tích giữa khả
năng và nhu cầu, giữa hiện vật và giá trị, giữa kinh tế và tài chính nhằm đảm bảo
nâng cao vai trò của ngân sách đối với việc giữ vững các mặt cân đối trong nền
kinh tế
4 Vai trò chức năng của ngân sách nhà nước
a Chức năng phân phối :
Khác với chức năng phân phối của các phạm trù giá trị khác, chức năng phân
Trang 5_ Phân phối của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với chủ thể phân phối là
nhà nước Nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước làm công cụ phân phối giá trị
tổng sản phẩm xã hội, cùng các nguồn tài chính khác nhằm hình thành quỹ tích luỹ
và tiêu dùng trong phạm vi toàn xã hội
_ Phân phối của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp
và dựa trên quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước
_ Phân phối của ngân sách nhà nước diễn ra trên phạm vi toàn xã hội và lấy
lợi ích toàn cục làm mục đích của phân phối
_ Đối tượng phân phối của ngân sách nhà nước không chỉ là giá trị tổng sản
phẩm xã hội mà toàn bộ giá trị tài sản quốc gia
_ Phân phối cuả ngân sách nhà nước vừa có thể gắn với việc sử dụng trực
tiếp liền ngay sau quá trình phân phối một bộ phận giá trị tài sản quốc gia vừa có
thể hình thành các quỹ tiền tệ với những mục đích sử dụng khác nhau trong nền
kinh tế
Xuất phát từ những đặc điểm đó, sự tham gia phân phối của ngân sách nhà
nước vào giá trị tài sản quốc gia được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác
nhau.Có thể bằng phương pháp cưỡng chế cũng có thể bằng phương pháp tự
nguyện.Dù bằng phương pháp nào thì phân phối của ngân sách nhà nước cũng có
tác dụng to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội Nếu phân phối đúng đắn
phù hợp với quy luật sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, ngược lại sự phân phối
trái với quy luật phát triển tất yếu sẽ dẫn tới những hậu quả to lớn đối với phát triển
kinh tế xã hội, kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế, gây nên sự rối ren trong
linh vực phân phối và lưu thông, làm biến dạng sự vận động đúng đắn các phạm trù
giá trị tạo nên sự bất công trong xã hội
Để phát huy mặt tích cực cuả chức năng phân phối của ngân sách nhà nước
thì phải:
_ Phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ
Trang 6Chức năng giám đốc là hệ quả cuả chức năng phân phối Nói cách khác hiệu
quả vận dụng chức năng giám đốc trong thực tế tuỳ thuộc vào việc vận dụng đúng
đắn chức năng phân phối của ngân sách nhà nước
Cũng như chức năng giám đốc của tài chính nói chung, chức năng giám đốc
của ngân sách nhà nước cũng được tiến hành bằng đồng tiền Song chức năng giám
đốc của ngân sách nhà nước có những nét khác biệt:
_ Giám đốc của ngân sách nhà nước được thực hiện trong quá trình tập trung,
phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước Nói cách khác, ở đâu có
sự vận động cuả quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước thì ở đó phát sinh chức năng
giám đốc của ngân sách nhà nước
_ Giám đốc của ngân sách nhà nước có phạm vi rộng lớn trên nhiều lĩnh vực
và gắn với tính hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Chức năng giám đốc của ngân sách nhà nước khi vận dụng vào thực tiễn trở
thành quá trình kiểm tra ngân sách Kiểm tra ngân sách được thực hiện bởi các cơ
quan tài chính Mục đích của kiểm tra ngân sách là nhằm :
_ Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn của ngân sách
_ Phát huy vai trò tích cực của ngân sách nhà nước đối với quá trình tổ chức
quản lý vĩ mô nền kinh tế
_ Bổ xung hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách nhằm làm cho hoạt động của
ngân sách phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế, xã hội của nhà nước
c Vai trò của ngân sách nhà nước biểu hiện trên các mặt chủ yếu sau:
Ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng của nhà nước đóng vai trò chủ
yếu trong việc hướng dẫn, điều tiết và kích thích sản xuất, tiêu dùng trong nước
Vai trò hướng dẫn, điêù tiết, kích thích sản xuất tiêu dùng của ngân sách nhà nước
Trang 7Ngân sách nhà nước là một trong những công cụ quan trọng góp phần vào
việc thực hiện chủ trương bảo hộ nền sản xuất hàng hoá trong nước
Ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng góp phần giải quyết mối quan hệ
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối, sử dụng quỹ ngân sách nhà
nước theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm thực hiện các nhiệm vụ chính
trị, kinh tế, xã hội do nhà nước đảm nhận
Có thể coi chi ngân sách nhà nước được thể hiện trong hai quá trình phân
phối và sử dụng quỹ tiền tệ của ngân sách nhà nước
b Vai trò của chi ngân sách nhà nước :
Chi ngân sách nhà nước là điều kiện quyết định đến việc thực hiện các nhiệm
vụ của nhà nước Sự tồn tại và phát triển của nhà nước tất yếu sẽ phát sinh các chi
phí để duy trì bộ máy, để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ vốn có của nhà nước
Không có các khoản chi của ngân sách nhà nước, nhà nước không thể tồn tại và
phát triển với tư cách là bộ máy quản lý mọi hoạt động kinh tế, chính trị của xã hội
Chi ngân sách nhà nước là công cụ quan trọng thực hiện vai trò kinh tế của
nhà nước Trong nền kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động
kinh tế là một đòi hỏi khách quan Nền kinh tế thị trường có những cơ chế tự điều
chỉnh tuyệt diệu, song bản thân những cơ chế đó không có khả năng khắc phục
những khuyết tật vốn có của nó như vấn đề công bằng xã hội, vấn đề ô nhiễm môi
trường, vấn đề ổn định chu kỳ kinh doanh Để khắc phục những vấn đề như vậy,
đòi hỏi có sự can thiệp của nhà nước Nhà nước có thể dùng nhiều công cụ, phương
pháp, hình thức khác nhau Một trong số những công cụ của nhà nước đó là chi
Trang 8Tạo nên môi trừơng kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp bằng cách
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo nên “ thị trường nhà nước cần thiết ”
- Ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường, hạn chế tính độc quyền trong
kinh doanh
- Đảm bảo những cân đối lớn trong nền kinh tế, tạo nên những “van” cần
thiết cho việc sử dụng tài nguyên quốc gia tiết kiệm và hiệu quả
Với bàn tay vô hình việc phân phối hàng hoá của cải khó đạt đến yêu cầu
công bằng về mặt xã hội Chính vì thế cần đến sự can thiệp của nhà nước, nhà nước
có thể thông qua chính sách phân phối lại để thực hiện ý tưởng công bằng của
mình Nhà nước dùng nguồn vốn ngân sách để thúc đẩy sự tăng trưởng nền kinh tế
Nhà nước thực hiện việc trợ cấp trực tiếp hoặc gián tiếp cho các tầng lớp nghèo khổ
thông qua các khoản cho tiêu dùng
Để thực hiện vai trò kiểm soát thăng trầm của chu kỳ kinh doanh, tạo thế ổn
định cho nền kinh tế, nhà nước thường sử dụng một cách thận trọng quyền lực về
tiền tệ và tài chính của mình tác động đến sản lượng, việc làm và lạm phát Nhà
nước thường sử dụng công cụ tài chính là chi ngân sách nhà nước và thuế
II QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm
Quản lý ngân sách được coi là công cụ để thực hiện chính sách ngân sách
trong đời sống kinh tế xã hội Cũng như chính sách ngân sách, cơ chế quản lý ngân
sách là sản phẩm chủ quan nhưng mang tính cụ thể hơn Cơ chế quản lý ngân sách
được coi là tổng thể các hình thức, phương pháp hình thành tập trung, phân phối và
sử dụng các nguồn tài chính thuộc quỹ ngân sách
Theo nghĩa hẹp, quản lý ngân sách là tổng hợp các hình thức, phương pháp
điều hành quỹ ngân sách trong hệ thống ngân sách Theo cách hiểu này, cơ chế
quản lý ngân sách được nhìn nhận từ góc độ bên trong của hệ thống ngân sách và
gồm các bộ phận chủ yếu sau:
Trang 9_ Các kế hoạch về ranh giới thu, chi giữa các cấp ngân sách
_ Các hình thức tổ chức bộ máy điêù hành ngân sách
_ Luật ngân sách và hệ thống văn bản pháp quy về điêù hành ngân sách
Theo nghía rộng, cơ chế quản lý ngân sách được coi là tổng thể các hình thức
và phương pháp hình thành, tập trung, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách Với
quan niệm naỳ, rõ ràng cơ chế quản lý ngân sách không chỉ bao gồm các yếu tố các
yếu tố bên trong của hệ thống ngân sách, mà còn các yếu tố liên hệ chặt chẽ với các
yêú tố bên ngoài của hệ thống ngân sách Đó là các hình thức và phương pháp thu,
chi ngân sách Hình thức và phương pháp thu, chi ngân sách là cầu nối liền cơ chế
quản lý ngân sách với các bộ phận cơ chế quản lý tài chính, chịu sự tác động của
các bộ phận trong chính sách kinh tế, tài chính
2 Nội dung của quản lý ngân sách nhà nước
a Phân bổ dự toán ngân sách nhà nước :
Một điêù kiện quan trọng để kiểm soát chi ngân sách nhà nước là : phân bổ
ngân sách của cơ quan tài chính phải được chi tiết theo từng đơn vị sử dụng ngân
sách và từng khoản chi, đồng thời phải có đầy đủ các định mức, tiêu chuẩn để làm
cơ sở cho việc lập dự toán, thông báo hạn mức cũng như thực hiện chi tiêu
b Tập trung nguồn thu :
Điểm 3 Điêù 60 luật ngân sách nhà nước quy định : “ Toàn bộ các khoản
thu ngân sách phải được nộp trực tiếp vào kho bạc nhà nước Trong trừơng hợp đặc
biệt cơ quan thu được được phép tổ chức thu trực tiếp nhưng phải nộp đầy đủ, đúng
thời hạn vào kho bạc nhà nước theo quy định của bộ trưởng bộ tài chính”
Vấn đề quan trọng ở đây là: phân định các khoản thu nào, các đối tượng thu
nào sẽ phải nộp trực tiếp vào kho bạc nhà nước, khoản thu nào, đối tượng nào do
cơ quan thu thu trực tiếp, sau đó nộp vào kho bạc Trên cơ sở đó phải xác định rõ
mối quan hệ giữa kho bạc nhà nước với cơ quan thu ngân sách nhà nước trong quá
trình thu nộp để bảo đảm tập trung đầy đủ các khoản thu ngân sách nhà nước vào
Trang 10Kho bạc nhà nước cần phải kiểm tra, kiểm soát mọi khoản chi để bảo đảm
cho các khoản chi đó phải : có trong dự toán ngân sách được duyệt, được cơ quan
tài chính thông báo hạn mức kinh phí ( quý, tháng ); đúng chế độ, tiêu chuẩn, định
mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; được chủ trương đơn vị sử
dụng ngân sách ( hoặc người được uỷ quyền ) chuẩn chi; có đầy đủ hoá đơn, chứng
từ hợp pháp, hợp lệ
Trách nhiệm này của kho bạc nhà nước là rất lớn, vì vậy cần phải xác định rõ
quy trình kiểm soát từ khâu đầu đến khâu cuối quy trình chi và khẳng định rõ vị trí,
vai trò của các cơ quan, các kế toán viên, thủ trưởng kho bạc nhà nước các cấp
trong việc kiểm soát chi tiêu ngân sách nhà nước
Nguyên lý chung của việc cấp phát, thanh toán là: những khoản chi nào có
đủ điêù kiện thì kho bạc nhà nước cấp phát thanh toán, những khoản chi nào chưa
có đủ điêù kiện thanh toán hoặc một số khoản chi thường xuyên có giá trị nhỏ, kho
bạc nhà nước có thể tạm ứng cho đơn vị, sau đó đơn vị có trách nhiệm báo cáo lại
cho kho bạc nhà nước để chuyển từ tạm ứng sang thực chi
Đối với việc cấp phát, thanh toán chi đầu tư xây dựng cơ bản, khi thực hiện
cơ chế cấp trực tiếp từ kho bạc nhà nước thì các chủ đầu tư phải mở tài khoản tại
kho bạc nhà nước, cơ quan tài chính thông báo hạn mức cho cơ quan đầu tư phát
triển để phân bổ trực tiếp cho chủ công trình, không chuyển vốn từ tài khoản ngân
sách nhà nước sang tài khoản tiền gửi của cơ quan đầu tư phát triển như hiện nay;
cơ quan đầu tư phát triển thực hiện kiểm tra, thẩm định, ra lệnh cấp tạm ứng hoặc
thanh toán chuyển cho kho bạc nhà nước để cấp phát, thanh toán trực tiếp cho đơn
vị nhận thầu hoặc cấp qua chủ đầu tư
d Hạch toán kế toán và quyết toán ngân sách nhà nước :
Việc hạch toán kế toán thu chi ngân sách nhà nước được thực hiện theo chế
độ kế toán ngân sách nhà nước
Trang 11Chế độ kế toán nhà nước phải được bảo đảm thống nhất cả về sổ sách, chứng
từ kế toán, hệ thống tài khoản và phương pháp hạch toán để tất cả các đơn vị kho
bạc nhà nước, cơ quan tài chính các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện
Trang 12I NỘI DUNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1 Nguồn thu của ngân sách nhà nước
Một trong những vấn đề quan trọng khi bàn đến vấn đề thu ngân sách nhà
nước là xác định đúng đắn nguồn thu Xác định đúng đắn nguồn thu của ngân sách
nhà nước mới xây dựng được chế độ động viên thích hợp, tránh bỏ sót nguồn thu,
hạn chế được tác dụng tiêu cực của thu ngân sách đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh ở từng cơ sở
Có thể coi nguồn thu của ngân sách nhà nước là tất cả các nguồn tài chính
hình thành trong quá trình tái sản xuất mở rộng có khả năng động viên vào quỹ tiền
tệ tập trung của nhà nước Nguồn tài chính ở đây được quan niệm là tất cả các
nguồn tiền tệ được hình thành trong sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng ở
trong và ngoài nước mà thông qua phân phối có khả năng hình thành các quỹ tiền
tệ trong xã hội
Không phải tất cả các nguồn tài chính đều là nguồn thu của ngân sách nhà
nước Chỉ những nguồn tài chính thông qua phân phối có khả năng động viên vào
quỹ ngân sách nhà nước mới được coi là nguồn thu của ngân sách nhà nước Nguồn
thu của ngân sách nhà nước là một đại lượng không ổn định Nó luôn luôn chịu ảnh
hưởng của cơ cấu sản xuất kinh doanh, kết quả của sản xuất kinh doanh và cơ chế
động viên phân phối
Tuỳ theo nhu cầu của việc phân tích, đánh giá phục vụ cho công tác quản lý,
cũng như phục vụ cho việc điêù chỉnh các chính sách động viên, người ta có thể
phân nguồn thu của ngân sách nhà nước thành hai nhóm cơ bản
Nhóm nguồn thu từ hoạt động sản xuất trong nước
Trang 13Nguồn thu từ hoạt dộng sản xuất trong nước là các nguồn tài chính có khả
năng tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nước do kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
trong nước mang lại
Tuỳ theo đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh mà nguồn thi trong
nước có thể bao gồm :
_ Nguồn thu hình thành và thực hiện trong khâu sản xuất Xét trên nhiều góc
độ đây là nguồn thu quan trọng nhất Về mặt tỉ trọng đây là nguồn thu lớn của ngân
sách nhà nước Về ý nghĩa kinh tế nguồn thu trong khâu sản xuất là chỉ tiêu quan
trọng đánh giá sự tăng trưởng của nền kinh tế, về qui mô và hiệu quả Mặt khác sự
tăng trưởng của nguồn thu này còn có ảnh hưởng to lớn đến nguồn thu của các
khâu khác Nguồn thu trong khâu sản xuất bao gồm nguồn thu từ sản xuất công
nghiệp, xây dựng cơ bản, nông nghiệp
_ Nguồn thu thực hiện trong khâu lưu thông và phân phối Nguồn thu này
được thực hiện do hoạt động giao lưu hàng hoá trong và ngoài nước, do việc mở
rộng kinh doanh tiền tệ mang lại Nguồn thu này tăng hay giảm phản ánh thực trạng
hoạt động giao lưu hàng hoá trong và ngoài nước, phản ánh thực trạng của các
ngành sản xuất, phản ánh tình hình biến động của thị trường tiền tệ
_ Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ mang lại Xã hội càng văn minh, sản xuất
lưu thông càng phát triển thì các hoạt động dịch vụ càng trở nên phong phú và đa
dạng Hoạt động dịch vụ ở nước ta ngày càng có vị trí cực kì quan trọng đối với sản
xuất và đời sống Đặc điểm của hoạt động dịch vụ so với sản xuất là hao phí xã hội
thấp, song doanh lợi thu được thường cao Vì vậy nguồn thu của ngân sách cũng
thường rất lớn.Trong chính sách động viên, cũng như trong chỉ đạo thực tiễn cần có
biện pháp bồi dưỡng, khai thác nguồn thu này
Nguồn thu ngoài nước
Nguồn thu ngoài nước là các nguồn tài chính do kết quả hoạt động kinh tế
của nước ngoài tạo nên, chi viện cho chúng ta theo tính chất không hoàn trả
Trang 14Đặc điểm nguồn thu này gắn chặt với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội,
ngoại giao của đất nước Đó là nguồn thu không ổn định, có tính chất bù đắp một
phần trong quá trình cân đối ngân sách
Theo điều 28 của luật ngân sách thì nguồn thu của ngân sách nhà nước bao
gồm :
_ Các khoản thu 100%
+ Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
+ Thuế tiêu thụ đặc biệt
+ Thuế lợi tức của các đơn vị hạch toán toàn ngành
+ Các khoản thuế và thu khác từ dầu khí phải nộp ngân sách trung ương theo quy định của chính phủ
+ Lợi tức từ vốn góp của nhà nước, tiền thu hồi vốn của nhà nước tại các cơ
sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay cuả nhà nước (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ nhà
nước
+ Các khoản do chính phủ vay, viện trợ không hoàn lại của chính phủ các
nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài cho chính phủ theo qui định của pháp luật
+ Các khoản phí, lệ phí và các khoản thu khác nộp vào ngân sách trung ương
theo qui định của chính phủ
+ Thu kết dư ngân sách trung ương
+ Các khoản thu khác theo qui định của pháp luật
_ Các khoản thu được phân chia theo tỉ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách
trung ương và ngân sách cấp tỉnh
+ Thuế doanh thu
+ Thuế lợi tức, không kể thuế lợi tức của các đơn vị hạch toán toàn ngành
+ Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
+ Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài
+ Thuế tài nguyên
Trang 152 Nội dung, cơ cấu chi ngân sách nhà nước
Có thể khẳng định rằng nội dung, cơ cấu chi ngân sách nhà nước là sự phản
ánh những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội trong từng giai đoạn lịch sử Nội
dung cơ cấu chi ngân sách nhà nước của mỗi quốc gia thường chịu sự chi phối của
nhiều nhân tố
Nhân tố trước tiên phải kể đến là chế độ chính trị mà mỗi một quốc gia theo
đuổi Chế độ chính trị của mỗi quốc gia quyết định những nhiệm vụ chính trị, kinh
tế, xã hội của nhà nước, do đó nó quyết định đến nội dung cơ cấu của chi ngân sách
nhà nước
Nhân tố thứ hai có tính chất quyết định đến nội dung, cơ cấu của chi ngân
sách nhà nước là mức độ phát triển của lực lượng sản xuất Nó vừa tạo ra tiền đề
khả năng cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi ngân sách nhà nước, vừa đặt ra
những yêu cầu đối với nội dung cơ cấu chi ngân sách của mỗi quốc gia
Ngoài hai nhân tố trên là hai nhân tố có tính chất bao trùm ảnh hưởng đến
nội dung, cơ cấu chi ngân sách nhà nước, cần phải kể đến nhân tố về mức độ tích
luỹ của nền kinh tế Mức độ tích luỹ ảnh hưởng chủ yếu đến phần chi của ngân
sách nhà nước cho việc cấp phát phát triển kinh tế Mức độ tích luỹ càng lớn thì
trong những điều kiện như nhau, khả năng chi ngân sách nhà nước cho phát triển
kinh tế càng lớn
Nội dung cơ cấu chi ngân sách nhà nước còn phụ thuộc yếu tố sở hữu trong
nên kinh tế Ngoài ra cũng có thể coi các nhân tố sau đây có tác động mạnh mẽ đến
nội dung, cơ cấu chi ngân sách nhà nước như mức độ tồn tại các quỹ tiền tệ trong
nên kinh tế, sự biến động giá cả, cách thức tổ chức hệ thống ngân sách mỗi quốc
gia
Để xác lập được nội dung và cơ cấu ngân sách hợp lí của mỗi quốc gia
không thể vay mượn từ bên ngoài, mà phải dựa vào những điều kiện cụ thể với việc
phân tích chinh xác các nhân tố ảnh hưởng ở mỗi quốc gia và ở mỗi giai đoạn lịch
Trang 16Nội dung chi của ngân sách nhà nước được phân thành hai loại:
a Chi thường xuyên: Đặc điểm chủ yếu của các khoản chi này là mang tính
chất tiêu dùng và phản ánh những đặc điểm chính trị, xã hội của mỗi quốc gia Chi
thường xuyên thường bao gồm các khoản chi chủ yếu sau đây : chi quản lý, chi an
ninh, quốc phòng, chi trả nợ, chi bảo đảm xã hội, chi trợ cấp trong hệ thống ngân
sách
Đối với nước ta, các khoản chi này chỉ được bù đắp bằng ngồn thu trong nội
bộ nền kinh tế Vì vậy các khoản chi này chịu ảnh hưởng quyết định bởi sự tăng
trưởng của tổng sản phẩm của quốc gia
b Chi thúc đẩy sự tăng trưởng trực tiếp của nền kinh tế: Đặc điểm chủ yếu
của các khoản chi này mang tính chất đầu tư, tích luỹ, thực hiện vai trò can thiệp
của nhà nước trong việc điều chỉnh nền kinh tế Các khoản chi này, trong điều kiện
ngân sách của chúng ta hiện nay thường được bù đắp bằng nguồn vốn đi vay trong
và ngoài nước Nội dung các khoản chi này bao gồm : chi trực tiếp cho các doanh
nghiệp, chi xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế và nghiên cứu khoa học
theo các chương trình, chi trả các hợp đồng mua hàng hoá và dịch vụ cho các
doanh nghiệp
Ngoài ra còn có thể phân nội dung chi ngân sách nhà nước thành 4 nhóm :
_ Chi kiến thiết kinh tế;
_ Chi văn xã;
_ Chi hành chính;
_ Chi quốc phòng, an ninh và các khoản chi khác
Cách phân chia nay chúng ta thường gặp trong ngân sách của các nước xã
hội chủ nghĩa
Tóm lại tùy theo yêu cầu phân tích, đánh giá, quản lý mà người ta có thể
phân chia các khoản chi của ngân sách nhà nước theo nhưng tiêu thức khác nhau
3 Công cụ quản lý các khoản chi ngân sách nhà nước
Trang 17Nhằm thực hiện tốt các nguyên tắc và phát huy vai trò tích cực của chi ngân
sách, trong thực tiễn quản lý người ta thường sử dụng các công cụ chủ yếu sau đây:
Định mức chi:
Định mức chi trình bày các tổ chức cần bao nhiêu phương tiện tài chính bỏ
vào để thực hiện một đơn vị công suất, hoặc chỉ tiêu
Định mức chi được sử dụng trong các trường hợp khi mà tính chất tiết kiệm
trong các khoản chi không đặt ra một cách cần thiết và xã hội không có đủ nguồn
tài chính hoặc không cần thiết trang trải đối với việc vượt qua giới hạn các khoản
chi
Định mức chi có thể hoặc là định mức bộ phận hoặc định mức chung (tổng
hợp) Định mức bộ phận được thiết lập cho loại nhu cầu riêng của các tổ chức sử
dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
Định mức tổng hợp thể hiện khối lượng các khoản chi cho một đơn vị chi
tiêu đặc trưng cho hoạt động của các tổ chức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà
nước
Tiêu chuẩn tài chính:
Tiêu chuẩn tài chính thể hiện mức chi tối thiểu Nhu cầu tài chính không
được phép giảm xuống dưới mức độ Nhu cầu thực tế bao giờ cũng cao hơn tiêu
chuẩn tài chính
Tiêu chuẩn tài chính được sử trong trường hợp khi yêu cầu tiết kiệm không
cần thiết đặt ra Do đó cơ quan cấp trên qui định mức chi mà với mức độ đảm bảo
việc tiêu dùng tối thiểu cho phép
Giới hạn tài chính:
Giới hạn tài chính trình bày chi tiết tối đa mà với mức chi đó tiêu dùng tài
chính được phép đạt tới Thực tế tiêu dùng thường thấp hơn giới hạn tài chính trong
trường hợp khi vấn đề tiết kiệm các khoản chi được đặt ra một cách hết sức cần
thiết
Trang 18Chỉ tiêu tài chính thể hiện mức trung bình mà với mức đó, nhu cầu tài chính
được phép đạt tới Thực tế tiêu dùng bao giờ cũng quay quanh các chỉ tiêu tài
chính Chỉ tiêu tài chính được sử dụng trong trường hợp ở nơi nào tiêu dùng không
thể định mức chinh xác
Trong điều kiện tình hình kinh té, tài chính còn nhiều biến động, việc vận
dụng công cụ phân phối, sử dụng và quản lí nguồn vốn của ngân sách nhà nước kể
trên cần có quan điểm linh hoạt, uyển chuyển nhằm làm cho các khoản chi của
ngân sách đạt được hai yêu cầu cơ bản : tiết kiệm và hiệu quả
II THỰC TRẠNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI TIÊU CÔNG
CHO CÁC NGÀNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Thực trạng ngân sách nhà nước
Trong những năm vừa qua việc phát triển hệ thống quản lý chi tiêu nhà nước
và lập ngân sách ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể Việc thông qua
Luật Ngân sách năm 1996 với sửa đổi luật tiếp theo trong năm 1998 để tạo ra sự
phân công trách nhiệm rõ ràng hơn giữa trung ương và các tỉnh đã đưa được một
khuôn khổ quan trọng cho một hệ thống ngân sách có kỷ luật Tuy nhiên điêù quan
trọng là khuôn khổ này có khả năng dễ dàng bổ sung những thay đổi cần thiết chứ
không phải là một rào cản cho những thay đổi đó
Việc chuẩn bị một chương trình đầu tư công cộng đầu tiên cho giai đoạn
1996 - 2000 đã làm cho các quy trình xác định chi đầu tư có kỷ luật và hiện thực
hơn Nó gắn chi tiêu dự kiến với các giả định về nguồn vốn có được, đồng thời
đóng vai trò là phương tiện để huy động vốn Nhưng cũng có những vấn đề liên
quan đến lạc quan quá về năng lực thực hiện và khả năng hấp thụ, bao gồm có quá
nhiều dự án đưa vào trong chương trình đầu tư công cộng và thiếu các tiêu chí đầy
đủ để thẩm định và xếp hạng các dự án Những vấn đề này đang được giải quyết
trong những cơ chế mới cho việc chuẩn bị chương trình đầu tư công cộng 2001 -
2006
Trang 19Nhìn chung, hệ thống lập ngân sách và quản lý chi tiêu của nhà nước có khả
năng kiểm soát tổng chi tiêu trong phạm vi một sỗ năm Không có chi vượt mức
đáng kể, việc giải ngân được kiểm soát chặt chẽ và không có vấn đề nợ chi ngân
sách
Nhìn chung, do tính khá phức tạp của hệ thống ngân sách nên người ngoài
còn có khó khăn trong việc xác định đựơc cách thức thực hiện quy trình lập ngân
sách trong thực tế - về phương thức đưa ra các quyết định và sử dụng những thông
tin gì Tuy nhiên có những bằng chứng đây đó cho thấy mức độ phối hợp và trao
đổi còn chưa đủ để cho hệ thống hoạt động có hiệu quả Cụ thể là vai trò của các bộ
chuyên ngành còn chưa rõ, thiếu một mạng máy tính để tất cả các bên có liên quan
có thể tiếp cận được với cùng một nguồn thông tin ngân sách càng làm hạn chế sự
phối hợp, tham vấn và thảo luận
Việt Nam có truyền thống ngân sách thận trọng với thâm hụt ngân sách
tương đối thấp ( thông thường dưới 1% GDP, không kể cho vay lại ) và tỷ lệ nợ (
cả nợ trong và ngoài nước ) trên GDP thấp Điêù này được phản ánh trong chi và
trả nợ lãi trong ngân sách vào khoảng 3% tổng chi tiêu Tuy nhiên, cân đối ngân
sách chưa bao phủ toàn bộ chi tiêu của chính phủ nghĩa là hoạt động tổng thể của
chính phủ Ngân sách loại trừ một số đáng kể các quỹ bên cạnh ngân sách Nó cũng
không bao gồm một họat động tương tự ngân sách đáng kể là tín dụng của hệ thống
ngân hàng cấp cho các doanh nghiệp nhà nước
Đã có một số nới lỏng trong quan điểm ngân sách cuả chính phủ trong năm
2000 trong đó thâm hụt ngân sách tổng thể, không kể các khoản cho vay lại, tăng
lên đến 2,8% GDP (theo ước tính mới đây của IMF là 2,2%) Tăng thâm hụt ngân
sách chủ yếu là do tăng lương cho công chức (0,8% GDP), chuyển chi xây dựng cơ
bản dưới chỉ tiêu phân bổ cho năm 1999 sang để kích thích chi ngân sách một chút
Quan điểm ngân sách trung hạn dự tính thâm hụt tổng thể hàng năm khoảng 2%
GDP (không kể chi trả nợ gốc) cho giai đoạn 2001-2003 Mức thâm hụt này tạo sức
Trang 20thâm hụt thực tế cũng sẽ phụ thuộc vào tốc độ và phạm vi của các cuộc cải cách cơ
cấu và chi phí cho các cải cách này
2 Phân bổ chi tiêu công cho các ngành
Chi của nhà nước trong ngành nông nghiệp:
Chi của nhà nước cho nông nghiệp, nếu được phân bổ và quản lý đúng đắn
có thể cải thiện năng suất nông nghiệp và có tác dụng lan toả có lợi, kích thích đầu
tư của tư nhân vào ngành này Các nghiên cứu cho thấy rằng chi của nhà nước cho
đường nông thôn, cho nghiên cứu trong nông nghiệp và khuyến nông tỷ lệ thuận
với tỷ lệ tăng năng suất nông nghiệp và giảm nghèo Tuy nhiên, nếu chi của nhà
nước cho nông nghiệp lại định hướng không đúng, nó có thể cản trở đầu tư của tư
nhân và dẫn đến kém hiệu quả Ví dụ như việc bao cấp cho những loại cây trồng
kém hiệu quả hoăc đầu tư vào những ngành mà tư nhân quản lý có hiệu quả hơn
Mặc dù có tăng trong những năm gần đây, nhưng chi tiêu công cho nông
nghiệp vẫn còn tương đối thấp và chỉ chiếm 5-6% ngân sách nhà nước(6,3% năm
1998).Mức này thấp hơn so với một số nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và
Thái Lan, nơi tỷ trọng ngân sách cho nông nghiệp là khoảng 8 đến 16% trong gian
đoạn 1990-1993 Tính theo tỷ lệ trong GDP, chi của nhà nước cho nông nghiệp
chiếm 1,35% GDP năm 1998
Tuy vậy, so sánh này không nhất thiết trở thành một lập luận là phải nâng
mức chi của nhà nước cho nông nghiệp Hoạt động của ngành nông nghiệp không
chỉ liên quan đến chi của nhà nước cho ngành, mà còn liên quan đến những biện
pháp bổ sung có tác động đến kinh tế nông thôn, như chi tiêu cho giao thông vận
tải, giáo dục và y tế Mặc dù mức chi của nhà nước cho nông nghiệp hiện nay còn
thấp, ngành nông nghiệp vẫn tiến triển tốt so với các nước trong khu vực Trừ
Trung Quốc ra, còn tăng trưởng nông nghiệp của Việt Nam là mạnh nhất trong số
nhiều nước đang phát triển và các nước phát triển Trước khi nghĩ đến mức chi tiêu
cao hơn nữa cho nông nghiệp, có lẽ nên xem cơ cấu chi đầu tư và chi thường xuyên
Trang 21b Chi của nhà nước cho y tế :
Tổng chi tiêu cho y tế - cả chi tiêu công và chi tiêu của hộ gia đình và cá
nhân - được ước tính là 28.773 tỷ đồng, tức là 383.226 đồng một đầu người vào
năm 1998 ( theo điều tra mức sống dân cư, bao gồm chi phí đi lại, ăn ở của người
bệnh và người nhà đi theo ) Mức này tương đương 27,41 tỷ USD một đầu người
hay 8% GDP và đặt Việt Nam trong số những nước ở châu Á chi nhiêù nhất cho y
tế Chỉ có Malaysia, Thái Lan, Hàn Quốc chi nhiều hơn Việt Nam cho y tế tính
theo đầu người
Các số liệu về chi của nhà nước cho thấy có sự gia tăng đầy ấn tượng trong
chi tiêu công cho y tế trong giai đoạn 1991 - 1998 Chi của nhà nước tính theo cả
tổng số và theo đầu người cho y tế tăng hơn 2 lần về số tuyệt đối - tức là tỷ lệ tăng
hàng năm bằng 12-14%, và chi tiêu này theo tỷ lệ trong GDP và trong tổng chi tiêu
của chính phủ cũng tăng, mặc dù ở mức khiêm tốn hơn Tỷ lệ tăng như vậy trong
chi tiêu cho y tế phản ánh cam kết cao của chính phủ Việt Nam đối với ngành y tế
Nhưng ngay sau cả khi đã tăng như vậy, chi tiêu công cho y tế trên đầu
người của Việt Nam năm 1989 mới chỉ là 80.844 đồng ( 5,78 USD ), tức là 1,7%
GDP và 8,5% tổng chi tiêu của chính phủ năm 1998 hay 1,4% GDP và 7% tổng chi
tiêu ngân sách nếu không kể viện phí và bảo hiểm y tế Tính theo số tuyệt đối, chi
tiêu công cho y tế của Việt Nam ở mức 5,78 USD chỉ chưa bằng một nửa mức 12
USD mà báo cáo phát triển thế giới năm 1993 khuyến nghị là cần thiết để tài trợ
cho một gói dịch vụ thiết yếu, bao gồm sức khoẻ cộng đồng, đối với một nước có
thu nhập thấp Để đạt mức chi tiêu này, Việt Nam cần chi thêm 468 triệu USD mỗi
năm
c Chi tiêu công cho giáo dục :
Trong thập kỷ vừa qua, chi cho giáo dục đã tăng đáng kể Số giáo viên đã
tăng nhiều và mức đầu tư cũng tăng Tổng chi tiêu cho giáo dục đào tạo (thường
xuyên và đầu tư) hiện chiếm tới 17% tổng chi tiêu công (chưa kể chi trả nợ gốc)