Chương 1YÊU CẦU CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX1.1. Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX1.1.1. Tình hình thế giới1.1.2. Tình hình Việt Nam trước khi Pháp xâm lược năm 18581.1.3. Nhà Nguyễn đầu hàng và từng bước làm tay sai cho Pháp.Hiệp ước Hacmang (1883).Hiệp ước Patonot (1884). Cuộc phản công của phái chủ chiến ở Huế1.1.4. Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX1.2. Yêu cầu của lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XXChương 2SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ SỰ THẮNG LỢI CỦA CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN T62.1. Phong trào dân tộc chuyển từ lập trường phong kiến sang lập trường tư sản2.1.1. Sự khủng hoảng đường lối lãnh đạo cách mạng2.1.2. Những biến đổi của tình hình thế giới2.2. Các xu hướng cứu nước, giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX2.2.1. Tình hình thế giới và tác động của nó đến việc hình thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc2.2.2. Tình hình trong nước2.2.3. Đặc điểm và thái độ chính trị các giai cấp trong xã hộiGiai cấp tư sản Giai cấp công nhân2.2.3 Con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Phan Bội Châu+ Từ 18871897 Thời kỳ từ 18971904: Thời kỳ thứ 3: 190519122.2.4. Con đường cách mạng dân chủ tư sản của Phan Châu Trinh2.2.5. Phong trào yêu nước của tiểu tư sản, tư sản dân tộcGiai cấp tư sản dân tộc:Giai cấp tiểu tư sản Tổ chức Tâm Tâm xã Việt Nam nghĩa đoàn (Phục Việt) Việt Nam Quốc dân đảng2.4. Con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam Hoạt động tìm đường cứu nước, GPDT của Nguyễn Tất Thành+ Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)+ Đường kách mệnh (1927) Cương lĩnh giải phóng dân tộc (21930) Luận cương chính trị (101930)2.4. Lựa chọn con đường Cách mạng vô sản phù hợp với xu thế thời đại và yêu cầu của lịch sử dân tộc.Chương 3QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM TỪ NĂM 1930 ĐẾN NAY THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN3.1. Giai đoạn 193019453.2. Giai đoạn 194519543.3. Giai đoạn 195419753.4. Giai đoạn 1975 nay 19751985 1986nay…………………………………………………………………………………………
Trang 1SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX.
Chương 1
YÊU CẦU CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ
KỶ XX
1.1 Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.1.1 Tình hình thế giới
1.1.2 Tình hình Việt Nam trước khi Pháp xâm lược năm 1858
1.1.3 Nhà Nguyễn đầu hàng và từng bước làm tay sai cho Pháp
Hiệp ước Hacmang (1883)
Hiệp ước Patonot (1884)
- Cuộc phản công của phái chủ chiến ở Huế
1.1.4 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.2 Yêu cầu của lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Chương 2
SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ SỰ THẮNG LỢI CỦA CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN T6 2.1 Phong trào dân tộc chuyển từ lập trường phong kiến sang lập trường tư sản
2.1.1 Sự khủng hoảng đường lối lãnh đạo cách mạng
2.1.2 Những biến đổi của tình hình thế giới
2.2 Các xu hướng cứu nước, giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX
2.2.1 Tình hình thế giới và tác động của nó đến việc hình thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc
2.2.2 Tình hình trong nước
2.2.3 Đặc điểm và thái độ chính trị các giai cấp trong xã hội
*Giai cấp tư sản
* Giai cấp công nhân
2.2.3 Con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Phan Bội Châu
+ Từ 1887-1897
- Thời kỳ từ 1897-1904:
- Thời kỳ thứ 3: 1905-1912
2.2.4 Con đường cách mạng dân chủ tư sản của Phan Châu Trinh
2.2.5 Phong trào yêu nước của tiểu tư sản, tư sản dân tộc
Giai cấp tư sản dân tộc:
Giai cấp tiểu tư sản
- Tổ chức Tâm Tâm xã
- Việt Nam nghĩa đoàn (Phục Việt)
- Việt Nam Quốc dân đảng
2.4 Con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam
- Hoạt động tìm đường cứu nước, GPDT của Nguyễn Tất Thành
+ Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)
+ Đường kách mệnh (1927)
- Cương lĩnh giải phóng dân tộc (2-1930)
Trang 2- Luận cương chính trị (10-1930)
2.4 Lựa chọn con đường Cách mạng vô sản phù hợp với xu thế thời đại và yêu cầu của lịch sử dân tộc.
Chương 3
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM TỪ NĂM
1930 ĐẾN NAY THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN
3.1 Giai đoạn 1930-1945
3.2 Giai đoạn 1945-1954
3.3 Giai đoạn 1954-1975
3.4 Giai đoạn 1975- nay
- 1975-1985
- 1986-nay
………
CÁC XU HƯỚNG CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM
(1858 - 1945) ĐẶT VẤN ĐỀ
- Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, từ một nhà nước phong kiến độc lập,
Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp
- cầu GPDT là khách quan, nhưng muốn giải phóng dân tộc thì phải đấu tranh, phải làm cách mạng
- Mặc dù triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng (1884) nhưng các cuộc đấu tranh của nhân
ta chống thực dân Pháp vẫn liên tiếp nổ ra
- Mở đầu là phong trào “Cần vương” của các văn thân, sĩ phu phong kiến cuối thế kỷ XIX
- Tiếp đến là của các sĩ phu phong kiến theo con đường cách mạng tư sản đầu thế kỷ XX
- Bước sang những năm 20 của thế kỷ XX, giai cấp công nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng
- Thông qua các cuộc đấu tranh, họ từng bước khẳng định là đủ sức gánh vác sứ mạng
mà lịch sử giao phó là lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc
- Sự chiến thắng của con đường cứu nước GPDT theo con đường cách mạng vô sản gắn với vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc nhưng đó là quá trình đấu tranh và lựa chọn của lịch sử
- Trong mấy thập kỷ, các xu hướng cứu nước GPDT đấu tranh lẫn nhau để giành quyền lãnh đạo cách mạng
- Kết quả là con đường cứu nước phù hợp với yếu tố dân tộc và thời đại đã thắng
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn khi nghiên cứu chuyên đề này vẫn có giá trị trong giai đoạn hiện nay
YÊU CẦU
- Nắm vững kiến thức lịch sử;
- Vận dụng hiểu biết để giải thích các sự kiện lịch sử, quy luật lịch sử;
- Học tập chuyên đề có những yêu cầu riêng, nhưng mục đích là trang bị cho sinh viên những hiểu biết sâu sắc về lịch sử.
- Hình thành thế giới quan và nhân sinh quan cộng sản, có hành động đúng đắn trong cuộc sống.
………
Trang 3SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX.
Chương 1
YÊU CẦU CỦA LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ
KỶ XX
1.1 Tình hình thế giới và Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
1.1.1 Tình hình thế giới
- Trên phạm vi thế giới, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn độc quyền nhà nước
- Yêu cầu thị trường trở thành lẽ sống còn đối với các nước đế quốc
- Phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng trở thành…
- Nhiều nước đế quốc nhòm ngó Việt Nam: Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp
- Trong cuộc chạy đua xâm chiếm nước ta, Pháp có thuận lợi hơn các nước khác
+ Các thương nhân và giáo sĩ có mặt sớm
+ Cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lực nước ngoài để khôi phục quyền lực
+ Triều Nguyễn thi hành chính sách cấm đạo, giết đạo
+ Quân đội nhà Nguyễn trang bị lạc hậu
1.1.2 Tình hình Việt Nam trước khi Pháp xâm lược năm 1858
- Trước khi Pháp xâm lược, Việt Nam là quốc gia phong kiến độc lập, có chủ quyền nhưng kinh tế sa sút, chính trị rối ren…
- Triều đình phong kiến nhà Nguyễn thi hành chính sách đối nội và đối ngoại phản động cản trở sự phát triển của đất nước
- Tư tưởng phong kiến, quan hệ sản xuất phong kiến trở nên hết sức lỗi thời
- Các cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tục nổ ra
- Các đề nghị cải cách canh tân đất nước của các nhà Nho tiến bộ bị nhà nước phong kiến khước từ
- Năm 1856, Chính phủ Pháp quyết định đem quân xâm lược Việt Nam
- Cuộc xâm lược được dọn đường bằng một loạt hành động khiêu khích trong hai năm
1856, 1857
- Ngày 31-8-1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng
- Ngày 1-9-1858, Pháp nổ súng xâm lược nước ta
1.1.3 Nhà Nguyễn đầu hàng và từng bước làm tay sai cho Pháp.
- Khi Pháp tấn công Đà Nẵng, nhà Nguyễn đã cử Nguyễn Tri Phương và quân đội chặn đánh Pháp
- Tiếp sau đó, ở Nam Kì cũng như Bắc Kì, nhà Nguyễn đều có những hành động chống lại cuộc xâm lăng của Pháp
-Tuy nhiên, do sai lầm về đường lối chiến lược và phương án tác chiến
- Do thái độ cầu hòa, coi trọng lợi ích dòng họ Lợi ích giai cấp… cho nên Pháp đã thôn tính được nước ta
- Với hiệp ước 1883 và Hiệp ước 1884 nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp
Hiệp ước Hacmang (1883).
- Nội dung quy định quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì.
+ Khu vực của triều đình Huế từ Khánh Hòa đến Đèo Ngang
Trang 4+ Khâm sứ Pháp tại Huế có quyền gặp vua bất cứ lúc nào.
+ Triều đình Nguyễn phải gọi toàn bộ số quân ở Bắc Kì về
+ Giao thiệp với nước ngoài (kể cả với Trung Quốc) do Pháp nắm giữ…
Như vậy, Nhà Nguyễn mất quyền quân sự và ngoại giao, mất chủ quyền
Hiệp ước Patonot (1884).
- Hiệp ước Hácmăng vấp phải sự phản ứng quyết liệt của nhân dân
+ Một số quan lại như Tạ Hiền, Nguyễn Thiện Thuật… đã chiêu mộ binh sĩ chống Pháp + Hành động này ảnh hưởng đến phái chủ chiến trong triều đình Huế
- Hòng xoa dịu nhân dân và lung lạc tinh thần quan lại nhà Nguyễn, ngày 6-6-1884, Chính phủ Pháp ký với triều Nguyễn hiệp ước Patơnốt gồm 19 điều khoản
Điều ước này giống điều ước 1883 nhưng trả lại 4 tỉnh miền Trung cho triều đình
- Với Hiệp ước 1884, nhà nước phong kiến Việt Nam đã đầu hàng Pháp
- Hiệp ước 1884 còn là cơ sở lâu dài cho nền thống trị của Pháp ở Đông Dương
Như vậy, Mặc dù tính toán và quyết tâm chiếm nước ta bằng một cuộc “chiến tranh chớp nhoáng” nhưng Pháp đã phải mất 26 năm mới cơ bản khuất phục được
(1858-1884)
- Sau 1884 Pháp tổ chức nền thống trị mới nhằm vơ vét tài nguyên và bóc lột sức lao động của nhân dân ta
- Triều đình phong kiến thì đầu hàng Pháp, nhưng dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam thì kiên quyết chống Pháp
- Bất chấp ách kìm kẹp của Pháp và lệnh bãi binh của triều đình, các cuộc đấu tranh vũ trang vẫn liên tiếp nổ ra
- Đáng kể nhất trong phong trào vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX là phong trào Cần vương (1885-1896).
- Cuộc phản công của phái chủ chiến ở Huế
- Với việc ký kết 2 Hiệp ước, Pháp hoàn thành cơ bản công cuộc xâm lược Việt Nam Tuy nhiên, Pháp đã vấp phải sự phản kháng của một số quan lại, văn thân, sĩ phu và nhân dân các địa phương
- Phái chủ chiến trong triều do Tôn Thất Thuyết cầm đầu đã mạnh tay hành động:
+ Phế bỏ những ông vua thân Pháp, đưa Hàm Nghi lên ngôi vua
+ Trừ khử những người không cùng chính kiến
+ Bí mật xây dựng căn cứ Tân Sở (Quảng Trị), ra sức tích lũy lương thực, luyện tập…
- Trước tình hình đó, Pháp quyết định loại bỏ phái chủ chiến
- Biết được âm mưu này, ngày 5-7-1885, Tôn Thất Thuyết và lực lượng chủ chiến trong triều đình quyết định ra tay trước
+ Bị đánh bất ngờ quân Pháp hoang mang nhưng nhanh chóng phản công lại và đánh chiếm kinh thành Huế
+ Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua ra Tân Sở (Quảng Trị)
+ Ngày 13-7-1885, Ông nhân danh nhà vua ra “Chiếu Cần vương” kêu gọi nhân dân đứng lên phò vua cứu nước
+ Ngay sau đó, một phong trào chống Pháp bùng lên mạnh mẽ trên cả nước ta – Phong trào “Cần vương” kéo dài hơn 10 năm
- Phong trào kết tinh thành các cuộc khởi nghĩa lớn
1.1.4 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
Trang 5- Sau khi triều đình nhà Nguyễn đầu hàng (1884) và Pháp cơ bản bình định xong nước ta (1896) thì tính chất xã hội Việt Nam có sự thay đổi:
+ Từ xã hội phong kiến chuyển sang xã hội thuộc địa nửa phong kiến (giải thích hạ tầng
và thượng tầng)
+ Kinh tế, chính trị… đã có yếu tố tư bản nhưng mờ nhạt, què quặt)
+ Xã hội bắt đầu phân hóa dù chưa sâu sắc
+ Các tư tưởng mới từ bên ngoài bắt đầu thâm nhập vào
- Trên thực tế, bộ máy nhà nước trung ương (triều đình nhà Nguyễn) đã bị vô hiệu hóa, xong ở thôn xã sự tự chủ vẫn còn giữ được
- Người Pháp cố duy trì tình trạng kém phát triển của thuộc địa và thực hiện chính sách văn hóa giáo dục nô dịch ngu dân
- Trở thành thuộc địa của Pháp có nghĩa là nền độc lập dân tộc bị xâm phạm, chủ quyền quốc gia không còn, quyền lợi đại bộ phận nhân dân bị chà đạp…
- Trong các cái mất đó thì đâu là quan trọng nhất?
- Trước khi Pháp xâm lược, trong xã hội Việt Nam tồn tại nhiều mâu thuẫn:
+ Địa chủ - nông dân
+ Mâu thuẫn trong nội bộ các giai cấp
+ Những cản trở xã hội
+ Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
+ Mở cửa và bế quan…
- Khi thực dân Pháp xâm lược, xã hội xuất hiện thêm những mâu thuẫn mới:
+ Mâu thuẫn dân tộc
+ Mâu thuẫn giai cấp
- Yêu cầu GPDT trở thành bức thiết nhất
- Từ Toàn quyền Pháp Pon Dume, chương trình khai thác thuộc địa được đẩy mạnh Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp với mục đích là vơ vét và bóc lột nhân dân ta nhưng khách quan lại dẫn tới những thay đổi nằm ngoài mong muốn của Pháp:
+ Các giai cấp mới ra đời: công nhân, tư sản, tiểu tư sản
+ Các tư tưởng mới, quan niệm mới, giá trị mới được truyền bá vào nước ta, đặc biệt là
tư tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng
- Như vậy, chính người Pháp đã tạo ra miếng đất mới cho các tư tưởng mới có điều
kiện nảy mầm và phát triển.
1.2 Yêu cầu của lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
- Từ những thay đổi trên đây ta thấy yêu cầu của lịch sử dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là:
- Đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc;
- Đánh đổ phong kiến tay sai giải phóng giai cấp;
- Tạo điều kiện cho tư tưởng mới tiến bộ thâm nhập và phát triển
- Gạt bỏ những cản trở của sự phát triển (tư tưởng phong kiến, )
- Tạo điều kiện để Việt Nam tiến kịp thời đại
- So với yêu cầu của lịch sử dân tộc trước khi Pháp xâm lược thì yêu cầu của lịch sử dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bao hàm nội dung lớn hơn, sâu sắc hơn
Trang 6Chương 2
SỰ LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ SỰ THẮNG LỢI CỦA CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG VÔ SẢN
2.1 Phong trào dân tộc chuyển từ lập trường phong kiến sang lập trường tư sản 2.1.1 Sự khủng hoảng đường lối lãnh đạo cách mạng
- Các phong trào yêu nước của nhân dân ta cuối thế kỷ XIX phát triển mạnh mẽ nhưng không giành được độc lập cho dân tộc
- Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX chỉ ra rằng:
+ Ngọn cờ mà giai cấp phong kiến giương lên không đủ sức tập hợp lực lượng, đã lỗi thời.(đánh pháp giành độc lập, khôi phục lại ngôi vua)
+ Nhân dân ta căm thù Pháp nhưng rất chán ghét chế độ phong kiến chuyên chế
+ Vai trò lịch sử của giai cấp phong kiến đã hết
+ Cần thiết phải có một con đường cứu nước mới đáp ứng được yêu cầu của dân tộc và thời đại
+ Ở nước ta thì giai cấp nào sẽ hoàn thành sứ mệnh này?
2.1.2 Những biến đổi của tình hình thế giới
- Bước sang thế kỷ XX, trên thế giới diễn ra nhiều biến động, có ảnh hưởng trực tiếp đến nước ta:
+ Cách mạng tư sản Nga năm 1905
+ Các sách báo tiến bộ từ Trung Quốc: Tân báo, tác phẩm của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi…
+ Các sách từ phương Tây của Rút xô, Mông Tetxkio và các tư tưởng mới
+ Sự thắng lợi của Nhật Bản trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật năm 1905
+ Nhiều nước phương Đông bừng tỉnh
- Tình hình trên tác động mạnh mẽ đến nước ta, trước tiên là với tầng lớp trí thức cấp tiến (các nhà Nho có tư tưởng tiến bộ)
+ Bằng hiểu biết của mình và trách nhiệm với đất nước, bộ phận này nhận thức được cái hay của trào lưu tư tưởng mới
+ Họ cũng thấy được hạn chế của đường lối cứu nước theo lập trường của giai cấp
phong kiến
+ Nguyên nhân của việc mất nước và tình trạng lạc hậu của dân tộc…
- Các nhà yêu nước đầu thế kỷ XX đề cập đến vấn đề hoàn toàn mới mẻ Phan Bội Châu cho rằng:
+ Mất nước là mất chủ quyền, chủ trương giành lại độc lập, khôi phục chủ quyền
+ Biện pháp cứu nước là: “Mở mang dân trí, bồi dưỡng nhân tài”; hoặc “Chấn hưng dân trí…”
- Tiến thêm một bước nữa trên con đường nhận thức là xác định rõ chính thể của nước Việt Nam trong tương lai
+ Tôn chỉ của Duy Tân hội là: “Đánh đuổi Pháp, khôi phục Việt Nam thành nước quân chủ lập hiến”
- Từ năm 1906, tư tưởng dân chủ, dân quyền về chính thể rõ ràng hơn:
+ Từ nhận thức Vua là chủ thể của đất nước chuyển sang Dân là chủ thể của đất nước:
“Dân ta là chủ thể của nước non”
Trang 7- Phan Châu Trinh lại khẳng định: “Nếu không đánh đổ nền quân chủ thì có khôi phục được nước cũng không hạnh phúc”
- Trong thư gửi cho Toàn quyền Pháp năm 1906 Phan Châu Trinh yêu cầu Pháp cải cách hành chính, thành thật “khai hóa văn minh”
- Về kinh tế: tư tưởng lúc đó chỉ trích thái độ coi khinh công thương nghiệp, đề xướng phong trào thực nghiệp, khuyến khích phát triển công thương, mở mang ngoại thương
- Về văn hóa: chỉ trích lối học tầm chương trích cú, cải cách nội dung học tập, trước hết
là học khoa học, học buôn bán
Tóm lại:
+ Những nhận thức mới mẻ trên đây chỉ ra rằng tư tưởng phong kiến không còn phù hợp nữa
+ Tư tưởng vương quyền, trọng nông ức thương… đang kìm hãm sự phát triển của dân tộc
- Thực tế ở nước ta những năm đầu thế kỷ XX diễn ra cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa tư tưởng phong kiến và tư tưởng tư sản
- Cuộc đấu tranh về ý thức hệ diễn ra dai dẳng, phức tạp cũng giống như sự lựa chọn con đường cứu nước, GPDT
- Trong khi giai cấp phong kiến tự đánh mất vai trò tập hợp nhân dân, lãnh đạo dân tộc, thì thực tế xuất hiện một xu hướng cứu nước mới có sức cuốn hút hơn – xu hướng cứu
nước theo con đường cách mạng tư sản.
- Không phải ngẫu nhiên mà cuộc vận động Duy Tân đầu thế kỷ XX lại thu hút đông đảo nhân dân tham gia như vậy
2.2 Các xu hướng cứu nước, giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX
2.2.1 Tình hình thế giới và tác động của nó đến việc hình thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc
- Trước năm 1917 trên thế giới chỉ tồn tại một phương thức sản xuất tiến bộ là TBCN
- Sau khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công xuất hiện mới phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất XHCN
- Tình hình kinh tế chính trị thế giới diễn ra những thay đổi nhanh chóng và to lớn
- Năm 1917, cách mạng tháng 10 Nga nổ ra và thắng lợi, cuộc cách mạng này đã:
+ Xuất hiện một nhà nước kiểu mới do công nông làm chủ (nhà nước vô sản)
+ Giải phóng một đất nước rộng lớn diện tích bằng 1/6 Trái Đất
+ Làm rung chuyển thế giới
+ Thức tỉnh các dân tộc phương Đông
+ Mở ra con đường cứu nước mới
+ Cổ vũ các dân tộc đang đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân
- Đến đây trên thế giới tồn tại 2 xu hướng cứu nước, giải phóng dân tộc, và như một tất yếu cùng tác động vào nước ta
- Tình hình thế giới còn có 2 sự kiện nữa tác động vào Việt Nam
+ Một là: Đảng Cộng sản TQ được thành lập (7/ 1921) và sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng TQ do Mao Trạch Đông lãnh đạo
+ Hai là: Quốc tế thứ ba ra đời (1919) và tuyên bố ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc thế giới
Trang 82.2.2 Tình hình trong nước
- Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp được đẩy mạnh (cả về quy mô và tốc độ)
- Mục đích Chương trình khai thác của Pháp là vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động của nhân dân ta, nhưng khách quan thì kinh tế, xã hội Việt Nam biến đổi:
+ Xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới
+ Các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, hành chính
+ Giao thông, cảng, cầu hiện đại
+ Văn học, nghệ thuật, quan điểm… có thay đổi
2.2.3 Đặc điểm và thái độ chính trị các giai cấp trong xã hội
*Giai cấp tư sản
- Là nước thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp tư sản Việt Nam có những điểm chung (giống) và riêng (khác) so với tư sản trên thế giới
+ Điểm chung
Là những người có nhiều tài sản riêng
Kinh doanh công thương nghiệp, dịch vụ
Bóc lột giá trị thặng dư
Lấy lời lãi làm mục đích kinh doanh
Có đầy quyền lực
+ Đặc điểm riêng
Ra đời sau giai cấp công nhân
Có hai bộ phận: tư sản dân tộc và mại bản
Số lượng ít, thế lực yếu
Kinh doanh dịch vụ là chủ yếu
Dễ hoang mang thỏa hiệp
Vừa được nâng đỡ, vừa bị chèn ép
Thành phần xuất thân (làm thầu khoán, đại lý)
Vừa chống đế quốc, vừa sợ đế quốc
- Thái độ chính trị
+ Một bộ phận có tinh thần yêu nước chống Pháp
+ Dễ hoang mang, thỏa hiệp
+ Tư sản dân tộc là một lực lượng quan trọng của cách mạng Việt Nam
* Giai cấp công nhân
+ Đặc điểm chung là:
Không có tư liệu sản xuất
Là giai cấp tiên tiến nhất
Có tinh thần cách mạng triệt để nhất
Có điều kiện lao động và sinh sống tập trung
+ Đặc điểm riêng
Sinh ra trước giai cấp tư sản
Chịu 3 tầng áp bức
Liên hệ gần gũi với nông dân
Không có tầng lớp công nhân quý tộc
Bị bóc lột thậm tệ
Mang trong mình mối thù giai cấp và dân tộc
Trang 9Ngay khi ra đời đã tiếp thu tư tưởng tiên tiến của thời đại
Sinh ra trên một đất nước có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm
- Vấn đề đặt ra là giai cấp nào đủ sức gánh vác sứ mệnh lịch sử, lãnh đạo phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam?
- Ngay khi ra đời, công nhân đã đấu tranh nhưng mang tính tự phát
………
- Phan Bội Châu sinh năm 1867 tại thôn Sa Nam, xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, Nghệ An
- Ông sinh ra trong một gia đình nhà Nho, trên một quê hương giàu truyền thống
- Có tinh thần yêu nước từ rất sớm, ông trở thành nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX
- Năm 1904, tại Quảng Nam Ông lập Hội Duy tân, chủ trương vũ trang chống Pháp, khôi phục độc lập, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến
2.2.3 Con đường cứu nước giải phóng dân tộc của Phan Bội Châu
+ Hội Duy tân, tổ chức phong trào Đông du, cổ động thanh niên sang học tập tại Nhật Bản
+ Phong trào lúc đầu tiến hành thuận lợi, khoảng 200 thanh niên Việt Nam đã sang học tập tại các trường ở Nhật Bản
+ Tháng 8-1909, Pháp - Nhật cấu kết với nhau, trục xuất lưu học sinh Việt Nam về nước, phong trào tan rã
+ Phan Bội Châu cũng bị trục xuất khỏi nước Nhật
- Phan Bội Châu là người yêu nước mẫu mực nhưng đường lối cứu nước của ông khác
nào “Đuổi hùm cửa trước, rước beo cửa sau”.
- Tháng 6-1912, tại Quảng Châu, Phan Bội Châu tuyên bố giải tán Hội Duy tân, thành
lập Việt Nam Quang phục hội
- Tôn chỉ của Hội là đánh đuổi Pháp, thành lập Cộng hòa dân quốc Việt Nam
+ Để gây tiếng vang, Hội cử người về nước trừ khử những tên thực dân đầu xỏ và tay sai
+ Tháng 12-1913, Phan Bội Châu bị giới quân phiệt Trung Quốc bắt và giam ở nhà tù Quảng Đông
- Song song với hoạt động vũ trang, ông còn vận động duy tân đất nước
- Con đường cứu nước của cụ là sự kết hợp tư tưởng vũ trang truyền thống của dân tộc, với yêu cầu của tình hình mới
- Phan Bội Châu được đào tạo trong nền khoa cử cũ, được đào luyện trong khuôn khổ của chế độ phong kiến
- Việc xác định chủ thể chính trị trong Phan Bội Châu là khá phức tạp, đó là quá trình gần 30 năm, có 3 thời kỳ chính sau
+ Từ 1887-1897: thời kỳ chuẩn bị con đường cứu nước, tìm kiếm hướng đi cho mình
Theo PhanBội Châu, đây là thời kỳ có ý nghĩa quan trọng đặc biệt, ông suy ngẫm về phong trào Cần vương, nghiên cứu Tân thư, Tân báo để mở rộng nhãn quan chính trị… ông tiếp nhận và đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản
- Thời kỳ từ 1897-1904:
Trang 10+ Chủ trương xây dựng nền quân chủ lập hiến Thông qua các tác phẩm của mình, ông kêu gọi quan lại tham gia chống Pháp
+ PBC hiểu được nguyên nhân thất bại của các phong trào yên nước trước đây, yêu cầu của lịch sử
+ Tuy nhiên ta cũng thấy rằng PBC chưa thoát hẳn khỏi tư tưởng quân chủ, ông hướng tới một quốc hội lập hiến và một ông vua Cường Để
- Thời kỳ thứ 3: 1905-1912
+ PBC hướng tới nền dân chủ cộng hòa: từ Duy tân hội năm 1905 đến Việt Nam Quang phục hội năm 1912, đây là chuyển biến từ quân chủ lập hiến sang tư tưởng Cộng hòa dân quốc
+ Tháng 2-1905, Ông sang Nhật
+ Ở Nhật ông gặp Lương Khải Siêu, qua tiếp xúc sự hiểu biết và tầm nhìn của ông được
mở rộng
+ PBC bộc bạch “Không sợ không có ngày độc lập mà sợ không có dân độc lập”
+ Khi tiếp kiến với thủ tướng Nhật, Đại Ôi khuyên cổ động thanh niên xuất dương
Trong Chương trình của Duy tân hội, PBC vẫn khẳng định giành độc lập, thành lập nước quân chủ lập hiến, chứng tỏ quân chủ và dân chủ trong con người PBC diễn ra quyết liệt như thế nào
+ Sang năm 1906, trong tác phẩm Hải ngoại huyết thư đã phản ánh Dân - Nước hết sức mới mẻ: “dân là dân nước, do đó phải cứu nước để cứu dân”
+ Sau Cách mạng Tân Hợi 1911, PBC mới từ bỏ tư tưởng quân chủ, chủ trương xây dựng cộng hòa dân quốc
(Qua tôn chỉ của Việt Nam Quang phục hội)
Như vậy, trong con người yêu nước Phan Bội Châu, từ chỗ xác định hướng đi đến tư
tưởng dân chủ là lâu dài và không đơn giản điều đó chứng tỏ:
+ Cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa tiến bộ và bảo thủ
+ Cuộc đấu tranh giữa 2 xu hướng cứu nước
- Nhìn chung, con đường cứu nước GPDT của PBC chứa đựng nhiều điểm tích cực:
+ Đi theo con đường của truyền thống dân tộc
+ Kết hợp được vũ trang với duy tân cải cách
+ Dùng sách báo thơ văn làm vũ khí chiến đấu
+ Khích lệ lòng yêu nước
+ Đào tạo được nhiều cán bộ cho cách mạng
+ Tạo nên phong trào yêu nước sôi nổi
+ Thu hút đông đảo nhân dân tham gia
+ Gắn cách mạng Việt Nam với thế giới
Hạn chế:
+ Sai lầm về đường lối và phương thức hoạt động
+ Chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu khách quan của lịch sử đầu thế kỷ XX
+ Thiếu cơ sở vật chất để hoạt động
+ Mơ hồ về chủ nghĩa đế quốc
+ Tách hai nhiệm vụ chống đế quốc và p kiến