1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp

100 793 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản lý chi ngân sách nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 đến nay). Thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Tác giả Lương Hoài Giang
Người hướng dẫn TS. Lê Tố Hoa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Lịch sử kinh tế
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 820,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng do Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp,với chủ trương xoá bỏ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 1

Lơng Hoài Giang

Quản lý chi ngân sách nhà nớc cho đơn vị sự

nghiệp công lập có thu ngành y tế

tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 - nay)

Thực trạng - kinh nghiệm và giải pháp

Trang 2

Lơng Hoài Giang

Quản lý chi ngân sách nhà nớc cho đơn vị sự

nghiệp công lập có thu ngành y tế

tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 - nay)

Thực trạng - kinh nghiệm và giải pháp

Chuyên ngành: Lịch sử kinh tế

Ngời hớng dẫn khoa học:

TS Lê tố hoa

Trang 3

Bản luận văn này được hoàn thành là cả quá trình nghiên cứunghiêm túc của tôi cùng với sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn:

TS Lê Tố Hoa Tôi cam đoan các số liệu, kết quả, trích dẫn trong luận

văn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực

Hà Nội, ngày tháng năm 2013

Học viên

Lương Hoài Giang

Trang 4

Để hoàn thiện đề tài luận văn thạc sỹ “Quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 đến nay) Thực trạng kinh nghiệm và giải pháp”, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của

bản thân, tác giả còn nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của các Thầy Cô, cũng như

sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu

và thực hiện luận văn thạc sỹ

Tác giả xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến TS Lê Tố Hoa đã trực tiếp

hướng dẫn và giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả hoàn thành luận văn này Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy giáo, Cô giáo Viện Đào tạo Sau đạihọc Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tận tình truyền đạt những kiến thức quýbáu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong suốt quá trình họctập,nghiên cứu đề tài luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2013

Học viên

Lương Hoài Giang

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU NGÀNH Y TẾ 5

1.1 Những vấn đề chung về chi ngân sách nhà nước 5

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm cơ bản về ngân sách nhà nước 5

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cơ bản về chi NSNN 6

1.1.3 Nội dung của chi NSNN 7

1.1.4.Nhiệm vụ của chi NSNN 10

1.2 Nội dung, đặc điểm và nguyên tắc chi NSNN đối với ngành y tế 12

1.2.1.Nội dung chi NSNN đối với ngành y tế 12

1.2.2 Đặc điểm của chi NSNN cho ngành y tế 15

1.2.3 Nguyên tắc chi NSNN đối với đơn với ngành y tế 16

1.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới chi NSNN cho ngành y tế 17

1.3 Nội dung của quản lý chi NSNN cho Y tế 20

1.3.1 Chi cho Bộ máy tổ chức 21

1.3.2 Công tác lập dự toán 22

1.3.3 Phân bổ ngân sách nhà nước cho Y tế 25

1.3.4 Công tác kiểm tra giám sát 27

1.4 Sự cần thiết của tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho y tế 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU NGÀNH Y TẾ TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2008 - NAY, BÀI HỌC KINH NGHIỆM 31

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hệ thống y tế tỉnh Bắc Ninh 31

Trang 6

2.2 Thực trạng công tác chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công

lập ngành y tế tỉnh Bắc Ninh 35

2.2.1.Tỷ trọng chi ngân sách nhà nước cho đơn vi sự nghiệp công lập ngành y tế Bắc Ninh 35

2.2.2.Cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế Bắc Ninh 37

2.2.3.Nguồn kinh phí chi ngân sách nhà nước cho ngành y tế Bắc Ninh 40

2.2.4.Thực trạng quản lý chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế Bắc Ninh giai đoạn 2008-nay 41

2.2.5.Quản lý chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế theo nhóm mục chi 47

2.2.6.Quản lý chi thường xuyên của NSNN cho sự nghiệp y tế theo chu trình ngân sách 49

2.2.7.Thực trạng thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm 55

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN cho đơn vị sự nghiệp ngành y tế 57

2.3.1 Kết quả đạt được 57

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 59

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHI NSNN CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU NGÀNH Y TẾ TỈNH BẮC NINH 67

3.1.1 Phương hướng của Đảng 67

3.1.2 Phương hướng chung của ngành y tế 68

3.1.3 Phương hướng cụ thể của tỉnh Bắc Ninh đối với ngành y tế 69

3.1.4 Mục tiêu và quan điểm phát triển sự nghiệp y tế Bắc Ninh đến năm 2015 .70 3.2 Cân đối nhu cầu và khả năng sử dụng vốn cho ngành y tế ở Bắc Ninh 72

3.2.1 Nhu cầu vốn cho y tế Bắc Ninh đến năm 2015 72

3.2.2 Khả năng huy động vốn cho y tế Bắc Ninh đến năm 2015 74

3.3 Yêu cầu trong việc tăng cường quản lý chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế tỉnh Bắc Ninh 75

Trang 7

3.4.1 Xác định cơ cấu chi thường xuyên ngân sách cho sự nghiệp y tế trong tổng

chi ngân sách và cơ cấu từng nội dung chi 76

3.4.2.Hoàn thiện định mức chi thường xuyên từ NSNN phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương 77

3.4.3.Hoàn thiện quy trình lập, phân bổ dự toán, cấp phát, quyết toán nguồn kinh phí 79

3.4.4.Tăng cường công tác thanh kiểm tra, giám sát trong quản lý, sử dụng, thanh quyết toán chi NSNN 81

3.4.5 Bổ sung, củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập 82

3.4.6 Hoàn thiện hệ thống công nghệ tin học thông tin 82

3.4.7 Đẩy mạnh công tác xã hội hoá y tế 84

3.4 Kiến nghị 85

3.4.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản, chính sách pháp luật 85

3.4.2 Đổi mới và thực hiện các biện pháp quản lý chặt chẽ trên toàn bộ các khâu của chu trình ngân sách 86

3.4.3 Đảm bảo gắn trách nhiệm của cơ quan được phân cấp với hiệu quả chi NSNN .88

3.4.4 Tăng cường đầu tư phát triển hệ thống thông tin 89

KẾT LUẬN 91

Trang 8

Bảng biểu:

Bảng 2.1: Tình hình chi NSNN cho sự nghiệp y tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008-2012 35

Bảng 2.2: Chi NSNN cho y tế tại một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng 36

Bảng 2.3: Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh 37

Bảng 2.4: Chi sự nghiệp y tế theo nội dung nghiệp vụ ngành y tế 46

Bảng 2.5: Chi NSNN cho sự nghiệp y tế theo 4 nhóm mục chi 47

Bảng 2.6: Định mức phân bổ ngân sách Nhà nước cho y tế theo giường bệnh 51

Bảng 2.7: Định mức phân bổ theo tiêu chí biên chế cho y tế 51

Bảng 2.8: Cơ cấu GDP phân theo ngành y tế 61

Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu nguồn vốn NSNN của y tế Bắc Ninh đến năm 2015 73

Bảng 3.2: Khả năng huy động vốn đầu tư phát triển y tế Bắc Ninh đến năm 2015.74 Biểu đồ: Biểu đồ 2.1: Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh năm 2008 37

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh năm 2012 38

Biểu đồ 2.3: Chi NSNN cho sự nghiệp y tế qua các năm 2006-2011 58

Sơ đồ: Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống ngành Y tế 20

Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức bộ máy ngành y tế tỉnh Bắc Ninh 33

Sơ đồ 2.2: Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai trước năm 2008 42

Sơ đồ 2.3: Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai đoạn 2009 đến nay .44

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, mộttrong những chiến lược quan trọng hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới làchiến lược phát triển con người Nhân tố con người luôn giữ vai trò quyết định, nóvừa là mục tiêu, vừa là động lực đồng thời cũng là nguồn lực năng động nhất trongmọi nguồn lực của sự phát triển Để phát huy hết vai trò và ưu điểm của nguồn lựcnày, việc chăm sóc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cuộc sống đối với con người làđiều rất cần thiết, trong đó, sức khoẻ của con người được ưu tiên hơn cả, bởi vì cósức khoẻ, con người mới có thể học tập, nghiên cứu, lao động để tạo ra những sảnphẩm có ích phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Nhận rõ được tầm quan trọng của sức khoẻ và vai trò của ngành Y tế trongviệc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ, hàng năm, Nhà nước đã dành một phần từ Ngânsách Nhà nước cho sự nghiệp y tế Nhưng do Ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp,với chủ trương xoá bỏ nền kinh tế tập trung bao cấp chuyển sang nền kinh tế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì chi Ngân

sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế cũng có những thay đổi theo hướng “Giảm dần

các khoản chi có tính bao biện từ Ngân sách Nhà nước, chi có trọng tâm trọng điểm” nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta là “Nâng cao tính công bằng và hiệu quả trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ chăm sóc và bảo

vệ sức khoẻ của nhân dân” ( Trích văn kiện Đại hội Đảng IX )

Bắc Ninh là tỉnh được tái lập từ năm 1997 đến nay, với quy mô về diện tích

tự nhiên và dân số nhỏ, nhưng có tốc độ tăng trưởng bình quân là 14,2%/năm.Trong những năm qua, ngành Y tế Bắc Ninh đứng trước nhiều thử thách do diễnbiến phức tạp của thời tiết, bệnh dịch cũng như tình hình kinh tế xã hội, nhưng cán

bộ nhân viên ngành Y tế Bắc Ninh với tinh thần trách nhiệm, yêu ngành, yêu nghềtận tụy với việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân Tiếp tục phát huy những thành quả đãđạt được, không ngừng tăng cường công tác quản lý Nhà nước, đa dạng hoá các loạihình phục vụ, đổi mới trang thiết bị, nâng cao kỹ thuật chuyên môn, đáp ứng kịpthời nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của nhân dân trong tỉnh Tuy nhiên

Trang 10

trong quá trình hoạt động, ngành Y tế Bắc Ninh còn có một số những tồn tại như :Trang thiết bị hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành, nguồn cán

bộ có tay nghề chuyên môn cao còn thiếu Phần Ngân sách Nhà nước cho hoạt động

y tế, trong quá trình phân bổ, quản lý và sử dụng còn nhiều kẽ hở dẫn tới lãng phí

và giảm hiệu quả Những tồn tại trên đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục đểnâng cao hiệu quả và công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho hoạt động y tế

1.Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài

NSNN được sử dụng như một công cụ quan trọng nhất, tập trung nhất để xâydựng và phát triển nền kinh tế nước ta Vì lý do không thể cho phép nguồn ngânsách nhà nước dàn trải và tiếp tục bao cấp cho các đơn vị sự nghiệp công lập nhưnhững thời kỳ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây Bàitoán đặt ra cho các đơn vị sự nghiệp công lập là muốn tồn tại và phát triển phải có

cơ chế biện pháp tổ chức thực hiện để huy động các nguồn tài chính đầu tư đồngthời phải biết sử dụng nó một cách hiệu quả

Những vấn đề đặt ra để nghiên cứu trong luận văn này sẽ cố gắng đóng gópmột lời giải làm sáng tỏ phần nào những vấn đề lý luận và thực tiễn về chi NSNNcho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninhnhằm làm rõ vai trò NSNN trong việc thực hiện chính sách tài chính để phát triểnđơn vị sự nghiệp công lập có thu của ngành y tế Bắc Ninh

2 Mục đích nghiên cứu

Từ những nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích thực trạng, chỉ rõ những kết quả,hạn chế, nguyên nhân để rút ra một số bài học kinh nghiệm làm cơ sở cho việc đề xuấtmột số giải pháp nhằm nâng cao công tác chi NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lậpnói chung và đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh nói riêng

Một là: Luận giải về các phương diện lí luận và thực tiễn các vấn đề có liênquan đến đơn vị sự nghiệp công lập và việc chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp cônglập có thu ngành y tế

Hai là: Đánh giá phân tích thực trạng, tồn tại, các nguyên nhân về chi NSNNcho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh trong những năm vừaqua, những kinh nghiệm ở một số tỉnh Trên cơ sở đó để làm rõ sự cần thiết phải đổi

Trang 11

mới và hoàn thiện việc chi NSNN cho đơn vị SN công lập ngành y tế Bắc Ninhtrong giai đoạn hiện nay.

Ba là: Đề xuất những kiến nghị và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao côngtác chi NSNN cho các đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh trongthời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề vềNSNN, chi NSNN, chi NSNN đối với ngành y tế cũng như chi NSNN cho các đơn

vị SN công lập có thu ngành y tế tỉnh Bắc Ninh

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu chi thườngxuyên của ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế tỉnh BắcNinh từ nguồn ngân sách địa phương dưới góc độ quản lý của Sở Tài chính từ năm

2008 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để lýgiải các vấn đề nghiên cứu

Luận văn cũng sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổnghợp trong các phần trình bày về lý luận cũng như thực tiễn để làm rõ các đánh giánhận định Từ đó luận văn đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác nângcao quản lý chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp ngành y tế trong thời gian tới

5.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn

- Lê Đôn Huấn (2007) Đổi mới cơ chế Thanh tra tài chính đối với các đơn vị

sự nghiệp công tự chủ tài chính ở Việt Nam Luận án thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế

Quốc dân, Hà Nội

- Phạm Thị Song Hà (2008) Hoàn thiện khoán chi NSNN đối với cơ quan

hành chính ở Việt Nam Luận án thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

Mặc dù đã có công trình nghiên cứu liên quan đến tình hình chi NSNN chocác đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế, nhưng dưới góc độ và phạm vi nghiêncứu khác nhau Các đánh giá về thực trạng và những đề xuất giải pháp là khách

Trang 12

quan, khoa học, song phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận vấn đề đó đã có những

thay đổi Vì vậy, đề tài “Quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2008 đến nay) Thực trạng kinh nghiệm và giải pháp” được nghiên cứu là không trùng lắp với các công trình

khoa học đã được công bố

6 Đóng góp dự kiến về khoa học của luận văn

Luận văn góp phần hệ thống những vấn đề lí luận chung về đơn vị sự nghiệpcông lập có thu ngành y yế và chi NSNN cho loại hình đơn vị này

Đánh giá khách quan, khoa học công tác chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệpcông lập có thu ngành y tế Bắc Ninh dưới góc độ thành công, hạn chế và nguyên nhân

Đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác quản lý chi NSNN đối với đơn vị

sự nghiệp công lập có thu ngành y tế Bắc Ninh trong điều kiện hiện nay cũng như trongchiến lược phát triển toàn tỉnh đến năm 2020 Bắc Ninh trở thành một tỉnh công nghiệp

7 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của Luận văn

Luận văn hệ thống hoá làm rõ những vấn đề lí luận về đơn vị sự nghiệp cônglập, chi NSNN và chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế, cùng vớiviệc phân tích tình hình thực trạng công tác chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệpcông lập ngành y tế Bắc Ninh và đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường công tácquản lý chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế trong tỉnh

8 Nội dung nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượckết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về NSNN, Chi NSNN đối với đơn vị sự nghiệp có thu ngành y tế

Chương 2: Thực trạng chi NSNN cho đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế của tỉnh Bắc Ninh từ 2008 đến nay, bài học kinh nghiệm

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả chi NSNN chođơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế tỉnh Bắc Ninh

Trang 13

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ

NƯỚC CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU NGÀNH Y TẾ

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm cơ bản về ngân sách nhà nước

Ngân sách Nhà nước (NSNN) là một bộ phận quan trọng của hệ thống tàichính, là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia và là cơ sở vật chất choNhà nước tồn tại, hoạt động cũng như thực hiện các chức năng của mình

NSNN là dự toán thu chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời giannhất định thường là một năm Như vậy, NSNN là một kế hoạch tài chính cơ bản củaQuốc gia, trong đó bao gồm kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phươngpháp cân đối

Theo luật Ngân sách Nhà nước Việt Nam thì: “NSNN là toàn bộ các khoảnthu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và thựchiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”

Có thể tóm tắt một số đặc điểm chủ yếu của NSNN như sau:

Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực của Nhànước và phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước, được Nhà nướctiến hành trên cơ sở luật định Đây cũng chính là điểm khác biệt giữa NSNN với cáckhoản tài chính khác Các khoản thu NSNN đều mang tính chất pháp lý, còn chiNSNN mang tính chất cấp phát “không hoàn trả trực tiếp” Do nhu cầu chi tiêu củamình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Nhà nước đã ban hành hệ thống phápluật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một phần thu nhập của

Trang 14

mình cho Nhà nước để tạo quỹ NSNN như pháp luật về thuế; đồng thời có các chế

độ chi tiêu nhằm sử dụng NSNN tiết kiệm, hiệu quả cho những mục tiêu nhất định.Các hoạt động thu chi NSNN cũng luôn chịu sự kiểm tra của các cơ quan Nhà nước

NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, chứa đựng lợi ích chung của toàn

xã hội Ẩn sau các hoạt động thu, chi NSNN là việc xử lý các mối quan hệ kinh tế,quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn lực tàichính quốc gia Các doanh nghiệp nộp thuế cho Nhà nước góp phần hình thànhnguồn thu cho NSNN đồng thời doanh nghiệp được Nhà nước trợ cấp, đầu tư, tàitrợ (nếu có), được hưởng các lợi ích gián tiếp khác (cơ sở hạ tầng, giáo dục đào tạonguồn nhân lực…) do Nhà nước chủ trì mang lại Các hộ gia đình, dân cư xã hội vàcác đoàn thể, tổ chức phi lợi nhuận có nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước và đượcNhà nước tài trợ hoặc cấp kinh phí (trợ cấp gia đình, trợ cấp thất nghiệp, kinh phíhoạt động…), được Nhà nước đảm bảo về quốc phòng, an ninh, cơ sở hạ tầng, bảođảm xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và phúc lợi công cộng khác…

Quỹ NSNN luôn được phân chia thành các quỹ tiền tệ nhỏ hơn trước khi đưavào sử dụng, chủ thể sử dụng các quỹ này là những đơn vị sử dụng NSNN đượcquyền sử dụng Ngân sách theo chức năng, nhiệm vụ và các quy định về Ngân sách

do Nhà nước ban hành Việc phân phối NSNN thành các quỹ nhỏ với mục đíchkhác nhau chính là quá trình sử dụng NSNN nhằm thực hiện chức năng của Nhànước, không trực tiếp chi dùng từ quỹ tiền tệ tập trung

Hoạt động thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trảtrực tiếp là chủ yếu Tính không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở chỗ không phảimọi khoản thu với mức độ và số lượng của những địa chỉ cụ thể đều được hoàn lạibằng các khoản chi của NSNN Điều này được quyết định bởi các chức năng tổnghợp về kinh tế - xã hội của Nhà nước Đặc điểm này phân biệt các khoản chi NSNNvới các khoản tín dụng

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm cơ bản về chi NSNN

Trang 15

Khái niệm chi NSNN: Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm

đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định

Như vậy có thể hiểu chi NSNN là các khoản chi tiêu của các cơ quan Nhànước, các đơn vị sử dụng Ngân sách để duy trì sự hoạt động của bộ máy Nhà nước

và thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội mà Nhà nước đảm nhận Quy mô, cơcấu chi NSNN như thế nào là tuỳ thuộc vào từng Nhà nước và mục tiêu phát triểncủa quốc gia trong từng thời kỳ

Chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹNSNN thể hiện:

Quá trình phân phối quỹ NSNN là quá trình hình thành các loại quỹ trướckhi đưa vào sử dụng Số lượng các loại quỹ, tỷ trọng các loại quỹ trong tổng số làtuỳ thuộc vào việc thực hiện các nhiệm vụ chức năng của Nhà nước trong từng thời

kỳ nhất định và khối lượng NSNN hàng năm

Quá trình sử dụng quỹ NSNN là quá trình trực tiếp chi dùng các khoản tiềncấp phát từ Ngân sách cho các nhu cầu phù hợp với mục đích hình thành các loạiquỹ trước khi đưa vào sử dụng Hiệu quả quỹ NSNN phụ thuộc vào nhiều yếu tốkhác nhau như: sự lựa chọn đúng đắn các khoản chi, hiệu quả quản lý chi NSNN…

Việc phân biệt hai quá trình này trong chi tiêu NSNN có ý nghĩa quan trọngtrong quản lý NSNN Vì mỗi giai đoạn có đối tượng quản lý, yêu cầu quản lý vàmục tiêu quản lý khác nhau

Chi NSNN có quan hệ chặt chẽ với thu NSNN Thu NSNN là nguồn vốnđảm bảo nhu cầu chi NSNN Ngược lại vốn NSNN chi cho mục tiêu tăng trưởngkinh tế là điều kiện để phát triển và tăng nhanh nguồn thu của NSNN Do vậy, việc

sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệuquả của nền sản xuất xã hội và tăng sản phẩm quốc dân

1.1.3 Nội dung của chi NSNN

Trang 16

Nội dung chi NSNN là sự sắp xếp các khoản chi vào các nhóm theo tiêu thứcnhất định, nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý và định hướng chi NSNN.Thông thường nội dung chi NSNN được dựa trên các tiêu thức chủ yếu sau:

1 Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động:

Chi đầu tư kinh tế: là những khoản chi nhằm hoàn thiện và mở rộng nền sảnxuất xã hội Khoản chi này có vai trò điều tiết quan trọng, được thực hiện qua nhiềukênh khác nhau, tạo ra sự tác động tổng hợp, kích thích sự phát triển của khu vựckinh tế tư nhân, tạo thế cân bằng cho nền kinh tế

Chi cho y tế bao gồm các khoản chi để duy trì và mở rộng hoạt động y tế Chi cho giáo dục: bao gồm các khoản chi cho việc duy trì và phát triển hoạtđộng giáo dục, đào tạo

Chi cho phúc lợi xã hội: là những khoản chi mà xã hội cần chính phủ quantâm, giúp đỡ Đó là các khoản trợ cấp cho người già, người tàn tật, trẻ mồ côi, ngườilao động chưa có việc làm, nhân dân các vùng thiên tai, địch họa, cho thương binh,gia đình liệt sĩ

Chi cho quản lý hành chính: là những khoản chi nhằm duy trì hoạt động củacác cơ quan quản lý thuộc chính quyền các cấp, quốc hội, Hội đồng nhân dân, việnkiểm soát nhân dân, toà án nhân dân, chi về ngoại giao

Chi cho An ninh và quốc phòng: là những khoản chi dành cho các lực lượng

vũ trang và công tác bảo vệ trị an trong nước

2 Căn cứ vào mục đích kinh tế - xã hội, chi NSNN được phân thành:

Chi tích lũy: bao gồm các khoản chi xây dựng cơ bản, chi cấp vốn lưu độngcho các doanh nghiệp Nhà nước, chi dự trữ

Chi tiêu dùng: Chi tiêu dùng đa dạng và phức tạp hơn nhiều so với chi tíchlũy bao gồm: chi quản lý hành chính, chi sự nghiệp, chi bù giá và chi khác

3 Căn cứ vào yếu tố thời hạn tác động của các khoản chi, chi Ngân sách Nhànước được phân thành 3 nhóm:

Trang 17

Chi thường xuyên: Là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn, bao gồm:chi lương và các khoản có tính chất tiền lương, cho bổ sung quỹ hưu trí, chi công vụphí, chi mua sắm hàng hóa và dịch vụ cho nghiệp vụ và cho sửa chữa thường xuyên,chi trợ cấp, bù giá, chi trả lãi tiền vay trong và ngoài nước, chi cho quỹ dự trữthường xuyên, dự bị phí.

Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi có thời hạn tác động dài, bao gồm:chi đầu tư các dự án phát triển, chi chuyển giao vốn đầu tư cho các doanh nghiệpNhà nước hoặc các địa phương, chi dự trữ cho mục đích đầu tư, chi viện trợ, đầu tưcho nước ngoài

Chi trả khác: bao gồm, chi cho vay (cho vay các tổ chức Nhà nước, cho vaynước ngoài ) và trả nợ gốc (trả nợ trong nước, trả nợ ngoài nước)

Ở nước ta, trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, chi NSNN được phân loạidựa vào tiêu thức mục đích kinh tế - xã hội của các khoản chi, phân thành 2 nhómlớn là chi tích lũy và chi tiêu dùng Việc phân loại này đã tạo điều kiện thuận lợicho công tác phân tích đánh giá kết quả chi tiêu NSNN gắn với quá trình phân phốithu nhập quốc dân và phù hợp với cơ chế hiện hành Kể từ khi nền kinh tế nước tachuyển mình sang cơ chế mới, vận hành theo cơ chế thị trường, cách phân loại nàybắt đầu bộc lộ một số nhược điểm đó là:

Thứ nhất, nó không thể hiện được mối quan hệ giữa chi tiêu tài chính củaNhà nước và việc thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước, từ đó, gây khó khăncho cuộc tìm kiếm phương án phân phối phù hợp trong từng thời kỳ

Thứ hai, không phù hợp với cơ chế mới và thông lệ quốc tế

Thứ ba, thuật ngữ tích lũy cũng rất trìu tượng, dễ dẫn đến tranh cãi trong việcsắp đặt một số khoản chi, chẳng hạn như: các khoản chi dự trữ, chi bù lỗ, bù giá cótài liệu đưa vào phần chi tích lũy, có tài liệu lại đưa vào phần chi tiêu dùng Xuấtphát từ đó, việc tìm kiếm một phương thức phân loại mới, vừa phù hợp với thông lệquốc tế, vừa phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu đổi mới chung của nền KTXH,đồng thời thừa hưởng được những kinh nghiệm đã tích lũy lâu nay ở nước ta bắtđầu được đặt ra

Trang 18

Trong thời gian này, ở nước ta có rất nhiều quan điểm khác nhau, song phầnlớn ý kiến đề xuất nên áp dụng tiêu thức yếu tố thời hạn để tiến hành phân loại chitiết về chi Ngân sách Nhà nước, bên cạnh việc kết hợp tiêu thức phân loại theo lĩnhvực cụ thể và theo chủ thể quản lý.

Sau một thời gian dài nghiên cứu, học tập kinh nghiệm, thảo luận đã đi đếnthống nhất phân loại chi NSNN hiện hành như sau: Chi thường xuyên, Chi đầu tưphát triển, Chi trả nợ và chi khác

1.1.4.Nhiệm vụ của chi NSNN

Chi NSNN là quá trình phân phối sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắcnhất định cho việc thực hiện những nhiệm vụ của Nhà nước Thực chất, chi NSNNchính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụcủa Nhà nước Chi NSNN có các đặc điểm sau:

Chi NSNN luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nướcphải đảm nhận Mức độ và phạm vi chi tiêu Ngân sách Nhà nước phụ thuộc vàonhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ

Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mangtính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao Các khoản chi NSNNđều là các khoản cấp phát mang tính không hoàn trả trực tiếp

Chi NSNN thường liên quan đến phát triển kinh tế xã hội, tạo việc làm mới,thu nhập, giá cả và lạm phát…

Nhiệm vụ chi NSNN bao gồm:

Chi thường xuyên: Bao gồm các khoản chi cho tiêu dùng xã hội gắn liền vớichức năng quản lý XH của Nhà nước, khoản chi này được phân thành 2 bộ phận:Một bộ phận vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu của dân cư về phát triển vănhóa xã hội, nó có mối quan hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống của dân

cư và một bộ phận phục vụ cho nhu cầu quản lý KTXH chung của Nhà nước Bằngcác khoản chi tiêu dùng thường xuyên Nhà nước thể hiện sự quan tâm của mình đếnnhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời với các khoản chi

Trang 19

này Nhà nước thực hiện chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý, an ninh quốc phòng.Chi tiêu dùng thường xuyên gồm các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xãhội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học, công nghệ và môi trường, các sựnghiệp khác; các hoạt động sự nghiệp kinh tế; quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội;hoạt động của các cơ quan Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị xãhội; trợ giá theo chính sách của Nhà nước, các chương trình quốc gia; hỗ trợ bảohiểm xã hội, trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội, hỗ trợ cho các tổ chứcchính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

Chi đầu tư phát triển: Một trong các chức năng quan trọng của Nhà nước làchức năng tổ chức kinh tế Chức năng này trong cơ chế thị trường của chúng ta hiệnnay được thể hiện bằng vai trò của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nềnkinh tế Ngân sách Nhà nước với các vai trò của nó được coi là một công cụ quantrọng trong việc thực hiện chức năng nói trên của Nhà nước Chi đầu tư phát triển lànhững khoản chi mang tính chất tích lũy phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộnggắn với việc xây dựng cơ sở hạ tầng nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợicho việc bỏ vốn đầu tư của các Doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết phù hợp vớimục tiêu của nền kinh tế Nói khác đi, việc chi cho đầu tư phát triển của Ngân sáchNhà nước nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động ban đầu, kích thích quá trình vậnđộng các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng

Chi đầu tư phát triển được cấp phát chủ yếu từ Ngân sách trung ương và một

bộ phận đáng kể của Ngân sách địa phương và bao gồm các khoản chi cơ bản sauđây: đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; đầu tư hỗ trợvốn cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước;mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước, chi bổ sung dự trữ Nhà nước; các khoản chikhác theo quy định của Nhà nước; các khoản chi khác theo quy định của pháp luật

Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay:

Trả nợ trong nước: là những khoản nợ mà trước đây Nhà nước đã vay cáctầng lớp dân cư, các tổ chức kinh tế và các tổ chức khác bằng cách phát hành cácloại chứng khoán Nhà nước như tín phiếu kho bạc, trái phiếu quốc gia

Trang 20

Trả nợ nước ngoài: là các khoản nợ Nhà nước vay của các Chính phủ nướcngoài, các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế

Hàng năm, số chi trả nợ của Nhà nước được bố trí theo một tỷ lệ nhất định trongtổng số chi của Ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn

Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được lập quỹ dựtrữ tài chính từ các nguồn: tăng thu, kết dư Ngân sách và bố trí trong dự toán chiNgân sách hàng năm Quỹ dự trữ tài chính được sử dụng để đáp ứng các nhu cầuchi khi nguồn thu chưa tập trung kịp và phải hoàn trả ngay trong năm Ngân sách,trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quy định Mức khống chế tối đacủa quỹ dự trữ tài chính ở mỗi cấp do Chính phủ quy định

Chi bổ sung cho Ngân sách cấp dưới: Ngân sách Nhà nước bao gồm Ngânsách Trung ương và Ngân sách các cấp chính quyền địa phương (Ngân sách địaphương) Quan hệ giữa Ngân sách các cấp được thực hiện theo nguyên tắc: Ngânsách Trung ương và Ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân địnhnguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể Thực hiện bổ sung từ Ngân sách cấp trên choNgân sách cấp dưới để đảm bảo công bằng Phát triển cân đối giữa các vùng, cácđịa phương Số bổ sung này là khoản thu của Ngân sách cấp dưới; Trường hợp cơquan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý cấp dưới thực hiệnnhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình, thì phải chuyển kinh phí từ Ngân sách cấptrên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó

1.2.1.Nội dung chi NSNN đối với ngành y tế

Khái niệm: Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được hiểu là sự thể

hiện quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị, từ một bộ phận quỹ tiền tệ tập trungcủa Nhà nước nhằm duy trì, phát triển sự nghiệp Y tế theo nguyên tắc không hoàntrả trực tiếp; Hay đó là khoản chi để duy trì sự tồn tại và hoạt động của hệ thống Y

tế từ Trung ương xuống cơ sở nhằm thực hiện chính sách bảo vệ và chăm sóc sứckhoẻ cộng đồng

Trang 21

Nội dung: Chi NSNN cho sự nghiệp Y tế có nhiều nội dung chi tiết khác

nhau và được phân ra dưới một số tiêu thức chủ yếu sau:

có sự điều chỉnh phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội

Theo tính chất các khoản chi

Nội dung chi NSNN cho sự nghiệp Y tế gồm:

Chi Đầu tư như: Chi xây lắp, chi thiết bị, chi khác về đầu tư

Chi thường xuyên như : Chi lương cho cán bộ nhân viên Y tế và đội ngũ bác

sĩ, chi bù lỗ bù giá, chi công tác phí, chi hội nghị phí, công vụ phí, chi đào tạo vàchi khác

Tác dụng của cách phân loại theo tính chất các khoản chi là có thể quản lýmột cách chặt chẽ các khoản chi dành cho đầu tư và chi thường xuyên, từ đó có thể

có được những thông tin chính xác về tình hình quản lý biên chế và quỹ lương, tìnhhình tuân thủ chính sách chế độ chi NSNN tại mỗi đơn vị thụ hưởng

Theo tuyến chi :

Chi NSNN cho sự nghiệp Y tế gồm : Chi Y tế cho tuyến Trung ương, tuyếntỉnh, tuyến huyện và tuyến xã

Tác dụng của việc phân loại này là có thể xác định được mức độ chi Ngânsách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế ở mỗi cấp để có sự điều chỉnh hợp lý, đảm bảotính công bằng trong việc phân bổ kinh phí hoạt động Y tế giữa các tuyến, phù hợpvới nhu cầu phát triển của ngành Y tế nói riêng và sự phát triển của kinh tế - xã hội nóichung của từng vùng

Trang 22

Trong công tác quản lý các khoản chi tiêu thường xuyên của Ngân sách Nhà nước chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế được phân chia theo 4 nhóm chính sau :

Nhóm 1: Chi Bộ máy

Đứng trên góc độ tài chính, đây là khoản chi tiêu thường xuyên như : Tiềnlương, tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp và các khoảnkhác Trong đó:

Tiền lương bao gồm: Lương ngạch bậc, lương tập sự, lương hợp đồng

Tiền phụ cấp gồm: Phụ cấp chức vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp làm thêm,phụ cấp lưu động, phụ cấp độc hại nguy hiểm và phụ cấp đặc biệt

Tiền thưởng gồm: Thưởng thường xuyên, thưởng đột xuất và thưởng khác.Phúc lợi tập thể gồm: Trợ cấp khó khăn thường xuyên, trợ cấp khó khăn độtxuất, tiền tàu xe, phúc lợi khác

Các khoản đóng góp: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Nhóm 3: Chi nghiệp vụ chuyên môn.

Đây là khoản chi quan trọng nhất tác động trực tiếp đến công tác khám chữabệnh Khoản chi này bao gồm: Chi cho vật tư dùng cho chuyên môn, thiết bị chuyêndụng, in ấn chỉ, trang phục, bảo hộ lao động, sách, tài liệu, mua súc vật dùng cho hoạtđộng chuyên môn, thanh toán hợp đồng với bên ngoài, thuốc khám và điều trị

Nhóm 4: Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên tài sản.

Trang 23

Như mua ô tô, đồ gỗ, mây tre, máy tính, máy điều hoà nhiệt độ, các tài sản cốđịnh có độ bền cao , sữa chữa ô tô, xe chuyên dụng, đường điện, cấp thoát nước

Đây là nhóm chi không thể thiếu được của toàn ngành y tế Hàng năm, do sựxuống cấp của các tài sản cố định dùng cho hoạt động y tế, đòi hỏi phải có kinh phí

để đầu tư mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại và từng bước hiện đại hoá trangthiết bị ngành Y tế ở những đơn vị Y tế được Nhà nước bao cấp Chính nhờ nhómchi này đã góp phần nâng cao năng lực hiện có của tài sản cố định, nâng cao chấtlượng của các bệnh viện, phòng khám, qua đó giúp cho hoạt động khám chữa bệnhngày càng được nâng cao về chất lượng cũng như về quy mô

1.2.2 Đặc điểm của chi NSNN cho ngành y tế

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi thường xuyên thuộc lĩnh vực văn

xã, nhưng so với các khoản chi thường xuyên khác, chi NSNN cho sự nghiệp y tế

có những nét riêng biệt :

Thứ nhất, chi NSNN cho sự nghiệp y tế là khoản chi vừa mang tính chất tiêu

dùng hiện tại, vừa mang tính chất tích luỹ đặc biệt

Xét về hình thức bên ngoài và theo từng niên độ Ngân sách thì đây là khoảnchi mang tính tiêu dùng xã hội, nhằm thoả mãn nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sứckhoẻ của nhân dân, không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội ở mỗi năm đó.Song khoản chi này gián tiếp tác động đến việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội,nâng cao tri thức con người, tạo điều kiện cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng,tăng tích luỹ Ngân sách

Vì vậy, nếu xét về bản chất bên trong và xét về tác dụng lâu dài thì khoản chinày tác động mạnh mẽ tới yếu tố con người, tác động đến sự sáng tạo ra của cải vậtchất và văn hoá tinh thần, là nhân tố tác động đến sự phát triển và tăng trưởng củanền kinh tế xã hội trong tương lai

Thứ hai, chi NSNN cho sự nghiệp Y tế là khoản chi chứa đựng nhiều yếu tố

xã hội

Trang 24

Chi NSNN cho sự nghiệp y tế quyết định mức độ ưu đãi đối với các tầng lớpgiai cấp trong xã hội mà đặc biệt là những người có hoàn cảnh khó khăn, những đốitượng thuộc diện ưu tiên, những gia đình chính sách, những người có công với cáchmạng, những đối tượng thuộc vùng sâu vùng xa và những vùng thường xuyên xảy

ra dịch bệnh; Qua đó để thực hiện công bằng xã hội Mặt khác, chi NSNN cho sựnghiệp y tế cũng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội (phong tục, tập quán, mứcsống ) Chính những yếu tố này sẽ quyết định tới quan điểm hoạt động của sựnghiệp y tế

1.2.3 Nguyên tắc chi NSNN đối với đơn với ngành y tế

Để các khoản chi NSNN cho sự nghiệp Y tế thực sự mang lại hiệu quả và pháthuy được những vai trò to lớn của mình thì trong quá trình tổ chức quản lý phải tuântheo những nguyên tắc cơ bản sau :

Nguyên tắc thứ nhất : Quản lý theo dự toán.

Quản lý theo dự toán là việc phân bổ, cấp phát, sử dụng và quyết toán cáckhoản chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế phải căn cứ vào dự toán chi đãđược duyệt để thực hiện

Đây là nguyên tắc xuất phát từ yêu cầu bắt buộc của chu trình quản lý tài chínhNhà nước Mọi khoản chi từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi các khoản chi

đó đã nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan quyền lực Nhà nước xétduyệt và thông qua Mặt khác, do phạm vi chi của NSNN cho sự nghiệp y tế rấtrộng, phức tạp và đa dạng cho nên phải dự tính các khoản chi trong quá trình lập dựtoán để trên cơ sở đó có thể lên cân đối chung, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điềuhành Ngân sách, hạn chế được tính tuỳ tiện về nguyên tắc ở các đơn vị thụ hưởngNgân sách, phát huy được tính chủ động về điều hành Ngân sách và tăng cường côngtác quản lý Ngân sách của đơn vị

Nguyên tắc thứ hai : Chi tiêu phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả.

Tiết kiệm là tiền đề để đạt được hiệu qủa Hiệu quả ở đây phải gắn với mụctiêu của các khoản chi và mức chi phí cần thiết tối thiểu để đạt được mục tiêu đó Sở

Trang 25

dĩ có nguyên tắc này là vì tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc chủ đạo của mọi hoạtđộng kinh tế, tài chính nói chung và hoạt động chi thường xuyên nói riêng, bởichúng ta luôn phải đối mặt với một thực tế là nguồn lực thì khan hiếm mà nhu cầu

là vô hạn Mặt khác, do các khoản chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế diễn

ra trong phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp Nhu cầu chi từ Ngân sách Nhà nướcluôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng huy động nguồn thu chỉ có hạn,cho nên càng phải tôn trọng nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý cáckhoản chi từ Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế

Nguyên tắc thứ ba : Kiểm soát chi qua Kho bạc.

Mọi khoản chi đều phải chi trực tiếp qua Kho bạc bởi vì Kho bạc Nhà nước lànơi quản lý quỹ của NSNN, do đó, Kho bạc Nhà nước vừa có quyền, vừa có tráchnhiệm phải kiểm soát chặt chẽ mọi khoản chi Ngân sách Nhà nước, đặc biệt làkhoản chi thường xuyên; Chi NSNN cho sự nghiệp y tế là một khoản chi thườngxuyên nên phải quán triệt nguyên tắc này.Trong thực tiễn, chi NSNN trực tiếp quaKho bạc tạo điều kiện cho Kho bạc Nhà nước kiểm soát chặt chẽ hơn các khoản chicủa Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp y tế, đảm bảo NSNN được sử dụng đúngmục đích, tiết kiệm và hiệu quả

Đứng trên giác độ cơ quan tài chính, thì cơ quan tài chính các cấp phải có tráchnhiệm phối hợp với Kho bạc Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng kinh phícủa các đơn vị dự toán, có trách nhiệm thẩm định dự toán và thông báo hạn mứckinh phí quý cho các đơn vị sử dụng kinh phí Ngân sách, kiểm tra việc sử dụng kinhphí, xét duyệt quyết toán chi của các đơn vị và tổng hợp quyết toán chi của các đơn

vị đồng thời tổng hợp quyết toán chi NSNN

1.2.4 Một số yếu tố ảnh hưởng tới chi NSNN cho ngành y tế

Chi NSNN chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, có thể kể đến như :

1.2.4.1 Mức độ tăng trưởng của nền kinh tế và quan hệ phân phối Ngân sách Nhà nước

Trang 26

Sự tăng trưởng của một quốc gia nhanh hay chậm được thể hiện qua chỉ tiêuthu nhập quốc dân cao hay thấp Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm, thu nhập quốcdân thấp thì một điều tất yếu là mức độ động viên vào NSNN sẽ thấp Trong khi đó,nhu cầu chi tiêu ngày càng gia tăng mà nguồn tài chính đảm bảo cho chi tiêu lại bịhạn chế dẫn tới nguồn tài chính cung cấp cho sự nghiệp y tế cũng bị hạn chế Ngượclại, nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, mức động viên vào NSNN ước lớn vàthuận lợi thì nguồn kinh phí dành cho sự nghiệp y tế sẽ cao hơn.

Khi nguồn lực tài chính tập trung trong tay Nhà nước, hình thành nên NSNNthì nguồn lực này sẽ được phân phối cho các lĩnh vực Tuỳ vào từng thời kỳ màkhoản chi nào đó có thể chiếm tỷ trọng cao hay thấp trong cơ cấu chi của NSNN.Thực tế là, với một lượng tài chính nhất định nếu ta tăng chi quá cho lĩnh vực nàythì tất yếu sẽ phải giảm chi cho lĩnh vực khác Ngược lại, nếu tăng chi cho lĩnh vựckhác mà phần NSNN dành cho sự nghiệp y tế không đảm bảo nhu cầu tối thiểu thì

sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp y tế và chất lượng của công tác chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ nhân dân Vì vậy, tuỳ theo tình hình thực tế và thực trạng của từngngành mà Nhà nước sẽ xác định một phần NSNN hợp lý dành cho từng ngành trong

đó có ngành Y tế

1.2.4.2 Phạm vi, mức độ bao cấp của Nhà nước cho sự nghiệp Y tế

Trong thời kỳ bao cấp, Nhà nước thực hiện chính sách khám chữa bệnhkhông mất tiền, vì thế, mặc dù mức độ chi cho sự nghiệp y tế lớn nhưng vẫn không

có hiệu quả

Hiện nay với xu hướng giảm bớt các khoản chi mang tính bao cấp, thực hiệnchi có trọng điểm trọng tâm và thực hiện xã hội hoá hoạt động y tế dẫn đến cơ cấu,nội dung chi cho sự nghiệp Y tế cũng có những thay đổi Tuy nhiên, trong cơ chếhiện nay, các khoản chi bao biện, bao cấp đã và sẽ dần được xoá bỏ song có nhiềucác khoản chi khác lại xuất hiện hoặc đòi hỏi tăng lên Ở một số nước, trong lĩnhvực Y tế, Nhà nước chỉ cấp phát kinh phí cho hoạt động phòng chống dịch bệnh,thanh toán tiền chữa bệnh cho những bệnh nhân nghèo, người có công với nước

Trang 27

ngoài ra, việc chữa các loại bệnh thông thường sẽ do bệnh nhân và gia đình tự đảmbảo kinh phí Tuy nhiên, danh mục các đối tượng và lĩnh vực do Nhà nước đảmnhận được quy định rất cụ thể, rõ ràng và được luật pháp hoá.

1.2.4.3 Tốc độ tăng dân số và tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân.

Tốc độ tăng dân số và tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân sẽ ảnh hưởng lớn đếnchi NSNN cho sự nghiệp Y tế

Dân số tăng nhanh trong khi NSNN còn hạn hẹp đã gây sức ép lớn về mặt xãhội, nhất là y tế Dân số tăng nhanh cùng với điều kiện vật chất của người dân thiếuthốn, môi trường sinh thái bị ô nhiễm, đi kèm với nó là sự xuất hiện và tăng nhanhcủa bệnh dịch, gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ con người Để thanh toán và đẩy lùibệnh dịch thì phải tăng cường đầu tư vào việc phòng bệnh và chữa bệnh Mặt khác,

tỷ lệ mắc bệnh trong nhân dân cao, mô hình bệnh tật của nước ta đang chuyển dịchtheo mô hình bệnh tật của các nước đang phát triển đòi hỏi các hoạt động y tế phảiđổi mới và chuyển đổi để giải quyết vấn đề về bệnh tật Điều này cũng ảnh hưởngtới nội dung và cơ cấu chi NSNN cho sự nghiệp Y tế

1.2.4.4 Trang thiết bị cho hoạt động Y tế

Tình hình trang thiết bị của ngành y tế cũng ảnh hưởng tới chi NSNN cho sựnghiệp Y tế Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động Y tế tốt hiện đại,đảm bảo được nhu cầu khám chữa bệnh thì khoản chi cho mua sắm trang thiết bịdùng cho Y tế sẽ giảm kéo theo chi NSNN cho sự nghiệp Y tế giảm và ngược lại

Hiện nay trang thiết bị Y tế ở nước ta còn thiếu và lạc hậu, chưa đáp ứngđược đầy đủ cho sự phát triển, các trang thiết bị Y tế hiện đại hầu hết tập trung ởcác bệnh viện lớn trong khi ở các bệnh viện tuyến huyện và tuyến cơ sở, trang thiết

bị còn rất thô sơ, vì vậy vấn đề đặt ra là Nhà nước phải chi nhiều hơn nữa cho muasắm trang thiết bị Y tế, đặc biệt là ở các bệnh viện tuyến cơ sở

Ngoài những nhân tố kể trên, thì chi NSNN cho sự nghiệp Y tế còn chịu ảnhhưởng của rất nhiều nhân tố khác như : Mạng lưới tổ chức của ngành Y tế, khả năng

Trang 28

và trình độ của ngành Y tế, sự biến động về kinh tế, chính trị, xã hội và của cácnhân tố cụ thể như : Giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái

Tất cả các nhân tố trên đều gây ảnh hưởng tới chi Ngân sách Nhà nước cho

sự nghiệp y tế nhưng mức độ ảnh hưởng của mỗi nhân tố trong từng thời kỳ lại khácnhau Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí nộidung và cơ cấu các khoản chi của NSNN cho sự nghiệp y tế một cách khách quan,phù hợp với yêu cầu của tình hình ngành y tế và tình hình kinh tế, chính trị trongtừng giai đoạn lịch sử cụ thể

1.3 Nội dung của quản lý chi NSNN cho Y tế

Công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp y tế là quá trình phânphối và sử dụng, chi ngân sách nhà nước nhằm duy trì hoạt động của sự nghiệp y tế.Khoản chi này là một khoản chi hết sức quan trọng, được diễn ra một cách thườngxuyên, liên tục, đòi hỏi phải nắm rõ, nắm chắc nội dung cụ thể của từng khoản chi

để tiến hành chính xác, hiệu quả Muốn làm được điều đó, Nhà nước phải sử dụngnhiều biện pháp và công cụ khác nhau

Trang 29

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống ngành Y tế

1.3.1 Chi cho Bộ máy tổ chức

Tuyến Trung ương: Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, trực tiếp quản lý

Nhà nước về lĩnh vực chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bao gồm các lĩnhvực: Y tế dự phòng, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, y học cổ truyền, thuốcphòng chữa bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, an toàn

vệ sinh thực phẩm và trang thiết bị Y tế; Quản lý Nhà nước các dịch vụ công thuộccác lĩnh vực quản lý của Bộ và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà

Trang 30

nước tại các Doanh nghiệp có vốn Nhà nước thuộc Bộ quản lý theo quy định củaPháp Luật

Tuyến tỉnh: Sở Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh,

thành phố trực thuộc Trung ương có chức năng tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dâncấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh về chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ nhân dân, gồm: y tế dự phòng; khám, chữa bệnh; phục hồi chứcnăng; y dược học cổ truyền; thuốc phòng chống bệnh cho người, mỹ phẩm ảnhhưởng đến sức khoẻ con người; an toàn vệ sinh thực phẩm và trang thiết bị y tế; vềcác dịch vụ công thuộc ngành y tế; thực hiện một số quyền hạn theo sự uỷ quyềncủa Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và theo quy định của pháp luật

Sở Y tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế, hoạt động của Uỷ bannhân dân cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra vềchuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế

Tuyến huyện: Phòng Y tế là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân

huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước vềbảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trên địa bàn huyện, gồm: y tế dựphòng; khám chữa bệnh; phục hồi chức năng; y dược học cổ truyền, thuốc phòngchống bệnh cho người, mỹ phẩm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người; an toàn vệsinh thực phẩm, trang thiết bị y tế; quản lý các trạm y tế xã, phường thị trấn thựchiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo sự phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và

uỷ quyền của Sở Y tế

Phòng Y tế chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Uỷban nhân dân cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn nghiệp

vụ của Sở Y tế

Tuyến xã: Tổ chức Y tế cơ sở trên địa bàn xã, phường, thị trấn (gọi chung là

y tế cơ sở) là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệthống Y tế Nhà nước có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật chăm sóc sức khoẻban đầu, phát hiện sớm dịch, chữa các bệnh và đỡ đẻ thông thường, vận động nhân

Trang 31

dân thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, vệ sinh phòng bệnh, tăng cườngsức khoẻ.

Việc thành lập, sát nhập, giải thể trạm y tế xã, phường, thị trấn do Uỷ bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định trên cơ sở đề nghị của

uỷ ban nhân dân xã, huyện và đề nghị của Giám đốc Sở Y tế

+ Khả năng bố trí chi ngân sách cho y tế trên cơ sở cân đối tổng thể chiNSNN năm kế hoạch;

+ Các chính sách, tiêu chuẩn, định mức do nhà nước ban hành để có thể xácđịnh định mức chi tổng hợp trên một giường bệnh/năm;

+ Tình hình quản lý, sử dụng kinh phí chi ngân sách cho y tế của các năm trước;Căn cứ vào Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, về việc xây dựngnội dung, kế hoạch tổng thể chi NSNN (trong đó có tổng chi cho sự nghiệp y tế), SởTài chính ban hành công văn hướng dẫn lập dự toán NSNN và thông báo số kiểmtra về dự toán NSNN cho các Sở, ban ngành, các huyện thị xã, thành phố trong đó

Trang 32

+ UBND tỉnh căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của tỉnh, căn cứ vào khảnăng cân đối ngân sách thành phố, hướng dẫn và thông báo số kiểm tra về dự toánngân sách cho các đơn vị trực thuộc

Các cơ quan chức hướng dẫn các đơn vị thụ hưởng ngân sách tiến hành lập

dự toán kinh phí Các đơn vị, cơ sở y tế căn cứ vào số kiểm tra, văn bản hướng dẫntiến hành lập dự toán kinh phí kỳ kế hoạch của mình và gửi dự toán về cơ quan tàichính hoặc đơn vị dự toán cấp trên Dự toán chi cho y tế được tổng hợp cùng với dựtoán chi ngân sách hàng năm, sau khi trình cấp có thẩm quyền sẽ được gửi tới SởTài chính, Sở Y tế

Căn cứ tổng mức kinh phí chi NSNN cho y tế được cấp có thẩm quyền thôngbáo, Sở Y tế, Sở Tài chính dự kiến phương án phân bổ kinh phí cho lĩnh vực y tế vàchi tiết cho các Sở, cơ quan liên quan phù hợp với các mục tiêu, nhiệm vụ đã đượcduyệt Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Y tế, và các Sở, cơ quan liên quan xem xét

dự toán chi NSNN cho y tế, lập phương án phân bổ ngân sách trình UBND tỉnh.UBND tỉnh sẽ trình HĐND tỉnh thảo luận dự toán ngân sách, và phê chuẩn ngân sách

Sau khi dự toán NSNN đã được UBND tỉnh phê duyệt, Sở Tài chính thôngbáo dự toán chi ngân sách lĩnh vực Y tế cho các Sở, cơ quan liên quan

Căn cứ lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho Y tế như sau:

Chi cho con người: Các khoản chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ

cấp, trợ cấp theo lương: tính theo lương cấp bậc, chức vụ và các khoản phụ cấplương theo quy định hiện hành của ngành Y tế Quỹ tiền lương, tiền công của đơn vị

sự nghiệp được xác định như sau:

do NN quyđịnh

x (1+

Hệ số điềuchỉnh tăngthêm mứclương tốithiểu

) x

Hệ sốlương cấpbậc bq và

hệ số phụcấp lươngbq

x

Biên chế

và laođộng hợpđồng từ 1năm trởlên

tháng

Trang 33

Sau khi xác định quỹ tiền lương của đơn vị, việc trả lương cho từng lao độngđược xác định như sau:

) x

Hệ số lươngcấp bậc và hệ

số phụ cấplương của cánhân

Từ cách xác định trên, tính được tổng kinh phí ngân sách nhà nước chi chocác đơn vị sự nghiệp y tế của các quận, huyện bằng cách lấy tổng quỹ lương củatừng đơn vị cộng lại

Chi hoạt động chuyên môn nghiệp vụ: căn cứ vào chế độ và khối lượng hoạt

động nghiệp vụ, kinh phí cho nghiệp vụ chuyên môn của sự nghiệp y tế xác địnhtheo công thức sau:

n i NVi

y tế

+

Số dự kiếnchi vềnghiên cứuKH

+

Số dự kiếnchi về trangphục cho y

tá, bác sĩ

+

Số dự kiếnchi về cáckhoản khác

Chi quản lý hành chính(C QL ): vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, công tác

phí theo chế độ chi tiêu tài chính hiện hành do cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnquy định, được xác định theo công thức sau:

)

(

1

CNi n

QLi

M : mức chi quản lý hành chính bình quân/ 1cán bộ công nhân viên sự nghiệp y

tế tuyến cơ sở dự kiến kỳ kế hoạch thuộc đơn vị thứ i

Trang 34

: số cán bộ công nhân viên bình quân dự kiến có mặt trong năm kế hoạchthuộc đơn vị thứ i.

Chi mua sắm, sửa chữa: được xác định dựa vào yêu cầu thực tế của các đơn

vị sự nghiệp theo công thức sau:

i i

C

1

) (

T : tỷ lệ % được áp dụng để xác định kinh phí dự kiến chi cho mua sắm, sửa chữa

lớn và xây dựng nhỏ của đơn vị thứ i

1.3.3 Phân bổ ngân sách nhà nước cho Y tế

Các khoản chi NSNN hiện nay cho sự nghiệp y tế được phân bổ theo một

số hình thức sau:

Phương thức phân bổ theo hạn mức kinh phí: định kỳ cơ quan tài chính

phân bổ hạn mức cho các đơn vị sự nghiệp Y tế Căn cứ vào hạn mức mà các đơn vị

sự nghiệp y tế rút tiền từ kho bạc để chi tiêu, hết thời hạn của hạn mức mà hạn mứcchi không hết sẽ bị xóa bỏ

Phương thức phân bổ theo lệnh chi: Kinh phí sau khi cấp phát theo lệnh

chi qua kho bạc Nhà nước của các quận, huyện, tài khoản tiền gửi của các đơn vị Y

tế sẽ được tăng thêm đúng bằng số ghi trong lệnh chi, sau khi hết niên độ kế toán

mà đơn vị không chi hết số kinh phí đó thì số còn lại nằm trong số dư của tài khoảntiền gửi sẽ được chuyển sang năm sau

Những căn cứ để phân bổ Ngân sách bao gồm :

Trang 35

Thứ nhất : Dựa vào mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán.

Đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch,bởi vì hầu hết các nhu cầu chi đã có trong định mức, tiêu chuẩn và đã được cơ quanquyền lực Nhà nước xét duyệt và thông qua

Thứ hai : Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho sự nghiệp y tế

trong kỳ báo cáo Trong quản lý và điều hành các khoản chi của NSNN ta phải luôn

tuân thủ theo quan điểm “ lường thu mà chi ” Vì khoản chi cho sự nghiệp y tế luôn

bị giới hạn bởi khả năng huy động các khoản thu

Thứ ba : Dựa vào các chính sách, chế độ chi Ngân sách hiện hành Đây là

căn cứ mang tính chất pháp lý cho công tác tổ chức thực hiện kế hoạch Bởi lẽ tínhhợp lệ, hợp lý của các khoản chi Ngân sách Nhà nước sẽ được phán xét dựa trên cơ

sở các chính sách chế độ chi của Nhà nước hiện đang có hiệu lực thi hành

Các yêu cầu cơ bản trong quá trình thực hiện việc phân bổ Ngân sách Nhà nước cho Y tế

Mục tiêu cơ bản của việc tổ chức thực hiện phân bổ chi Ngân sách Nhà nướccho sự nghiệp y tế là phải đảm bảo phân phối, cấp phát, sử dụng nguồn vốn mộtcách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả Để đạt được những mục tiêu đó, trong quá trình

tổ chức thực hiện phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Thứ nhất, đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, tập trung có trọng

điểm trên cơ sở kế hoạch chi đã được xác định

Thứ hai, phải đảm bảo việc cấp phát vốn, kinh phí một cách kịp thời, chặt

chẽ tránh mọi sơ hở gây lãng phí, tham ô làm thất thoát nguồn vốn của NSNN

Thứ ba, trong quá trình sử dụng các khoản vốn, kinh phí do Nhà nước cấp

phát phải hết sức tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả của các khoản chi

1.3.4 Công tác kiểm tra giám sát

Theo quy định hiện hành, các đơn vị sử dụng ngân sách phải mở tài khoản tạiKho bạc Nhà nước để thực hiện thu, chi qua Kho bạc Nhà nước đối với các khoảnkinh phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước

Trang 36

(bao gồm kinh phí ngân sách nhà nước cấp, các khoản thu, chi theo quy định đối vớinguồn thu từ phí và lệ phí thuộc ngân sách nhà nước và các khoản khác của ngânsách nhà nước nếu có); chịu sự kiểm tra, kiểm soát của Kho bạc Nhà nước trong quátrình thanh toán.

Các khoản chi phải đáp ứng đủ các điều kiện: Đã có trong dự toán chi ngânsách nhà nước được giao; đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhànước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; đã được thủ trưởng đơn vị sửdụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền quyết định chi; có đủ hồ sơ, chứng từthanh toán theo quy định

Các đơn vị, cơ sở Y tế phải cụ thể hóa dự toán chi cả năm thành nhu cầu chihàng quý, lập chi tiết cho 4 nhóm mục chi (chi cho con người, chi cho quản lý hànhchính, chi hoạt động chuyên môn, chi mua sắm, sửa chữa và xây dựng) để làm căn cứquản lý, cấp phát, thanh toán Khi có nhu cầu thanh toán, thủ trưởng đơn vị sử dụngngân sách lập giấy rút dự toán ngân sách, kèm theo hồ sơ thanh toán gửi Kho bạc Nhànước nơi giao dịch Kho bạc nhà nước nơi giao dịch kiểm tra hồ sơ thanh toán, cácđiều kiện thanh toán theo quy định và thực hiện việc chi trả, thanh toán Trường hợpchưa có đủ điều kiện thực hiện thanh toán trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước thì đượcphép cấp tạm ứng đối với một số khoản chi theo quy định Sau khi hoàn thành côngviệc và có đủ chứng từ thanh toán thì chuyển từ tạm ứng sang thực chi

Cơ quan Tài chính phải chủ động đảm bảo kinh phí cho Y tế; trong trường hợpnguồn thu không đảm bảo nhu cầu chi phải phối hợp với cơ quan Y tế điều chỉnhkịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép

Cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước phối hợp kiểm tra tình hình quản lý

và sử dụng kinh phí NSNN ở các đơn vị Y tế nhằm nâng cao hiệu quả của đồng vốnngân sách

Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối năm, số liệu trên sổ sách kếtoán của đơn vị, cơ sở y tế phải được đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của

cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước cả về tổng số và chi tiết Khi đó đơn vị mớiđược tiến hành lập báo cáo quyết toán năm

Trang 37

Đối với đơn vị dự toán: đơn vị dự toán cấp trên xét duyệt quyết toán của đơn

vị dự toán cấp dưới Sau đó đơn vị dự toán cấp 1 tổng hợp và lập báo cáo quyết toánnăm gửi cơ quan Tài chính đồng cấp

Các cấp ngân sách có trách nhiệm xét duyệt báo cáo quyết toán năm của cácđơn vị dự toán trực thuộc và thẩm tra báo cáo quyết toán chi cho Y tế của ngân sáchcấp dưới Sau đó, tổng hợp thành báo cáo chi ngân sách cho Y tế gửi Hội đồng nhândân và Uỷ ban nhân dân tỉnh

Báo cáo quyết toán chi ngân sách của các đơn vị dự toán các cấp và báo cáoquyết toán ngân sách các cấp chính quyền trước khi cơ quan Nhà nước có thẩmquyền phê chuẩn, theo yêu cầu của Luật NSNN phải được cơ quan Kiểm toán Nhànước kiểm toán xác nhận

Việc quyết toán chi NSNN cho Y tế được thực hiện cùng với quyết toánchi NSNN hàng năm của các Sở, cơ quan liên quan theo quy định của LuậtNSNN hiện hành

Công tác quyết toán vốn và kiểm tra khoản chi là công việc cuối cùng trongchu trình quản lý NSNN cho sự nghiệp Y tế Đây là quá trình nhằm kiểm tra, rà soát,chỉnh lý lại số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán để phân tích,đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiếtcho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo Trong quá trình tổ chức quyết toán, phải đảm bảođược các yêu cầu là: Trong báo cáo quyết toán của các đơn vị Y tế không được xảy ratình trạng quyết toán chi lớn hơn thu Nếu việc thực hiện công tác quyết toán NSNNcho sự nghiệp Y tế được tốt sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quátrình chấp hành dự toán chi một cách chính xác, trung thực và khách quan

1.4. Sự cần thiết của tăng cường quản lý chi Ngân sách Nhà nước cho y tế

Y tế cần thiết có sự cung ứng của Nhà nước hay nói cách khác, chi Ngânsách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế là cần thiết vì sự nghiệp Y tế có vai trò quantrọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Chất lượng, hiệuquả của các hoạt động Y tế ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người, mà sức

Trang 38

khoẻ con người là tiền đề cần thiết để tạo ra trí tuệ - tài sản quý nhất của mọi tài sản.Thực tế cho thấy, quá trình phát triển kinh tế xã hội không diễn ra một cách thụđộng mà nó phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của con người, con người khôngnắm vững khoa học công nghệ tiên tiến, không có phẩm chất nhân cách phù hợp vớinhu cầu công việc thì không thể đẩy mạnh phát triển kinh tế là điều tất yếu, điều đónói lên rằng, Y tế không phải là phạm trù phúc lợi đơn thuần mà nó tác động đến sựnghiệp kinh tế của mỗi quốc gia.

Mặc dù chi tiêu công không mang lại lợi ích bằng tiền nhưng chính sự canthiệp của Nhà nước đã góp phần vào việc đảm bảo công bằng xã hội; Thông quanhững chính sách của mình, Nhà nước điều tiết nguồn tài chính từ nơi thừa sang nơithiếu, mà ở lĩnh vực Y tế là từ người giàu sang người nghèo, sang những gia đìnhchính sách, có công với đất nước, mà điều này thì khu vực tư nhân không thể làmđược Nền kinh tế thị trường có những mặt trái của nó mà sự phân hoá giàu nghèo làmột trong những mặt trái đó: Xã hội càng phát triển thì sự phân hoá giàu nghèo càngtrở nên rõ rệt, người giàu thì càng giàu mà người nghèo thì càng nghèo, như vậy, tầnglớp nghèo có nguy cơ bị thiệt thòi, không đủ khả năng khám chữa bệnh khi ốm đau;Chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế góp phần hỗ trợ những đối tượng nghèokhi ốm đau, từ đó góp phần đảm bảo công bằng xã hội Đồng thời, chi Ngân sáchNhà nước cho sự nghiệp Y tế là một trong những công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tếcủa Nhà nước đối với chiến lược phát triển kinh tế xã hội Thông qua việc xác định

cơ cấu, tỷ trọng các khoản chi hay tổ chức sắp xếp lại mạng lưới Y tế từ Trung ươngxuống cơ sở mà Nhà nước tham gia điều chỉnh, hướng dẫn các hoạt động Y tế điđúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đề ra trong từng thời kỳ

Vai trò của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường rất khác biệt với vai trò đótrong nền kinh tế tập trung bao cấp Trong nền kinh tế thị trường, Chính phủ khôngphải là người duy nhất cung cấp các dịch vụ Y tế mà cũng không phải là nhà tài trợ duynhất cho các dịch vụ này như trong nền kinh tế mệnh lệnh, thêm vào đó là có sự cungứng dịch vụ của khu vực tư nhân trong lĩnh vực Y tế Tuy nhiên vì mục đích lợi nhuậnnên khu vực tư nhân đôi khi không quan tâm đến chất lượng, cũng như tính công bằng

Trang 39

hiệu quả của các dịch vụ mình cung cấp, mà chi phí cho mỗi lần sử dụng dịch vụ nàythường cao; Vì vậy dễ dẫn tới việc chỉ có người giàu mới có đủ tiền để chi trả cho sựthụ hưởng các dịch vụ này, do vậy làm giảm tính công bằng trong xã hội.

Trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường,việc các cá nhân phải tự chi trả cho các dịch vụ Y tế thường tăng lên, điều nàythường khiến cho người nghèo dễ bị tổn thương, trừ khi có những cơ chế hoạt độnghữu hiệu nhằm tránh cho người nghèo phải chịu sự tăng giá của các dịch vụ Y tế Vìthế, Chính phủ cần phải giữ vai trò trực tiếp trong việc tài trợ cho các chi phí chămsóc Y tế của người nghèo bằng cách cung cấp cho họ thẻ khám chữa bệnh đã đượcChính phủ mua trước Trên thực tế, Chính phủ có thể giảm vai trò của mình trongviệc cung cấp trực tiếp các dịch vụ Y tế, chữa bệnh và tăng vai trò trong việc tài trợcho các chi phí Y tế (dành cho người nghèo)

Những vai trò trên của chi NSNN được phát huy đến mức độ nào phụ thuộcnhiều vào tính hiệu quả của các khoản chi Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp Y tế.Hiệu quả này không chỉ được đánh giá qua số chi nhiều hay ít mà nó được xem xétthông qua các chỉ tiêu đặc trưng cho Y tế như : Số lần khám chữa bệnh, số người bịmắc và chết do các bệnh tăng hay giảm, tuổi thọ trung bình của người dân, số côngtrình nghiên cứu Y Dược đã hoàn thành được triển khai phát huy tác dụng như thếnào Những tiêu chí này được xem xét trong mối tương quan với số chi NSNNcho sự nghiệp Y tế

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CHO ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP CÓ THU

NGÀNH Y TẾ TỈNH BẮC NINH GIAI ĐOẠN 2008 - NAY ,

BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Trang 40

2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và hệ thống y tế tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh là một tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam, là cửa ngõ phía Bắc của Thủ

đô Hà Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: HàNội, Hải Phòng, Quảng Ninh Bắc Ninh có các trục đường giao thông lớn quantrọng chạy qua, nối liền tỉnh với các Trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại củaphía Bắc, Việt Nam

Năm 2012, dân số Bắc Ninh là 1.116.117 người, chỉ chiếm 1,41% dân số cảnước và đứng thứ 39/64 tỉnh, thành phố, trong đó nam 542,7 nghìn người và nữ573,4 nghìn người; khu vực thành thị 268,5 nghìn người, chiếm 25,9% dân số toàntỉnh và khu vực nông thôn 769,7 nghìn người, chiếm 74,1% Tính ra, mật độ dân sốBắc Ninh năm 2012 đã lên tới 1,262 người/km2, gần gấp 5 lần mật độ dân số bìnhquân của cả nước và là địa phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 64 tỉnh,thành phố, chỉ thấp hơn mật độ dân số của Hà Nội và của thành phố Hồ Chí Minh

Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính bao gồm thành phố Bắc Ninh và 7 huyện,thị xã là: Yên Phong, Quế Võ, Tiên Du, Từ Sơn, Thuận Thành, Lương Tài và GiaBình Năm 2010, Bắc Ninh có 126 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 102 xã, 17phường và 7 thị trấn

2.1.1 Hệ thống tổ chức bộ máy ngành y tế Bắc Ninh (Sơ đồ hệ thống tổ chức bộ máy trang 42)

2.1.1.1 Mạng lưới khám chữa bệnh, phòng bệnh

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 14 bệnh viện (7 bệnh viện tuyến tỉnh và 7 bệnhviện tuyến huyện), các phòng khám đa khoa khu vực, 100% xã có trạm y tế và cóbác sĩ, nữ hộ sinh, 100% số thôn có nhân viên y tế, giải quyết được cơ bản nhữngnhu cầu khám chữa bệnh trong nhân dân Mạng lưới y tế dự phòng cũng được củng

cố và phát triển Trong 5 năm qua, ngành y tế đã chủ động giám sát phát hiện sớm

và khống chế có hiệu quả các dịch bệnh xảy ra trên địa bàn Tỷ lệ miễn dịch cơ bảncho trẻ dưới 1 tuổi luôn đạt trên 97% hàng năm Chính nhờ kết quả tiêm chủng

Ngày đăng: 07/10/2014, 02:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức bộ máy ngành y tế tỉnh Bắc NinhBộ y tế - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Sơ đồ 2.1 Hệ thống tổ chức bộ máy ngành y tế tỉnh Bắc NinhBộ y tế (Trang 42)
Bảng 2.1: Tình hình chi NSNN cho sự nghiệp y tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008-2012 - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 2.1 Tình hình chi NSNN cho sự nghiệp y tế tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2008-2012 (Trang 44)
Bảng 2.2:  Chi NSNN cho y tế tại một số  tỉnh  vùng đồng bằng sông Hồng - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 2.2 Chi NSNN cho y tế tại một số tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng (Trang 45)
Bảng 2.3: Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 2.3 Cơ cấu chi NSNN cho y tế tỉnh Bắc Ninh (Trang 46)
Sơ đồ 2.2: Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai trước năm 2008 - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Sơ đồ 2.2 Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai trước năm 2008 (Trang 51)
Sơ đồ 2.3: Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai đoạn 2009 đến nay - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Sơ đồ 2.3 Mô hình quản lý, cấp phát chi sự nghiệp y tế giai đoạn 2009 đến nay (Trang 53)
Bảng 2.4: Chi sự nghiệp y tế theo nội dung nghiệp vụ ngành y tế - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 2.4 Chi sự nghiệp y tế theo nội dung nghiệp vụ ngành y tế (Trang 55)
Bảng 2.5: Chi NSNN cho sự nghiệp y tế theo 4 nhóm mục chi - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 2.5 Chi NSNN cho sự nghiệp y tế theo 4 nhóm mục chi (Trang 56)
Bảng 2.6: Định mức phân bổ ngân sách Nhà nước cho y tế theo giường bệnh. - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 2.6 Định mức phân bổ ngân sách Nhà nước cho y tế theo giường bệnh (Trang 59)
Bảng 2.7:  Định mức phân bổ theo tiêu chí biên chế cho y tế - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 2.7 Định mức phân bổ theo tiêu chí biên chế cho y tế (Trang 60)
Hình thức này có một số ưu điểm như sau: - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Hình th ức này có một số ưu điểm như sau: (Trang 60)
Hình thức phân bổ ngân sách Nhà nước căn cứ vào giường bệnh còn có môt hạn chế khác là "hiện tượng bao cấp ngược" - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Hình th ức phân bổ ngân sách Nhà nước căn cứ vào giường bệnh còn có môt hạn chế khác là "hiện tượng bao cấp ngược" (Trang 69)
Bảng 3.1: Dự báo nhu cầu nguồn vốn NSNN của y tế Bắc Ninh đến năm 2015 - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 3.1 Dự báo nhu cầu nguồn vốn NSNN của y tế Bắc Ninh đến năm 2015 (Trang 82)
Bảng 3.2: Khả năng huy động vốn đầu tư  phát triển y tế Bắc Ninh đến năm 2015 - quản lý chi ngân sách nhà nước đối vói đơn vị sự nghiệp công lập có thu ngành y tế tỉnh bắc ninh (giai đoạn 2008 đến nay). thực trạng kinh nghiệm và giải pháp
Bảng 3.2 Khả năng huy động vốn đầu tư phát triển y tế Bắc Ninh đến năm 2015 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w