Do là một đầu mối giao lưu kinh tế của cả nước với Trung Quốc và được sựquan tâm ưu đãi qua các chính sách ưu tiên phát triển của Đảng và Nhà nước, đặcbiệt là sự cố gắng của Đảng bộ và n
Trang 1THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHO SỰ NGHIỆP Y TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN
2.1 Vài nét về đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Lạng Sơn.
2.1.1 Đặc điểm vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số
Lạng Sơn là tỉnh biên giới địa đầu của Tổ quốc, có vị trí hết sức quan trọngthiên nhiên Lạng Sơn tươi đẹp, hùng vĩ Nơi đây đã ghi dấu bao chiến công hiểnhách của cha ông ta trong những cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm Lạng Sơn
là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam Phía bắc giáp tỉnh CaoBằng, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Tây Trung Quốc với đường biên giới chungdài 253 km, phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh,phía tây giáp tỉnh Bắc Kạn, tây nam giáp tỉnh Thái Nguyên Chiều dài từ đông sangtây là 125 km, từ bắc xuống nam dài 120km Thị xã Lạng Sơn cách thủ đô Hà Nội
154 km về phía tây nam, Lạng Sơn có tuyến đường sắt liên vận quốc tế, ở vị trí cótrục đường quốc lộ 1A, 1B, 4A, 4B nối liền với các tỉnh Bắc Bộ nên thuận lợi choviệc buôn bán, trao đổi hàng hoá không chỉ trong nội vùng, liên vùng mà còn làmột thị trường trung chuyển giữa nước ta với Trung Quốc, Châu Á Thái BìnhDương, các nước SNG và Đông Âu Tuy nhiên giao thông liên huyện còn rất khókhăn, đặc biệt giao thông giữa các xã vùng sâu, vùng cao
Lạng Sơn có diện tích 8.325 km2 chiếm 2,5% diện tích cả nước, so với 61tỉnh thành Lạng Sơn có diện tích rộng thứ 9, Lạng Sơn có 10 huyện và 1 thị xã với
số dân 786.465 người Trong đó dân tộc Nùng chiếm khoảng 43,8%; dân tộc Tàychiếm khoảng 35,9%; dân tộc Kinh chiếm khoảng 15,3%, còn lại 5% là các dân tộckhác như: Dao, Sán Chay, Hoa, Mông, Thái, Mường, Mật độ dân số là 95người/ km2
Trang 2Khí hậu Lạng Sơn là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ trung bình
ở Lạng Sơn từ 200C đến 220C, so với cả nước nhiệt độ ở Lạng Sơn thấp hơn từ 10Cđến 30C
Mặc dù là một đầu mối giao lưu kinh tế với cả nước, có điều kiện giao lưutương đối dễ dàng với các tỉnh miền xuôi đặc biệt với Hà Nội nên có điều kiệnthuận lợi trong việc tiếp thu và triển khai các tiến bộ trong hoạt động chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ nhân dân, tuy nhiên Lạng Sơn là một tỉnh có 135/225 xã phường
là xã vùng cao, trong đó 50 xã là xã thuộc vùng III chiếm 35,6% nên còn gặp rấtnhiều khó khăn trong việc triển khai công tác y tế Do địa hình miền núi đi lại khókhăn, dân cư không tập trung nên việc triển khai các hoạt động y tế đòi hỏi phảitốn nhiều thời gian và công sức hơn nhiều lần so với vùng thấp như việc tiêmchủng ở tại các xã vùng cao hầu hết phải thực hiện theo hình thức chiến dịch, mỗi
xã trung bình phải mất 4 đến 5 ngày để hoàn thành một đợt tiêm chủng trong khicác xã miền xuôi chỉ mất 1 buổi
2.1.2 Đặc điểm văn hoá xã hội.
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn các hoạt động văn hoá thông tin có nhiều tiến
bộ, công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đốivới cơ sở được đẩy mạnh Sau 5 năm tiến hành triển khai thực hiện cuộc vận độngtoàn dân đoàn kết xây dựng nếp sống mới ở khu dân cư đã đạt được nhiều kết quả.Toàn tỉnh có 95% xã, phường, thị trấn; 2.021 khu dân cư tham gia cuộc vận động
và 47.250 hộ gia đình đăng ký xây dựng gia đình văn hoá, kết quả 6.000 hộ đạt tiêuchuẩn gia đình văn hoá, 70 làng bản, khu phố đạt tiêu chuẩn văn hoá
Đoàn nghệ thuật của Tỉnh đang từng bước được củng cố, nội dung chươngtrình và hình thức biểu diễn có nhiều tiến bộ, phong trào văn hoá nghệ thuật quầnchúng phát triển Xong việc khai thác và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc cònhạn chế
Trang 3Lĩnh vực phát thanh truyền hình liên tục được mở rộng, Đài phát thanhtruyền hình tỉnh đã có nhiều cố gắng nâng cao chất lượng về nội dung và thời gianphát sóng Tỷ lệ số hộ dân được xem truyền hình ước đạt 60%; tỷ lệ số hộ dânđược nghe đài phát thanh ước đạt 90%
Hoạt động thể dục thể thao đã có bước phát triển nhất là sau khi Ban thường
vụ Tỉnh uỷ Lạng Sơn có nghị quyết số 10 NQ/TU chuyên đề về tăng cường lãnhđạo công tác thể dục thể thao Tạo lập được phong trào quần chúng luyện tập thểthao sôi nổi Hàng trăm câu lạc bộ thể dục thể thao được thành lập và hoạt độngthường xuyên, hàng năm tổ chức hội thao 5 huyện biên giới
Các chủ trương của Đảng về giáo dục đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, mạng lưới trường lớp không ngừng được phát triển, nhiều loại hình giáo dục được
mở rộng các trường công lập, dân lập, các lớp hệ B, trường bán công, cơ bản đãđáp ứng được nhu cầu học tập của con em các dân tộc trong toàn tỉnh, bình quân sốhọc sinh tăng 3%/năm đến năm 1997 tỉnh Lạng Sơn đã hoàn thành phổ cập tiểu học, xóa mù chữ Các trường dân tộc nội trú được mở ra ở nhiều huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo cán bộ đối với các xã vùng cao, vùng biên giới Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cũng được tỉnh quan tâm, có chính sách
khuyến khích cán bộ đi học để nâng cao trình độ
Công tác y tế của tỉnh trong những năm qua đã có nhiều cố gắng, 100% xã phường đều có trạm y tế để phục vụ chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, công tác phòng bệnh dịch, chương trình mục tiêu y tế quốc gia được quan tâm Nhìn chung tình hình văn hoá xã hội của tỉnh trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ đáng khích lệ, góp phần rất lớn vào việc nâng cao tầm nhận thức của nhân dân, đó cũng là một điều kiện quan trọng để nâng cao nhận thức cho người dân về công tácbảo vệ sức khoẻ
2.1.3.Đặc điểm kinh tế.
Trang 4Do là một đầu mối giao lưu kinh tế của cả nước với Trung Quốc và được sựquan tâm ưu đãi qua các chính sách ưu tiên phát triển của Đảng và Nhà nước, đặcbiệt là sự cố gắng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh nên nền kinh tếcủa tỉnh đã đạt được những kết quả khả quan.
Qua kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 1996-2000 tỉnh đã đạt đượcnhững kết quả sau:
Tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) bình quân kỳ tăng 9,25% là mức tăng trưởngkhá cao so với mức tăng trưởng chung của cả nước (6,7%) trong đó tốc độ tăngbình quân của ngành Nông, Lâm nghiệp là 5,4%; Công nghiệp và xây dựng tăng18,09%; Dịch vụ tăng13,7%; GDP bình quân đầu người năm 2000 là 3,02 triệuđồng tăng gấp 1,48 lần so với năm 1995
Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tương đối tích cực, giá trị ngành Nông,Lâm nghiệp tăng khá, song tỷ trọng giảm từ 62,1% năm 1995 xuống còn 42,2%vào năm 2001 Tỷ trọng ngành Công nghiệp và Xây dựng tăng từ 9% lên 13,7%;các ngành dịch vụ tăng từ 28,89% lên 37,1% Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệptrong những năm qua đã phát triển đúng hướng và có tốc độ tăng trưởng cao Giátrị ngành Công nghiệp bình quân hàng năm tăng 21,5% cao hơn so với mức tăngchung của cả nước Một số cơ sở sản xuất công nghiệp đã quan tâm đầu tư chiềusâu, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm, ổn địnhsản xuất và kinh doanh có hiệu quả như: Nhà máy xi măng, Xí nghiệp gạch HợpThành, Công ty Cơ khí cơ điện, cơ sở sản xuất bia hơi,
Các ngành dịch vụ ngày càng phát triển đa dạng, hoạt động thương mại sôiđộng ở khu vực đô thị và khu vực cửa khẩu biên giới Tỉnh đã quan tâm đầu tư xâydựng các chợ, cửa hàng thương mại ở Thị xã, thị trấn, một số trung tâm cụm xã.Tổng mức lưu chuyển hàng hóa tăng bình quân 16,02%/năm bình quân hàng nămgiá trị các ngành dịch vụ tăng 13,57%, cả nước là trên 6% Doanh thu từ du lịch
Trang 5tăng 11,73%/năm Có sự chuyển biến tích cực trong phát huy nội lực, huy động cácnguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao năng lực sản xuất, kết cấu hạ tầng tạođiều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Tổng số vồn đầu tư phát triển trên địabàn tỉnh giai đoạn1996-2000 là 3.565 tỷ đồng gấp 4 lần so với thời kỳ 1991-1995
Thu NSNN trên địa bàn tỉnh bình quân hàng năm tăng 23,2%, do vậy cóthêm điều kiện để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Quan hệ sản xuất mới đượccủng cố hoàn thiện, kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có bước phát triển Cácdoanh nghiệp nhà nước được củng cố, sắp xếp lại với sự hỗ trợ của Nhà nước vềvốn, tín dụng, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm nên đang từng bước đứng vững và pháttriển Trong 5 năm đã chuyển đổi được 22 hợp tác xã, thành lập mới 26 hợp tác xã,kinh tế tư nhân ngày càng được mở rộng và phát triển
Hoạt động kinh tế đối ngoại có chuyển biến tích cực, nhất là trong lĩnh vựcxuất nhập khẩu, tổng kim ngạch xuất khẩu qua địa bàn giai đoạn 1996-2000 đạt1.375 triệu USD, bình quân hàng năm tăng 28% ( mục tiêu đề ra là 18%) Tổngkim ngạch nhập khẩu trong 5 năm là 856,3 triệu USD, bình quân hàng năm tăng9,5%
* Vài nét về Sở Tài chính vật giá Lạng sơn
Sở Tài chính vật giá Lạng Sơn ra đời cùng với sự ra đời của ngành Tài chínhViệt Nam (28 - 8 - 1945) trải qua hơn 56 năm phấn đấu, thử thách và trưởng thành
Sở Tài chính vật giá Lạng Sơn đã không ngừng trưởng thành về mọi mặt góp phầnrất lớn trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc và đặcbiệt trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn thực hiện Công nghiệp hoá - Hiện đại hoáđất nước
Sở Tài chính vật giá Lạng Sơn là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tỉnh
có chức năng giúp UBND Tỉnh thực hiện việc quản lý Nhà nước về Tài chính, giá
Trang 6cả trong phạm vi, nhiệm vụ của UBND theo luật định Sở Tài chính vật giá chịu sựchỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tài chính và Ban vật giá Chính phủ.
- Nhiệm vụ của Sở Tài chính vật giá Lạng Sơn cũng như các Sở Tài chínhvật giá các tỉnh, thành phố khác trong cả nước được quy định tại thông tư liên tịch
số 38/TC - TCCBCP ngày 25/6/1997 của Bộ Tài chính - Ban Tổ chức cán bộChính phủ hướng dẫn về nhiệm vụ quản lý Tài chính, Ngân sách và tổ chức bộmáy của cơ quan quản lý tài chính thuộc chính quyền địa phương các cấp Baogồm các nhiệm vụ sau :
+ Giúp UBND Tỉnh triển khai thực hiện và hướng dẫn các cơ quan thuộcTỉnh và cơ quan cấp dưới thực hiện pháp luật, chính sách chế độ và các quy địnhcủa Nhà nước về Tài chính, ngân sách, kế toán và kiểm toán trên địa bàn
+ Xây dựng các văn bản quy định về việc thu phí, lệ phí, phụ thu, vay, trả
nợ, về huy động sự đóng góp của các cá nhân và tổ chức thuộc thẩm quyền của địaphương trình cấp có thẩm quyền xem xét ban hành ; Hướng dẫn và tổ chức thựchiện theo quy định của pháp luật
+ Hướng dẫn các cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp thuộc Tỉnh và cơquan Tài chính cấp dưới xây dựng dự toán ngân sách Nhà nước hàng năm theo quyđịnh của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính, xem xét và tổng hợp để xâydựng dự toán ngân sách địa phương, mức bổ sung cho ngân sách Huyện, quy địnhviệc bổ sung ngân sách cho cấp xã ; Lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phươngtrong trường hợp cần thiết trình UBND Tỉnh xem xét, trình HĐND Tỉnh quyếtđịnh ; Xác định tỉ lệ điều tiết các khoản thu cho ngân sách cấp dưới trình UBNDTỉnh quyết định ; đề xuất các biện pháp cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ thu chingân sách, thực hành tiết kiệm, chống tham ô lãng phí trình cấp có thẩm quyềnquyết định
Trang 7+ Lập phương án phân bổ dự toán ngân sách tỉnh trình UBND tỉnh xem xét
để trình HĐND Tỉnh quyết định ; quản lý ngân sách tỉnh đã được quyết định Thamgia với Sở Kế hoạch - Đầu tư về kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản và bố trí vốnđầu tư xây dựng cơ bản trình UBND Tỉnh quyết định Phối hợp với các cơ quanthu trong việc thực hiện công tác quản lý thu thuế, phí và các khoản thu khác trênđịa bàn ; Phối hợp với kho bạc Nhà nước thực hiện cấp phát đầy đủ, kịp thời, đúngchế độ, tiêu chuẩn cho các đối tượng sử dụng ngân sách Tỉnh
+ Quản lý tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, thuộc khu vực hành chính sựnghiệp tại địa phương theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tàichính
+ Xem xét, kiểm tra về mặt tài chính đối với việc xây dựng và hình thànhcác dự án đầu tư bằng vốn ngân sách địa phương, các dự án vay vốn của địaphương, giúp UBND Tỉnh kiểm tra việc sử dụng vốn và thực hiện kế hoạch trả nợvay; Quản lý và kiểm tra việc sử dụng các nguồn vốn và tài sản viện trợ của địaphương
+ Quản lý và sử dụng quỹ dự trữ tài chính của Tỉnh theo quy định của phápluật và quyết định của UBND Tỉnh
+ Quản lý các nguồn kinh phí uỷ quyền của Trung ương
+ Kiểm tra và xét duyệt quyết toán của các cơ quan Nhà nước đơn vị hànhchính, sự nghiệp, các tổ chức sử dụng ngân sách Tỉnh
+ Hướng dẫn cơ quan tài chính cấp dưới tổng hợp số liệu về thu chi ngânsách Nhà nước tại địa bàn và thực hiện quyết toán ngân sách cấp mình Tổng hợptình hình thu chi ngân sách Nhà nước, lập tổng quyết toán ngân sách Nhà nướchàng năm của địa phương trình cấp có thẩm quyền theo quy định
+ Báo cáo về tài chính, ngân sách theo quy định
+ Quản lý Nhà nước đối với hoạt động xổ số, các hoạt động kinh doanh,dịch vụ và tư vấn về tài chính, bảo hiểm, kế toán và kiểm toán tại địa phương theoquy định của pháp luật Tham gia với cơ quan quản lý vốn và tài sản Nhà nước tạidoanh nghiệp trong việc quản lý tài chính đối với doanh nghiệp theo phân cấp
Trang 8+ Thanh tra, kiểm tra về quản lý tài chính, ngân sách của chính quyền cấpdưới và các cơ quan hành chính, sự nghiệp, doanh nghiệp tại địa phương có trựctiếp liên quan đến trách nhiệm, nghĩa vụ đối với ngân sách địa phương và thực hiệnchế độ quản lý tài chính Nhà nước, quản lý tài sản Nhà nước của địa phương theoquy định.
+ Thống nhất quản lý về quy hoạch, kế hoạch bồi dưỡng và sử dụng cán bộchuyên môn nghiệp vụ tài chính, kế toán thuộc địa phương
Tổ chức bộ máy sở tài chính vật giá Tỉnh Lạng Sơn
Lãnh đạo chung là ban Giám đốc Sở
Sở Tài chính vật giá Tỉnh Lạng Sơn gồm 9 phòng, ban chức năng gồm :
1 Phòng quản lý ngân sách
2 Phòng quản lý ngân sách Huyện, xã
3 Phòng Tài chính Doanh nghiệp
4 Phòng Tài chính hành chính sự nghiệp
2.2 Thực trạng ngành y tế Lạng Sơn trong nhưng năm gần đây.
Xác định được vai trò của sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh, trong những nămqua ngành y tế Lạng Sơn đã liên tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động
về mọi mặt
*Công tác củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở;
Xác định vai trò y tế cơ sở là đơn vị y tế nhà nước gần dân nhất, đảm nhiệm vai tròchăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng Trong nhiều năm qua ngành y tế LạngSơn liên tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng hoạt động về mọi mặt của y tế cơ
sở Nhờ đó tổ chức mạng lưới, số lượng và chất lượng cán bộ không ngừng đượcnâng cao
Trang 9Hiện nay trong toàn tỉnh có 100% xã, phường có trạm y tế phục vụ chăm sócsức khoẻ nhân dân năng lực cán bộ y tế xã không ngừng được nâng cao Cho đếnnăm 2001 tổng số cán bộ y tế xã là 900 người, đạt 3,98 cán bộ y tế/ xã trong đó có
108 bác sỹ chiếm 12% cán bộ y tế xã, 47,8% số xã có bác sỹ; 100% số xã có y sỹsản nhi hoặc nữ hộ sinh; 36 xã có y sỹ y học cổ truyền đạt 16%; có 54 xã có dược
tá đạt 23% Dự án hỗ trợ y tế quốc gia đã tập huấn nâng cao trình độ về bảo vệ sứckhoẻ bà mẹ trẻ em, đào tạo lại, nâng cao trình độ khám chữa bệnh thông thườngcho cán bộ 226 xã, phường Y tế thôn bản tiếp tục được đào tạo bổ sung Hết năm
2001 số luỹ tích y tế thôn bản đã đào tạo được 2.151 người nhưng do nhiều lý dokhác nhau đến nay mới có 1.773/ 2.294 thôn bản có nhân viên y tế hoạt độngchiếm 77,2% Đội ngũ cán bộ y tế thôn bản đã tích cực thực hiện các nhiệm vụchăm sóc sức khoẻ nhân dân, góp phần quan trọng trong việc hoàn thành cácnhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở cơ sở
Mạng lưới y tế cơ sở không ngừng được đầu tư cơ sở vật chất, hiện nay194/226 xã đã có nhà trạm kiên cố để hoạt động Bằng nhiều nguồn vốn như: Dự
án 748, vốn của tỉnh, vốn dự án hỗ trợ y tế quốc gia, nhiều nhà trạm y tế đangtiếp tục được xây dựng và đầu tư đồng bộ
Tuy vậy, mạng lưới y tế cơ sở vẫn chưa đáp ứng được ngang tầm nhiệm vụ,nhiều nơi chất lượng hoạt động còn khá thấp cả về trình độ chuyên môn và phươngpháp làm việc So với chức năng, nhiệm vụ và 10 nội dung chăm sóc sức khoẻ banđầu khoảng 70% cơ sở y tế xã, phường đạt yêu cầu Cơ cấu cán bộ của các trạm y
tế không đồng đều, nhiều trạm mất cân đối nhưng việc điều chuyển cán bộ nhằmkhắc phục những bất hợp lý về cơ cấu chưa được thực hiện kịp thời Đội ngũ y tếthôn bản tuy có nhiều cố gắng song trình độ còn thấp, trình độ văn hóa còn hạn chếđòi hỏi phải quan tâm đến đào tạo lại và đào tạo nâng cao cho y tế thôn bản
*Công tác khám chữa bệnh
Khám chữa bệnh luôn là một hoạt động quan trọng của ngành y tế, giảiquyết trực tiếp những nhu cầu cấp thiết nhất về sức khoẻ của nhân dân vì vậycông tác này luôn được toàn thể xã hội quan tâm và coi đây như là một tiêu chi cơ
Trang 10bản để đánh giá hoạt động y tế Trong những năm qua hiểu rõ yêu cầu của xã hộiđối với công tác khám chữa bệnh, ngành y tế tỉnhđã không ngừng nâng cao chấtlượng khám chữa bệnh thông qua việc nâng cao trình độ, tay nghề và đạo đức củađội ngũ thầy thuốc Công suất sự dụng giường bệnh trong những năm qua được thểhiện ở biểu sau:
Mức độ
TH sovới KH
Mức độ
TH sovới KH
1 Tỉnh 400 358 89,5% 400 309 77,25% 400 352 88%
2 Huyện 480 458 95,4% 480 372 77,5% 480 358 80,83%
(Nguồn số liệu: Sở Y tế Lạng sơn)
Công suất sử dụng giường bệnh trong năm 2000 và 2001 là đạt yêu cầu củangành y tế, nhưng trong năm 2000 công suất sử dụng giường bệnh thấp hơn năm
1999 là do một số bệnh viện phải thu hẹp diện tích sử dụng các khoa, phòng để xâydựng mới và chuyển bớt bệnh nhân về phòng khám đa khoa khu vực hoặc trạm y tế
xã Trong năm 2001 công suất sử dụng giường bệnh tăng so với năm 2000 là docác bệnh viện do sự tin tưởng của nhân dân vào hệ thống bệnh viện của tỉnh ngày
càng cao Tình hình khám chữa bệnh được thể hiện ở bản sau: (Biểu số 2)
Đa số các chỉ tiêu khám chữa bệnh đạt được kết quả cao là do nhu cầukhám chữa bệnh ngày càng tăng, ý thức tự giác chăm sóc sức khoẻ của người dânđược nâng lên và một phần là do cơ sở vật chất cuả các bệnh viện được nâng cấp,thiết bị được đầu tư mới hiện đại và tinh thần thái độ phục vụ của thầy thuốc đã cónhiều chuyển biến tốt
Trang 11Tuy vậy, chất lượng khám chữa bệnh còn chưa tương xứng với yêu cầu,không đồng đều trong từng đơn vị, từng tuyến Qua kiểm tra nhận thấy trình độ taynghề của một bộ phận không nhỏ cán bộ chưa đáp ứng được với yêu cầu Công tácđào tạo của đơn vị và tự học tập của cá nhân đê nâng cao trình độ chưa đượcthường xuyên liên tục Công tác quản lý chuyên môn tại các bệnh viện chưa sâusát, còn mang nặng tính hành chính sự vụ; tổ chức hoạt động của các bệnh việnchưa được cải tiến Hoạt động chỉ đạo tuyến chưa được quan tâm đúng mức, cònmang tính hình thức chiếu lệ, chưa sâu sát chuyên môn, chưa hướng dẫn, giám sát
y tế xã có hiệu quả
*Công tác y tế dự phòng
- Phòng bệnh, phòng dịch: Nhận thức được tầm quan trọng của công tác phòngbệnh, phòng dịch ngành y tế đã không ngừng quan tâm đến việc mở rộng mạnglưới phòng dịch bệnh rộng khắp trong toàn tỉnh, góp phần khống chế và đẩy lùi cácbệnh dịch Hoạt động giám sát vệ sinh môi trường từng bước được củng cố, côngtác y tế dự phòng tiếp tục được quan tâm Tuy vậy, hoạt động giám sát chươngtrình y tế chưa được quan tâm đúng mức, việc hỗ trợ, hướng dẫn cho tuyến huyện,
xã còn hạn chế nên chất lượng của chương trình chưa cao, có nơi còn tình trạngthừa thuốc mà người dân không được sử dụng Công tác phòng chống dịch bệnhcòn bị động, sự vụ Mạng lưới phòng chống dịch bệnh đã phát triển rộng khắp từtỉnh đến xã nhưng hoạt động chưa đồng đều nhất là ở tuyến cơ sở
- Truyền thông giáo dục sức khoẻ: Được quan tâm và phát triển dưới nhiều hìnhthức như ra các tập san, các chương trình, chuyên mục sức khoẻ trên truyền hình,không ngừng nâng cao về mặt chất lượng và đã tạo được sự quan tâm của các cấp,các ngành và của nhân dân Tuy vậy, công tác này còn hạn chế do đội ngũ cán bộ ítđược đào tạo chuyên sâu, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, mạng lưới truyền thôngcòn mỏng, nhiều huyện và hầu hết các xã hoạt động này chưa được quan tâm
Trang 12Công tác kiểm dịch y tế biên giới, giám định y khoa, công tác bảo vệ bà mẹtrẻ em và kế hoạch hoá gia đình không ngừng được quan tâm và nâng cao chấtlượng hoạt động, góp phần rất lớn vào hoạt động y tế dự phòng của ngành y tế tỉnh.
*Công tác đào tạo cán bộ
Trong những năm qua được sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và sự cốgắng của ngành y tế, công tác đào tạo cán bộ y tế luôn được trú trọng, đã triển khaiđược nhiều loại hình đào tạo lại, nâng cao cho nhiều đối tượng khác nhau Sốlượng cán bộ không ngừng tăng, đến năm 2001 số lượng cán bộ là 2.339 chấtlượng cán bộ cũng được nâng lên đáng kể Ngoài ra công tác bồi dưỡng cán bộcũng đựơc quan tâm, các lớp chuẩn đoán, lớp hộ lý, ngoại ngữ, tin học, được mởthường xuyên
Tuy vậy, công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ còn có những tồn tại cầnkhắc phục đó là đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn thiếu định hướng, không căn cứ vàonhu cầu sử dụng cho nên trong thời gian qua một số chuyên khoa hầu như khôngđược quan tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ như chuyên khoa mắt, chuyên khoa điềudưỡng và phục hồi chức năng, khoa nhi,
Một số cán bộ đi học chủ yếu do nguyện vọng cá nhân để tự nâng cao kiếnthức, nên đi học không theo định hướng của đơn vị, một số xin đi học là để chuyển
về trung ương gây tốn kém kinh phí cho đơn vị Số lượng bác sỹ, dược sỹ tại cáctrung tâm y tế huỵên hiện nay ít chưa đáp ứng được yêu cầu công tác phân tuyến
kỹ thuật, cơ bản chưa có cán bộ chuyên khoa ở các trung tâm y tế huyện như khoanhi; khoa mắt; khoa răng, hàm răng, hàm, mặt; khoa y học cổ truyền,
2.3.Thực trạng cơ chế quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh Lạng sơn.
2.3.1.Nguồn vốn cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh Lạng sơn.
Trang 13Đầu tư cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh Lạng sơn bao gồm các nguồn vốnsau:
+ Nguồn vốn từ NSNN + Nguồn vốn do nhân dân đóng góp (viện phí) + Nguồn bảo hiểm y tế
+ Nguồn khácTrong các nguồn vốn này thì chiếm một tỷ trọng lớn và quan trọng nhất đó
là nguồn vốn từ NSNN, nó giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn vốn đầu tư cho y
tế Do điều kiện là một tỉnh miền núi còn khó khăn, đối tượng thuộc diện miễngiảm viện phí chiếm phần lớn, mức thu viện phí thấp, vì vậy, kinh phí cho hoạtđộng khám chữa bệnh hầu hết và chủ yếu vẫn là nguồn NSNN cấp Nguồn vốn cho
hoạt động khám chữa bệnh được thể hiện ở biểu dưới đây: (Biểu số 3)
Biểu số 3: NGUỒN CHI CHO HOẠT ĐỘNG KHÁM CHỮA BỆNH
Đơn vị: triệu đồng
Nguồn vốn
Số tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
Số Tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
Số tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
84,8915,11-
12.4022.446-
83,5316,47-
17.1303.519-
82,9617,04-
(Nguồn số liệu: Phòng Quản lý ngân sách Sở Tài chính vật giá Lạng sơn)
Qua bảng trên ta thấy nguồn vốn NSNN chi cho sự nghiệp khám chữa bệnhchiếm một tỷ trọng rất lớn năm 1999 là 84,89%; năm 2000 là 83,53%; năm 2001 là82,96%, tuy có sự giảm về tỷ trọng nhưng không đáng kể mà mỗi năm NSNN phảichi thêm cho sự nghiệp y tế là khá lớn, năm 2000 tăng hơn so với năm 1999 là2.856,5 triệu đồng; năm 2001 tăng hơn so với năm 2000 là 4.728 triệu đồng, các
Trang 14khoản chi này giảm về tỷ trọng là do tỷ trọng của các khoản viện phí và BHYTtăng Trong tương lai khoản chi này nên giảm bớt nhằm giảm gánh nặng choNSNN và phải tìm mọi cách khai thác triệt để các nguồn vốn khác để chi cho sựnghiệp y tế tỉnh.
Nguồn NSNN không chỉ chiếm vai trò chủ yếu trong công tác khám chữabệnh mà nó còn có một vai trò rất lớn trong công tác phòng bệnh, nhận xét trên
được thể hiện ở biểu sau: (Biểu số 4)
Tỷ trọng (%)
Số Tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
Số tuyệt đối
Tỷ trọng (%)
83,73-16,27
5.386-954
84,95-15,05
7.872-2.013
79,72-20,28
(Nguồn số liệu: Phòng Quản lý ngân sách Sở Tài chính vật giá Lạng sơn)
Công tác phòng bệnh là một công tác giữ vị trí chiến lược, nếu thực hiện tốt
sẽ góp phần rất lớn vào việc giảm các dịch bệnh, giảm chi cho khám chữa bệnh dovậy việc chi NSNN cho phòng bệnh là rất cần thiết Trong những năm vừa qua chiNSNN cho công tác phòng bệnh cũng đã cho ta thấy phần nào sự quan tâm củangành y tế đối với công tác này Năm 1999 chi NSNN cho phòng bệnh chiếm83,73% tổng chi cho phòng bệnh, năm 2000 là 84,95% đến năm 2001 tỷ lệ này tuy
có giảm nhưng vẫn ở mức 79,72%
Trang 15Tỷ lệ chi NSNN cho khám chữa bệnh và công tác phòng bệnh trên địa bàntỉnh trong những năm qua là tương đối lớn và không ngừng tăng, tuy vậy cơ cấuchi cho khám chữa bệnh và phòng bệnh cần có sự điều chỉnh làm sao cho công tác
xã hội hóa hoạt động khám chữa bệnh được đầy mạnh hơn và công tác phòng bệnhđược triển khai rộng rãi hơn trên địa bàn tỉnh
Nguồn viện phí và BHYT là nguồn đóng góp của các cá nhân, tập thể, cộngđồng xã hội để cung cấp một phần nguồn tài chính cho công tác y tế Nhưng dođiều kiện của tỉnh đối tượng thuộc diện miễn giảm viện phí lớn nên số tiền viện phíthu được không lớn Nguồn viện phí hiện nay chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trongtổng chi cho sự nghiệp y tế
Việc sử dụng BHYT theo Nghị định 58/1998/NĐ-CP của Chính phủ banhành điều lệ BHYT đã đóng góp một phần đáng kể cho hoạt động khám chữabệnh, san sẻ những chi phí quá lớn cho những người có hoàn cảnh khó khăn, giảmbớt một phần gánh nặng cho NSNN bằng việc phát hành thẻ BHYT cho ngườitham gia
Tuy đóng vai trò rất quan trọng nhưng trong thời gian qua tình hình nguồnviện phí và BHYT chi cho công tác khám chữa bệnh chiếm một tỷ lệ còn nhỏ vàkhông đồng đều giữa tuyến tỉnh và tuyến huyện Trong năm 1999 tổng chi từ việnphí và BHYT cho công tác khám chữa bệnh là 1.699,1 triệu đồng trong đó chi chokhám chữa bệnh tuyến tỉnh là 1.063,6 triệu đồng chiếm 62,6%, chi cho khám chữabệnh tuyến huyện là 635,5 triệu đồng chiếm 37,4%; năm 2000 tổng chi khám chữabệnh từ nguồn viện phí và BHYT là 2.528 triệu đồng, trong đó chi cho tuyến tỉnh
là 1.601 triệu đồng chiếm 63,3%, tuyến huyện là 927 triệu đồng chiếm 36,7%.Năm 2001 tổng chi cho khám chữa bệnh từ nguồn này là 3.054 triệu đồng, trong đóchi cho tuyến tỉnh chiếm 59,8%, tuyến huyện chiếm 40,2% Qua số liệu trên tathấy nguồn viện phí và BHYT chủ yếu thu được từ các bệnh viện cấp tỉnh điều đó
Trang 16cho thấy một bộ phận người dân tập trung ở thị xã có thu nhập cao quan tâm nhiềuhơn đến việc chăm sóc sức khoẻ và sẵn sàng trả các khoản viện phí cho dịch vụ y
tế, còn ở tuyến huyện nguồn thu này còn rất thấp
Ngoài hai nguồn vốn chính để chi cho sự nghiệp y tế thì các nguồn vốn kháccũng có vai trò rất lớn vào việc đa dạng hoá nguồn vốn cho sự nghiệp y tế Nguồnvốn khác ở đây là nguồn y tế dự phòng và nguồn viện trợ của các tổ chức nướcngoài, chủ yếu phục vụ cho công tác phòng bệnh Trong thời gian qua nguồn kinhphí dự phòng được tăng cường đáng kể cho công tác phòng bệnh, năm 1999 là1.092 triệu đồng, năm 2000 là 1.154 triệu đồng và năm 2001 là 2.013 triệu đồng.Nguồn viện trợ do các tổ chức quốc tế tài trợ chiếm một tỷ trọng nhỏ chủ yếu làcác phương tiện và các thiết bị y tế
2.3.2 Khâu lập dự toán chi NSNN cho sự nghiệp y tế.
Lập dự toán ngân sách là khâu đầu tiên trong chu trình quản lý NSNN nóichung và quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế nói riêng, đây là khâu mang tínhchất định hướng Nếu làm tốt khâu lập dự toán sẽ tạo điều kiện cho khâu chấp hành
và quyết toán được thực hiện thuận lợi Trong quá trình lập dự toán chi NSNN cho
sự nghiệp y tế phải dựa vào các căn cứ sau:
+ Dựa vào nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh và những chỉ tiêu, nhiệm vụ
cụ thể của ngành y tế trong năm kế hoạch và những năm tiếp theo
+ Dựa vào luật, chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức chi ngân sách do cấp cóthẩm quyền quy định, các chính sách chế độ hiện hành làm cơ sở lập dự toán chiNSNN năm
+ Những quy định về phân cấp quản lý kinh tế xã hội, phân cấp quản lý chi NSNN
về y tế
Trang 17+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xãhội và dự toán NSNN năm sau; Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính về việc lập
dự toán ngân sách và văn bản hướng dẫn của các bộ
+ Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thôngbáo
+ Tình hình thực hiện dự toán NSNN các năm trước
Trình tự lập dự toán:
Mô hình cấp phát NSNN cho sự nghiệp y tế trên địa bàn tỉnh trong nhữngnăm qua đã có những thay đổi để nhằm phục vụ cho việc quản lý chi NSNN cho sựnghiệp y tế đạt hiệu quả cao nhất Do vậy, trình tự lập dự toán ngân sách, chấphành và quyết toán cũng có một số thay đổi, quá trình lập dự toán NSNN cho sựnghiệp y tế từ năm 2000 trở về trước được thực hiện theo trình tự:
- Sở Tài chính vật giá thông báo số kiểm tra cho Sở Y tế, các bệnh viện tuyến tỉnh
và phòng Kế hoạch Tài chính thương mại các huyện, thị xã Sau đó Sở Y tế tiếptục giao số kiểm tra cho các đơn vị dự toán cấp dưới là các đơn vị thuộc công tácphòng bệnh tuyến tỉnh (Trung tâm y tế dự phòng; Trung tâm truyền thông giáo dụcsức khoẻ; Trung tâm phòng chống các bệnh xã hội; Trung tâm bảo vệ bà mẹ, trẻ
em và kế hoạch hoá gia đình; Trung tâm kiểm nghiệm dược phẩm, hoá mỹ phẩm;Trạm kiểm dịch quốc tế; Trạm phòng chống sốt rét; Hội đồng giám định y khoa).Các phòng Kế hoạch Tài chính thương mại huyện, thị xã sẽ giao số kiểm tra chocác trung tâm y tế huyện
Trang 18Căn cứ vào dự toán sơ bộ về chi NSNN cho sự nghiệp y tế tỉnh từ kế hoạch
Sở Tài chính vật giá sẽ xác định mức chi tổng hợp cho các đơn vị, trên cơ sở đóhướng dẫn các đơn vị này tiến hành lập dự toán
- Dựa vào số kiểm tra và các văn bản hướng dẫn lập dự toán ngân sách của ngành
y tế các đơn vị sẽ tiến hành lập dự toán ngân sách
- Sở Y tế tổng hợp dự toán của các đơn vị bệnh viện tuyến tỉnh, các đơn vịphòng bệnh tuyến tỉnh, và các trung tâm y tế huyện, thị xã, sau đó tổng hợp và gửilên Sở Tài chính vật giá
- Sở Tài chính vật giá sẽ tiến hành tổng hợp dự toán ngân sách của ngành y tế vàtổng hợp chung vào dự toán NSNN của toàn tỉnh, trình HĐND tỉnh phê duyệt
Dự toán NSNN sau khi đã được HĐND tỉnh phê duyệt, UBND tỉnh sẽ giao
dự toán cho Sở y tế và Sở y tế sẽ tiếp tục giao cho các đơn vị dự toán cấp dưới
Đến năm 2001, do cơ chế điều hành thay đổi, các đơn vị thuộc công tácphòng bệnh tuyến tỉnh không còn là đơn vị dự toán cấp dưới của Sở Y tế nữa màtrở thành đơn vị dự toán cấp I của Sở Tài chính vật giá, do vậy trong quá trình lập
dự toán Sở Tài chính vật giá sẽ giao số kiểm tra trực tiếp cho các đơn vị này Saukhi lập xong dự toán ngân sách các đơn vị thuộc công tác phòng bệnh tuyến tỉnh sẽtrực tiếp gửi Dự toán lên Sở Tài chính vật giá Do hình thức cấp phát là Cân đối vềNgân sách huyện, thị xã nên các trung tâm y tế huyện, thị xã sẽ lập dự toán gửi lênPhòng Kế hoạch tài chính thương mại các huyện, thị xã để tổng hợp chung vàoNgân sách huyện, thị xã và gửi lên Sở Tài chính vật giá
2.3.3.Khâu chấp hành dự toán chi NSNN cho sự nghiệp y tế.
Là khâu thứ hai trong chu trình quản lý chi NSNN cho sự nghiệp y tế, làkhâu quyết định đến việc biến các chỉ tiêu trong dự toán ngân sách năm kế hoạchtrở thành hiện thực Dưới đây là hai mô hình cấp phát NSNN cho sự nghiệp y tế
Trang 19SỞ TÀI CHÍNH VẬT GIÁ
SỞ Y TẾ
Kho bạc Nhà nước tỉnh
Các bệnh viện tuyến tỉnh (1) (2) (5) (8)
(8) (3)
(4)
(6) (7)
(4)
(6) (7)
Các đơn vị phòng bệnh tuyến tỉnh
được thực hiện trên địa bàn tỉnh Lạng sơn từ năm 2000 trở về trước và mô hìnhcấp phát đang được Sở Tài chính vật giá Lạng sơn áp dụng cho sự nghiệp y tế
Mô hình cấp phát từ năm 2000 trở về trước:
*Mô hình cấp phát cho tuyến tỉnh.