Chương 1: Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến 1858Việt Nam thời nguyên thủyCác quốc gia cổ đại trên đất Việt NamNhững thế kỷ Bắc thuộc và đấu tranh chống Bắc thuộcĐại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIXChương 2: Việt Nam từ 1858 đến 1945Việt Nam từ 1858 đến cuối thế kỉ XIXViệt Nam đầu thế kỷ XX đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhấtNhững biến đổi về kinh tế văn hóa xã hội và phong trào yêu nước 19191930Phong trào cách mạng 1930 1935Phong trào cách mạng 19361939Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc (1939 1945)…Chương 3: Việt Nam từ 1945 đến 2000Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (19451954)Công cuộc xây dựng miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước 19541975Việt Nam từ 1975 đến 2000
Trang 1LỊCH SỬ VIỆT NAM ĐẠI CƯƠNG
-Chương 1:
Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX
1.1 Việt Nam thời nguyên thủy
1.1.1 Vài nét về đất nước và con người Việt Nam
- Nước Việt Nam nằm ở đông nam lục địa châu Á, bắc giáp nước cộng hòanhân dân Trung Hoa, tây giáp nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào vàVương quốc Campuchia, đông và nam giáp Biển Đông (Thái Bình Dương),
có diện tích 331.991km2 đất liền, 3.200km đường bờ biển và khoảng trên3.000 hòn đảo lớn nhỏ
- Việt Nam có vùng địa hình đất liền khá đặc biệt: hai đầu phình ra, ở giữathu hẹp và kéo dài
+ Địa hình miền Bắc tương đối phức tạp, có nhiều khu rừng rậm, cổ nhưCúc Phương, núi cao như đỉnh Phanxipăng 3.143m, xen lẫn với các núi đávôi ở Cao Bằng, Hòa Bình, Ninh Bình Sự xâm thực của thời tiết đã tạo nênhàng loạt hang động và quang cảnh nhiều màu nhiều vẻ của vùng đất Bắc.Cùng với rừng rậm là nhiều loại cây ăn quả, hàng trăm giống thú vật đã tạonên những điều kiện đặc biệt thuận lợi cho sự sinh sống và phát triển củacon người
+ Địa hình Trung Bộ với dải Trường Sơn trải dọc phía tây cũng tạo nênnhiều điều kiện cho con người sinh sống, vùng đất đỏ Tây Nguyên được phủlớp dung nham núi lửa nên bằng phẳng và phì nhiêu, trở thành nơi cư trú củacon người và của nhiều loại động thực vật quý hiếm
+ Nam Bộ là vùng đồng bằng phì nhiêu, những cánh đồng thẳng cánh còbay, màu mỡ, với hai mùa rõ rệt
- Việt Nam có nhiều sông ngòi, trong đó có hai con sông lớn nhất là sôngHồng và sông Cửu Long, hai con sông này đã bồi đắp phù sa, bồi lấp vịnhbiển tạo nên hai đồng bằng rộng lớn thuận lợi cho việc phát triển nôngnghiệp và tụ cư của con người bao đời nay
- Nằm trong khoảng 8030' - 23022' độ vĩ bắc, với chiều dài 15 vĩ tuyến(khoảng 1.600km), Việt Nam thuộc khu vực nhiệt đới và một phần xích đạo,miền Bắc có 4 mùa, miền Trung và miền Nam có 2 mùa (ở mỗi miền lại cónhững vùng tiểu khí hậu), với đặc điểm là lượng mưa và độ ẩm tương đốilớn, tuy nhiên do vị trí gần biển nên hàng năm bão và nắng hạn thườngxuyên đe dọa sản xuất và đời sống của nhân dân
Trang 2- Trong lòng đất Việt Nam tàng trữ nhiều loại khoáng sản có giá trị kinh tếcao Đây có thể coi là một vùng được thiên nhiên “hào phóng”, nhưng tráilại nó cũng vô cùng khắc nghiệt, dữ dằn, có thể bất ngờ gây ra muôn vàn taihọa cho con người.
- Về con người Việt Nam: do vị trí địa lý nằm ở khu vực nối liền hai đạidương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, vùng hải đảo và vùng lục địachâu Á, nên cũng là nơi tụ cư của nhiều tộc người khác nhau Việt Nam lànước nằm giữa hai trung tâm văn minh lớn nên là điểm giao lưu của các nềnvăn minh đó Đến nay, trên đất nước ta có 54 tộc người sinh sống, ngườiViệt chiếm 87% dân số Mỗi dân tộc có những nét văn hóa riêng, nhưng cácdân tộc gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình dựng và giữ nước Trongsuốt chiều dài lịch sử, nhân dân các dân tộc đa số và tiểu số, cả miền núi vàmiền xuôi đã cùng nhau xây đắp nên phẩm chất, cốt cách của con người ViệtNam, tạo dựng nên một nền văn hóa, văn hiến Việt Nam độc đáo, với nhiềugiá trị cao đẹp
1.1.2 Các giai đoạn phát triển của xã hội nguyên thủy trên đất Việt Nam
- Những dấu tích đầu tiên của con người trên đất nước ta
+ Buổi đầu của lịch sử loài người bắt đầu bằng sự xuất hiện của người vượncách ngày nay khoảng hai triệu đến vài chục vạn năm Ở Việt Nam đã tìmthấy dấu vết của người vượn cách ngày nay khoảng 30-40 vạn năm Các nhàkhảo cổ học, dân tộc học đã tìm thấy những chiếc răng của người vượn ở cáchang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn), các công cụ lao động bằng đácủa người vượn ở Núi Đọ (Thanh Hóa), Hang Gòn (Đồng Nai), An Lộc(Bình Phước)
Người tối cổ sống thành từng bầy, mỗi bầy có khoảng 20 – 30 người, gồm3-4 thế hệ Họ săn bắt và hái lượm để sinh sống
- Sự chuyển biến từ Người tối cổ thành Người tinh khôn
+ Trong quá trình tiến hóa, Người tối cổ đã chuyển biến thành Người tinhkhôn (hay còn gọi là người hiện đại Homosapien) Trên lãnh thổ nước ta đãphát hiện những răng và nhiều công cụ đá có hình dáng rõ ràng, được ghèđẽo của người tinh khôn
Ở hang Hùm (Yên Bái), có những răng hóa thạch của Người tinh khôn giaiđoạn sớm – các nhà sử học coi là Người tinh khôn đầu tiên ở Việt Nam Ở ditích Sơn Vi (Phú Thọ), các nhà khảo cổ tìm thấy nhiều công cụ đá củaNgười tinh khôn giai đoạn muộn Chủ nhân của văn hóa Sơn Vi cư trú trongcác hang động, mái đá và cả ở ngoài trời, ven các sông suối trên một địa bànkhá rộng từ Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thanh Hóa,Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị Họ sống thành thị tộc, bộ lạc, lấy săn bắt vàhái lượm làm nguồn sống chính Công cụ đặc trưng của văn hóa Sơn Vi lànhững hòn cuội, được ghè đẽo ở rìa cạnh tạo thành lưỡi sắc dùng để chặt,
Trang 3nạo hay cắt Văn hóa Sơn Vi có niên đại cách ngày nay từ 10.000 đến18.000 năm.
- Sự phát triển của công xã thị tộc
+ Cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu cải tiến công cụ sản xuất vàphương thức kiếm sống ngày càng cao Ở Hòa Bình và nhiều địa phươngkhác trên đất nước ta đã tìm thấy nhiều dấu tích của một giai đoạn phát triểncách ngày nay khoảng 7.000 – 12.000 năm và được gọi chung là văn hóaHòa Bình Dấu tích của văn hóa Hòa Bình được phát hiện ở các tỉnh HòaBình, Thanh Hóa, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang, Ninh Bình, Nghệ An,Quảng Bình, Quảng Trị
Cư dân Hòa Bình sống định cư lâu dài trong các hang động, mái đá gầnnguồn nước, hợp thành các thị tộc và lấy săn bắn, hái lượm làm nguồn sốngchính Ngoài ra họ còn biết trồng các loại rau, củ, cây ăn quả Một nền nôngnghiệp sơ khai đã bắt đầu Cư dân Hòa Bình còn biết ghè đẽo nhiều hơn lênmột bên mặt của công cụ lao động như rìu ngắn bước đầu biết mài ở lưỡi.Ngoài ra còn có một số công cụ được làm bằng xương, tre, gỗ
+ Nối tiếp văn hóa Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn, có niên đại cách ngày naykhoảng 6.000 – 10.000 năm Các dấu tích của văn hóa Bắc Sơn được tìmthấy ở nhiều tỉnh như Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, ThanhHóa, Nghệ An… cư dân Bắc Sơn cũng định cư trong các hang động đá vôi
và dùng đá cuội để chế tạo công cụ Họ đã biết đến kĩ thuật mài công cụ và
đồ trang sức, biết làm đồ gốm Công cụ phổ biến của cư dân Bắc Sơn là rìumài ở lưỡi Hoạt động kinh tế chính là săn bắt, hái lượm, đánh cá và chănnuôi Sản xuất nông nghiệp có bước tiến hơn cư dân Hòa Bình Cuộc sốngvật chất và tinh thần cũng được nâng cao hơn Các nhà khảo cổ học thườngcoi đó là “cuộc cách mạng đá mới”
+ Cách ngày nay 5.000 - 6.000 năm, trên đất nước Việt Nam, con người đãphát triển kỹ thuật mài, cưa, khoan đá, làm gốm Vì vậy công cụ lao động cóhình dáng gọn, đẹp hơn, thích hợp với từng loại công việc, từng vùng đấtkhác nhau Nhờ thế, năng suất lao động tăng lên rõ rệt phần lớn cư dânbước vào giai đoạn nông nghiệp trồng lúa (dùng cuốc đá) Cùng với sự giatăng dân số là sự mở rộng trao đổi sản phẩm được đẩy mạnh giữa các bộ lạc.Đời sống vật chất của cư dân đã ổn định hơn Mỗi gia đình đều có công cụlao động vật dụng Quần áo làm bằng da thú, vỏ cây sui, đã có dấu vết quần
áo được làm bằng sợi dệt Con người đã chế tác, sử dụng nhiều đồ trang sứcbằng đá, đất nung, vỏ ốc biển Người chết được chôn theo nhiều cách: ngồixổm, nằm co, nằm ngửa… Địa bàn cư trú của các thị tộc, bộ lạc bấy giờ đã
mở rộng đến nhiều địa phương trong cả nước
Trang 4Nhiều dấu tích văn hóa hậu kì đá mới đã được phát hiện ở nhiều nơi như:Lạng Sơn, Lai Châu, Sơn La, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, QuảngBình, Plây Cu, Đồng Nai.
- Sự ra đời của thuật luyện kim và nghề nông trồng lúa nước
+ Khoảng 3000 – 4000 năm cách ngày nay, các bộ lạc sống rải rác trên đấtnước ta, trên cơ sở trình độ phát triển cao của kĩ thuật chế tác đá và làmgốm, đã bắt đầu biết sử dụng nguyên liệu đồng và thuật luyện kim để chế tạocông cụ Nghề nông trồng lúa nước được tiến hành ở nhiều thị tộc
+ Đầu thiên niên kỉ thứ II TCN, các bộ lạc sống ở vùng lưu vực sông Hồng
đã đưa kĩ thuật chế tác đá lên đỉnh cao, đồng thời biết sử dụng hợp kim đồng
và kĩ thuật luyện kim để chế tạo công cụ Đó là chủ nhân của văn hóa PhùngNguyên, mở đầu cho sơ kì thời đại đồng thau ở Việt Nam
Các di tích văn hóa Phùng Nguyên được phát hiện ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc,Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng
+ Các bộ lạc Phùng Nguyên là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, sốngđịnh cư lâu dài trong các công xã thị tộc Công cụ chủ yếu vẫn bằng đá Họlàm gốm bằng bàn xoay, biết xe chỉ, dệt vải và chăn nuôi gia súc như trâu,
bò, heo, gà…
+ Đời sống tinh thần của cư dân Phùng Nguyên khá phong phú, biểu hiệnmột trình độ thẩm mĩ khá cao Các công cụ đá được mài nhẵn đẹp mắt, gốmđược trang trí hoa văn nhiều kiểu, đồ trang sức có nhiều loại, nhiều kíchthước làm bằng đá, sừng, xương Tục chôn người chết nơi cư trú, chôn theocông cụ lao động và các vật dụng khác
+ Cùng với các bộ lạc Phùng Nguyên ở lưu vực sông Hồng, còn có các bộlạc sống ở vùng châu thổ sông Mã (Thanh Hóa), chủ nhân của nền văn hóaHoa Lộc và các bộ lạc ở vùng lưu vực sông Lam là cư dân của nền nôngnghiệp dùng cuốc đá phát triển Trong các di tích văn hóa Hoa Lộc còn cómột số hiện vật bằng đồng
- Cách ngày nay khoảng 3000 - 4000 năm, ở vùng Nam Trung Bộ, các bộ lạcBình Châu, Long Thạnh… chủ nhân của văn hóa tiền Sa Huỳnh cũng đã tiếnđến sơ kì thời đại đồng thau, biết đến kĩ thuật luyện kim Hoạt động chủ yếucủa cư dân Sa Huỳnh là nông nghiệp trồng lúa và các cây trồng khác Ngoài
ra họ còn làm đồ gốm, dệt vải, rèn sắt và làm đồ trang sức
- Ở các tỉnh miền Nam cũng đã phát hiện một số di tích văn hóa đồ đồngnhư Dốc Chùa, Cầu Sắt… được gọi chung là văn hóa Đồng Nai Đây là mộttrong những cội nguồn hình thành văn hóa Óc Eo Cư dân văn hóa Đồng Nailàm nghề nông trồng lúa nước và các cây lương thực khác Ngoài ra họ cònlàm nghề khai thác sản vật rừng, săn bắn, làm nghề thủ công Bên cạnh cáccông cụ bằng đá, còn có một số hiện vật bằng đồng, sắt
Trang 5Tóm lại: cách ngày nay khoảng 3000-4000 năm đã hình thành những nềnvăn hóa lớn, phân bố ở các khu vực khác nhau, làm tiền đề cho xã hộinguyên thủy chuyển biến sang giai đoạn cao hơn.
1.2 Các quốc gia cổ đại trên đất nước Việt Nam
1.2.1 Nước Văn Lang - Âu Lạc
- Những chuyển biến trong đời sống kinh tế
+ Trải qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển, cư dân nguyên thủy cónhững biến đổi to lớn trong sản xuất, do kĩ thuật luyện kim ngày càng pháttriển, công cụ bằng đồng ngày càng nhiều, từ nửa sau thiên niên kỉ thứ nhất,con người còn biết rèn sắt, nhờ vậy con người khai phá vùng châu thổ sôngHồng, sông Mã, sông Cả thành những cánh đồng màu mỡ, có nền kinh tếnông nghiệp trồng lúa, dùng cày với sức kéo trâu bò Cùng với nghề nông,
cư dân Đông Sơn còn săn bắn, chăn nuôi, đánh cá và làm nông nghiệp
- Những chuyển biến xã hội
+ Sự phát triển nhanh của kinh tế đã dẫn đến chuyển biến về xã hội Từ thờiPhùng Nguyên, đã bắt đầu có sự phân hóa giữa giàu và nghèo, của cải làm rangày một nhiều, không những đủ ăn mà còn dư thừa, số dân đông lên và chiathành thành 3 tầng lớp có cuộc sống sang hèn, giàu nghèo, khác nhau Tiền
đề sự phân hóa xã hội là vấn đề sản phẩm thừa, sự ra đời của nhà nước làyêu cầu mang tính khách quan nhằm điều hòa các mâu thuẫn trong xã hội
- Cơ cấu tổ chức Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc
+ Mặc dù sự phân hóa xã hội chưa sâu sắc, nhưng do yêu cầu của công cuộcchống ngoại xâm cùng với yêu cầu bảo vệ nền kinh tế nông nghiệp trồng lúanước trước nạn lũ lụt thường xuyên đe dọa đã đẩy nhanh quá trình hìnhthành nhà nước Quốc gia Văn Lang ra đời vào khoảng thế kỷ VII TCN(theo Việt Sử lược thì nhà nước Văn Lang ra đời trong khoảng năm 696-681tr.CN)
- Dựa vào một số tài liệu thành văn của Việt Nam và Trung Quốc ta có thểphác họa cấu trúc nhà nước Văn Lang theo hệ thống 3 cấp như sau:
+ Đứng đầu nhà nước Văn Lang là Hùng Vương Ngôi vua Hùng cha truyềncon nối Vua vừa là người chỉ huy quân sự, vừa là người chủ trì các nghi lễtôn giáo
+ Dưới vua là các lạc hầu, lạc tướng, trực tiếp cai quản công việc của các bộ.Nước Văn Lang có 15 bộ (vốn là 15 bộ lạc trước đó)
+ Dưới bộ là làng (các công xã nông thôn còn gọi là kẻ, chạ, chiềng), đứngđầu là các già làng (bồ chính) Mỗi công xã có một ngôi nhà chung để sinhhoạt, hội họp khi cần thiết
Trang 6+ Bờ cõi nước Văn Lang bao gồm Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ hiện nay Đóng
đô ở Phong Châu (có sách viết là Bạch Hạc), Văn Lang là quốc hiệu củanước ta thời các vua Hùng
- Cuối thế kỉ thứ III, nhà Tần đem quân đánh Văn Lang, cuộc kháng chiếnbùng nổ và kéo dài từ 214 đến 208 TCN Nhân dân Lạc Việt và Âu Việtdưới sự chỉ huy của Thục Phán đã chiến đấu chống quân Tần thắng lợi Năm
208 Thục Phán lên làm vua và xưng là An Dương Vương, lập ra nước ÂuLạc, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội)
+ Tổ chức nhà nước và các đơn vị hành chính vẫn chưa có gì thay đổi so vớithời các vua Hùng Đứng đầu nước Âu Lạc là Thục An Dương Vương
- Cương vực nước Âu Lạc rộng lớn hơn nước Văn Lang Cư dân nước ÂuLạc chủ yếu là người Lạc Việt và người Âu Việt
- An Dương Vương đã xây dựng được một đội quân khá mạnh lúc đó, chọn
Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) làm kinh đô, cho xây dựng thành Cổ Loa kiên
cố, trở thành trung tâm của nước Âu Lạc Là một căn cứ quân sự vững chắc,lợi hại, thành Cổ Loa trở thành niềm tự hào của dân tộc ta (thành có 3 vòng,chu vi thành ngoài cùng dài 8.000m)
+ Trong xã hội Văn Lang – Âu Lạc, có ba tầng lớp là vua quan quý tộc, dân
tự do và nô tì
- Nhà nước Âu Lạc tồn tại đến năm 179 tr.CN
Đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Văn Lang - Âu Lạc)
Quốc gia Văn Lang - Âu Lạc tồn tại trên dưới 500 năm tr CN, bằng sứclao động sáng tạo và đấu tranh kiên cường, bền bỉ, người Việt đã xây dựngcho mình một đất nước phát triển, với nhiều thành tựu kinh tế, văn hóa, làmnền tảng cho một nền văn minh bản địa đậm đà bản sắc dân tộc
- Về đời sống vật chất
+ Thóc gạo là nguồn lương thực chính, cư dân Văn Lang - Âu Lạc chủ yếudùng gạo nếp Họ dùng gạo để nấu cơm, cơm được nấu trong ống tre, rồitiến tới dùng chõ gốm để thổi xôi Gạo còn dùng làm bánh chưng, bánh dầy.Ngoài gạo người dân còn dùng các loại cây lấy bột như khoai, sắn
+ Thức ăn khá phong phú gồm các loại như: cá, tôm, cua, ốc, hến, các loạirau, củ, quả như bầu, bí, cà, đậu Thức ăn được chế biến theo nhiều cáchkhác nhau Nghề chăn nuôi và săn bắt cũng đã cung cấp thêm nguồn thựcphẩm cho dân, các gia đình đã biết chăn nuôi gia súc, gia cầm
+ Trang phục phong phú, do nghề dệt khá phát triển nên đã xuất hiện nhiềuloại vải khác nhau Trong sinh hoạt, nam thường đóng khố, nữ mặc váy.Riêng người phụ nữ còn có yếm che ngực, thắt lưng quấn ngang bụng vàkhăn quấn đầu Để tóc là một phần trong trang phục của phụ nữ Việt (đã cóbốn kiểu để tóc)
Trang 7+ Nhà ở có hai loại là nhà sàn và nhà mái cong làm bằng gỗ, tre, nứa.Phương tiện giao thông chủ yếu bằng thuyền, bè trên sông.
- Đời sống tinh thần đạt đến một trình độ thẩm mỹ, tư duy khoa học khá cao
Cư dân Văn Lang - Âu Lạc rất giỏi nghề luyện kim Những sản phẩm tiêubiểu như trống đồng, thạp đồng, đồ trang sức bằng đồng đã nói lên trình độluyện và đúc đồng của người dân (từ lò, khuôn, nguyên liệu, hoa văn) Kỹthuật luyện sắt cũng khá phát triển
+ Trong quá trình lao động sản xuất và chống ngoại xâm, xu hướng thốngnhất, đoàn kết, hòa hợp, cộng đồng đã thắng thế các tư tưởng phân hóa, cục
bộ trong các cộng đồng cư dân Từ ý thức cộng đồng đã nảy sinh ra tínngưỡng thờ cúng tổ tiên, sùng bái các anh hùng, các thủ lĩnh Người dân VănLang - Âu Lạc đều có ý thức là họ chung một cội nguồn, một tổ tiên
+ Hình thức tín ngưỡng phồn thực đã xuất hiện, bên cạnh đó là phong tụcchôn người chết
+ Lễ hội bấy giờ rất phổ biến, thịnh hành và là một bộ phận quan trọng trongđời sống của cư dân Văn Lang - Âu Lạc Lễ hội có quanh năm nhưng tậptrung vào mùa thu, mùa xuân với những nghi lễ và các trò chơi dân gianphong phú
+ Người dân rất thích cái đẹp và hướng tới cái đẹp, từ đồ trang sức, công cụlao động, đồ dùng dùng trong sinh hoạt, thậm chí cả vũ khí đều đạt đến mộttrình độ kỹ thuật và mỹ thuật rất cao Người dân còn có tục nhuộm răng đen,xăm mình
+ Nghệ thuật âm nhạc phát triển, nhạc cụ gồm bộ gõ, bộ hơi và bộ dây Bộ
gõ tiêu biểu nhất là trống, nhưng lâu đời nhất là khèn (kèn) Trống đồngĐông Sơn, Ngọc Lũ với những nét đặc sắc có một không hai là niềm kiêuhãnh của người Việt cổ
- Ý nghĩa của thời kỳ dựng nước đầu tiên
+ Sau một thời kỳ dài sống định cư và mở rộng lãnh thổ, phát triển nền kinh
tế, với nông nghiệp trồng lúa nước là chủ đạo, vượt qua nông nghiệp dùngcuốc, tiến lên nông nghiệp dùng cày, có sức kéo là trâu bò, cùng với nhữngtiến bộ khác trong đời sống xã hội, người Việt cổ đã đưa xã hội vượt quathời tiền sử, vượt qua hình thái kinh tế - xã hội nguyên thủy sang hình tháikinh tế - xã hội phân hóa giai cấp và có nhà nước
+ Sự ra đời của nhà nước Văn Lang - Âu Lạc thế kỷ VII-III tr.CN đã mở rathời đại dựng nước đầu tiên của dân tộc, hình thành nền văn minh Việt Namđầu tiên – văn minh sông Hồng
+ Bản sắc, cốt cách dân tộc là cội nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần tolớn để dân tộc Việt Nam vượt qua được mọi thử thách to lớn trong hơn1.000 năm Bắc thuộc và trường tồn đến ngày nay
1.2.2 Quốc gia cổ Champa và Phù Nam
Trang 8- Quốc gia cổ Champa
+ Trên địa bàn của văn hóa Sa Huỳnh (khu vực miền Trung và Nam Trung
Bộ ngày nay) đã hình thành quốc gia cổ Lâm Ấp – Champa: vào cuối thế kỉ
II, nhân lúc tình hình Trung Quốc loạn lạc, Khu Liên đã hô hào nhân dânTương Lâm nổi dậy giành quyền tự chủ, khởi nghĩa thắng lợi Khu Liên tựlập làm vua, đặt tên nước là Lâm Ấp
+ Sau khi nước Lâm Ấp ra đời, dựa vào lực lượng quân đội khá mạnh, đãtiến hành các cuộc tấn công các nước láng giềng, mở rộng lãnh thổ: về phíaBắc đến sông Gianh (Quảng Bình), phía Nam đến sông Dinh (Bình Thuận)
và gọi tên nước là Champa (thế kỉ VI) đến thế kỉ XV thì suy thoái và sápnhập vào Đại Việt
+ Cũng như cư dân Việt cổ, hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Champa lànông nghiệp trồng lúa nước, sử dụng công cụ bằng sắt và sức kéo của trâu
bò, họ còn sử dụng guồng nước trong sản xuất nghề thủ công khá phát triểnnhư rèn sắt, làm gốm, đồ trang sức, chế tạo vũ khí, nghề đóng gạch khá pháttriển, được biểu hiện ở hàng trăm tháp cổ xây dựng công phu với trình độcao còn tồn tại đến ngày nay
+ Champa theo chế độ quân chủ Vua nắm mọi quyền hành về chính trị, kinh
tế, tôn giáo, dưới vua có Tể tướng và hai đại thần giúp việc dưới các quanđại thần có các thuộc quan chia làm ba cấp khác nhau Cả nước chia làm 4khu vực hành chính lớn gọi là châu (hay quản hạt), dưới châu là các huyện.Huyện chia thành các làng Mỗi làng có từ 200 đến 500 hộ
+ Quân đội Champa khá hùng mạnh, với khoảng 40.000 đến 50.000 quânbao gồm thủy binh, kị binh, tượng binh và bộ binh
+ Kinh đô Champa lúc đầu là Sinhapura (Trà Kiệu, QuảngNam), sau rờisang Indrrapura (ở Đồng Dương – Quảng Nam), rồi chuyển về Vigiaya (ChàBàn – Bình Định)
+ Người Chăm có tục ở nhà Sàn, ăn trầu cau, hỏa táng người chết tôn giáocủa họ là Hinđu giáo và phật giáo Nghệ thuật âm nhạc, nhảy múa rất pháttriển Từ thế kỉ IV, người Chăm đã có chữ viết bắt nguồn từ chữ Phạn của
Ấn Độ
+ Xã hội người Chăm bao gồm: quý tộc, dân tự do và nô lệ
- Quốc gia cổ Phù Nam
+ Trên địa bàn châu thổ sông Cửu Long (Nam Bộ) đã hình thành nền vănhóa cổ cách ngày nay khoảng 1500 - 2000 năm, các nhà khảo cổ gọi là vănhóa Óc Eo (thuộc huyện Sơn Thoại tỉnh An Giang) Trên cơ sở văn hóa Óc
Eo, Quốc gia cổ Phù Nam của cư dân Nam Á và Nam Đảo sống trên đồngbằng sông Cửu Long đã hình thành vào khoảng thế kỉ I, phát triển vào thế kỉIII – V và làm chủ một vùng rộng lớn ở Đông Nam Á
Trang 9+ Cư dân Phù Nam làm nghề nông trồng lúa nước, ngoài ra còn trồng cây ănquả và cây lương thực khác, họ chăn nuôi trâu, lợn, voi, ngựa Thủ côngnghiệp rất phát triển gồm nhiều ngành nghề như gốm, luyện kim, nghề kimhoàn.
+ Tập quán phổ biến của cư dân Phù Nam là ở nhà Sàn trên nền đất đắp cao,
ở trần hoặc mặc áo chui đầu, xăm mình, xõa tóc, hỏa táng Phật giáo vàHinđu giáo được sùng tín Nghệ thuật kiến trúc, ca, múa, nhạc khá pháttriển Thể chế chính trị quân chủ theo kiểu Ấn Độ Vua đứng đầu và quyềnhành tuyệt đối
+ Xã hội có sự phân biệt giàu nghèo với ba tầng lớp chính là quý tộc, bìnhdân, nô tì (từ tù binh) Là nước hùng mạnh, Phù Nam đã đem quân chinhphục các nước láng giềng, đặc biệt là bán đảo Mã Lai Cuối thế kỉ VI, PhùNam suy yếu, bị Chân Lạp thôn tính
1.3 Những thế kỷ Bắc thuộc và đấu tranh chống Bắc thuộc (179 tr.CN đến 938)
1.3.1 Chính sách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc
Năm 179 tr.CN, Triệu Đà với âm mưu xảo quyệt (dùng Trọng Thủy làmnội gián) đã thôn tính được Âu Lạc, lập ra nước Nam Việt Đến năm 111tr.CN Âu Lạc từ tay nhà Triệu lọt vào tay nhà Hán Từ năm 111 tr.CN đếnnăm 938, nước ta bị các triều đại phong kiến Trung Quốc thống trị (từ nhàTriệu, Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường), tất cả đều thực hiệnchính sách nô dịch thâm độc trên tất cả các phương diện chính trị cũng nhưkinh tế, văn hóa nhằm đồng hóa nhân dân ta Chính sách của chính quyềnngoại bang biểu hiện từng thời kỳ có khác nhau, lúc rắn, lúc mềm, nhưngmục đích biến nước ta thành quận, huyện, đồng hóa dân tộc, bóc lột tàn tệ vàtriệt để nhân dân ta thì không hề thay đổi
- Tổ chức cai trị:
+ Sau khi chiếm được Âu Lạc của An Dương Vương vào năm 179 tr CN,Triệu Đà sáp nhập đất đai Âu Lạc vào nước Nam Việt, chia nước ta thànhhai quận là Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Thanh - Nghệ - Tĩnh) NhàHán đặt thêm quận Nhật Nam từ Đèo Ngang vào đến Quảng Nam - ĐàNẵng Có khoảng 50 huyện, với hơn 40 vạn dân Cai quản hai quận này làhai viên Điển sứ (đại diện cho nhà Triệu) Giúp việc cho Điển sứ là một lựclượng quân sự đồn trú (do một tả tướng chỉ huy) Dưới cấp quận chưa cómột tổ chức hành chính nào mới Chế độ Lạc tướng cổ truyền của ngườiViệt vẫn tồn tại Nhà Triệu phải dựa vào các tù trưởng địa phương để cai trị.+ Năm 111 trước Công Nguyên, nhà Hán đem hơn 10 vạn quân đánh NamViệt, bọn quan lại nhà Triệu đầu hàng Nhà Tây Hán thống trị nước từ (từ
111 tr CN đến 220 sau CN), nhà Hán sát nhập 3 quận của Nam Việt vào
Trang 10với 6 quận khác của Trung Quốc lập thành Châu Giao (hay Giao Châu), trụ
sở đặt tại Mê Linh Đứng đầu là Thứ sử, mỗi quận có một Thái thú coi việcdân sự và một Đô úy coi việc quân sự, ở các huyện vẫn là Lạc tướng cai trịdân như cũ
+ Nhà Lương 502-557 chia lại các khu vực hành chính, lập thêm châu, đặtthêm quận, đặt thêm quan lại để thu vét thuế Cho thi hành chính sách phânbiệt đối xử gay gắt (chỉ ưu tiên đối với những người họ Lương, họ Tạ mớiđược giữ các chức vụ quan trọng)
+ Năm 618, nhà Đường thay nhà Tùy thống trị nước ta (618-905) Nhà Hán
và nhà Đường là hai triều đại thống trị nước ta lâu nhất, mỗi triều đại trêndưới 400 năm Nhà Đường lập ra An Nam đô hộ phủ, đất nước ta bị chiathành các châu, quận Dưới huyện là hương và xã Đứng đầu phủ là Đô hộthâu tóm mọi quyền hành Đứng đầu mỗi châu là tên Thứ sử Ở huyện cóHuyện lệnh (riêng ở miền núi lập ra các châu ki mi do các tù trưởng địaphương cai trị)
+ Trụ sở phủ đô hộ đặt ở Tống Bình (Hà Nội), ở Tống Bình và nhiều nơi,nhà Đường cho xây thêm thành lũy và tăng quân số đóng giữ
Trong hơn một nghìn năm đô hộ nước ta, mặc dù phong kiến phương Bắc
ra sức củng cố bộ máy cai trị của chúng bằng nhiều biện pháp và thủ đoạnthâm độc, nhưng không có một triều đại phong kiến Hán tộc nào đặt được hệthống xã quan lên đất nước ta, nhiều vùng rộng lớn vẫn nằm ngoài sự caiquản của phong kiến phương Bắc Làng Việt, về cơ bản vẫn là “bầu trờiriêng” của người Việt Trên thực tế người Việt mất nước nhưng không mấtlàng
- Chính sách vơ vét bóc lột và đồng hóa dân bản xứ:
+ Ngay từ thời kỳ đầu, nhà Triệu đã thông qua tầng lớp tù trưởng địaphương tiến hành bắt nhân dân ta phải cống nạp sản vật Sang thời nhà Hán,bọn thống trị đẩy mạnh việc chiếm đất đai, xây dựng những cơ sở kinh tếriêng, chúng đưa tội nhân, dân nghèo người Hán đến ở lẫn với người Việt,xâm lấn, khai phá ruộng đất để lập đồn điền Người dân Việt phải nộp tôthuế, chịu lao dịch cho chính quyền đô hộ Một hình thức bóc lột công khai,nặng nề đối với nhân dân ta là cống nạp, chúng vơ vét một cách vô hạn độ.Bên cạnh chính sách cống nạp, chính quyền đô hộ còn bắt hàng vạn thanhniên trai tráng người Việt làm bia đỡ đạn cho các cuộc hỗn chiến ở TrungQuốc, bắt hàng ngàn thợ thủ công giỏi sang xây dựng kinh đô
+ Chính quyền đô hộ nắm độc quyền sản xuất, mua bán muối và sắt, riênghai mặt hàng này đã đem lại những món lợi lớn
+ Dưới thời thuộc Đường, sự bóc lột kinh tế nặng nề hơn, nhà Đường thựchiện chính sách tô (thuế ruộng), dung (thuế người), điệu (sản phẩm thủcông)
Trang 11- Đồng hóa dân tộc, khủng bố và đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân ta:+ Để nô dịch nhân dân ta về tư tưởng và tinh thần, ngay từ thời Tây Hán, các
lễ giáo, phong tục, tập quán, lối sống của người Hán đã được du nhập vàonước ta Các Thái thú như Tích Quang, Nhâm Diên đã muốn dùng lối sốngHoa nhằm cải biến phong hóa Việt Người Việt lấy vợ lấy chồng nhất thiếtphải theo “lễ nghĩa Trung Quốc”, bắt dân ta phải theo y phục của người Hán.+ Cùng với việc làm trên, nhà Hán và các triều đại sau này đẩy mạnh việctruyền bá Nho giáo vào xã hội Việt Nam, lấy đó làm công cụ đồng hóa nhândân ta về mặt tư tưởng
+ Tiếng Hán và chữ Hán cũng được phổ biến ở Giao Châu nhằm làm công
cụ thực hiện chính sách đồng hóa người Việt thành người Hán Trong hơn1.000 năm, nền văn hóa Hán-Đường đã xâm nhập vào người Việt một cáchsâu sắc, song không tiêu diệt được tiếng nói của dân tộc Việt, nhân dân laođộng trong các làng xã Việt cổ vẫn duy trì tiếng nói của tổ tiên mình
+ Chính quyền đô hộ còn đẩy mạnh việc di dân Hán đến ở lẫn với ngườiViệt, những cuộc di dân như thế diễn ra khi ồ ạt, khi lẻ tẻ nhưng không baogiờ dứt
+ Để duy trì nền thống trị và ách áp bức bóc lột, các triều đại phong kiếnphương Bắc đã áp dụng luật pháp hà khắc như hình phạt xẻo mũi, thích chữvào mặt những người chống đối Chúng sử dụng một đội quân đông đảo, sẵnsàng đàn áp và dìm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong máu
1.3.2 Những chuyển biến về kinh tế, văn hóa, xã hội
- Về kinh tế: công cụ bằng sắt được dùng phổ biến hơn trong sản xuất nôngnghiệp, công cuộc khai hoang mở rộng diện tích được đẩy mạnh, các côngtrình thủy lợi được mở mang, nhờ thế năng suất lúa tăng hơn trước Thủcông nghiệp, thương mại có sự chuyển biến đáng kể Một số nghề mới xuấthiện như làm giấy, làm thủy tinh Nhiều đường giao thông thủy bộ nối liềncác vùng, các quận được hình thành
- Về văn hóa xã hội: trong thời Bắc thuộc, nhân dân ta đã biết tiếp nhậnnhững yếu tố tích cực của nền văn hóa Trung Hoa thời Hán, Đường và “Việthóa” nó, nên trong lĩnh vực văn hóa có những chuyển biến tích cực về ngônngữ, văn tự
+ Nhân dân ta không bị đồng hóa Tiếng Việt vẫn được bảo tồn, các phongtục tập quán như nhuộm răng, ăn trầu, tôn trọng phụ nữ vẫn được duy trì.+ Mâu thuẫn bao trùm trong xã hội là mâu thuẫn giữa nhân dân ta với chínhquyền phương Bắc Mặc dù chính quyền đô hộ ngày càng tăng cường bộmáy cai trị nhưng không khống chế được làng xã người Việt Làng xóm trởthành nơi xuất phát giành độc lập
+ Trong cảnh bị thống trị, nhân dân ta đã tiếp thu nhiều yếu tố văn hóaTrung Hoa để làm giàu cho văn hóa Việt Nam
Trang 121.3.3 Các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc (từ 179 tr.CN đến 938)
- Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và cuộc kháng chiến chống xâm lược Hán(năm 40-43)
+ Dưới ách áp bức của nhà Đông Hán, đặc biệt là sự cai trị tàn bạo của Tháithú Tô Định, đông đảo các tầng lớp nhân dân ta sục sôi căm thù Mùa xuânnăm 40, Hai Bà Trưng đã nổi dậy khởi nghĩa ở Hát Môn (Phúc Thọ - HàTây), sau đánh chiếm Mê Linh (Vĩnh Phúc), Cổ Loa (Hà Nội) nhân dân baquận đã hưởng ứng liệt nhiệt, cuộc khởi nghĩa thắng lợi, giành được quyềnđộc lập tự chủ trong ba năm
+ Mùa hè năm 42, vua Hán cử Mã Viện và phải dùng một lực lượng quân sựmạnh mới chiếm lại được Giao Chỉ vào năm 43
- Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (năm 248)
+ Năm 248, Triệu Thị Trinh mới 19 tuổi đã cùng anh trai là Triệu Quốc Đạtngười vùng Quan Yên thuộc quận Cửu Chân (nay là Nông Cống, ThanhHóa) phất cờ khởi nghĩa Nhà Ngô hoảng sợ điều Lục Dận sang đàn áp,Triệu Thị Trinh đã chiến đấu dũng cảm rồi hy sinh trên núi Tùng (Hậu Lộc,Thanh Hóa)
- Cuộc khởi nghĩa của Lí Bí và nhà nước Vạn Xuân (542-603)
+ Mùa xuân năm 542, Lí Bí oán giận nhà Lương bỏ chức quan về quê tụ họphào kiệt, chiêu mộ quân sĩ phất cờ khởi nghĩa, chỉ sau 3 tháng cuộc khởinghĩa đã thắng lợi, thành Long Biên (nay thuộc Bắc Ninh) được giải phóng.Sau khi đánh bại quân xâm lược, đất nước độc lập, tháng 2-544, Lí Bí lênngôi vua lấy tên là Lí Nam Đế Ông cho đặt tên nước là Vạn Xuân (mongmuốn đất nước bền vững lâu dài), đặt kinh đô ở cửa sông Tô Lịch (Hà Nội)
và cho dựng điện Vạn Thọ (mong muốn đất nước bền vững), cho dựng ngôichùa Khai Quốc nay là chùa Trấn Quốc bên Hồ Tây
+ Tháng 5-545, vua Lương phái quân sang đánh nước ta, do quân Lương quámạnh, thành vỡ, Lí Nam Đế phải rút lui dần từ Tô Lịch về Gia Ninh (ViệtTrì), rồi Phú Thọ Ông trao lại quyền cho Triệu Quang Phục rồi lấy căn cứ
Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên) để đóng quân
+ Lợi dụng thời cơ Trần Bá Tiên bị điều về Trung Quốc dẹp loạn, TriệuQuang Phục xuất quân tiến về giải phóng Long Biên, xưng Dạ Trạch Vương(tức vua Đầm Đêm) Đến năm 550 Triệu Quang Phục đánh đuổi hoàn toànquân xâm lược giành lại chủ quyền đất nước, xây dựng lại nhà nước VạnXuân
+ Năm 603 nhà Tùy dẹp được cuộc khởi nghĩa và đặt ách đô hộ lại nước ta
- Cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế năm 722)
+ Dưới ách đô hộ của nhà Đường, dân ta vừa phải nộp sưu cao, thuế nặng,lao dịch nặng nề, vừa phải cống nạp phiền nhiễu, đông đảo các tầng lớp
Trang 13nhân dân ta hết sức căm phẫn Năm 722, Mai Thúc Loan lãnh đạo nhân dânkhởi nghĩa, lấy vùng Sa Nam hiểm yếu làm căn cứ chống giặc Nhà Đườngđem 10 vạn quân đến đàn áp, cuộc khởi nghĩa thất bại.
- Khởi nghĩa Phùng Hưng (766-791)
+ Cuối thế kỷ VIII, nhà Đường bước vào thời kỳ suy yếu, trước tình hình đóPhùng Hưng và em là Phùng Hải đã hô hào nhân dân nổi dậy khởi nghĩachống nhà Đường đòi độc lập dân tộc Lợi dụng quân địch ở Tống Bìnhkhông chịu tuân lệnh chỉ huy, quân khởi nghĩa bao vây và đánh chiếm đượcthành, tổ chức lại việc cai trị
- Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ năm 905
+ Giữa năm 905, nhân lúc vua quan nhà Đường ở Trung Quốc lục đụckhông thể kiểm soát chặt chẽ nước ta như trước được nữa, Khúc Thừa Dụ đãnổi dậy chiếm được Tống Bình và tự xưng là Tiết độ sứ Nhà Đường buộcphải công nhận việc đã rồi Đầu năm 906, vua Đường chính thức phongKhúc Thừa Dụ làm Tiết độ sứ, đất nước giành được quyền tự chủ
- Chống quân Nam Hán năm 930 Dương Đình Nghệ khôi phục nền độc lập+ Năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mĩ lên thay, vẫn xưng Tiết độ
sứ Mượn cớ Khúc Thừa Mỹ không chịu thần phục, mùa thu năm 930 vuaHán huy động một lực lượng lớn cả quân thủy và bộ tấn công nước ta KhúcThừa Mỹ chống cự không được bị bắt đem về Quảng Châu, quân Nam Hántàn phá nước ta rồi đem quân chiếm đóng thành Đại La
+ Nhân dân ta không chịu khuất phục, mùa xuân năm 931, một tướng cũ củaKhúc Hạo là Dương Đình Nghệ từ làng Ràng (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) đemquân ra Bắc, quân Nam Hán lo sợ phải cho người về nước cầu cứu Việnbinh của địch chưa kịp đến nơi thì Dương Đình Nghệ đã dẫn quân đánhchiếm thành Đại La Sau đó ông tổ chức lực lượng đánh quân tiếp viện vàthắng lớn, quân giặc bị đuổi ra khỏi nước ta Dương Đình Nghệ xưng là Tiết
độ sứ Quyền tự chủ của đất nước một lần nữa được khôi phục
- Chiến thắng Bạch Đằng năm 938
+ Năm 937, Dương Đình Nghệ bị một tướng dưới quyền là Kiều Công Tiễngiết để đoạt chức Tiết độ sứ Ngô Quyền bấy giờ đang trấn giữ ở châu Ái(Thanh Hóa) kéo quân ra Bắc trị tội tên phản bội Khi quân Nam Hán cònđang ngoài bờ cõi nước ta, Ngô Quyền đã giết chết Bùi Công Tiễn, đồngthời lo tổ chức toàn dân chống giặc Ông bàn với các tướng sĩ sẽ đóng cọctrên sông Bạch Đằng, lợi dụng quy luật của thủy triều để tiêu diệt quân địch.+ Kế hoạch được tướng sĩ ba quân hưởng ứng, hàng ngàn chiếc cọc gỗ vótnhọn đầu bịt sắt được đóng xuống lòng sông Bạch Đằng Căn cứ vào quyluật của thủy triều, ông nhử địch vào sâu rồi cho quân ra nghênh chiến, quângiặc mắc mưu rơi vào ổ phục kích của ta, toàn bộ số quân thủy của địch bịquân ta mai phục từ hai bên bờ bất ngờ tấn công phá vỡ đội hình Hoảng sợ
Trang 14chúng bỏ chạy và bị cọc chọc thủng, thuyền vỡ và đắm rất nhiều, tướng giặc
là Hoằng Tháo bỏ mạng tại đây Vua Nam Hán nghe tin con bị chết trận, thuquân rút về nước Ý đồ xâm lược của quân Nam Hán bị đè bẹp
+ Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ (905), chiến thắng Bạch Đằng năm
938 chấm đã dứt thời kỳ nhân dân ta bị phong kiến Trung Quốc đô hộ, mở rathời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài của Tổ quốc
- Nguyên nhân thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc
+ Về mặt chủ quan, chúng ta bước vào thời kỳ Bắc thuộc từ những thành tựurực rỡ của lịch sử và văn hóa Đó là hàng chục vạn năm văn hóa tiền sử vànền văn hóa Đông Sơn đã định hình lối sống, cá tính và truyền thống ViệtNam Đó là một cơ cấu văn minh riêng, một thể chế chính trị, xã hội riêngxác lập những cơ sở ban đầu nhưng rất vững chắc về ý thức quốc gia, dântộc
+ Về mặt khách quan, nền đô hộ của phong kiến Trung Quốc trong thời kỳBắc thuộc tuy hết sức tàn bạo và nguy hiểm, nhưng cũng bộc lộ nhiều chỗyếu căn bản của nó Thời kỳ Bắc thuộc tuy kéo dài hơn nghìn năm, nhưnglại có nhiều gián đoạn bởi nhân dân ta đấu tranh và nhiều lần giành được độclập tạm thời
+ Bộ máy chính quyền đô hộ với tất cả khả năng và dù có cố gắng đến mứccao nhất cũng không làm sao trực tiếp kiểm soát và khống chế được toàn bộlãnh thổ nước ta
+ Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh
vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam Tài chỉ huy của những người lãnhđạo các cuộc khởi nghĩa: biết nắm bắt thời cơ, biết mình, biết người, biết thuphục lòng dân, chọn cách đánh thích hợp, đối với từng kẻ thù, biết lợi dụngnhững điều kiện tự nhiên như sông nước, thủy triều để thắng địch
1.4 Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX
1.4.1 Quá trình hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam (thế kỉ X – XV)
- Thời kỳ Ngô, Đinh, Tiền Lê (939-1009)
+ Sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xưng Vương, bãi bỏ tổchức cai trị của nhà Đường và chế độ Tiết độ sứ, xây dựng triều đình mớitheo chế độ quân chủ trung ương tập quyền, đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội).Năm 944 Ngô Quyền mất, hai con là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văncòn nhỏ tuổi, người em vợ của ông là Dương Tam Kha cướp ngôi, các phephái tranh chấp lẫn nhau quyền lực, tình hình trong triều mất thế ổn định.Sau khi lật đổ Dương Tam Kha, anh em họ Ngô thay nhau trông coi việcnước, nhưng uy tín nhà Ngô đã giảm sút, đất nước ngày càng thêm hỗn loạn
Trang 15+ Năm 965 xảy ra loạn 12 sứ quân, sản xuất đình trệ, đời sống nhân dân khókhăn Dẹp xong các sứ quân, năm 969, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế(thường gọi là Đinh Tiên Hoàng), đặt tên nước là Đại Việt, chọn Hoa Lư(Ninh Bình) làm nơi đóng đô, xây dựng cung điện Năm 970 bỏ không dùngniên hiệu của các hoàng đế Trung Hoa, đặt niên hiệu mới là Thái Bình, tổchức lại quân đội, thực hiện chính sách ngoại giao hòa hiếu với nhà Tống ởphương Bắc.
+ Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trưởng là Đinh Liễn bị Đỗ Thích làmột viên quan nhỏ lẻn vào giết chết, Đinh Toàn mới 6 tuổi lên nối ngôi, ởbên ngoài nhà Tống chuẩn bị kế hoạch xâm lược nước ta, được sự ủng hộ vàsuy tôn của Dương thị (Dương Thái hậu - mẹ Đinh Toàn), các quan đồnglòng cử Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế (“lấy áo long cổnkhoác lên mình Lê Hoàn”)
+ Tổ chức nhà nước thời Lê Hoàn so với thời Khúc, Ngô, Đinh từng bướcđược kiện toàn nhất là ở triều đình trung ương, trở thành một chính quyềnđộc lập, tự chủ, tuy nhiên còn đơn giản, các hoạt động của nhà nước chưađược thể chế hóa, việc lực chọn quan lại chưa có chế độ rõ ràng Nhà Tiền
Lê tồn tại và phát triển từ 980 đến năm 1009
- Từ thế kỉ XI – XV: phát triển và hoàn chỉnh nhà nước phong kiến
Triều đại nhà Lý (1010-1225)
Sau khi vua Lê Long Đĩnh chết, được sự ủng hộ của các đại thần và sưtăng đứng đầu là nhà sư Vạn Hạnh, các quan trong triều tôn Lý Công Uẩnlên làm vua Năm 1010 Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu làThuận Thiên, mở ra triều đại nhà Lý
+ Năm 1010, nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long Lý Công Uẩn chăm
lo tổ chức chính quyền trung ương và địa phương Năm 1054, đổi tên nước
là Đại Việt, chia cả nước thành 24 lộ, phủ, dưới là huyện và hương
+ Tổ chức lại chính quyền quân chủ: đứng đầu nhà nước là vua, giúp việcvua có quan đại thần, bên dưới là các quan văn võ
+ Năm 1042, nhà Lý ban hành bộ Hình thư, đó là bộ luật đầu tiên của nước
ta Quân đội gồm hai bộ phận: cấm quân và địa phương quân; có các binhchủng: bộ, thủy, kỵ và tượng binh Vũ khí gồm giáo mác, cung nỏ, máy bắn
đá Từ thời nhà Lý, đã thi hành chính sách “ngụ binh ư nông” (gửi lính vềnhà nông)
+ Nhà Lý chú ý xây dựng tình đoàn kết các dân tộc trong nước, đặc biệt làcác dân tộc thiếu số Luôn giữ quan hệ hữu hảo với nhà Tống
Triều đại nhà Trần (1226-1400)
Do nhà vua cuối cùng của họ Lý không có con trai, nên nhường ngôi chocon gái Các quan đại thần họ Trần đã cho rằng đất nước đang lâm nguy,buộc Lý Chiêu Hoàng (7 tuổi) phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh
Trang 16mới (6 tuổi) Trong những năm Trần Cảnh nhỏ tuổi, Trần Thủ Độ quánxuyến mọi công việc.
+ Về xây dựng chính quyền: đứng đầu nhà nước là vua, nhà Trần đặt lệnhường ngôi cho con từ rất sớm và xưng là Thái Thượng hoàng Các chứcđại thần văn võ được giao cho người trong họ nắm giữ Đặt thêm một sốchức quan như Hà đê sứ, Khuyến nông sứ, Đồn điền sứ
+ Cả nước được chia thành 12 lộ, đứng đầu có các chức chánh phó An phủ
sứ Dưới là phủ, châu, huyện, do các chức tri phủ, tri huyện trông coi Năm
1307, nhà Trần đổi hai châu Ô và Lý thu nạp của Champa thành châu Thuận
và châu Hóa Dưới cùng là xã Bên cạnh các chức do dân cử, nhà Trần cònđặt thêm một xã quan
+ Nhà nước ban hành bộ Hình luật, xác định lại những điều ban hành dướitriều Lý, chế độ tư hữu được bảo vệ, việc nuôi nô tì không bị hạn chế nhưtrước
+ Nhà Trần cho xây dựng một quân đội mạnh Đạo quân Thiên Thuộcchuyên bảo vệ nhà vua và hoàng thành được tuyển chọn kỹ tại vùng quê họTrần (Tức Mạc - Nam Định) Quân đội luyện tập đều đặn và dưới sự chỉ huycủa các tướng có kinh nghiệm Con em vương hầu quý tộc được chọn vàohọc ở Giảng Võ đường (phía tây thành Thăng Long) nhằm đào tạo thành võquan cao cấp
+ Nhà Trần rất chú trọng đến việc bảo vệ những vùng trọng yếu và biên giới,một số tướng giỏi, tin cậy được cử cầm quân trấn giữ mạn Bắc Việc caiquản các lộ Thanh Hóa, Nghệ An được giao cho con em vua Đối vớiChampa, nhà Trần chủ trương đặt quan hệ thân thiết
Vương triều Hồ (1400-1407)
Từ nửa sau thế kỷ XIV, xã hội Đại Việt rơi vào cuộc khủng hoảng trầmtrọng, nhà Trần rơi vào tình thế rất khó khăn, năm 1400 Hồ Quý Ly truấtngôi vua Trần, thành lập nhà Hồ và đưa ra những cải cách chính trị, quân sự,kinh tế - tài chính, văn hóa giáo dục nhằm cứu vãn Đại Việt Những cải cáchcủa Hồ Qúy Ly đụng chạm đến tất cả các tầng lớp nhân dân và mọi hoạtđộng của xã hội nên tác dụng trên thực tế không nhiều
Thời nhà Lê (1427-1527)
Năm 1427, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạothắng lợi Tháng 4-1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh (ThăngLong) Nhà Lê khôi phục lại tên nước Đại Việt, tiếp tục xây dựng nhà nướcphong kiến trung ương tập quyền
+ Vua có quyền hành tuyệt đối, tự xưng là “Thiên tử” Giúp việc vua là cácquan Thượng thư đứng đầu các bộ Bên cạnh bộ có Hàn lâm viện (cơ quansoạn thảo công văn), Quốc tử giám (cơ quan phụ trách giáo dục), Ngự sử đài
Trang 17(cơ quan kiểm tra, kiểm soát) Để tập trung quyền hành nhà Lê bỏ chức Tểtướng, vua trực tiếp là tổng chỉ huy quân đội.
+ Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo (năm 1471 lập thêm đạo QuảngNam), dưới đạo là phủ, huyện (miền núi là châu), xã Năm 1471, bản đồ 13đạo được hoàn thành
+ Quân đội nhà Lê có khoảng 8 vạn bao gồm thủy binh, bộ binh, tượng binh,
kỵ binh, ngoài ra còn có các đơn vị chuyên dùng súng lửa gọi là hỏa đồng.Đây là quân đội hùng mạnh, có bản lĩnh chính trị cao, chế độ huấn luyện kháchặt chẽ, các võ quan cao cấp được huấn luyện võ nghệ, học hỏi binh pháptại Giảng Võ đường Thăng Long
+ Các vua thời Lê đều rất chú ý xây dựng luật pháp Đến đời vua Lê ThánhTông, bộ Luật Hồng Đức được ban hành (còn gọi là Lê triều hình luật baogồm 721 điều, chia làm 6 quyển) Các vua nhà Lê rất chú ý đến việc bảo vệbiên cương và đoàn kết dân tộc
- Nhà nước phong kiến trong các thế kỉ XVI - XVIII
Vương triều Mạc (1527-1592)
+ Thời kỳ nhà Lê, chế độ phong kiến Việt Nam phát triển hưng thịnh, tuynhiên bước sang thế kỷ XVI nhà nước trung ương tập quyền rơi dần vàokhủng hoảng Năm 1527 Mạc Đăng Dung truất ngôi vua Lê, lập ra triềuMạc Phạm vi cai trị của nhà Mạc lúc đầu bao gồm toàn bộ lãnh thổ Đại Việtthời Lê Sơ, nhưng từ năm 1546 khi Nam triều được thành lập ở Thanh Hóa(chính quyền của nhà Lê Trung Hưng) thì phạm vi này bị thu hẹp từ NinhBình trở ra Bắc
+ Triều đình nhà Mạc cũng gồm đủ các ban văn võ Đứng đầu là nhà vua
Để xây dựng một đội ngũ quan lại trung thành với triều đại mình, nhà Mạcđẩy mạnh chế độ thi cử (cứ 3 năm tổ chức 1 kỳ thi, kể cả khi chiến tranh vớiNam triều)
+ Nhà Mạc rất chú ý xây dựng quân đội, cho thực hiện chính sách lộc điềnvới quân lính
+ Trong chính sách đối ngoại, nhà Mạc đã đầu hàng nhục nhã nhà Minh.Năm 1527 cử phái đoàn sang Trung Quốc xin được thay nhà Lê thống trị đấtnước
Đất nước bị chia cắt: Sự thành lập Nam triều
+ Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527), Nguyễn Kim (cựu thần củanhà Lê) chạy vào Thanh Hóa lập Lê Duy Ninh làm vua Năm 1539 đánhchiếm Thanh Hóa, năm 1540 đánh Nghệ An Từ đó địa phận từ Thanh Hóatrở vào thuộc quyền cai trị của nhà Lê (sử cũ gọi là Nam triều) Năm 1545Nguyễn Kim bị giết, quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm
+ Cuộc chiến tranh Nam triều với Bắc triều kéo dài 47 năm (1546-1592),thắng lợi thuộc về phía Nam triều Tháng 12-1592 nhà Mạc bị tiêu diệt
Trang 18Chiến tranh Trịnh – Nguyễn (1627-1672)
+ Từ khi Nguyễn Kim bị giết, nội bộ Nam triều đã nảy sinh nhiều mâu thuẫngiữa hai dòng họ phong kiến Trịnh - Nguyễn Năm 1558 Nguyễn Hoàng làcon thứ của Nguyễn Kim sợ anh rể giết đã xin vào trấn thủ Thuận Hóa Bềngoài vẫn giữ làm tròn bổn phận với Nam triều, nhưng bên trong ra sức xâydựng thế lực cát cứ chống lại họ Trịnh
+ Năm 1613 Nguyễn Hoàng qua đời, con là Nguyễn Phúc Nguyên lên thaycha đẩy nhanh công cuộc cát cứ, thải hồi các quan lại do họ Trịnh phái vào,cắt đứt sự lệ thuộc vào họ Trịnh Tổ chức lại chính quyền trung ương, khôngchịu nộp thuế cho nhà Trịnh Hành động này đã làm cho mâu thuẫn Trịnh-Nguyễn thêm gay gắt
+ Từ 1627 - 1672, 2 bên đã đánh nhau 7 lần, trong đó có 6 lần quân Trịnhchủ động, kết quả không bên nào thắng, sông Gianh được lấy làm giới tuyếnchia đôi đất nước Từ đây sử cũ gọi là Đàng Trong, Đàng Ngoài Ở ĐàngNgoài, từ 1595 về sau, Trịnh Tùng và con cháu kế vị đều xưng vương nhândân gọi là “chúa Trịnh” Họ Trịnh không cướp ngôi vua, nhưng biến vua Lêthành bù nhìn để giữ danh nghĩa chính thống, chống lại các phe phái đối lập.Trên thực tế, họ Trịnh nắm toàn quyền thống trị Ở Đàng Trong, họ Nguyễnnắm chính quyền, nhân dân quen gọi là “chúa Nguyễn”
Tình trạng đất nước bị phân chia thành hai miền kéo dài đến cuối thế kỷXVIII
- Chế độ phong kiến Việt Nam từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX+ Ở Đàng Ngoài, từ 1595 Trịnh Tùng và các con cháu họ Trịnh đều xưngvương, dù không cướp ngôi nhưng họ Trịnh thâu tóm mọi quyền hành Đếnnửa sau thế kỷ XVIII chính quyền phong kiến Đàng Ngoài đã mục nát đếncực độ, vua Lê chỉ là cái bóng mờ nhạt trong cung cấm Các cuộc khởi nghĩanông dân diễn ra liên tiếp làm cho chính quyền họ Trịnh bị lung lay, suyyếu, tạo điều kiện cho phong trào nông dân Tây Sơn sau này thu được thắnglợi nhanh chóng
+ Nửa sau thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến Đàng Trong rơi vào khủnghoảng, việc mua quan bán tước trở nên phổ biến Trong triều đình, tập đoànTrương Phúc Loan tự xưng là Quốc phó, giết hại những ai chống đối Quýtộc thì đua nhau ăn chơi hưởng lạc Nông dân ngày càng cơ cực do bị bóc lộtnặng nề, ruộng đất công làng xã bị bọn cường hào lấn chiếm Ruộng tư củanhân dân vốn rất ít lại bị bọn địa chủ cướp đoạt Cảnh sống ngột ngạt đã làmtăng nỗi bất bình oán giận chính quyền họ Nguyễn
Vương triều Quang Trung
+ Sau chiến thắng chống ngoại xâm (1789), bộ chỉ huy quân Tây Sơnchuyển hóa thành bộ máy nhà nước phong kiến Quang Trung đóng đô ởPhú Xuân (Nguyễn Nhạc là Trung ương Hoàng đế đóng đô ở Quy Nhơn;
Trang 19Nguyễn Lữ là Đông Định Vương đóng đô ở Gia Định; Nguyễn Huệ là BắcBình Vương, đóng đô ở Phú Xuân).
+ Quang Trung đã có nhiều biện pháp khôi phục kinh tế và ổn định xã hội,phát triển giáo dục Ông ban hành Chiếu khuyến nông, thực hiện chế độquân điền, nhiều loại thuế được giảm nhẹ, mở cửa buôn bán với nhà Thanh,thủ công nghiệp và buôn bán được phục hồi dần
+ Quang Trung còn cho soạn bộ luật mới Hình thư, nhanh chóng tổ chức lạichính quyền từ trung ương đến xã, huyện, ban hành chế độ tín bài bắt buộcngười dân phải thường xuyên mang theo
+ Đề phòng mối đe dọa từ phương Bắc (nhà Thanh), phía Nam (NguyễnÁnh), Quang Trung tăng cường khả năng quốc phòng và thi hành chính sáchngoại giao tích cực Nhà Thanh phải công nhận Quang Trung là Quốcvương, cam kết không giúp đỡ tập đoàn Lê Chiêu Thống Trong khi sựnghiệp dang dở, ông bị bệnh nặng và chết năm 1792 khi mới 39 tuổi
Vương triều Nguyễn (1802-1945)
+ Quang Trung mất, con là Quang Toản lên thay, nhưng không điều khiểnđược việc nước Trong khi đó anh em Tây Sơn lại mâu thuẫn, Nguyễn Ánh
đã lợi dụng thành công mâu thuẫn này để thiết lập nên triều Nguyễn Từ năm
1787, Nguyễn Ánh đem quân từ Xiêm về chiếm lại đất Gia Định, sau đó rasức củng cố lực lượng của mình
+ Năm 1792 Quang Trung mất, triều đại Tây Sơn mất đi trụ cột vững chắcnhất Năm 1802, được sự ủng hộ của bọn địa chủ Đàng Ngoài cũ, NguyễnÁnh đánh bại triều Tây Sơn, thiết lập nên triều Nguyễn Năm 1804 đổi tênnước là Việt Nam, sau đổi thành Đại Nam
+ Nhà Nguyễn tăng cường củng cố nhà nước quân chủ chuyên chế, chọnPhú Xuân làm kinh đô Vua Nguyễn trực tiếp nắm mọi công việc hệ trọngtrong nước Dưới vua là 6 bộ giải quyết các công việc cụ thể Năm 1830-
1831, nhà Nguyễn bỏ tổng, trấn thành lập 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên Đứngđầu tỉnh có các chức Tổng đốc, Tuần phủ, trực tiếp chịu trách nhiệm trướcvua Bộ máy quản lý tổng, xã được đặc biệt chú ý
+ Để tăng quyền lực, nhà Nguyễn ban hành Luật Gia Long (niên hiệu củaNguyễn Ánh) sao chép nguyên vẹn bộ luật phản động của nhà Thanh (TrungQuốc) Nhà Nguyễn còn cho xây dựng thành trì vững chắc ở kinh đô và cáctỉnh, huyện Dọc đường Bắc - Nam cho dựng một hệ thống trạm ngựa nhằmkịp thời chuyển tin từ địa phương về triều đình nhanh nhất
+ Mọi cải cách tiến bộ thời Tây Sơn đều bị xóa bỏ, nhà Nguyễn trả thù mộtcách hèn hạ, man rợ con cháu và các lãnh tụ Tây Sơn Các cuộc khởi nghĩacủa nông dân bị dìm trong bể máu
+ Về mặt đối ngoại, nhà Nguyễn thần phục nhà Thanh một cách mù quáng,nhưng lại đóng cửa không quan hệ với các nước phương Tây
Trang 20Dưới sự thống trị của nhà Nguyễn, nền kinh tế sa sút nghiêm trọng, đô thịchậm phát triển Tính từ 1802 đến 1858 cả nước ta có 500 cuộc đấu tranhcủa nhân dân.
1.4.2 Công cuộc củng cố và bảo vệ lãnh thổ Tổ quốc
- Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê (981)
Cùng với việc xây dựng một chính quyền quân chủ tập trung, các triều đạiphong kiến Việt Nam đã phải đối phó chống lại các cuộc xâm lược củaphong kiến Trung Quốc
+ Năm 979 được sự ủng hộ và suy tôn của (Dương thị) Dương Thái hậu, cácquan đồng lòng cử Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế chỉ đạocuộc kháng chiến chống Tống
+ Năm 981, quân Tống chia làm hai đạo tiến vào nước ta, quân bộ đánh vàoLạng Sơn, quân thủy đánh vào Bạch Đằng Lê Hoàn một mặt cho quân dùngcọc đóng trên sông Bạch Đằng, mặt khác đích thân chỉ huy một cánh quânkhác tiến lên biên giới chặn quân bộ của địch Quân Tống bị thua tan tácphải chạy tháo thân về nước, chiến thắng rực rỡ của Lê Hoàn đã bảo vệ vữngchắc nền độc lập tự do của Tổ quốc
- Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống của nhà Lý (1075-1077) Năm 1072, nhà Tống ráo riết chuẩn bị xâm lược Đại Việt Trước tình hình
đó, Lý Thường Kiệt chủ động tiến đánh thành Khâm Châu, Liên Châu vàUng Châu (Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc), giáng đòn phủ đầu bất ngờvào kẻ thù Sau 42 ngày, quân ta chiếm được thành Ung Châu, đốt hết lươngthực, phá cầu cống rồi nhanh chóng rút quân về nước, chuẩn bị mọi mặtkháng chiến Nhiều phòng tuyến được xây dựng, trong đó đáng kể nhất làphòng tuyến xây dựng bên bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu, đoạn chảyqua Yên Phong, Bắc Ninh)
+ Đúng như ta dự đoán, đạo quân xâm lược nhà Tống gồm 10 vạn bộ binh,
20 vạn dân phu theo đường bộ kéo sang xâm lược nước ta Một đạo quânkhác theo đường thủy cũng tiến sang phối hợp Đoàn quân thủy do Lý KếNguyên chỉ huy bị ta đánh cho tan tành tại Quảng Ninh làm cho quân bộ củađịch rơi vào cảnh thiếu thốn đủ bề Chờ mãi không có quân viện, Quách Quỳcho quân vượt sông đánh vào phòng tuyến của ta Vào một đêm cuối năm
1077, đại quân ta vượt sông Như Nguyệt đánh mạnh vào các doanh trại quânTống, quân Tống thua to bị tiêu diệt đến quá nửa Nhận thấy đã đến lúc kếtthúc chiến tranh, Lý Thường Kiệt chủ động cho người đến “giảng hòa”.Trong thế tuyệt vọng, chỉ huy quân Tống là Quách Quỳ đồng ý cho quân rút
về nước
Nhà Trần ba lần kháng chiến chống quân Mông - Nguyên
- Kháng chiến chống quân Mông Cổ lần thứ nhất (năm 1258)
Trang 21+ Đầu năm 1258, ba vạn quân Mông Cổ tràn vào nước ta, kẻ thù đã chiếmđược Thăng Long, nhưng Thăng Long không một bóng người (do quân Trầnchủ động rút lui chiến lược), quân xâm lược tàn phá Thăng Long, nhưng thếcủa chúng ngày càng nguy ngập.
+ Nắm được tình hình quân địch, ta mở cuộc tấn công lớn ở Đông Bộ Đầu(bến sông Hồng ở phố Hàng Than, Hà Nội ngày nay) đánh bật quân địch rakhỏi kinh thành Thăng Long, kẻ địch tháo chạy về Vân Nam nhưng trênđường còn bị dân binh của Hà Bổng chặn đánh Chỉ trong vòng nửa tháng,quân dân Đại Việt thời Trần đã đánh bại quân xâm lược Mông Cổ
- Kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (năm 1285)
+ Cuối tháng 1-1285, 50 vạn quân Nguyên do Thoát Hoan (con trai của vuaNguyên) chỉ huy ồ ạt tiến vào nước ta Thấy thế giặc mạnh, Trần Hưng Đạovừa đánh tiêu hao, tiêu diệt binh lực địch, vừa chủ động bỏ Thăng Long choquân sĩ rút về Vạn Kiếp (Chí Linh - Hải Dương) Quân Nguyên chiếm đượcThăng Long nhưng không dám ở lại trong thành mà đóng quân tại phía bắcsông Hồng
+ Một đạo quân Nguyên khác do Toa Đô chỉ huy từ Champa đánh ra Nghệ
An nhằm thực hiện thế hai gọng kìm
+ Trần Quốc Tuấn và vua Trần lui quân ra các lộ miền biển, rồi rút vàoThanh Hóa Không bắt được vua Trần và tiêu diệt quân chủ lực nhà Trầnquân giặc lâm vào tình thế khó khăn lớn: thiếu lương thực, ốm đau, bệnh tật.Nắm đúng thời cơ đó ta thực hiện cuộc phản công tiêu diệt chúng ở Tây Kết(Khoái Châu, Hưng Yên), Hàm Tử (Khoái Châu), Chương Dương (ThườngTín, Hà Tây), Thăng Long Sau hai tháng quân và dân Đại Việt đã đánh tantành nửa triệu quân Nguyên, một đạo quân hung hãn nhất thế giới hồi đó,đuổi chúng ra khỏi đất đai của Tổ quốc ta
Cuộc kháng chiến lần ba (1287-1288)
+ Tháng 12-1287, quân xâm lược Nguyên ồ ạt tiến vào nước ta lần thứ 3,cuộc kháng chiến bùng nổ Cánh quân bộ của địch sau khi vượt qua LạngSơn tiến xuống và đóng quân tại Vạn Kiếp, xây dựng căn cứ vững chắc.Cánh quân thủy gồm 600 chiến thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy theo đườngbiển tiến vào cửa sông Bạch Đằng, chúng đã đánh bại quân của Trần Khánh
Dư rồi dong thuyền vượt sông Bạch Đằng hội quân với Thoát Hoan tại VạnKiếp
+ Đoán biết đoàn thuyền lương thực của quân Nguyên sắp tiến vào nước ta,Trần Khánh Dư bố trí trận địa tại Vân Đồn, tiêu diệt và chiếm hầu hết đoànthuyền lương của chúng Đợi mãi không thấy đoàn thuyền lương thực đếnchi viện, Thoát Hoan ra lệnh cho quân tiến vào Thăng Long (1-1888), chúngđiên cuồng cướp phá, nhưng đến đâu cũng bị nhân dân chống trả quyết liệt,đạo quân xâm lược đông đảo rơi vào tình thế nguy khốn thời cơ để quân
Trang 22Trần tiêu diệt quân Nguyên đã đến Trận địa mai phục quân xâm lược đượcTrần Hưng Đạo và quân sĩ nhà Trần chuẩn bị trên sông Bạch Đằng.
+ Đầu 4-1288, đoàn thuyền do Ô Mã Nhi chỉ huy có kỵ binh hộ tống rút vềtrước theo hướng sông Bạch Đằng, quân ta tiếp tục tập kích khiến chúng vất
vả mới lui về được sông Bạch Đằng Lúc đó một số thuyền nhẹ của ta bơi rakhiêu chiến rồi vờ thua chạy, quân địch đuổi theo lọt vào trận địa mai phục.Nước triều xuống nhanh, từ hai bờ hàng nghìn thuyền nhỏ của ta đổ ra chiếnđấu phá vỡ đội hình giặc Bị đánh bất ngờ và quá mạnh, quân Nguyên hoảnghốt chen nhau chạy ra biển Thuyền của chúng xô cả vào bãi cọc đang nhôlên bị vỡ đắm Giữa lúc đó, hàng loạt bè lửa xuôi nhanh theo thủy triều đangxuống, quân giặc khiếp sợ lao lên bờ thì bị đại quân của Trần Hưng Đạo đónđánh Toàn bộ đạo quân thủy của giặc bị tiêu diệt, Ô Mã Nhi bị bắt sống.+ Cùng thời gian này, ta liên tiếp đánh phục kích cánh quân bộ do ThoátHoan rút theo hướng Lạng Sơn, bọn địch phải liều mạng mới thoát chết
- Đấu tranh chống quân Minh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi (1418-1427)
Năm 1407, nhà Minh xâm lược nước ta, quân xâm lược phải mất 10 nămmới dập tắt được các phong trào kháng chiến của nhân dân ta, nhưng ngaysau đó, quân Minh phải chống lại cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
+ Mùa xuân năm 1418, vào ngày mồng 2 tết, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa ởLam Sơn (Thọ Xuân, Thanh Hóa), giai đoạn đầu cuộc khởi nghĩa đã gặp vôvàn khó khăn do quân Minh liên tục tấn công và bao vây Để thoát khỏivòng vây, tháng 5-1419 Lê Lai đã phải cải trang làm Lê Lợi dẫn quân ragiáp chiến với giặc và hy sinh anh dũng Tháng 3-1423 khi giặc mở tấn cônglớn lên căn cứ (núi Chí Linh), nghĩa quân lại rơi vào một tình thế hiểmnghèo, phải giết cả voi và ngựa nuôi quân Để thoát khỏi tình thế trên, LêLợi tạm hòa hoãn với quân Minh (1924-1925)
+ Theo đề nghị của Nguyễn Chích, nghĩa quân Lam Sơn rời Thanh Hóa, tiếnvào Nghệ An Đây là một quyết định chiến lược vì kể từ đây nghĩa quânchẳng những thoát khỏi thế bao vây mà còn liên tiếp giành được thắng lợi.Năm 1425 nghĩa quân giải phóng cả một vùng rộng lớn từ Nghệ An đếnThuận Hóa
+ Cuối năm 1425, Lê Lợi chỉ để lại một bộ phận bao vây các thành trì từThanh Hóa trở vào còn đại quân tiến ra Bắc theo 3 hướng Từ năm 1426nghĩa quân giành được nhiều thắng lợi vang dội như Ninh Kiều (ngoại thành
Hà Nội), Tốt Động, Chúc Động (Hà Tây) hàng vạn quân Minh bị tiêu diệt
và bắt sống, quân địch phải vào cố thủ trong thành Đông Quan Quân ta vừa
tổ chức bao vây chặt quân Minh trong thành vừa tiêu diệt đồn lũy của địch ởcác nơi
Trang 23Sau 10 năm vừa đánh địch vừa xây dựng lực lượng, đến năm 1427 quânkhởi nghĩa lớn mạnh, từ căn cứ Lam Sơn, Thanh Hóa đã tiến về bao vâyĐông Quan.
Tháng 1-1427, 20 vạn viện binh từ Trung Quốc tràn sang giải vây, nhưng
cả hai đạo quân Minh do Liễu Thăng và Mộc Thạch chỉ huy đều bị tiêu diệt(tháng 11-1427, 5 vạn quân Minh bị tiêu diệt và bắt sống tại Xương Giang;tháng 12-1427 ta tiêu diệt quân Minh ở Chi Lăng) quân địch ở Đông Quanhoàn toàn khiếp đảm Trong bối cảnh đó, Vương Thông phải xin hàng (16-12-1427), đồng ý mở hội thề Đông Quan và 2 ngày sau rút quân về nước,cam kết không xâm lược Đại Việt
- Quang Trung đánh tan quân Xiêm (1785) đại phá quân Thanh (1789)
+ Mùa xuân năm 1771 ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữlên Tây Sơn thượng đạo (tỉnh Gia Lai) lập căn cứ chống chính quyền họNguyễn (Đàng Trong) Sau nhiều lần tấn công vào Gia Định về cơ bản chínhquyền họ Nguyễn đã bị đánh tan, chỉ còn Nguyễn Ánh sống sót chạy sangXiêm Được Nguyễn Ánh dẫn đường, năm 1785 quân Xiêm sang xâm lượcNam Bộ Chỉ trong một ngày, 2 vạn quân của Nguyễn Huệ đánh bại 5 vạnquân Xiêm tại Rạch Gầm, Xoài Mút (Châu Thành, Tiền Giang)
+ Từ năm 1786 đến 1788, Tây Sơn ba lần kéo quân ra Bắc đánh tập đoànphong kiến phản động Trịnh, Lê và cơ bản thống nhất đất nước
+ Được vua Lê Chiêu Thống cầu cứu, cuối năm 1788, 29 vạn quân Thanh doTôn Sĩ Nghị sang xâm lược nước ta Trước thế giặc mạnh, ta chủ động bỏThăng Long về lập phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình - ThanhHóa) Được Ngô Thời Nhâm cấp báo, Nguyễn Huệ lên ngôi vua, lấy niênhiệu là Quang Trung rồi tiến quân ra Bắc Bằng cuộc tấn công thần tốc, vừa
đi vừa tuyển quân, đến giữa tháng chạp năm 1789, Quang Trung đã hội quântại Tam Điệp Cho quân lính ăn tết trước rồi ông thẳng tiến về Thăng Long.Chỉ trong 5 ngày đêm chiến đấu, dưới sự chỉ huy thiên tài của Quang Trung,
29 vạn quân Thanh đã bị đánh tan Đây là một chiến công chói lọi bậc nhấttrong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta
1.4.3 Kinh tế Đại Việt trong những thế kỷ độc lập (thế kỷ X-XIX)
- Tình hình kinh tế ( thế kỉ X-XV)
+ Nông nghiệp: nghề nông được xem là sinh hoạt chính trong đời sống kinh
tế quốc gia (“dĩ nông vi bản”) Các triều đại ngay từ thời Đinh – Tiền Lê đều
có chính sách khuyến nông như miễn thuế, thành lập cơ quan riêng chỉ đạonông nghiệp, đặc biệt khuyến khích việc khai khẩn ruộng đất hoang Từ thờinhà Lý đã cấp đất cho những người có công, cho chùa chiền, nhà Lý cho đắp
đê Cơ Xá, nhà Trần đắp đê Quai Vạc (1248) Đến nhà Lê, cơ bản hệ thống
đê điều ở miền Bắc đã được hoàn thành
Trang 24+ Thủ công nghiệp: ở các triều đại phong kiến đầu tiên chưa có sự phâncông giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp Thủ công nghiệp vẫn là nghề phụcủa người nông dân, nhưng chất lượng hàng hóa ngày càng được cải thiện.Nhà nước thành lập các ty, tượng và có một số chính sách khuyến khích thủcông nghiệp trong nhân dân Các nghề quan trọng như đóng tàu, đúc súng,đúc tiền do nhà nước quản lý thông qua các xưởng thủ công của nhà nướcgọi là cục Bách tác.
+ Thương nghiệp: địa vị nghề buôn bị xem thường cho là nghề bất nhân,được xếp vào hạng chót trong tứ dân Mọi giao dịch thường diễn ra ở cácchợ làng theo phiên, các sản phẩm do người nông dân làm ra được mangtrao đổi Trước thế kỷ XVI, ta chủ yếu buôn bán với Trung Quốc (tại một sốđiểm biên giới đã có địa điểm trao đổi hàng hóa, sau đó ta đã buôn bán vớinhiều nước như: Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp haithương cảng quan trọng nhất lúc đó là Phố Hiến và Hội An
+ Tiền tệ: trong việc trao đổi hàng hóa, nhân dân đã sử dụng tiền đồng, tiềnkẽm và tiền giấy do triều đình phát hành Loại hình tiền khá phong phú.Ngoài ra còn dùng bạc nén, bạc thoi, bạc vụn để trao đổi
- Công cuộc khai phá vùng đất Đàng Trong
Trong các thế kỉ XVI, XVII, XVIII, tuy đất nước bị chia cắt, nhưng kinh tếvẫn có những bước chuyển biến, đất nước được mở rộng về phía Nam:
+ Năm 1558 Nguyễn Hoàng vào cai quản vùng đất Thuận Hóa, ông đã tìmcách mở rộng và khẳng định thế lực, trong đó có công cuộc khai thác vùngđất Đàng Trong Trong hai thế kỷ XVI-XVII, chính quyền họ Nguyễn tổchức di dân khai hoang vùng Thuận - Quảng Nhà nước cung cấp nông cụ,lương ăn trong nửa năm Khi lập thành làng ấp, nhà nước không thu thuếmấy năm đầu Ruộng đất mới khẩn hoang là của nhà nước Nhờ chính sáchkhai hoang tích cực, vùng Thuận - Quảng diện tích canh tác được mở rộng,nhiều xóm làng mới mọc lên
+ Sang thế kỉ XVII, đất Thuận Quảng được mở rộng về phía Nam
Năm 1611, Nguyễn Hoàng cho quân vượt đèo Cù Mông lập phủ Phú YênNăm 1653, Nguyễn Phúc Tần mở rộng biên cương đến Phan Rang
Năm 1693, toàn bộ phần đất còn lại của Champa được sáp nhật vào ĐàngTrong
+ Trên vùng đất đồng bằng sông Cửu Long, trong thế kỷ XVII đã có nhữngnhóm di dân người Việt vượt biển vào Đồng Nai làm ăn Cuối thế kỷ XVII,nhà Nguyễn khuyến khích người giàu bỏ tiền, bỏ của ra thuê người đi khaihoang lập ấp trại Năm 1698, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh, NguyễnPhúc Chu vào kinh lý phía Nam đặt Phủ Gia Định gồm hai dinh: Trấn Biên(các tỉnh như Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước) và Phiên Trấn(thành phố Hồ Chí Minh ngày nay) Sau đó Mỹ Tho, Hà Tiên (phần Tây
Trang 25Nam Bộ ngày nay) cũng sáp nhập vào phủ này (1708) Đến giữa thế kỷXVIII, miền đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thôn, xã được lập thêm,như vậy vùng đồng bằng sông Cửu Long đã được khai phá Tại vùng đấtmàu mỡ này, nông nghiệp phát triển mạnh, chăn nuôi gia súc quy mô lớnxuất hiện.
- Sự phát triển của kinh tế hàng hóa
+ Thủ công nghiệp nhà nước: cả chính quyền Lê – Trịnh (Đàng Ngoài) vàchính quyền chúa Nguyễn (Đàng Trong) đều chú trọng xây dựng các quanxưởng đúc súng, thuyền, trang phục, đồ trang sức cho vua quan trong triều.Lực lượng lao động là các thợ thủ công giỏi được tuyển chọn từ các địaphương
+ Thủ công nghiệp trong nhân dân: các làng thủ công xuất hiện ngày càngnhiều như: Bát Tràng (Hà Nội), Thanh Hà (Quảng Nam), Hiền Lương (ThừaThiên – Huế) Xuất hiện nghề khai mỏ (Đàng Ngoài), sản xuất mía đường(Đàng Trong) Kĩ thuật nấu đã đạt trình độ cao
+ Thương nghiệp, hầu hết các làng, xã đều có chợ, cá biệt có làng mọi ngườiđều tham gia buôn bán Trong những khu vực rộng khoảng 10-15 km2 thìngày nào cũng có chợ Hàng hóa là nông phẩm và hàng thủ công Lực lượngbuôn bán chính là phụ nữ Đã bắt đầu hình thành các luồng buôn bán giữamiền núi và miền xuôi Bất chất sự ngăn cấm của chính quyền vẫn hìnhthành việc buôn bán giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài
Buôn bán với Trung Quốc và Nhật Bản đặc biệt phát triển, một lực lượngkhá đông kiều dân hai nước đã định cư buôn bán Từ thế kỉ XVI, các công ti
Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Pháp… đến buôn bán tại Hội An (Quảng Nam),Phố Hiến (Hưng Yên), Thăng Long (Hà Nội) Hàng hóa của họ là vũ khí, tơlụa, pha lê, thuốc bắc, thủy tinh và các sản phẩm khác Các thương nhânnước ngoài mua của ta sản phẩm thủ công, đồ sứ, tơ lụa, đường mía, lâm thổsản…
+ Đô thị hưng thịnh: ở Đàng Ngoài “thứ nhất kinh kì, thứ nhì Phố Hiến”.Năm 1666 một giáo sĩ người Ý mô tả Thăng Long có 62 khu phố sầm uất,còn Phố Hiến có khoảng 2000 nhà và 20 phường sản xuất thủ công và buônbán
Ở Đàng Trong có Thanh Hà (Huế), Nước Mặn (Bình Định), Gia Định(Thành phố Hồ Chí Minh) và đặc biệt Hội An đã trở thành trung tâm traođổi hàng hóa của Đàng Trong, là thương cảng quốc tế Từ thế kỉ XVII, Hội
An là một thành phố cảng lớn, hội tụ nhiều thuyền buôn và thương điếm củacác nước phương Đông và phương Tây Hội An còn có các khu cư trú riêngcủa người Nhật và người Hoa
Trang 26Đến triều Nguyễn, mặc dù khai khoáng có bước phát triển (xuất hiện hìnhthức thuê mướn công nhân), nhưng thương nghiệp lại suy thoái do hệ thốngthuế khóa phức tạp, đô thị tàn lụi.
1.4.4 Văn hóa Đại Việt
- Văn hóa thời Lý
+ Năm 1070 nhà Lý lập Văn Miếu, mở trường dạy Nho học ở kinh thành.Năm 1075 tổ chức kỳ thi quốc gia đầu tiên, lấy một số người đỗ vào làmquan Việc học hành chủ yếu dành cho con em quan lại, thi cử chưa đều đặn,khi cần mới mở Văn học chữ Hán bắt đầu phát triển Ngoài thơ văn của cácnhà sư còn có của vua quan Lý Thường Kiệt có bài thơ bất hủ “Nam quốcsơn hà Nam đế cư” Đạo Phật được truyền bá rộng rãi hơn trước, nhiều chùalớn được xây dựng
+ Kiến trúc và điêu khắc rất phát triển, các công trình có quy mô lớn vàtương đối độc đáo Tiêu biểu là: Tháp Báo Thiên gồm 12 tầng, cao 60m;chùa Một Cột được xây dựng trên một cột đá lớn (Chùa Một Cột tên là chùaDiên Hựu nghĩa là phúc lành lâu dài, xây dựng năm 1049 thời vua Lí TháiTông, chùa tuy nhỏ nhưng được tạo dáng như một bông sen cách điệu từdưới nước vươn lên)
Nền văn hóa phong phú độc đáo và linh hoạt của nhân dân thời Lý đánhdấu sự ra đời của một nền văn hóa riêng biệt của dân tộc - văn hóa ThăngLong
- Văn hóa thời Trần
+ Nhân dân thời Trần rất thích ca hát, nhảy múa, thể dục thể thao Nghệthuật chèo, tuồng, múa rối phát triển
+ Đạo Phật rất phát triển, ngay cả vua, quý tộc vương hầu cũng thành nhà
sư, chùa chiền được mọc lên ở khắp nơi Nho học ngày càng mở rộng Cácnhà Nho giỏi được quý trọng, thầy Chu Văn An được cả vua và triều đìnhkính nể
+ Nhà Trần chăm lo việc giáo dục, trường Quốc Tử giám mở rộng việc đàotạo con em quý tộc, quan lại Ở các lộ, phủ quanh kinh thành đều có trườngcông Các kỳ thi quốc gia được tổ chức đều đặn tuyển chọn nhân tài Sốquan lại có học thức cao ngày càng nhiều
+ Thơ văn chữ Hán đặc biệt phát triển, tiêu biểu có Hịch tướng sĩ của TrầnHưng Đạo, bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu Năm 1272, nhà
sử học Lê Văn Hưu soạn xong bộ Đại Việt sử ký gồm 30 quyển, khẳng định
sự tồn tại độc lập lâu dài của đất nước ta Đây còn là một tài liệu có giá trịnhiều mặt
+ Về khoa học kỹ thuật: Trần Hưng Đạo viết Binh thư yếu lược tổng kếtkinh nghiệm chiến tranh qua các triều Đặng Lộ chế tạo thành công chiếcLung linh nghi để dự báo thời tiết Trần Nguyên Đán ghi chép sự biến đổi
Trang 27của trăng Tuệ Tĩnh nghiên cứu thuốc nam và tổng kết việc chữa bệnh HồNguyên Trừng và các thợ thủ công đã chế tạo thành công súng thần cơ vàđóng các loại thuyền lớn đi biển.
+ Các nghệ nhân đã sáng tác ra những công trình nghệ thuật có giá trị ỞThăng Long, hoàng thành được xây dựng lại Cung Thái Thượng hoàng ởNam Định được xây dựng bề thế, chùa Phổ Minh ở ngoại thành Nam Định
có đỉnh đồng nặng hơn một ngàn cân, tháp Bình Sơn ở Lập Thạch, Vĩnh Phú
11 tầng cao 15m…
- Văn hóa thời Lê
+ Nhà Lê lấy đạo Nho làm khuôn khổ, mẫu mực để đào tạo nhân tài ĐạoNho đề cao vai trò người cha, người chồng trong gia đình
+ Công việc học hành, thi cử được vào quy củ, tổ chức được 12 kì thi Hội(1460-1497) Nhà nước khuyến khích học để làm quan, giúp vua trị nước.Kinh đô Thăng Long có Quốc Tử Giám, ở các đạo, phủ có trường công,trường tư, học trò rất đông Tổ chức thi cử có quy chế chặt chẽ và tiến hànhthường xuyên theo ba cấp: thi hương, thi hội, thi đình Người đỗ đầu kỳ thiđình được phong là Trạng nguyên, các tiến sĩ được vua mời ăn yến ở cungđình, ban cho áo, mũ đẹp và được khắc tên vào bia đá đặt ở Văn Miếu (xâydựng năm 1484)
+ Văn học thời Lê có nội dung yêu nước, thể hiện tinh thần bất khuất, khíphách anh hùng của dân tộc ta Tiêu biểu nhất cho các nhà văn thời kỳ này làNguyễn Trãi Các tác phẩm của ông như Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngôđại cáo, Phú núi Chí Linh, Quốc âm thi tập là tiêu biểu cho tư tưởng củathời đại Suốt cuộc đời ông khi đánh giặc cũng như khi xây dựng đất nước,hoạt động xã hội cũng như khi sáng tác thơ văn ông luôn luôn nêu cao lòngnhân nghĩa mà nội dung chủ yếu là yêu nước, thương dân Vào cuối thế kỷ
XV, có nhóm Tao Đàn do Lê Thánh Tông sáng lập Thơ văn của nhóm này
ca ngợi nhà Lê, ca ngợi phong cảnh đất nước, thỏa mãn với địa vị cao sangcủa bản thân mình
+ Nghệ thuật chèo, tuồng, cả ở cung đình và trong nhân dân tiếp tục pháttriển
+ Về khoa học: Nguyễn Trãi viết Dư địa chí (địa lý), Lương thế Vinh viếtToán pháp đại thành, Ngô Sĩ Liên soạn Đại Việt sử ký toàn thư
- Văn hóa trong các thế kỉ XVI đến nửa đầu XVIII
+ Giáo dục: Nhà Mạc cứ 3 năm tổ chức một kì thi để tuyển chọn người tài.Năm 1529 Mạc Đăng Dung mở kì thi Hội lấy được 27 tiến sĩ, trong đó cóTrạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình) và NguyễnThị Duệ, tiến sĩ
nữ duy nhất trong lịch sử khoa cử Nho học Việt Nam Ngay khi đất nước bịchia cắt Đàng Trong và Đàng Ngoài, các kì thi vẫn được mở (chúa Nguyễn
tổ chức khoa thi riêng vào năm 1646 Tại Đàng Trong hình thức bổ nhiệm
Trang 28quan lại chủ yếu là tiến cử) Đến triều đại Quang Trung, giáo dục tiếp tụcđược chấn chỉnh, đưa văn thơ chữ Nôm vào thi cử.
+ Văn học: Văn học chữ Hán vẫn chiến ưu thế, với nhiều tên tuổi nhưNguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ, Phùng Khắc Khoan… tuy nhiên văn thơchữ Nôm lại nở rộ với nhiều tác phẩm khuyết danh như Phạm Công – CúcHoa, Thạch Sanh, Tống Trân – Cúc Hoa Xuất hiện những áng thơ Nôm bất
hủ như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngân khúc Văn học dân gian phát triểnphong phú với các thể loại ca dao, tục ngữ, truyện cười…
+ Nghệ thuật: xuất hiện các công trình chùa Thiên Mụ (được xây dựng trênđồi Hà Khê, thành phố Huế vào đầu thế kỉ XVII, tháp xây hình khối bát giáccao trên 21m, chia làm 7 tầng, tầng trên cùng trước đặt 3 pho tượng vàng.Chuông cao 2,5m, đường kính 1,4m, nặng 3.285kg Bia đá được dựng vàonăm 1715, cao 2,6m, rộng 1,2m), tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìntay (Bắc Ninh), tượng La Hán (chùa Tây Phương) Nghệ thuật dân gian pháttriển thông qua các tác phẩm trạm khắc tại các đình làng Nghệ thuật sânkhấu chèo, tuồng có bước phát triển mới
+ Khoa học: xuất hiện các bộ sử học lớn như: Ô châu cận lục, Đại Việt sử kítoàn thư (được khắc in vào năm1697 là bộ sử tiêu biểu nhất của Việt Namthời phong kiến
Về quân sự có “Hổ trướng khu cơ” và công trình lũy thầy của Đào Duy
Từ Kĩ thuật đúc súng kiểu phương Tây, xây thành lũy và đóng thuyền cótrang bị đại bác của Đàng Trong được nâng lên một bước
- Văn hóa nửa đầu thế kỉ XIX
+ Tư tưởng, tôn giáo: Nhà Nguyễn thi hành chính sách độc tôn Nho giáo,hạn chế Phật giáo và các tín ngưỡng dân gian khác Đối với Thiên Chúagiáo, bắt đầu từ thời Minh Mạng (1820-1840), nhà Nguyễn thi hành nhữngbiện pháp cấm đoán gắt gao, thậm chí thẳng tay đàn áp, tuy vậy các giáo sĩphương Tây vẫn cải đạo được nhiều người dân theo Thiên Chúa giáo
+ Giáo dục: năm 1807 Gia Long ban hành quy chế thi Hương và thi Hội Từthời Minh Mạng thi cử đi vào nề nếp Trong số những người đỗ đại khoa,nhiều người trở thành những nhà văn hóa lớn, những quan lại cấp cao Tuyvậy, nhìn chung chất lượng giáo dục không cao Năm 1803 xây dựng trườngQuốc học; 1808 xây dựng Văn Miếu Tính đến năm 1851, tổ chức 14 khoathi Hội lấy được 136 tiến sĩ, 87 phó bảng
+ Văn học: văn học chữ Hán vẫn tiếp tục phát triển với nhiều nhà văn, nhàthơ tiêu biểu như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, MinhMạng… văn học dân gian phát triển với nhiều thể loại phong phú
Văn học chữ Nôm đầu thời Nguyễn phát triển rực rỡ với nhiều tác phẩmđạt đến đỉnh cao Hai tác giả kiệt xuất là Nguyễn Du (1765-1820) và HồXuân Hương
Trang 29+ Khoa học: Quốc sử quán được thành lập, có nhiệm vụ sưu tầm các bộ sửchính thống, tiêu biểu có Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú.Một số bộ địa lí và địa lý lịch sử có giá trị như Nhất thống địa dư chí của LêQuang Định, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức Kĩ thuật vẽ bản
đồ cũng đạt được những thành tựu mới, trong đó đặc biệt là Đại Nam nhấtthống toàn đồ được vẽ vào thời Minh Mạng đã thể hiện tương đối chính xáchình ảnh nước Đại Nam, bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa
+ Về kiến trúc: tiêu biểu là kiến trúc kinh đô Huế bao gồm lăng tẩm, cungđiện Tại kinh đô Huế đã bắt đầu xuất hiện nhà hát và sàn diễn chuyênnghiệp Cột cờ Hà Nội được xây dựng cao và đẹp (xây dựng vào năm 1812,gồm đế, thân và cột cờ, thân cột cờ trên mặt tầng ba cao 20m hình khối lụclăng, đỉnh hình khối bát giác có trụ để cắm cờ)
+ Nghệ thuật: tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, tranh sơn mài, nghệthuật tuồng, chèo phát triển phong phú, nghệ thuật vẽ tranh chân dung cũngmang những màu sắc mới
+ Kĩ thuật: xuất hiện máy cưa xẻ gỗ bằng sức nước, đóng thành công tàuthủy chạy bằng sức nước
Chương 2 Việt Nam từ 1858 đến 1945
2.1 Việt Nam từ 1858 đến cuối thế kỉ XIX
2.1.1 Việt Nam trước nguy cơ bị Pháp xâm lược
- Cho tới giữa thế kỉ XIX, Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền vàđạt được những thành tựu nhất định về kinh tế, văn hóa, song chế độ phongkiến cũng đã bộc lộ những dấu hiệu của sự khủng hoảng: kinh tế nôngnghiệp và công thương nghiệp sa sút, nhiều chủ trương của nhà nước, đặcbiệt là chính sách đối ngoại sai lầm, bế quan tỏa cảng, cấm đạo và bài xíchđạo Thiên chúa Đời sống của nhân dân cực khổ, các cuộc khởi nghĩa nôngdân nổ ra liên tục Khả năng phòng thủ của đất nước giảm sút, quốc phòngyếu kém
+ Trong khi đó, từ giữa thế kỉ XVI, các nước tư bản phương Tây ráo riếtchạy đua sang phương Đông, đến giữa thế kỉ XIX, một loạt nước châu Á đã
bị biến thành thuộc địa Trong cuộc chạy đua với phương Tây, nhất là khithất thế tại Canađa, Ấn Độ, Pháp muốn có thuộc địa ở Viễn Đông, trước hết
là Việt Nam
+ Từ giữa thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, đã có nhiều thương nhân vàgiáo sĩ người Pháp đến Việt Nam, một số sau này trở thành lực lượng đi tiênphong trong cuộc chiến tranh xâm lược Giữa thế kỉ XIX, mâu thuẫn Pháp –Anh tạm lắng để liên minh xâu xé Trung Quốc, từ năm 1856, chính phủPháp quyết định đem quân đánh chiếm Việt Nam
Trang 30Cuộc xâm lược được dọn đường bằng một loạt các hành động khiêu khíchcủa Pháp: cho tàu chiến đến Đà Nẵng, đưa quốc thư, nổ súng bắn phá cácđồn lũy của ta trên bờ (9-1856); cho tàu tới xin truyền đạo (1-1857)… cuốicùng Napôlêông III quyết định đưa quân tới Việt Nam, Pháp còn kêu gọiTây Ban Nha phối hợp hành động Chiều 31-8-1858 liên quân Pháp - TâyBan Nha kéo tới cửa biển Đà Nẵng, chuẩn bị nổ súng xâm lược Việt Nam.
2.1.2 Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (1858 – 1884)
- Trên mặt trận Đà Nẵng:
+ Sáng 1-9-1858, Pháp đưa thư buộc quân triều đình phải nộp thành, nhưngkhông đợi trả lời, Pháp nổ súng tấn công và cho quân đổ bộ lên bán đảo SơnTrà Quân triều đình chiến đấu dũng cảm tại Cẩm Lệ nhưng không cản đượcđịch Hành động ăn cướp của Pháp đã làm dấy lên phong trào đấu tranh bảo
vệ Tổ quốc mạnh mẽ trong nhân dân
+ Triều đình cử Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy mặt trận Quảng Nam,ông huy động nhân dân đắp lũy không cho Pháp tiến sâu vào nội địa, nhândân làm “vườn không nhà trống”, gây cho Pháp nhiều khó khăn Suốt 5tháng liền, Pháp bị giam chân tại chỗ, lực lượng hao mòn do thiếu lươngthực, thuốc men, thời tiết
+ Từ Nam Định, đốc học Phạm Văn Nghị dẫn 300 quân chi viện cho ĐàNẵng, đội nghĩa binh của Phạm Gia Vĩnh đã phối hợp chiến đấu với quântriều đình
- Chiến sự ở Gia Định và các tỉnh Nam Kì từ 1859 đến 1862:
+ Do bị sa lầy tại Đà Nẵng, tháng 2-1859 Pháp đưa phần lớn quân vào GiaĐịnh mở mặt trận mới Chúng tập trung tại Vũng Tàu rồi theo sông Cần Giờngược lên Sài Gòn, quân ta chống trả mạnh mẽ nên phải mất một tuần Phápmới tới Gia Định
+ Sáng 17-2, Pháp đánh thành Gia Đình và đến trưa chiếm được thành Tuynhiên sau đó Pháp vấp phải những khó khăn mới, các đội nghĩa quân ngàyđêm bám sát, bao vây, tiêu diệt địch, hoảng sợ Pháp phá thành Gia Định vàrút xuống tàu chiến
+ Lúc này do Pháp bị sa lầy ở chiến trường Italia và Trung Quốc nên mộtphần quân ở Gia Định và Đà Nẵng phải tiếp viện, chính vì vậy số quân Phápcòn lại ở Việt Nam chỉ khoảng 1000 Tháng 3-1860, Nguyễn Tri Phươngđược điều vào mặt trận Gia Định, ông huy động quân xây dựng Đại đồn ChíHòa với mục đích ngăn chặn Pháp đánh rộng ra
+ Sau khi tình hình chiến sự ở Trung Quốc tạm ổn, tháng 2-1861, Pháp tấncông Đại đồn Chí Hòa, quân ta chống cự quyết liệt nhưng cuối cùng Đại đồnChí Hòa rơi vào tay Pháp, Nguyễn Tri Phương bị thương, thừa thắng Phápchiếm các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, Biên Hòa (miền Đông) và một tỉnhmiền Tây là Mĩ Tho
Trang 31+ Nhân dân Nam Kì đã đứng lên chống Pháp Các toán nghĩa quân củaTrương Định, Nguyễn Trung Trực đánh đắm tàu Hi vọng của Pháp trên sôngVàm Cỏ Đông.
+ Giữa lúc phong trào kháng chiến của nhân dân lên cao thì triều đình kí vớiPháp Hiệp ước Nhâm Tuất (5-6-1862) gồm 12 điều khoản, trong đó cónhững khoản chính như: nhượng hẳn cho Pháp 3 tỉnh miền Đông và đảo CônLôn, bồi thường 280 lạng bạc, mở cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt (ở giữa địaphận thái Bình và Nam Định) cho thương nhân Pháp và Tây Ban Nha buônbán
- Cuộc kháng chiến sau hiệp ước 1862:
+ Hiệp ước cắt đất cầu hòa của triều đình đã gây bất bình trong nhân dân và
sĩ phu, họ bày tỏ thái độ của mình bằng nhiều cách như: Nguyễn Đình Chiểulàm thơ cổ vũ tinh thần yêu nước, còn Trương Định tiếp tục kháng chiến,ông kháng lệnh của triều đình, giương cao cờ “Bình tây Đại nguyên soái”,lấy căn cứ Tân Hòa (Gò Công) làm đại bản doanh chống Pháp Khi bịthương ông đã rút gươm tự sát không chịu rơi vào tay giặc (8-1864) Contrai của ông là Trương Quyền tiếp tục lên Tây Ninh tiếp tục sự nghiệp củacha
- Kháng chiến ở ba tỉnh miền Tây:
Lấy cớ triều đình ủng hộ nhân dân kháng chiến, chỉ trong vòng 5 ngày từ
20 đến 24-6-1867 quân Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây không tốn một viênđạn Tuy nhiên nhân dân miền Tây vẫn anh dũng đứng lên chống Pháp, tiêubiểu có 2 con của Phan Thanh Giản là Phan Tôn, Pham Liêm Nghĩa quâncủa Nguyễn Trung Trực đã chiến đấu với tinh thần: “Bao giờ người Tây nhổhết cỏ nước Nam…” Các cuộc chiến đấu lớn kéo dài đến năm 1875 mới bịdập tắt
- Kháng chiến ở Bắc kì lần thứ nhất (1873-1874)
+ Sau khi chiếm 6 tỉnh ở Nam Kì, Pháp chuẩn bị kế hoạch tấn công Bắc Kì,một mặt chúng củng cố bộ máy cai trị, mặt khác thực hiện “lấy chiến tranhnuôi chiến tranh” Trong khi đó triều đình Huế vẫn thi hành những chínhsách thiển cận (bồi thường chiến phí, khước từ đề nghị cải cách, bỏ bê sảnxuất), đời sống của dân sa sút, một loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra,
tệ hại hơn triều Nguyễn vẫn muốn thương lượng với Pháp
+ Để thực hiện âm mưu xâm lược, Pháp tung gián điệp đội lốt giáo sĩ ra dothám tình hình miền Bắc, tích cực gây cơ sở nội ứng trong một bộ phận dânchúng Tháng 11-1872, Đuypy tự tiện cho tàu ngược sông Hồng lên VânNam buôn bán khi chưa được phép của triều đình, y còn có nhiều hành độngngang ngược như bắt người xuống tàu giam giữ trái phép, cướp phá tài sảncủa nhân dân
Trang 32+ Trái với lẽ thông thường, triều đình Nguyễn không những không có biệnpháp cứng rắn mà vua Tự Đức còn ra lệnh cho Nguyễn Tri Phương khôngđược làm “mất lòng” người Pháp Tệ hại hơn, nhà Nguyễn còn yêu cầu phíaPháp cho người ra Bắc giải quyết vụ Đuypuy Chớp thời cơ, thực dân Phápđiều đại úy Gácniê tức tốc đem quân ra Bắc Tháng 11-1873 ra đến Hà Nội,
y hội quân với Đuypuy và chuẩn bị kế hoạch tấn công ta
+ Mờ sáng ngày 20-11-1873, 200 quân Pháp đánh thành Hà Nội, thành mất,Nguyễn Tri Phương bị trọng thương và sa vào tay giặc, ông nhịn ăn, nhịnuống cho đến chết Ngay sau đó Pháp đánh chiếm nhiều nơi, chỉ trong vòng
ba tuần lễ, các tỉnh thành ở đồng bằng Bắc Bộ lần lượt rơi vào tay Pháp.+ Không chịu khuất phục, nhân dân các tỉnh bị Pháp chiếm đóng đã tự đứnglên tổ chức đánh Pháp Ngày 21-12-1873 Pháp định tiến ra vùng Hoài Đức,đến Cầu Giấy thì bị ta phục kích, chỉ huy quân Pháp là Gácniê bị giết tạitrận Thất bại ở Cầu Giấy làm cho quân Pháp hoang mang lo sợ, nhưng triềuđình Huế lại bỏ lỡ cơ hội, ra lệnh rút quân lên Sơn Tây, và tiếp tục ký kếthiệp ước ngày 15-3-1874 mang tên “Hiệp ước hòa bình và liên minh” TheoHiệp ước này, Pháp rút quân khỏi Hà Nội và các tỉnh Bắc Bộ, nhưng triềuđình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp ở 6 tỉnh, mở các cảng Thị Nại (QuyNhơn), Ninh Hải (Hải Phòng), Hà Nội và sông Hồng cho Pháp được tự dobuôn bán, triều đình Huế không được ký hiệp ước thương mại với nước kháctrái với quyền lợi của Pháp mà không cho Pháp biết trước
- Tình hình nước ta sau Hiệp ước 1874 (Hiệp ước Giáp Tuất)
+ Pháp rút quân nhưng không từ bỏ âm mưu thôn tính miền Bắc Triều đìnhnhà Nguyễn vấp phải sự phản ứng quyết liệt của nhân dân và một bộ phậnquan lại phong kiến Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, trong khi đó ở ngoài Bắcbọn thổ phỉ, hải phỉ ra sức hoành hành ở vùng biên giới Triều đình Nguyễnphải cầu cứu nhà Thanh và Pháp giúp đỡ Đất nước rơi vào cảnh rối ren cựcđộ
+ Trong vòng 10 năm kể từ khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất, nhiều
sĩ phu có tâm huyết đề nghị duy tân, cải cách đất nước nhưng đều bị cựtuyệt Kết quả là tình hình đất nước ngày càng suy yếu, đời sống nhân dân
cơ cực, trong khi đó các nước đế quốc đang tiến nhanh sang giai đoạn đếquốc chủ nghĩa… tình hình đó thôi thúc Pháp ra tay hành động để chiếm lấynước ta
- Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882- 1883) và cuộc kháng chiến củanhân dân Bắc Kì, Trung Kì
+ Những năm 70 của thế kỉ XIX, yêu cầu thị trường không còn là mưu đồcủa một nhóm hiếu chiến mà trở thành chủ trương chung của giới tư bản tàiphiệt đang nắm quyền tại Pháp Bắc Kì dân đông, tài nguyên phong phú làmiếng mồi ngon không thể bỏ qua
Trang 33+ Để can thiệp vũ trang, Pháp lấy cớ triều đình Huế không thi hành đúng cácđiều khoản Hiệp ước 1874, vẫn tiếp tục giao thiệp với Trung Quốc, ngănngười Pháp không cho đi lại buôn bán, cấm và giết đạo ngày 3-4-1882,Rivie đưa 500 quân Pháp tiến ra Hà Nội.
Sáng 25-4-1882, Rivie gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hoàng Diệu buộcphải nộp thành cho chúng, hạn chưa hết, Pháp nổ súng chiếm thành HoàngDiệu viết tờ di biểu bằng máu gửi triều đình, sau đó tuẫn tiết trong vườn VõMiếu (dưới chân Cột Cờ Hà Nội)
+ Trước hành động ăn cướp trắng trợn của Pháp, triều đình Huế hoangmang, khiếp sợ, Tự Đức cầu cứu nhà Thanh Chớp cơ hội này, nhà Thanhđưa quân sang nước ta nhưng không chống Pháp mà thương lượng với Phápnhằm chia xẻ quyền lợi ở Bắc Kỳ Tự Đức tiếp tục lệnh cho quân đội chínhquy ngoài Bắc rút lên mạn ngược, giải tán các đội vũ trang địa phương Vìvậy tháng 3-1883, Pháp cho quân đánh chiếm vùng mỏ Hồng Gai và QuảngYên, sau đó đánh chiếm Nam Định Như vậy, đây là lần thứ hai phần lớn cáctỉnh miền Bắc rơi vào tay Pháp Bất chấp thái độ của triều đình Nguyễn,trong khi Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng chúng bị nhân dân ta chặnđánh quyết liệt buộc Rivie phải về chốt giữ thành Hà Nội Ngay tại Hà Nội,Pháp cũng bị nghĩa quân áp sát uy hiếp
+ Sáng 19-5-1883, quân Pháp tiến lên Sơn Tây, đến Cầu Giấy chúng rơi vàotrận địa phục kích của ta, nhiều sĩ quan và binh sĩ Pháp bị giết và bị thương,Rivie chết tại trận, số còn lại chạy thục mạng về thành Quân Pháp hoangmang dao động, đô đốc mới thay Rivie định bỏ Hà Nội, Nam Định về cố thủtại Hải Phòng Trận thắng thứ hai ở Cầu Giấy làm nức lòng nhân dân cảnước, nhưng triều đình Huế vẫn nuôi ảo tưởng điều đình để lấy lại Hà Nội
- Pháp tấn công Thuận An Hiệp ước Hácmăng (1883) và Hiệp ước Patơnốt(1884)
+ Ngày 17-7-1883, vua Tự Đức qua đời, triều đình nhà Nguyễn rơi vào tìnhtrạng chia rẽ lục đục Bọn Pháp thừa thời cơ đánh thẳng vào cửa biển ThuậnAn
+ Ngày 18-8-1883, hạm đội Pháp nổ súng tấn công Thuận An, ngày 20-8Thuận An rơi vào tay Pháp, triều đình Huế hốt hoảng cử người xin đìnhchiến Cao ủy Pháp Hácmăng đưa ra một bản điều ước thảo sẵn buộc triềuđình Huế phải chấp nhận ký kết với các điều khoản chính như:
+ Thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc và Trung Kỳ, khu vực của triềuđình Huế thu hẹp từ Khánh Hòa đến Đèo Ngang Đại diện của chính phủPháp (Khâm sứ Pháp) tại Huế có quyền gặp vua bất cứ lúc nào
+ Công sứ Pháp ở các tỉnh ngoài Bắc Kỳ thường xuyên kiểm soát công việccủa triều đình, trực tiếp nắm việc trị an và thuế vụ Mọi việc giao thiệp với
Trang 34nước ngoài đều do Pháp nắm Triều đình Huế phải gọi toàn bộ số quân đãgửi ra Bắc Kỳ về.
- Hiệp ước Hacmăng đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt trong dân chúng.Bất chấp việc bãi binh của triều đình, nhiều quan lại không chịu về kinh đô,kiên quyết chiêu mộ nghĩa quân đánh giặc như Tạ Hiền, Nguyễn ThiệnThuật… hành động này đã có ảnh hưởng đến phái chủ chiến trong triều.+ Phía Pháp cũng thấy rằng không thể chấm dứt chiến sự bằng Hiệp ướcHácmăng, từ tháng 12-1883, khi có thêm viện binh, thực dân Pháp tổ chứcnhiều cuộc hành quân ở miền Bắc, đi đến đâu, quân Thanh rút đến đó Chỉ
có quân của Lưu Vĩnh Phúc ở miền Bắc lúc này là trở ngại lớn nhất với quânPháp
+ Từ đầu 1884, tình hình chiến sự ngoài Bắc diễn ra ác liệt, trong khi đóquân Thanh cam kết rút khỏi miền Bắc Trên đà thắng thế, ngày 6-6-1884,chính phủ Pháp đã buộc triều đình Huế kí Hiệp ước Patơnốt gồm 19 điềukhoản Điều ước này giống như điều ước 1883, nhưng trả lại cho triềuNguyễn các tỉnh Bình Thuận và Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh hòng xoadịu tinh thần đấu tranh, sự căm phẫn của nhân dân và mua chuộc, lung lạcquan lại triều đình Huế
Điều ước 6-6-1884 đặt cơ sở lâu dài cho nền thống trị của Pháp ở ViệtNam Đến đây giai cấp phong kiến Việt Nam đã đầu hàng thực dân Pháp
1.2.3 Phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam cuối thế kỉ XIX
- Cuộc phản công của phái chủ chiến ở kinh thành Huế Phong trào Cầnvương
+ Với hai Hiệp ước 1883, 1884, triều đình Huế nói chung đã đầu hàng Pháp,nhưng Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết vẫn ấp ủ hy vọng khôi phụcchủ quyền đất nước khi thời cơ tới Ông cho bí mật xây dựng căn cứ Tân Sở(vùng núi tỉnh Quảng Trị), một số đồn sơn phòng cũng được gấp rút xâydựng tại Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa Ông còn lập các đội quân “Đoànkiệt” và “Phấn nghĩa” ngày đêm luyện tập
+ Cuộc xung đột giữa phái chống Pháp và phái đầu hàng ngày càng gay gắt,phái chống Pháp đưa Ưng Lịch (hiệu là Hàm Nghi) mới 14 tuổi lên làm vua.Khâm sứ Pháp ở Huế đã viết thư phản đối triều Nguyễn vi phạm các điềuước đã ký kết, đồng thời Pháp bí mật điều quân từ Bắc Kì vào, trắng trợnchiếm đóng đồn Mang Cá (ở góc đông nam thành Huế) Ngày 27-6-1885,tướng Cuốcxi từ Bắc kéo quân vào Huế nhằm bẻ gãy phái chủ chiến trongtriều, Pháp bày mưu cho mời Tôn Thất Thuyết sang họp nhưng ông cáobệnh không sang
Trước sự uy hiếp trắng trợn của kẻ thù, Tôn Thất Thuyết quyết định nổsúng trước để giành thế chủ động Ngày 5-7-1885, ta nổ súng tấn công đồn
Trang 35Mang Cá và tòa Khâm sứ Bị đánh bất ngờ địch hoang mang, nhưng chúngnhanh chóng phản công lại và chiếm kinh thành Huế.
+ Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi ra vùng núi Tân Sở(Quảng Trị) Tại đây, ngày 13-7-1885 Ông nhân danh nhà vua ra lời kêu gọi
cả nước đứng lên phò vua cứu nước Ngay sau đó một phong trào chốngPháp bùng lên mạnh mẽ trên cả nước ta – phong trào Cần vương kéo dài 10năm và chia làm hai giao đoạn:
+ Giai doạn 1: từ 1885 đến 11-1888 đây là giai đoạn phong trào còn đặt dưới
sự chỉ huy thống nhất của một triều đình kháng chiến, đứng đầu là HàmNghi và Tôn Thất Thuyết
+ Giai đoạn 2: từ 1888 đến 1896: khi vua Hàm Nghi bị bắt, nghĩa quânchuyển địa bàn hoạt động lên miền núi và quy tụ thành những cuộc khởinghĩa lớn, có trình độ tổ chức cao
+ Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892)
Căn cứ Bãi Sậy là một vùng nằm chủ yếu trong 5 huyện thuộc tỉnh HưngYên Không chịu nghe theo lệnh bãi binh của triều đình, Nguyễn ThiệnThuật đã chiêu mộ nghĩa quân và lập căn cứ chống Pháp Lợi dụng địa bànhiểm trở, từ 1885 đến 1889 nghĩa quân đã phân tán thành từng toán nhỏ, ởlẫn với dân và tổ chức nhiều trận đánh quân Pháp Trước ảnh hưởng củacuộc khởi nghĩa, một mặt Pháp cho lập hệ thống đồn bốt dày đặc, mặt khácdùng tên tay sai Hoàng Cao Khải, tấn công vào căn cứ Từ cuối năm 1889,nghĩa quân dần tan rã
+ Khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887)
Ba Đình là tên gọi vùng đất giữa ba làng Mĩ Khê, Thượng Thọ, Mậu Thịnhthuộc huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa Lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa là PhạmBành, Đinh Công Tráng Nghĩa quân đã xây dựng được một tuyến phòng thủvững chắc, lợi hại, 300 chiến sĩ đã chiến đấu suốt 34 ngày đêm (từ 18-12-
1886 đến 20-1-1887) trong vòng vây của 3.000 quân địch có pháo binh yểmtrợ làm cho chúng thiệt hại nặng nề Kẻ địch phải dùng dầu đốt cháy bãi tre,
sử dụng pháo binh tàn phá mới tiến quân vào được Chiếm được căn cứ quânPháp đã tàn sát rất dã man dân thường và các chiến sĩ Ba Đình hòng uy hiếptinh thần đấu tranh của nhân dân ta
+ Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887 – 1892)
Khi căn cứ Ba Đình thất thủ, ở Hùng Lĩnh (Vĩnh Lộc – Thanh Hóa) hìnhthành một trung tâm kháng chiến mới, lãnh đạo là Tống Duy Tân và Cầm BáThước Nghĩa quân được tổ chức chặt chẽ, hoạt động trên một địa bàn rộng,gây cho Pháp rất nhiều khó khăn
+ Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1896)
Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa là Phan Đình Phùng, ông từng thi đậu tiến sĩnhưng phản đối triều Nguyễn nên bị cách chức về quê ở làng Đông Thái,
Trang 36Đức Thọ, Hà Tĩnh Nghe theo tiếng gọi Cần vương, ông cùng Cao Thắng tậphợp nghĩa quân, xây dựng căn cứ ở hai huyện Hương Sơn và Hương Khêthuộc miền tây tỉnh Hà Tĩnh để chống Pháp Nhằm mở rộng ảnh hưởng,Phan Đình Phùng còn bắt liên lạc với một số lãnh tụ của phong trào ngoàiBắc Năm 1889 lực lượng nghĩa quân lên tới 1.000 người với 500 tay súng.Nghĩa quân được tổ chức chặt chẽ, chia thành 15 đơn vị gọi là quân thứ, hoạtđộng ở bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình Căn cứ chínhđóng tại Ngàn Trươi, Vụ Quang (thuộc huyện Hương Khê).
Năm 1892, Pháp mở cuộc càn quét lớn vào căn cứ nhưng nghĩa quân đãphân tán thành từng đội nhỏ, dùng lối đánh du kích chống càn, rồi bí mậtđánh đột nhập vào thị xã Hà Tĩnh, giải phóng tù nhân khiến Pháp và tay sai
vô cùng hoảng sợ
Để đối phó lại, Pháp cho xây dựng hệ thống đồn bốt dày đặc, chia quânthành từng toán nhỏ, đồng thời mở nhiều cuộc tấn công vào căn cứ NgànTrươi làm cho nghĩa quân tổn thất nặng Năm 1893 Cao Thắng đưa quânxuống Nghệ An nhằm thoát khỏi thế bị bao vây nhưng trong một trận chiếnđấu tại Thanh Chương Cao Thắng hy sinh Lợi dụng cơ hội này Pháp tậptrung lực lượng chúng vừa đánh thọc sâu, vừa bao vây chia cắt, năm 1894nghĩa quân rút về căn cứ
Tháng 8-1895, Pháp huy động 3.000 quân mở cuộc tấn công lớn, một sốchỉ huy nghĩa quân rơi vào tay giặc, quân sĩ bị hao hụt nhiều, ngày 28-12-
1895 Phan Đình Phùng mất, cuộc khởi nghĩa dần dần tan rã
+ Cuộc khởi nghĩa Yên Thế (Bắc Giang) (1884 – 1913)
Lãnh đạo khởi nghĩa phần lớn là nông dân, tiêu biểu là Đề Nắm (LươngVăn Nắm) và Đề Thám Bằng cách tổ chức đánh du kích, nghĩa quân hoạtđộng mạnh ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Yên, Phúc Yên, đã tự sản xuấtđược vũ khí Nhiều nhà yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đãđến liên lạc với nghĩa quân Yên Thế Năm 1906 Đề Thám ra nhập hội DuyTân, nhận Cường Để làm hội chủ, dung nạp những nghĩa sĩ Trung Kì gặpnạn, thành lập đảng Nghĩa Hưng ở Hà nội từ đây hoạt động của nghĩa quânYên Thế được mở rộng Từ 1909 Pháp tăng cường lực lượng đàn áp cuộckhởi nghĩa, ngày 10-3-1913 Đề Thám hy, cuộc khởi nghĩa sau gần 30 nămchiến đấu đã kết thúc
Như vậy, phải mất hơn 30 năm chinh phục nước ta từ 1858-1896, thực dânPháp mới cơ bản thiết lập được ách thống trị của chúng ở Việt Nam Tuythất bại nhưng các phong trào cứu nước nửa sau thế kỷ XIX của nhân dân ta
đã bồi đắp truyền thống yêu nước chống ngoại xâm và chuẩn bị cho cơn bãotáp cách mạng ở những giai đoạn sau này
2.2 Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất
Trang 372.2.1 Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội và tư tưởng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Sau khi căn bản hoàn thành việc bình định Việt Nam về quân sự và xâydựng bộ máy cai trị, Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứnhất nhằm vơ vét tài nguyên khoáng sản và đàn áp phong trào cách mạngcủa nhân dân ta Pháp xây dựng hệ thống giao thông đường bộ và đường sắtkhá hiện đại Đẩy mạnh khai thác mỏ, nhất là than đá ở vùng Hòn Gai -Quảng Yên mang về Pháp hay bán ra thị trường thế giới Một số nhà máyđiện, nước, xi măng, dệt, xay sát gạo được xây dựng nhằm lợi dụng nguồnnhân công rẻ mạt của nước ta, chúng cũng sản xuất một số mặt hàng khôngcạnh tranh được với công nghiệp chính quốc, hoặc đưa lại lợi ích cao hơnđưa từ nước Pháp sang
- Việc cướp đoạt ruộng đất mở đồn điền được đẩy mạnh, hàng vạn ha ruộngđất đã bị các ông chủ Pháp chiếm đoạt để trồng lúa, chè, cao su Nhân dân tacòn khốn đốn trăm đường về nạn sưu cao, thuế nặng, các thứ thuế mớichồng chất lên các thứ thuế có từ trước khi Pháp tới Tai hại nhất là thuếmuối, rượu, thuốc phiện
- Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nambước đầu thay đổi, xã hội Việt Nam phân hóa rõ rệt từ đầu thế kỷ XX Cácgiai cấp mới ra đời, trong đó quan trọng nhất là sự tập hợp đội ngũ côngnhân, họ trở thành công nhân từ nhiều nguồn khác nhau: một số nông dân bịphá sản do ruộng đất bị địa chủ chiếm đoạt phải bỏ làng xóm ra đi rồi xinvào trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, đồn điền của thực dân Pháp hay
tư sản người Việt bán sức lao động làm thuê Giai cấp tư sản xuất hiện, tầnglớp tiểu tư sản ngày càng đông đảo cùng với công cuộc khai thác của Pháp
- Tình hình trong nước có những thay đổi quan trọng, trong khi đó ở bênngoài, phong trào cải cách chính trị - văn hóa ở Trung Quốc ảnh hưởng sâusắc đến Việt Nam, qua các tác phẩm của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu
tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây của Rút Xô, Môngtetxkiơ được giớithiệu với sĩ phu Việt Nam Sự phát triển nhanh của chủ nghĩa tư bản NhậtBản, đặc biệt là chiến thắng của Nhật trong chiến tranh với Nga hoàng 1905cũng có tiếng vang lớn trên thế giới, nhất là đối với các dân tộc châu Á,trong đó có Việt Nam
2.2.2 Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu
+ Phan Bội Châu là sĩ phu nổi tiếng đất Nghệ An, ông sinh ngày 26-12-1867
ở Nam Đàn, Nghệ An, trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêunước, mất ngày 20-10-1940 Ông tham gia nhiều hoạt động yêu nước, chủtrương bạo động vũ trang đánh đuổi Pháp Năm 1904, ông cùng một số