1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lịch sử sử học việt nam và thế giới

59 960 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 689,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuối thời Lê, sử học vẫn khởi sắc với nhiều công trình của các nhà sử học lỗi lạc, trong số này phải nói đến Lê Quý Đôn (1726 1784) – một nhà bác học, nhà tư tưởng, nhà sử học tiêu biểu thời kỳ này. Lê Quý Đôn là người học rộng, tài cao, thành danh từ rất sớm. Sau khi đỗ đạt, ông làm quan dưới triều Lê – Trịnh và từng kinh qua nhiều chức vụ trọng yếu trong triều đình: Thị thư ở Viện Hàn lâm, làm Ban toản tu Quốc sử, tham gia biên tập quyển sử kiêm tư nghiệp Quốc tử giám; được cử đi sứ sang Trung Quốc, làm Hiệp trấn, Tham tán quân cơ ở Thuận Hóa.Sự hiểu biết của Lê Quý Đôn rất uyên bác, thể hiện trong các sách về lịch sử và các ngành khoa học khác. Về sử học, có một số tác phẩm tiêu biểu: Đại Việt thông sử, Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục, Lê triều công thần liệt truyện, Quốc triều tục biên,…

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Vị trí của môn học

Mỗi ngành khoa học đều có lịch sử của nó: sự ra đời, quá trình pháttriển và triển vọng Sự hiểu biết về lịch sử như vậy giúp người học hiểu sâusắc hơn bộ môn đang nghiên cứu Nó cũng có tác dụng đến việc giáo dục tưtưởng, tình cảm, thái độ của thế hệ sau trong việc kính trọng, biết ơn nhữngngười đã góp phần hình thành và phát triển khoa học, xác định trách nhiệmcủa mình trong việc kế thừa thành tựu khoa học và thúc đẩy khoa học tiếptục tiến lên

Khoa học Lịch sử cũng có lịch sử riêng của mình và việc nghiên cứulịch sử sử học cũng có tác dụng về mặt giáo dục, giáo dưỡng và phát triểncho người học, người nghiên cứu Đây là môn học sẽ trang bị cho sinh viêntheo học ngành Lịch sử những hiểu biết cơ bản về khoa học lịch sử thế giới

và lịch sử dân tộc về các vấn đề trọng tâm như sau:

- Bối cảnh lịch sử cho mỗi nền sử học;

- Những thành tự đạt được và những hạn chế của sử học mỗi thời đại;

- Những khái quát lí luận về sử học ở mỗi thời đại, đánh giá về sử học,rút ra các bài học, những kinh nghiệm cho việc phát triển sử học hiện nay(nhất là đối với lịch sử dân tộc);

- Đôi nét về việc giáo dục lịch sử

Những vấn đề này có liên quan chặt chẽ với nhau và có tác dụng nângcao dần sự hiểu biết của sinh viên/ học viên về mặt lí luận cũng như phươngpháp luận Đó là cơ sở rèn luyện cho sinh viên/ học viên có ý thức nghềnghiệp, lòng yêu nghề, yêu trẻ, nhận thức đúng vai trò và ý nghĩa của bộmôn đối với việc giáo dục thế hệ trẻ hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ

2.1 Mục đích

- Giúp người học, người nghiên cứu lịch sử có một cái nhìn bao quát

và hệ thống về khoa học lịch sử từ khi ngành khoa học này ra đời cho đếnnay

Trang 2

- Thông qua việc tìm hiểu các nội dung chính của môn học, người học

sẽ nhận thức được các quan điểm khác nhau về phương pháp nghiên cứu vàbiên soạn lịch sử của các sử gia qua các thời đại Đặc biệt, hình dung đượcquá trình phát triển của nền sử học dân tộc trong nền tổng thể nền sử họcnhân loại, xác định đúng quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận sửhọc mácxít – lêninnít, tham khảo được cách dạy và học bộ môn lịch sử quamỗi thời đại Qua đó, sinh viên sẽ có hứng thú hơn với các môn học về lịch

sử dân tộc và lịch sử thế giới một khi đã nắm vững các vấn đề về lí luận vàphương pháp luận và biết gắn những vấn đề này với kiến thức lịch sử cụ thể

1.2 Nhiệm vụ

- Khái quát những nét cơ bản nhất về lịch sử và khoa học lịch sử

- Phác thảo về quá trình hình thành và phát triển của khoa học lịch sửnói chung và nền sử học Việt Nam nói riêng

- Giới thiệu đến người học tên tuổi và thành tựu nghiên cứu của một

số sử gia nổi tiếng, đặc biệt là những sử gia của nền sử học dân tộc

- Trang bị về phương pháp học tập, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử ởtrường học nhằm thực hiện tốt các chức năng của bộ môn Lịch sử

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp luận

Đảm bảo nguyên tắc của phương pháp luận Mác – Lê nin và tư tưởng

Hồ Chí Minh trong công tác nghiên cứu khoa học về tính chính xác và kháchquan của những vấn đề được nêu ra

3.2 Phương pháp cụ thể

- Đối với người dạy:

+ Trong quá trình thực hiện thao tác giảng dạy, người dạy phải kếthợp nhiều phương pháp: phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp, đánh giá,

… sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, phát huy năng lực tư duy củangười học

+ Thực hiện việc kiểm tra, đánh giá một cách nghiêm túc; theo dõithái độ học tập của SV để kịp thời uốn nắn

- Đối với người học:

Trang 3

+ Kết hợp nghe giảng với nghiên cứu tài liệu, trao đổi tại lớp, thảoluận.

+ Phải liên hệ chặt chẽ với các vấn đề lịch sử đang học để nâng cao sựhiểu biết của mình về môn học cũng như các môn học liên quan

4 Tài liệu tham khảo chính

1 Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (2001), Nhập môn Sử học, Nxb Giáo

dục

2 Phan Ngọc Liên (chủ biên), Nguyễn Thị Côi, Đặng Văn Hồ (1997),

Phương pháp học tập và nghiên cứu lịch sử, Trung tâm đào tạo từ xa, đại

học Huế

3 Phan Ngọc Liên, Nguyễn Ngọc Cơ (2003) (Đồng chủ biên), Lịch sử sử

học Việt Nam, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.

B NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ LỊCH SỬ VÀ KHOA

HỌC LỊCH SỬ 1.1 Lịch sử là một khoa học

1.1.1.Thuật ngữ “Lịch sử”

Thuật ngữ “lịch sử” có từ lâu, được sử dụng rất phổ biến, hàng ngày,song, để hiểu đúng nội dung của nó không phải đơn giản

Về nguồn gốc, trong các ngôn ngữ châu Âu, lịch sử đều có nguồn gốc

từ tiếng Hy Lạp historia Từ này có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là câu chuyện,

chuyện kể về quá khứ hay những hiểu biết về quá khứ; nghĩa thứ hai là lĩnh vực khoa học nghiên cứu về quá khứ Trong ngôn ngữ các dân tộc Á Đông

như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, từ lịch sử có gốc từ Hán, thuật ngữ này có nghĩa là “sự việc đã xảy ra” và “được ghi lại” Ở Trung Quốc, ngay

từ thời nhà Chu, chữ “sử” đầu tiên được dùng để chỉ một chức quan có nhiệm vụ chủ yếu là “ghi chép sự việc đã xảy ra”.

Từ nghĩa ban đầu như vậy, đến nay, khái niệm “lịch sử” có rất nhiềunội dung khác nhau Theo các tác giả biên soạn cuốn sách “Nhập môn sửhọc” (sách do GS Phan Ngọc Liên chủ biên), thuật ngữ “lịch sử” được hiểutheo hai nghĩa cơ bản sau đây:

Thứ nhất, “lịch sử” dùng để chỉ quá trình lịch sử khách quan xảy ra

trong xã hội loài người Đó là hiện thực lịch sử, tồn tại hoàn toàn kháchquan, không phụ thuộc vào ý muốn, nguyện vọng của con người Dù con

Trang 4

người có nhận thức được hay không, giải thích như thế nào, nó vẫn đã xảy

ra, đã từng tồn tại

Thứ hai, “lịch sử” là sự hiểu biết của con người về những gì đã xảy

ra, được ghi bằng lời nói, qua các câu chuyện dân gian hay được ghi lại bằngvăn tự và đạt tới sự ra đời của khoa học lịch sử Đó là khoa học nghiên cứucác sự kiện, hiện tượng lịch sử đã xảy ra trong xã hội loài người, phát hiện raquy luật phát sinh, phát triển của nó

Trong thực tế, hai hàm nghĩa trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

để chỉ hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử: không có “hiện thực lịch sử”thì cũng không có “nhận thức lịch sử”; “nhận thức lịch sử” có phù hợp với

“hiện thực lịch sử” thì mới có “khoa học lịch sử” Không có khoa học lịch sửthì quá khứ xã hội loài người vẫn là ẩn số, là bí hiểm mà con người chưa biếtđược

Trong Bách khoa toàn thư Xô viết về lịch sử (dẫn theo giáo trình Nhập

môn sử học của PGS.TS Cao Thế Trình), thuật ngữ “lịch sử” được định

nghĩa như sau: “Lịch sử là một (hay một tập hợp) các ngành khoa học,

nghiên cứu về sự phát triển của xã hội loài người trong tất cả những biểu hiện cụ ể và đa dạng của nó với mục đích nhằm hiểu biết về hiện tại và triển vọng của nó trong tương lai”.

Với định nghĩa trên, đối tượng và mục đích nghiên cứu của khoa họclịch sử được nêu rõ, hay nói cách khác, nó thỏa mãn những tiêu chí về địnhnghĩa một lĩnh vực khoa học Trong đó, đối tượng nghiên cứu được xác định

là “sự xuất hiện của loài người với tất cả những biểu hiện cụ thể và đa dạngcủa nó” – tóm lại là toàn bộ quá trình vận động của nhân loại từ thuở bìnhminh của loài người cho đến nay trên mọi bình diện của đời sống xã hội(kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa – xã hội, ) Mục đích củakhoa học lịch sử được nêu trong định nghĩa trên là vai trò to lớn của sử họcđối với đời sống xã hội, khẳng định được sự cần thiết không thể thiếu đượccủa lĩnh vực khoa học này đối với sự phát triển của nhân loại, bởi nó khôngchỉ nghiên cứu những gì đã phủ bụi thời gian mà còn nóng hổi tính thời sự

và định hướng cho tương lai

1.1.2 Lịch sử xã hội loài người là hiện thực tồn tại khách quan

- Những sự kiện, hiện tượng lịch sử đã từng xảy ra trong quá khứ xãhội loài người vốn là một hiện thực khách quan, tồn tại độc lập với ý thứcchủ quan của con người, dù con người có nhận thức được hay không nhậnthức được, thừa nhận hay không thừa nhận, giải thích nó như thế nào, thì nóvẫn tồn tại, không có cách nào thay đổi được Ví dụ: Sự hình thành và pháttriển của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ I đến cuối thế kỷ VI, đầu thế kỷVII bị diệt vong Hiện nay những tài liệu phục vụ nghiên cứu liên quan đến

Trang 5

vương quốc này rất ít ỏi, nên vấn đề nhận thức và lí giải về sự hưng thịnh vàtiêu vong của vương quốc Phù Nam vẫn chủ yếu dựa vào ý kiến chủ quancủa người nghiên cứu Song, dù các nhà nghiên cứu có nói gì đi chăng nữathì sự tồn tại của vương quốc cổ này vẫn là sự thật lịch sử.

Tuy nhiên, do lịch sử xã hội loài người một khi đã diễn ra thì khôngthể quay trở lại như cũ, nếu có lặp lại thì chỉ lặp lại ở những nét chung, cơbản dưới hình thức khác, nên sự tồn tại khách quan của nó nên có thể làmcho không ít người hiểu sai, cố tình xuyên tạc hay phủ nhận sự tồn tại của

nó Do đó, sự nhận thức lịch sử khó khăn hơn rất nhiều so với nhận thức cáchiện tượng tự nhiên Ví dụ, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo ởđầu thế kỷ XV chỉ xảy ra một lần ở nước ta, song một số nét cơ bản của cuộckhởi nghĩa này lại một số cuộc khởi nghĩa lớn sau này như: tổng khởi nghĩagiành chính quyền tháng Tám năm 1945, tổng tiến công và nổi dậy mùaxuân năm 1975, như: Quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ, sức mạnh củatoàn dân, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, nghệ thuật chớp thời cơ,

Khác với sử học tư sản luôn phủ nhận sự tồn tại của hiện thực lịch sử,

sử học mác xít – lê nin nít khẳng định sự tồn tại khách quan của quá khứ.Điều này được thể hiện ở những điểm sau:

+ Lịch sử quá khứ của xã hội loài người là có thực, đã từng xảy ra,không phụ thuộc vào ý muốn của bất cứ ai và có những cơ sở khoa học đểchứng minh sự tồn tại này

+ Lịch sử xã hội loài người gồm các sự kiện, hiện tượng đã xảy ra, cóthực, song không đứng yên, bất biến mà là một quá trình vận động hợp quyluật, phát triển liên tục từ thấp đến cao Đó là quá trình thống nhất, trải quanhiều giai đoạn, có quan hệ mật thiết với nhau, xảy ra trên nhiều mặt, mâuthuẫn với nhau và thúc đẩy sự phát triển của xã hội

- Giữa hiện thực lịch sử với các hiện tượng của thế giới tự nhiên cóđiểm chung là cùng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất và không phụthuộc vào ý muốn chủ quan của con người và cùng vận động theo những quyluật chung của thế giới vật chất

Tuy nhiên, hiện tượng trong xã hội loài người và hiện tượng trong thếgiới tự nhiên có sự khác biệt, thể hiện ở những điểm sau đây:

+ Sự vận động của lịch sử xã hội loài người là hoạt động thực tiễn củacon người có ý thức, với tính năng động và tình cảm, tư tưởng cao theo mụctiêu và quyền lợi của mình Còn sự vận động của giới tự nhiên nói chung, là

sự vận động tự phát với tính năng động tương đối thấp của sự vật, hiệntượng không có ý thức Ví dụ, hành động săn mối hay đào hang trú ẩn của

Trang 6

một số loài động vật xuất phát từ bản năng sinh tồn, nó khác xa về chất sovới hoạt động lao động có mục đích, có ý thức của con người.

+ Sự phát triển của xã hội loài người không lặp lại trong không gian

và thời gian, nếu có chỉ là những nét cơ bản nhất và không rõ ràng; còn sựlặp lại của hiện tượng trong tự nhiên là thường xuyên và rõ ràng Do đó,trong xã hội loài người, lịch sử mang tính cụ thể, mỗi thời đại đều có đặcđiểm riêng về hình thái kinh tế xã hội, đánh dấu sự phát triển của xã hội từthấp đến cao Còn trong tự nhiên, các hiện tượng tồn tại bất biến, không giớihạn về thời đại, về khu vực, chẳng hạn như các hiện tượng mưa, gió, độngđất, bão, lũ,

+ Hiện thực tồn tạo với tư cách là đối tượng nhận thức của khoa họclịch sử, nó bao gồm những sự kiện, hiện tượng, biến cố, đã xảy ra trongquá khứ nên không thể quan sát, cải tạo Trong khi đó đối tượng của khoahọc tự nhiên mang tính lặp lại nên có khả năng quan sát và cải tạo được Ví

dụ, cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do ba anh em họ Nguyễn lãnh đạovào cuối thế kỷ 18 chỉ xảy ra một lần, nhà nghiên cứu chỉ có thể tái hiện hiệntượng lịch sử này thông qua các nguồn tư liệu (quan sát gián tiếp); còn hiệntượng rụng lá của một số loại cây vào mùa đông là theo chu kỳ, nên ngườinghiên cứu có thể quan sát trực tiếp và lặp lại nhiều lần để có kết quả chínhxác

1.1.3 Lịch sử nhận thức là lịch sử chủ thể hóa

- Đối tượng nhận thức của khoa học lịch sử đặc biệt hơn so với cáckhoa học khác ở chỗ, nó nhận thức những vấn đề đã xảy ra trong quá khứ vànhiều khi quá khứ đó rất xa xôi so với thời điểm nhận thức của người nghiêncứu Hơn nữa, sự nhận thức này lại thông qua những con người có trình độ,quan điểm khác nhau, bị ảnh hưởng, chi phối bởi các quyền lợi giai cấp, điềukiện, chế độ xã hội khác nhau trên cơ sở nhiều nguồn tài liệu khác nhau,nên kết quả nghiên cứu sẽ mang dấu ấn của người nghiên cứu, hay nói cáchkhác là mang tính chủ thể hoá

Đây là một trong những vấn đề phức tạp nhất của phương pháp luận

sử học mác xít trong việc giải quyết như thế nào giữa kết quả nghiên cứu vàcái tôi của người nghiên cứu trong một công trình sử học Bởi vì mục đíchcủa khoa học chân chính là nhà nghiên cứu phải làm rõ sự thực lịch sử mộtcách khách quan đúng như nó vốn có, nhưng gạt bỏ ý thức chủ thể của ngườinghiên cứu là điều không dễ thực hiện được, vậy nên, ở một mức độ nào đó,nhà nghiên cứu phải tự có ý thức gạt bỏ những ảnh hưởng của lí luận và hìnhthái ý thức chủ quan không khoa học, tự giác vận dụng những lí luận khoahọc, nhận thức đúng đắn lịch sử

Trang 7

Lịch sử chủ thể hoá còn biểu hiện rõ nét trong các quan điểm khácnhau khi các nhà nghiên cứu trình bày và phân tích cùng một vấn đề lịch sử.

Do nhận thức khác nhau nên họ rút ra những kết luận rất khác nhau, thậmchí trái ngược nhau về một sự kiện hay một hiện tượng đã xảy ra trong quákhứ Ví dụ, lý giải về thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, cácnhà sử học mác xít đã phân tích rất kỹ càng nguyên nhân thắng lợi của cuộccách mạng, thế nhưng một số nhà sử học theo quan điểm đối lập vẫn tìm mọicách để bôi nhọ, phủ nhận và cho đây chỉ là một sự “ăn may”

Như vậy, trong hoạt động nhận thức lịch sử có thể thấy rằng, khônglúc nào và không có người nào không bị chi phối bởi ý thức chủ quan Mỗingười đều đứng trên một lập trường nhất định, dưới sự chỉ đạo của một tưtưởng, mang một tính cách để quan sát lịch sử, nhận thức lịch sử Kết quảthu được sẽ tỉ lệ thuận với năng lực nhận thức mà họ được trang bị Do vậy,đòi hỏi người nghiên cứu phải biết tự giác vận dụng lí luận khoa học trongquá trình làm việc để cho ra đời những sản phẩm đáng tin cậy, hạn chế saisót đến mức thấp nhất

- Tuy nhiên, trong nghiên cứu lịch sử, không thiếu những kết quảmang nặng tính chủ thể hoá, phân tích, nhận định chủ yếu dựa vào ý kiếnchủ quan của bản thân người nghiên cứu, ít chú ý đến hiện thực lịch sử Điềunày sẽ làm cho bộ mặt của lịch sử bị bóp méo, sai sót Nguyên nhân có thểdo:

+ Hạn chế về tư liệu: Nhiều sự kiện hay hiện tượng lịch sử do thiếusót về tư liệu nên việc khôi phục quá khứ thiếu chính xác, hay chưa đầy đủ ,dẫn đến những kết luận không phản ánh đúng hiện thực Ví dụ, hiện nayTrung Quốc đang thực hiện chiến lược thâu tóm biển đông và xâm phạmnghiêm trọng chủ quyền biển đảo của các nước Đông Nam Á trong đó cóViệt Nam Trung Quốc đang khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về

họ và yêu cầu Liên hiệp quốc phải công nhận điều này, nhưng Trung Quốckhông thể chứng minh bằng lịch sử về sự tồn tại của hai quần đảo này tronglịch sử của chính nước họ

Do hạn chế về tư liệu, hiện nay có nhiều vấn đề lịch sử đã đượcnghiên cứu từ lâu nhưng phần kết luận vẫn còn bỏ ngỏ hay chưa rút ra đượckết luận xác đáng Ví dụ, lý giải nguyên nhân tiêu vong của quốc gia cổ PhùNam, hay kỹ thuật xây dựng Kim tự tháp ở Ai Cập, chất kết dính giữa cácviên gạch mà cư dân Chăm pa sử dụng trong quá trình xây dựng thánh địa

Mỹ Sơn, vv

+ Do hạn chế về lập trường giai cấp và lập trường chính trị của ngườinghiên cứu Các nhà sử học từ trước đến nay đều đứng trên lập trường củagiai cấp mình, thời đại mình để nghiên cứu, nên các tác phẩm lịch sử đều

Trang 8

mang tính chủ thể hoá rõ nét Việc nghiên cứu lịch sử dựa trên các tư liệulịch sử đã được chủ thể hoá sẽ rất khó khăn trong việc nhận thức đúng hiệnthực lịch sử như vốn có của nó.

+ Việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu trong nhận thức sự thựclịch sử không phải là công việc tuỳ tiện mà đòi hỏi phải có phương phápđúng đắn Cùng một khối tư liệu như nhau nhưng cách xử lý khác nhau cộngvới phương pháp nghiên cứu khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau

Vì vậy, người nghiên cứu nếu không có phương pháp nghiên cứu đúng đắnthì kết quả sẽ rất dễ có sai sót

1.2 Đối tượng nghiên cứu của lịch sử

Do những quan niệm khác nhau về lịch sử mà từ trước tới nay cónhững cách hiểu khác nhau về đối tượng của sử học

- Ở thời kỳ Chiếm hữu nô lệ: Giai cấp chủ nô cho rằng, chỉ có giớithống trị cao nhất mới có khả năng và đặc quyền nhận thức được đối tượngcủa lịch sử vì công việc này là để phục vụ “thần linh” Tuy vậy, một số nhà

sử học đã có quan niệm đúng đắn về đối tượng sử học (nhà sử học Hêoatêcủa Hi Lạp)

- Vào thời trung đại, đối tượng sử học theo quan niệm của các sử giaphong kiến là đời sống, hoạt động của vua chúa, sử học được coi là công cụcủa thần học nhằm phục vụ đắc lực cho giai cấp phong kiến Hơn nữa, họcòn rất chú ý đến các hiện tượng dị thường của tự nhiên mà ít chú ý đếncuộc sống lao động và các cuộc đấu tranh của tầng lớp nhân dân

- Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, quan niệm về đối tượng sử học củacác sử gia tư sản đã có những tiến bộ nhất định Ngay từ thời Phục Hưng,lịch sử đã có một diện mạo khác và đã thoát khỏi sự kiềm toả của thầnquyền, khẳng định lịch sử là của con người Nhưng các sử gia tư sản chorằng, chỉ có những dân tộc đạt tới trình độ văn minh mới được coi là đốitượng nghiên cứu, hay những sự kiện lịch sử đã lùi vào quá khứ từ 50 năm,

có nghĩa là bứac tranh quá khứ của nhân loại đã bị nhà sử học tư sản cắt xén.Mặt khác, sử học tư sản chỉ chú ý đề cao vai trò của vĩ nhân, xem nhẹ vai tròcủa quần chúng nhân dân

- Chỉ có nền sử học mác xít – lênin nít mới đem lại một quan niệmđúng đắn về đối tượng sử học Đó là quan niệm cho rằng, lịch sử là lịch sửcủa quần chúng nhân dân, lịch sử diễn ra trên tất cả các mặt hoạt động củacon người một cách hợp quy luật, từ lúc con người xuất hiện đến nay Vìvậy, đối tượng của khoa học lịch sử được xác định là quá trình phát triểnthực tế của xã hội loài người, cũng như của từng nước, từng dân tộc, từngđịa phương với tính thống nhất, tính phức tạp, tính muôn màu, muôn vẻ của

Trang 9

nó trên tất cả các lĩnh vực của đời sống; là sự chuyển biến cụ thể của cácphương thức sản xuất, sự hiểu biết cụ thể, phong phú về cuộc đấu tranh giaicấp trong lịch sử, sự thể hiện sinh động vai trò sáng tạo, quyết định của nhândân lao động đối với sự phát triển của lịch sử

1.3 Chức năng, nhiệm vụ của khoa học lịch sử

1.3.1 Chức năng

1.3.1.1 Chức năng nhận thức

Cùng với việc vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao trí tuệ trong việcchinh phục khoảng không vũ trụ và khám phá cấu tạo địa chất của trái đất thì khát vọng hiểu biết về quá khứ là một trong những phương diện quantrọng của trí tuệ nhân loại, do vậy chức năng hàng đầu của sử học là phải

khôi phục, hoàn nguyên lại bức tranh của quá khứ một cách chân thực như

nó đã xảy ra (tránh các khuynh hướng “tô hồng”, “bôi đen” hay “hiện đại

hóa” lịch sử) Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, bởi quá khứ là những gì

đã một đi không trở lại Những gì còn sót lại từ quá khứ mà giới sử học ngàynay biết được thường chỉ là những mảnh mẩu nhỏ bé trong vô số các sựkiện, hiện tượng, biến cố đã xẩy ra Sự hiểu biết của nhân loại hôm nay vềquá khứ vẫn đang hết sức “khiêm tốn” và càng khó khăn hơn khi nghiên cứuthời kỳ đầu tiên của lịch sử xã hội loài người, khi các tư liệu thư tịch vôcùng ít ỏi, thậm chí là cạn kiệt Việc khôi phục rõ nét bức tranh quá khứ củalịch sử một cách chân thực là công lao to lớn của các nhà sử học Đó là chưa

kể phải phân biệt chính xác những gì thật giả đằng sau các nguồn tư liệu

1.3.1.2 Chức năng phục vụ con người, phục vụ xã hội

Sự nhận thức của các tri thức lịch sử không chỉ thuần túy nhằm thỏa mãn sự tò mò hay hiếu kỳ, mà điều quan trọng hơn là dùng những tri thức đó nhằm phục vụ cho cuộc sống hôm nay và mai sau, hay nói theo lời K Mác -

vấn đề không phải ở chỗ giải thích thế giới mà là ở chỗ cải tạo thế giới Vậy

sử học thực hiện chức năng “cải tạo thế giới” như thế nào, bằng cách nào ?

Trước hết việc nghiên cứu quá khứ của xã hội loài người phải đạt tớiviệc rút ra các quy luật vận động của lịch sử, những quy luật phổ biến cũngnhư các quy luật đặc thù để từ đó rút ra những bài học cần thiết cho cuộcsống hôm nay (kể cả những bài học thành công hay không thành công) và dựbáo xu thế vận động của các hiện tượng trong tương lai Nói một cách cụ thểhơn: từ việc nhận thức đúng quy luật, con người sẽ hành động thuận chiềuvới quy luật, không đi ngược “với chiều vận động của bánh xe lịch sử”; hiểusâu sắc hiện tại, con người sẽ hành động tích cực trong hiện tại, tiến nhanhtới tương lai, sớm biến tương lai thành hiện thực sinh động Đó cũng chính

là tinh thần của quan điểm “ôn cố tri tân” - học xưa để biết nay của cổ nhân

mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất tâm đắc Chính Bác Hồ cũng đã nêu một tấm

Trang 10

gương sáng trong việc vận dụng những tri thức lịch sử phục vụ sự nghiệpcách mạng Ngay từ năm 1941, khi cả thế giới đang đối mặt với cuộc chiếntranh của chủ nghĩa phát xít, Người đã phân tích và phán đoán một cách hếtsức chính xác về sự diệt vong tất yếu của bè lũ phát xít và xác định thời cơ

cho công cuộc giải phóng của dân tộc đã tới gần Trong cuốn Lịch sử nước

ta, Người đã tiên đoán một cách chính xác - 45 sự nghiệp hoàn thành

Tuy vậy, cũng cần cảnh giác với những suy diễn thiếu căn cứ, nhữngquy nạp hồ đồ , nhất là những kết luận liên quan tới truyền thống gia đình,quê hương của các nhân vật lịch sử Có những nhà sử học đã cố sức chứngminh Nguyễn Trãi là cháu 7 đời của Định quốc công Nguyễn Bặc, và hậuduệ sau này của ông là đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư của Đảng Truyền thống quê hương, gia đình là quan trọng, song không phải là “bấtbiến”, càng không thể phủ nhận ý chí vươn lên của những người từ tầng lớpcần lao Lịch sử mãi ghi nhận những cống hiến của Yết Kiêu, Dã Tượng -những gia nô của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, của người đan sọt làngPhù Ung Phạm Ngũ Lão trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông ởthế kỷ XIII Bản thân dòng họ Trần cũng xuất thân từ những ngư dân vô học

ở vùng Hải Ấp (Thái Bình ngày nay), và ngay cả Thái sư Trần Thủ Độ vẫnchưa biết chữ Các vị vua Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành lúc thiếu thờicũng chỉ là những đứa trẻ mục đồng nơi thôn ổ Trái lại, cũng không hiếmcác trường hợp cha ông anh hùng cái thế, cháu con chỉ là những kẻ tầmthường làm hại nước hại dân Tương tự, không hiếm những người sinh ratrên cùng một mảnh đất, khi nhỏ cùng học một thầy nhưng lúc lớn lên họlại rất khác nhau về chí hướng, thậm chí là kẻ thù không đội trời chung(Phan Đình Phùng - Hoàng Cao Khải, )

1.3.1.3 Chức năng giáo dục:

Ngay từ thuở xa xưa, người ta đã biết tới vai trò giáo dục to lớn của

lịch sử Từ rất lâu, người phương Tây đã xem lịch sử là cô giáo của cuộc

sống, là bó đuốc soi đường tới tương lai, kẻ nào hôm nay bắn vào quá khứ một phát súng lục, tương lai sẽ trả lời bằng một loạt đại bác Các bậc vua

chúa, đế vương phương Đông rất chú trọng đến chức năng giáo dục của sửhọc Việc đào tạo quan lại để trị nước, an dân chủ yếu bằng những tri thức

lịch sử (nấu sử, sôi kinh) lấy những phương châm xử thế của người xưa mà khuôn mẫu cho hành sự hiện tại (ôn cố tri tân)

Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay, tại các trường học trên Thế giới,lịch sử là môn học bắt buộc với mọi cấp học, nhất là lịch sử của chính quốcgia đó Điều làm người ta quan ngại, chính là những biểu hiện của “bệnh mùmàu” trước lịch sử ở một bộ phận không nhỏ thanh-thiếu niên hôm nay

Tri thức lịch sử góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng lòng yêunước và hoàn thiện nhân cách, đem lại cho mỗi người niềm tự hào chính

Trang 11

đáng về truyền thống vẻ vang, về những trang sử hào hùng của cha ông và

họ sẽ sống xứng đáng hơn với sự hi sinh của cha anh đi trước

1.3.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề trong quá khứ của lịch sửnhân loại và lịch sử dân tộc, nhất là những vấn đề liên quan mật thiết vàphục vụ thiết thực cho cuộc sống hôm nay Công việc này đòi hỏi các nhà sửhọc vừa phải lao động miệt mài trong “cuộc hành trình đi ngược thời gian”đầy gian khổ, vũ trang cho mình đủ những “phương tiện” cần thiết, vừa phảidấn thân vào cuộc sống sôi động hàng ngày để tìm ra được mối quan hệ giữaquá khứ - hiện tại với tương lai Không phải ngẫu nhiên mà hầu như không

có “thần đồng” trong sử học Để trở thành một nhà sử học thực thụ, đòi hỏimột khoảng thời gian tích lũy tri thức khá dài, và phải có niềm đam mê thựcsự

- Khai thác, giới thiệu, phổ biến tuyên truyền những thành tựu củakhoa học lịch sử nhằm mục đích nâng cao nhận thức, hiểu biết về lịch sửtrong nhân dân, đem lại cho họ niềm tự hào chính đáng về những thành tựucủa nhân loại, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Cố Tổng bí thư BCH TƯĐảng Lê Duẩn đã nói, dạy sử không phải là khắc sâu vào đầu óc học sinhnhững năm tháng sự kiện khô khan, mà là phải khắc sâu vào họ những tìnhcảm cách mạng, ý chí dời non lấp biển Bác Hồ cũng đã dạy: “Dân ta phảibiết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” hay “đem lịch sử cácnước làm gương cho ta soi” Vấn đề càng nóng hổi tính thời sự khi mà hômnay, do tác động mặt trái của cơ chế thị trường, một bộ phận không nhỏtrong lớp trẻ đã tỏ ra hờ hững, thậm chí xoay lưng với quá khứ Lỗi nàykhông chỉ bắt gặp ở học sinh, mà thậm chí cả ở không ít những giáo viêndạy sử ở các cấp học khác nhau: họ chẳng những tỏ ra rất “lơ mơ” về kiếnthức mà còn biến giờ sử thành “một cuộc tra tấn” dã man thế hệ trẻ bằngnhững năm tháng, những sự kiện rời rạc, khô khan

Bên cạnh đó, không thể không đề cập tới tình trạng không ít các nhàhoạt động nghệ thuật khi khai thác các đề tài lịch sử đã không ngần ngại

“ngồi xổm” lên lịch sử : Người ta tỏ ra “phóng khoáng” xuyên tạc từ nộidung, chủ đề tư tưởng cho đến cả phục trang, đạo cụ, cảnh trí Ví dụ: Trong

các vở chèo của Tào Mạt viết kịch bản như Nguyên Phi Ỷ Lan, Tô Hiến

Thành chọn người hiền các nhân vật lịch sử đã mang những “lý lịch” khác

hẳn: Lê Văn Thịnh cấu kết với giặc mưu đồ bán nước, Hoàng hậu ThượngDương dung túng cho cháu là Dương Đình Bảo đục khoét dân lành Tai hạihơn, các vở chèo này còn được chuyển thể sang các thể loại sân khấu khácnhư cải lương, tuồng và được công diễn rộng rãi cũng như phát trên sóngtruyền hình, đưa lại cho quần chúng những thông tin lệch lạc về lịch sử

Trang 12

- Phục vụ cuộc đấu tranh xã hội, lao động sản xuất Lịch sử là quátrình thống nhất, đi lên của xã hội loài người, từ quá khứ đến hiện tại vàvươn tới tương lai Việc học tập lịch sử nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chínhtrị trước mắt và lâu dài, hay nói cách khác là phục vụ cuộc đấu tranh cáchmạng Dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh là người tiên phongtrong việc tích cực nghiên cứu lịch sử quá khứ để phục vụ cho sự nghiệp đấutranh cách mạng, lật đổ giai cấp thống trị, xoá bỏ chế độ bóc lột, xây dựng

xã hội tốt đẹp hơn

Mặt khác, nghiên cứu lịch sử còn là một trong những cơ sở quan trọngnhằm vận dụng lí luận vào thực tiễn xây dựng, hoạch định các chính sáchcủa Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế,văn hoá, giáo dục, y tế,

1.4 Các chuyên ngành của khoa học lịch sử

1.4.1 Khảo cổ học

Là một lĩnh vực nghiên cứu chuyên biệt của lịch sử Đối tượng chủyếu của lĩnh vực vực nghiên cứu này là các hiện vật khai quật được từ lòngđất Nhờ có khoa khảo cổ học mà nhiều vấn đề thuộc về thời kỳ tiền sử, sơ

sử - những giai đoạn vẫn chỉ thấp thoáng trong huyền thoại, đã được làmsáng tỏ Ở nước ta, ngành khoa học này ra đời từ đầu thế kỷ với tên tuổi củachị em bà M Côlani (phát hiện các di chỉ thuộc văn hóa Sa Huỳnh, HòaBình ), F Heger - nhà đồng cổ học người Áo và tiếp đó là những nhàkhảo cổ học người Việt như các vị GS Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, DiệpĐình Hoa, Nguyễn Duy Hinh những người đã được đào tạo trực tiếp bởinhà khảo cổ học Xô viết Bôricốpxki và đã có công không nhỏ trong việc đưa

cả một giai đoạn bình minh của lịch sử dân tộc từ huyền sử thành hiện thực(thời kỳ Hùng Vương), cũng như khám phá ra hàng loạt di tích thuộc vănhóa đá cũ như núi Đọ, Dầu Dây, Ốc eo (gần đây là khảo cổ học dướinước)

1.4.2 Dân tộc học

Là một chuyên ngành của khoa học lịch sử nghiên cứu lịch sử từ mộtgóc độ khác – góc độ văn hóa tộc người, và do vậy, phương pháp nghiên cứuđặc trưng nhất của các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực này là điền dã dân tộchọc GS Nguyễn Khắc Tụng đã diễn đạt một cách hình ảnh là “sử học mớichỉ đem lại cho lịch sử những bộ xương khô khan, còn dân tộc học đã thêm

da, đắp thịt, góp phần làm hồng hào, tươi thắm gương mặt của lịch sử”

1.4.3 Sử liệu học

Sử liệu học nghiên cứu quá khứ nhân loại dựa chủ yếu trên những

nguồn tài liệu thư tịch - các nguồn sử liệu thành văn Do vậy, để đánh giámột cách chân xác các nguồn tài liệu, sử học phải tiến hành các khâu xử lý,

Trang 13

xác minh văn bản hết sức công phu tỷ mỉ bởi sử liệu là nguyên liệu xây dựngnên công trình lịch sử Để làm được việc này, người ta phải thẩm định vănbản về niên đại ra đời, tác giả của nó thông qua xác định phong cách, về chấtliệu giấy nhằm tránh các nguồn sử liệu nguỵ tạo

đều có liên quan với nhau (krông, Nậm khỏng, Mê công, giang ) Địa danh

Cổ Loa, các tên riêng như Hùng Vương; bồ chính, phụ đạo (Cổ Loa, Chạ

Chủ, Kẻ Lũ, Khả Lũ ; Hùng Vương có lên quan tới các từ như phò khun,lang cun ) Sự thay đổi địa danh qua các đời cũng để lại những dấu ấn

lịch sử như Thuận Hóa → Huế, Vĩnh Doanh → Vinh, Sài Côn (Tây Cống)

→ Sài Gòn → Thành phố Hồ Chí Minh, Đại La → Tống Bình → Thăng

Long → Đông Đô → Hà Nội, Vũng Quýt → Dung Quất, Phanduranga → Phan rang, Cửa Hàn → Touran → Đà Nẵng, Đà Lạt Nguyên nhân có thể

do đọc trệch âm, có thể do kiêng tên do húy kỵ (Thanh Giang→Thanh

Chương, Cao Bình → Cao Bằng, Đồng Hới → Động Hải, )

1.5 Vị trí của khoa học lịch sử trong hệ thống các ngành khoa học

Ngày nay, một đặc trưng và đồng thời cũng là xu hướng nổi trội trong

sự phát triển của khoa học là sự đan xen giữa các lĩnh vực nghiên cứu(thường gọi là xu hướng nghiên cứu liên ngành hay xuyên ngành) Mục đíchcủa việc tăng cường sự hợp tác gắn bó giữa các ngành khoa học với nhau lànhằm nâng cao chất lượng của các ngành khoa học cụ thể

1.5.1 Mối quan hệ giữa sử học và các khoa học Mác-Lênin

- Mối quan hệ giữa lịch sử với các ngành khoa học thuộc chủ nghĩaMác-Lênin như Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Kinh tế-chính trị học, Chủ nghĩacộng sản khoa học, Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Cácnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đưa khoa học lịch sử trở thànhmột ngành khoa học thực thụ, đưa lĩnh vực khoa học này thoát ra khỏi

những biến cố ngẫu nhiên vận động theo những nguyên lý dịch học (lý,

khí,vận số ) hay tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của các vĩ nhân…

- Trong mối quan hệ giữa khoa học lịch sử và chủ nghĩa duy vật lịch

sử thì chủ nghĩa duy vật lịch sử thiên về các quy luật chung mang tính phổ

biến, toàn nhân loại (quy luật về sự tương hợp giữa trình độ phát triển của

lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, quy luật về đấu tranh giai cấp );

còn khoa học lịch sử chú trọng vào việc tìm ra những quy luật đặc thù,những quy luật liên quan tới từng lĩnh vực cụ thể của đời sống kinh tế-xã hội

Trang 14

hay là những biểu hiện của quy luật chung với từng khu vực hay quốc gia cụthể Đây là mối quan hệ giữa cái chung với cái riêng, giữa cái phổ quát vớicái cụ thể Trên thực tế, không có cái chung nằm ngoài cái riêng, mà phảithông qua cái riêng để thể hiện Nhận thức mối quan hệ này, đòi hỏi ngườilàm sử trước hết phải nắm vững những quy luật của chủ nghĩa Mác - Lê nin,đồng thời phải không ngừng bổ sung thêm bằng những biểu hiện phong phú,sinh động của lịch sử; hay nói một cách hình ảnh, chủ nghĩa duy vật lịch sửchỉ mới đem lại cho chúng ta cái sườn của lịch sử, còn nhà sử học phải làmcho lịch sử có hình hài cụ thể.

Mặt khác, chính học thuyết về các hình thái kinh tế-xã hội của chủ

nghĩa duy vật lịch sử đã cung cấp cho khoa học lịch sử một hệ thống tiêu chíkhả dĩ có thể tiến hành phân kỳ lịch sử một cách khách quan, khoa học, phảnánh đúng bức tranh vận động của lịch sử toàn nhân loại

1.5.2 Mối quan hệ giữa sử học với các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ

- Lịch sử và toán học: Toán học đã thổi vào trong khoa học lịch sửtính chính xác và có thể kiểm tra được Ngày nay người ta rất hạn chế những

lối diễn đạt đại loại như là đại đa số, đa số, phần đông hay rất ít mà cần có

những số liệu thống kê chính xác Bên cạnh đó, phương pháp lập bảng thống

kê, đồ thị, biểu đồ cũng đem lại những cách biểu đạt rõ nét hơn, nhất là đốivới những vấn đề phức tạp (chẳng hạn để diễn tả tốc độ tăng trưởng kinh tếhay diễn biến dân số của một hay một vài quốc gia nào đó, phương pháp đồthị sẽ có tính thuyết phục hơn hẳn một loạt trang viết dài dòng) Một nhà sửhọc phải biết vận dụng mối liên hệ giũa lịch sử với toán học, bởi phươngpháp tư duy Toán học là một trong những cơ sở quan trọng hàng đầu trongnhận thức nói chung, của Sử học nói riêng

- Lịch sử và các ngành khoa học Lý, Hóa, Sinh: Các ngành khoa họcnày đem lại cho khoa học lịch sử độ chân xác đáng kể, mà trước hết là cácphương pháp xác định niên đại hiện vật khảo cổ bằng cách phân tích chu kỳbán rã của đồng vị phóng xạ (C 14) hay các phương pháp Kali Argông, phântích bào tử phấn hoa Các lĩnh vực khoa học Lý, Hóa, Sinh cũng giúp chocác nhà sử học hiểu một cách thấu đáo hơn những thành tựu văn hóa củanhân loại (Chẳng hạn nhờ các kết quả phân tích các mẫu trống đồng ĐôngSơn mà chúng ta càng trân trọng tài nghệ và những di sản văn hóa của chaông, kiểm nghiệm độ chân xác của các nguồn sử liệu (văn bản, hiện vật ).Muốn chấm dứt được cuộc tranh luận kéo dài ngót thế kỷ về chất kết dính sửdụng trong việc xây dựng các tháp Chăm, nhất thiết phải sử dụng tới việcphân tích các mẫu vật thu được từ các khu di tích đó)

Ngày nay, ngành địa-không ảnh cũng đang được các nhà sử học ở một

số quốc gia sử dụng trong nghiên cứu lịch sử Trước hết, máy bay trực thăng

Trang 15

có thể giúp cho các nhà dân tộc học, khảo cổ học, ngôn ngữ học nhanhchóng đặt chân tới bất cứ nơi nào mà họ cần khảo sát, kể cả những nơi màcác phương tiện đường bộ, đường thủy chưa vươn tới được Đặc biệt hơn,các kết quả phân tích các bức ảnh từ trên cao giúp cho các nhà khoa học tìm

ra được những thông tin mà quan sát trực tiếp bằng mắt hầu như bất lực.Chẳng hạn sự thiên di hay hiện diện của một cộng đồng dân cư lạ trongnhững cánh rừng rậm nhiệt đới; dấu tích của một hệ thống đê điều hay thànhquách cổ xưa

- Lịch sử và Tin học: Một trong những khuynh hướng phát triển hiệnnay của mọi lĩnh vực khoa học là phải theo hướng công nghệ hóa, tin họchóa Công nghệ tin học đã, đang và sẽ tiếp tục thâm nhập vào mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội và mọi lĩnh vực khoa học Khoa học lịch sử - dĩ nhiêncũng không nằm ngoài xu thế đó Ở mức độ đơn giản, các thông tin lịch sửđược biên soạn và lưu trữ dưới dạng các tập tin có nhiều ưu điểm hơn so vớicác hình thức biên soạn và lưu trữ bằng các loại văn bản chép tay trước đây -văn bản được thể hiện nhanh hơn (chẳng hạn vẽ sơ đồ, đồ thị, ), đẹp hơn,chính xác hơn (có thể sửa chữa dễ dàng tới mức không còn lỗi hình thức) Việc lưu trữ các thông tin dưới dạng đĩa CD room lại càng đầy ưu thế bởitính tiện lợi của nó (Nếu tư liệu dưới dạng sách vở đòi hỏi những kho tư liệukhổng lồ, chi phí cho việc bảo quản càng phức tạp ) Ở một mức độ cao

hơn là việc khai thác mạng internet nhằm đảm bảo tính cập nhật, thời sự của

các thông tin được chóng vánh hơn

1.5.3 Mối quan hệ giữa sử học và các ngành khoa học xã hội-nhân văn khác

- Lịch sử và Ngữ văn: Người xưa thường nói “văn sử bất phân” lànhấn mạnh mối quan hệ máu thịt giữa các lĩnh vực nhận thức này Văn họccũng chính là sự phản ánh hiện thực thông qua một hình thức diễn đạt khác

Dẫu rằng, đặc trưng nổi bật của văn học là hư cấu, song vẫn có thể nhận ra

sự thực lịch sử đằng sau những sáng tác văn học Người sáng tác văn học dù

có khả năng tưởng tượng tài giỏi, lãng mãn, bay bổng tới đâu cũng khôngthể thoát ra khỏi hiện thực mà anh ta sống (kể cả những nhà văn gọi là “viễn

tưởng”) Thiên cung (Điện Linh Tiêu) của Ngọc Hoàng trong Tây du ký là

sự “nâng” cao cung đình của các hoàng đế Trung Hoa lên một tầng mới so

với mặt đất Các thể loại tiểu thuyết lịch sử như Đông Chu liệt quốc hay

Hoàng Lê nhất thống chí thì có tới “bảy thực ba hư” Những sáng tác văn

học dân gian cũng chứa đựng trong đó cốt lõi của lịch sử (chuyện Sơn

Tinh-Thủy Tinh, Thánh Gióng, Iliát-Ôđixê ) Ngay cả những sáng tác nghệ thuật

như những ca khúc của một thời chống Pháp, kháng Mỹ hào hùng của dântộc cũng để lại những âm hưởng rất lớn của thời đại

Trang 16

- Một lĩnh vực khoa học ngữ văn khác cũng có mối quan hệ gắn bó

đặc biệt với khoa học lịch sử là chuyên ngành Ngôn ngữ học nói chung và

Ngữ âm học lịch sử nói riêng Ngày nay chúng ta có thể nhanh chóng xác

định ngôn ngữ của một tộc người lạ bằng cách đối chiếu với một bảng danhmục 300 từ cơ bản liên quan tới các hiện tượng tự nhiên, các bộ phận cơ thể,các hoạt động kinh tế chủ yếu và hệ thống thân tộc Tương tự, nhờ vào cácthành tựu của Ngữ âm học lịch sử mà người ta nhận ra được, giải mã đượckhông ít những tên tuổi, địa danh cổ xưa nhờ sự trợ giúp của chính chuyênngành nghiên cứu này Chẳng hạn, ta có thể hiểu tước hiệu của các vua

Hùng cùng các quan chức thời đó (phụ đạo, bồ chính ) bằng các quy luật

chuyển hóa phụ âm đầu và so sánh với tước hiệu của các tù trưởng miền núi

gần đây (potarinh, p’ tao, m’tao, lang cun ).

- Lịch sử và ngoại ngữ: Ngoại ngữ là một thứ vũ khí lợi hại của nhà sửhọc trong công cuộc “chinh phục quá khứ”, nhất là quá khứ của các dân tộcngoài biên giới quốc gia Một nhà sử học Hoa Kỳ chủ trương: không thể gọi

là nhà sử học nếu người đó không nắm vững 2 ngoại ngữ (cố nhiên là không

kể tiếng mẹ đẻ) Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp mà nó còn làphương tiện biểu đạt quan trọng của văn hóa, văn minh và do vậy, ngoại ngữchính là chìa khóa trong việc mở cánh cửa lịch sử của các dân tộc khác nhau.Một người tìm hiểu lịch sử một nước khác qua tiếng mẹ đẻ của mình sẽ khólòng sâu sắc bằng những người nghiên cứu lịch sử bằng chính ngôn ngữ củaquốc gia đó

Câu hỏi ôn tập:

1 Trình bày những cơ sở chứng minh lịch sử là một khoa học

2 Sử học mácxít – lêninnít quan niệm như thế nào về tính hiện thựckhách quan của lịch sử xã hội loài người

3 Phân tích các chức năng của khoa học lịch sử

4 Trình bày nội dung các nhiệm vụ của khoa học lịch sử

5 Sử học có mối quan hệ như thế nào đối với các ngành khoa học khác?

Chương 2: SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ SỬ HỌC 2.1 Lịch sử sử học với tư cách là một khoa học

Với tư cách là một khoa học, lịch sử cũng có quá trình hình thành vàphát triển của nó, nghĩa là việc nghiên cứu quá khứ xã hội cũng có lịch sử

Lịch sử loài người bắt đầu từ khi con người và xã hội loài người rađời Ngay từ lúc mới xuất hiện, con người đã có ý thức về lịch sử của mình:

Trang 17

nguồn gốc, tổ tiên, quê hương, sinh hoạt… Đúng như F.Ăng –ghen đã viết:

“Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng bắt đầu từ đó” Sự nhậnthức lịch sử khởi đầu là những hiểu biết đầu tiên về con người và quá trình

phát triển của của xã hội rồi dần dần trở thành một khoa học – khoa học lịch

sử Trải qua một chặng đường khá lâu để từ những tri thức đầu tiên ấy trở

thành khoa học lịch sử (con người xuất hiện khoảng 3 – 4 triệu năm trước vàkhoa học lịch sử ra đời đến nay khoảng trên 2000 năm) Mọi sự vật, hiệntượng đều có lịch sử riêng, khoa học lịch sủ cũng có lịch sử của mình, đó làmột ngành nghiên cứu về môn học, được gọi là Lịch sử khoa học lịch sử,

hay thường gọi: Lịch sử sử học.

Lịch sử sử học ra đời trong quá trình phát triển của khoa học lịch sử,

là một ngành trong đại gia đình khoa học lịch sử Tuy nhiên, so với khoa họclịch sử thì lịch sử sử học cũng mới hình thành cách đây không lâu

Thuật ngữ “Lịch sử sử học” tương ứng với thuật ngữ

“historiographie” của Pháp, “ictoriografia” của Nga và nhiều thuật ngữ cógốc chữ viết Latinh khác Về cơ bản, các nhà sử học xem nội dung của thuậtngữ này thể hiện một trong những hình thức quan trọng để nhận thức xã hộiloài người Thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau, song có hai nghĩa chủyếu:

- Chỉ toàn bộ công trình nghiên cứu về một đề tài nhất định hay vềmột thời kỳ lịch sử, như các công trình sử học về Phong trào Hiến chương ởAnh, về chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô (1941-1945),…Nó còn chỉtoàn bộ tác phẩm sử học của một đất nước, một giai cấp, một thời đại dựatrên một cơ sở lí luận, một khuynh hướng tư tưởng nhất định, như sử họcPháp, sử học Trung Quốc, sử học giai cấp tư sản – địa chủ Đức, sử học Mácxít

- Là một khoa học nghiên cứu lịch sử của khoa học lịch sử

Đôi khi thuật ngữ này ở phương Tây được sử dụng đồng nghĩa với từ “Lịchsử”

Đối với chúng ta, hiểu một cách đơn giản nhất đó là một khoa họcchuyên nghiên cứu lịch sử của khoa học Lịch sử Là một khoa học, Lịch sử

sử học cũng có đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứucủa mình Cũng như các khoa học khác, Lịch sử sử học với tư cách là mộtkhoa học thể hiện ở việc tổng kết những hiểu biết của con người về lịch sử,đạt tới trình độ khái quát hóa, đi sâu vào bản chất, phát hiện quy luật củaviệc nhận thức lịch sử, tiếp cận chân lý, phục vụ nghiên cứu lịch sử

- Đối tượng của lịch sử sử học là quá trình ra đời, phát triển của khoa

học lịch sử, quá trình này gắn liền với bản thân sự phát triển của xã hội loài

Trang 18

người từ khi phân chia thành giai cấp đến nay Vì vậy, Lịch sử sử học phảinghiên cứu việc nhận thức lịch sử từ khi nó trở thành một khoa học trong xãhội có giai cấp đầu tiên, tuy vậy, cũng cần tìm hiểu cả thời kỳ mà xã hộichưa có giai cấp – nhận thức của con người thời nguyên thủy; dù đó chỉ lànhững yếu tố tri thức xã hội, dưới hình thức văn nghệ dân gian, các bản anhhùng ca… sử học dần dần trở thành một khoa học bắt đầu từ chế độ chiếmhữu nô lệ và trở về sau Cũng như khoa học khác, đối tượng của Lịch sử sửhọc là hiện thực, vận động hợp quy luật hợp quy luật với tính muôn màumuôn vẻ của mình Đối tượng Lịch sử sử học có cùng một khách thể củanhiều ngành khoa học lịch sử, song có đối tượng riêng của mình như đãđược xác định ở trên.

- Nhiệm vụ của Lịch sử sử học được quy định do chức năng của nó.

Ở đây, ngành Lịch sử sử học không phải đơn giản là việc liệt kê lại hoặctổng kết lại công việc nghiên cứu, thành tựu thu được qua quá trình nghiêncứu lịch sử của các thời đại, mà là toàn bộ quá trình hình thành phát triểncủa khoa học lịch sử, thông qua việc nghiên cứu nội dung khoa học, thànhtựu, tư tưởng sử học, những vai trò, đóng góp của những nhà sử học ở cácthời đại khác nhau

Lịch sử sử học không chỉ nghiên cứu một số tác phẩm của các nhà sửhọc nổi tiếng, các cơ quan nghiên cứu lịch sử, mà là toàn bộ thành tựu sửhọc đạt được thông qua hoạt động của các nhà sử học chuyên nghiệp vàkhông chuyên nghiệp, của đông đảo nhân dân yêu thích và góp phần vào sựphát triển của khoa học lịch sử

Do yêu cầu nghiên cứu lịch sử một cách toàn diện – trên mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội, do tính chất uyên thâm ở mức độ cần thiết của nhữngnghiên cứu lịch sử mà lịch sử sử học có liên quan chặt chẽ với sử học, vớilịch sử văn học, lịch sử văn hóa, lịch sử tư tưởng… Do đó, lịch sử khoa họclịch sử không chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu quá trình hình thành, pháttriển của nền sử học thế giới, một nước, một thời đại, một giai cấp mà còn

mở rộng đến việc nghiên cứu tư tưởng xã hội, góp phần vào việc tìm hiểu sựphát triển xã hội trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng Lịch sử sử học có nhữngnhiệm vụ khách quan và cụ thể sau đây:

+ Tìm hiểu sự tích luỹ tri thức lịch sử xã hội loài người từ thời nguyênthuỷ đến nay, chủ yếu từ sau khi khoa học lịch sử ra đời (trong xã hội có giaicấp);

+ Những thành tựu nghiên cứu của nhân loại, của dân tộc mình quacác chặng đường phát triển của lịch sử;

Trang 19

+ Tác dụng của khoa học lịch sử đối với xã hội nói chung, mỗi thời kỳnói riêng;

+ Khuynh hướng, quan điểm tư tưởng của một nền sử học ở một thờiđại nhất định; cuộc đấu tranh trong lĩnh vực sử học giữa các giai cấp, đảngphái khác nhau;

+ Tích lũy các phương pháp nghiên cứu, sư tầm tài liệu (mặt kỹ thuậtnghiên cứu) có những điểm chung cho các nền sử học, đánh giá sử học, sự

kế thừa và phát triển của sử học.

+ Cuộc đời, sự nghiệp của các nhà sử học, các công trình lịch sử tiêubiểu;

+ Những bài học, kinh nghiệm rút ra từ nghiên cứu lịch sử

Việc nghiên cứu những vấn đề chủ yếu như trên góp phần tích cựcvào việc đẩy mạnh và phát triển của khoa học lịch sử, nó giúp cho các nhà

sử học hiện nay và thế hệ sau rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích

về mặt phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và cả một số vấn đề vềnội dung

2.2 Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu lịch sử sử học

Việc học tập và nghiên cứu lịch sử sử học chịu ảnh hưởng của mộtquan điểm tư tưởng nhất định khi tìm hiểu, đánh giá một công trình, một nền

sử học Do đó, nó phải được tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

- Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính đảng (tính đảng là cơ sở đểđạt được tính khoa học) Bởi vì như E.M Giu-cốp nhận xét: “Khoa học vềquá khứ của nhân loại đã và đang là chiến trường của cuộc đấu tranh tưtưởng… Lịch sử sử học là môn có tính Đảng, nhận thức phát triển tư tưởngcủa một nền tảng riêng của tư tưởng triết học và những nhu cầu xã hội Từ

đó nhận thức được ý nghĩa lớn lao của các công trình nghiên cứu lịch sử sửhọc, thấy được sự xuất hiện của những quan điểm lịch sử nhất định, phảnánh những lập trường tư tưởng khác nhau của các lực lượng giai cấp xungđột ” Vì vậy, khi hòa nhập vào cộng đồng quốc tế và khu vực cần phải giữvững quan điểm tư tưởng của mình, vận dụng một cách sáng tạo vào lĩnhvực khoa học của mình

- Quán triệt những nguyên tắc, phương pháp luận mác xít, tư tưởng hồChí Minh chỉ đạo về một số vấn đề cụ thể trong học tập và nghiên cứu lịch

Trang 20

của một nền sử học, phải dựa vào những thành tự nghiên cứu cụ thể củakhoa học lịch sử ở từng thời đại, của mỗi nước, mỗi quốc gia, mỗ giai cấp;phải tìm hiểu những tác phẩm sử học, những công trình sử học… Vì vậy,việc nghiên cứu lịch sử sử học phải xuất phát từ thực tế khách quan, đó là táihiện sự kiện Tương tự như nghiên cứu lịch sử, việc nghiên cứu lịch sử sửhọc cũng không thể không dựa trên cơ sở tài liệu sự kiện cụ thể Đó là nhữngtài liệu về điều kiện, bối cảnh lịch sử cụ thể, những thông tin về nhận thứclịch sử (qua tác phẩm, tác giả), về những quy luật hình thành và phát triểncủa lịch sử sử học Trên cơ sở tài liệu – sự kiện phải tiến tới khái quát – líluận Không có trừa tượng hóa, khái quát hóa sẽ không có khoa học, ngườihọc tập và nghiên cứu sẽ không thể đi sâu vào bản chất hiện tượng, khôngrút ra được các quy luật phát triển của bản thân lịch sử sử học Xử lý tốt mốiquan hệ giữa tài liệu – sự kiện với khái quát – lí luận mới đảm bảo sử dụngtốt phương pháp lịch sử và phương pháp logic trong nghiên cứu lịch sử sửhọc.

+ Vấn đề phân kỳ lịch sử sử học: đây là một vấn đề trong tâm củaphương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử sử học Việc phân kỳ này phảidựa trên những thành tựu về phận kỳ lịch sử bởi nó thể hiện các giai đoạntrong quá trình hình thành, phát triển của bản thân khoa học lịch sử Mặtkhác, nó phát triển trên cơ sở học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội của chủnghĩa Mác – Lênin, gắn liền với việc tìm hiểu các chế độ xã hội, chính trịkhác nhau đã tồn tại trong lịch sử Do có nhiều quan điểm về việc phân kỳlịch sử sử học nên cần nắm vững nguyên tắc, tiêu chí phân kỳ như sau:

* Phải dựa vào phân kỳ lịch sử thế giới và dân tộc Bởi vì quá trìnhhình thành, phát triển của các nền sử học kế tiếp nhau gắn liền với các thời

kỳ của lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới

* Tuy nhiên, trong quá trình phân kỳ phải nắm được nững mốc nhỏ,mốc lớn, những sự kiện quan trọng đánh dấu sự thay đổi trong quá trình pháttriển của sử học (sự ra đời của một số tác phẩm sử học mở đầu cho sự pháttriển một khuynh hướng, tư tưởng mới, một phương pháp nghiên cứu mới)

Vì vậy việc phân kỳ lịch sử sử học không phải bao giờ cũng trùng với phân

kỳ lịch sử mà có những nét riêng

2.3 Phương pháp nghiên cứu Lịch sử sử học

- Nghiên cứu Lịch sử sử học phải tôn trọng tính khách quan khoa học.Việc tìm hiểu phải trên cơ sở sự kiện cụ thể về bối cảnh lịch sử - xã hội, điềukiện hình thành, phát triển của một nền sử học, những thành tự nghiên cứulịch sử cụ thể, được thể hiện trong công trình sử học Do vậy, việc nghiêncứu và học tập Lịch sử sử học cần phải được trang bị một khối lượng kiếnthức phù hợp với yêu cầu và trình độ, về tác phẩm, tác giả, bối cảnh lịch sử

Trang 21

- Cũng như khoa học lịch sử, nghiên cứu Lịch sử sử học phải đảm bảonguyên tắc nắm vững phương pháp luận về sự thống nhất giữa phương pháplịch sử và phương pháp logic để miêu tả, khôi phục đúng bộ mặt của sử họctrong điều kiện lịch sử - xã hội nhất định, tránh liệt kê dài dòng, tập trung đisau vào cái bản chất để rút rs quy luật vận động và phát triển.

Câu hỏi ôn tập:

1 Những cơ sở nào xác định Lịch sử sử học là một khoa học?

2 Trình bày những nguyên tắc phương pháp luận cần tuân thủ trongnghiên cứu, học tập Lịch sử sử học

3 Vì sao phải học tập và nghiên cứu Lịch sử sử học?

Chương 3: KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ SỬ HỌC THẾ GIỚI

3.1 Sử học thời cổ đại

- Ở phương Đông: Sau khi xã hội phân chia thành các giai cấp đốiđịch, các quốc gia cổ đại đầu tiên ở phương Đông được hình thành Một sốngười không trực tiếp làm công việc sản xuất đã chuyên làm công việc trí

óc, để phục vụ cho giai cấp thống trị Trong đó, việc ghi chép lịch sử có một

vị trí quan trọng, dần dần xuất hiện một nền sử học, trở thành công cụ củagiai cấp thống trị trong việc đàn áp, bóc lột nhân dân lao động

Tri thức về lịch sử được bắt đầu từ việc nhận thức thời gian là một quátrình “một đi không trở lại” và ý thức phải lưu truyền lại cho các thế hệ tiếpnối những gì cần thiết, quan trọng Trước khi chữ viết ra đời, con người đãdùng hình thức kể chuyện để truyền miệng lại cho thế hệ sau những điều họthu nhận được Ngày nay, người ta vẫn gọi những câu chuyện như vậy làhuyền sử hay dã sử Tất nhiên, tính chính xác của hình thức “sử truyềnmiệng” này rất hạn chế, bởi qua mỗi lần kể lại, thường có sự sai lệch nhấtđịnh do trí nhớ, do “khẩu vị” của người kể (bớt đi tình tiết này, thêm vàotình tiết khác, giải thích sự kiện, hiện tượng theo nhận thức cá nhân) Đâycũng chính là hạn chế lớn nhất của thể loại dã sử hay huyền sử

Sự sáng tạo ra chữ viết là một thành tựu hết sức vĩ đại của loài người.Nhờ có chữ viết mà con người đã truyền tải thông tin không những vượtkhông gian mà vượt cả thời gian với độ chính xác cao hơn hẳn việc truyềnthông tin dưới hình thức truyền khẩu Việc chép sử được cố định lại dướihình thức văn bản, và do đó mà độ tin cậy của các nguồn thông tin cao hơnhẳn thể loại dã sử

Thành tựu đầu tiên của sử học phương Đông là các tài liệu lịch sửtrong các văn kiện của vua Sume, Accat (Lưỡng Hà), biên niên sử thờichiếm hữu nô lệ sơ kỳ ở Ai cập, các văn tự thời Ân, Thương (Trung Quốc),

…Tuy ghi chép để phục vụ cho giai cấp thống trị và có nhiều yếu tố kì bí,

Trang 22

song nó đã cung cấp một nguồn tư liệu quý giá về đương thời của xã hội cổđại

Sự ra đời của lịch pháp có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó tạođộng lực cho sử học phát triển hơn trước đó Lúc bấy giờ đã xuất hiện nhiềuhình thức biên soạn lịch sử, như biên niên sử, tiểu sử tự truyện Các hìnhthức này tương đối phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ Thời Xuân Thu(Trung Quốc), các sử quan luôn trung thành với nhà vua, chỉ ghi chép những

gì liên quan đến đời sống của nhà vua, phản ánh rất ít đời sống xã hội củanhân dân lao động

Trước tình tình xã hội hỗn chiến liên miên, Khổng Tử đã tập hợp

những ghi chép của mình trong các cuốn Kinh Xuân Thu (chép lịch sử nước

Lỗ, quê hương của Khổng Tử, từ thời Lỗ Ẩn Công (772 TCN) đến Lỗ Ai

Công (481 TCN) ), Kinh thi(ghi chép các bài dân ca về đời sống nhân dân lao động), Kinh thư (ghi chép những lời khuyên từ thời Nghiêu Thuấn đến Đông Chu) Đây là những tác phẩm có giá trị lịch sử, mục đích là lấy gương

người xưa để răn dạy dạy người đương thời về phép tắc, trật tự xã hội lúcbấy giờ

Ở Ấn Độ, lịch sử thời cổ đại được phản ánh trong bộ kinh Vêđa và hai

bộ sử thi nổi tiếng: Mahabharata và Ramayana Kinh Vêđa gồm 4 tập, tậphợp những bài ca ngợi các vị thần đại diện cho các thế lực thiên nhiên: mưa,sấm, lửa,…cho thấy tình hình phân chia đẳng cấp trong xã hội cổ đại Ấn Độlúc bấy giờ Hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana được nhân dân sángtác bằng các câu thơ đôi, kể về hành trình chinh phục tự nhiên của cư dân cổđại Ấn Độ (Riêng sử thi Mahabharata được xem là bộ bách khoa toàn thưcủa Ấn Độ)

- Ở phương Tây: Sử học cổ đại Phương Tây đạt đến trình độ cao hơnrất nhiều so với sử học cổ đại phương Đông với sự hình thành các nền sửhọc và sự xuất hiện của các sử gia nổi tiếng đến tận hôm nay

+ Ở Hi Lạp cổ đại, nổi lên một số nhà sử học tài danh như Hêrôđốt,Tuyxiđít, Pôlibi

Hêrôđốt (490-425TCN) nhà nhà sử học của thành bang Aten, ông viết

9 quyển về lịch sử Hi Lạp và các nước phương Đông, trong đó nổi tiếng nhất

là cuốn “Cuộc chiến tranh Hi Lạp – Ba Tư” Trong phương pháp viết sử, tuy

ông chưa tách lịch sử với các câu chuyện kể về khoa học tự nhiên, địa lý,nhân chủng…song ông đã trình bày sự kiện theo chủ đề nhất định nên cungcấp được nhiều tài liệu quý giá Ông được mệnh danh là “cha đẻ của nền sửhọc phương Tây”

Trang 23

Tuyxiđít (460-391 TCN) là tác giả của cuốn “Lịch sử cuộc chiến tranhPêlôpône” Trên cơ sở những tài liệu gạt bỏ việc giải thích lịch sử bằng sựcan thiệp của thần linh, ông đã trình bày sự kiện và mối liên hệ giữa các sựkiện Đây là bước phát triển của sử học cổ đại.

Pôlibi (201 -120 TCN) không trình bày lịch sử một nước, mà trình bàylịch sử các nước quan trọng nhất ở Địa Trung Hải bị Rôma chiếm từ 164-

146 TCN Đây là nội dung bộ “Thông sử”, gồm 40 quyển Lần đầu tiên kháiniệm lịch sử thế giới xuất hiện Ngoài ra, ông còn chú ý đến tác dụng giáodục của lịch sử

+ Ở Rôma cổ đại, trên cơ sở tiếp thu thành tựu sử học của Hi Lạp,phát triển hình thức biên soạn lịch sử, nhất là việc xác định niên đại các sựkiện chính xác hơn Các sử gia tìm cách giải thích các sự kiện bằng tâm lýcủa những nhân vật đã tham sự vào những sự kiện ấy, đặc biệt là sự canthiệp của các vị thần linh, nên các sự kiện đáng tin cậy cũng lẫn lộn với cácchuyện hoang đường Các nhà sử học nổi tiếng của Rôma cổ đại gồm có:Taxít, Putulac, Apian

Taxít (khoảng năm 50 - 120), tác giả bộ “Biên niên sử Rôma”, ghi quátrình diễn biến của nền chính trị ở đế quốc Rôma và bóc trần sự thối nát củanền chuyên chế Rôma Tuy nhiên, ông chưa thoát khỏi quan niệm về sốmệnh, về các điềm lành, dữ, các hiện tượng thần bí của tự nhiên đã chi phốilịch sử

Apian (? – những năm 70 của thế kỷ II), ông là tác giả bộ “Lịch sử

Rôma” (viết về thời kỳ bắt đầu xây dựng thành Rôma đến đầu thế kỷ II),

gồm 24 tập và được C.Mác đánh giá rất cao về nội dung cũng như phươngpháp viết sử

3.2 Sử học thời trung đại

Chế độ phong kiến hình thành trên cơ sở sự tan rã của chế độ chiếmhữu nô lệ Ý thức hệ phong kiến cũng nảy sinh cùng với sự ra đời của chế độphong kiến và chi phối mạnh mẽ sử học.Chế độ xã hội phong kiến hìnhthành và phát triển ở các nước không giống nhau về thời gian, tính chất, nên

sử học phong kiến ở các nước cũng mang những màu sắc khác nhau Tuyvậy, nét chung của sử học phong kiến đó là đều xem lịch sử là kết quả sựcan thiệp của ý trời vào đời sống của con người, mà đại diện là vua Mọidiễn biến lịch sử theo ý trời đã định trước

- Ở Châu Âu: trong nền văn hóa của xã hội phong kiến, lịch sử có địa

vị vô cùng nhỏ bé, chỉ được sử dụng để củng cố giáo lí nhà thờ Thiên chúagiáo và chính sách thống trị của giai cấp cầm quyền Cả một thời kỳ dài, sửhọc phương Tây bị chi phối bởi các thế lực nhà thờ, là nô bộc của thần học

Trang 24

Các nhà sử học trong suốt nhiều thế kỷ chỉ làm việc “minh họa” cho cácthánh tích Kitô giáo Mãi tới thời Phục Hưng, cùng với sự tháo cũi sổ lồng

về tư tưởng nói chung, thế giới quan sử học cũng đã vượt qua vòng kiềm tỏacủa Giáo hội, đi vào phản ánh trung thực những hiện thực đã xẩy ra trongquá khứ, lúc đó lịch sử mới trở thành một lĩnh vực khoa học

Thành tựu đáng tự hào của sử học châu Âu thời kỳ này là sự xuất hiệnnhiều sử gia nổi tiếng, như: L Bruni, F Bôngđô, N Makiavêli (Italia)… đãđấu tranh bác bỏ quan điểm lịch sử của giáo hội phong kiến

Cùng với sử học, thời kỳ này cũng chứng kiến sự xuất hiện của các

chuyên ngành khác nhau của khoa học lịch sử như Sử liệu học, Cổ tự học,

Niên đại học các ngành khoa học này hỗ trợ tích cực cho khoa học lịch sử.

- Ở phương Đông, chế độ phong kiến ra đời sớm hơn ở châu Âu Đạibiểu cho sử học phương Đông là sử học Trung Quốc, với nhiều tác giả và tácphẩm nổi tiếng

Tư Mã Thiên được mệnh danh là “cha đẻ” của nền sử học Trung

Quốc Giữa vai trò là một vị quan sử, ông bỏ nhiều công sức để tìm hiểu quákhứ thông qua việc đọc sách và đi du ngoạn khắp nơi để thu thập tài liệu

Các tác phẩm nổi tiếng của ông gồm: Sử kí (130 thiên), Bản kỉ (12 kỉ), Thế

gia (30 thiên), Liệt truyện (17 thiên), trong đó, nổi tiếng nhất là bộ Sử kí

Có thể nói, Tư Mã Thiên là người đầu tiên viết lịch sử toàn TrungQuốc và là người đầu tiên viết sử trên mọi mặt của đời sống xã hội Phươngpháp viết sử của ông là chú trọng nhiều đến việc sư tầm tư liệu Thái độ viết

sử của ông công minh qua các lời bình luận, nghị luận đánh giá về các nhânvật nổi tiếng Ông trở thành một mẫu hình về nhà chép sử không chỉ ở TrungQuốc mà còn có sức ảnh hưởng đến sử gia nhiều nước phương Đông khác

Trong thời kỳ này, sử học Trung Quốc thịnh hành lối viết sử theo cáctriều đại kế tiếp nhau, chứ không phải là lịch sử của từng nước nhỏ như cách

viết trước đó, loại hình này gọi là “Đoạn đại sử” Ban Cố là người đầu tiên viết loại sử này khi trình bày về đời Tây Hán trong tác phẩm Hán Thư Tiếp

đó, các triều đại ở Trung Quốc đều có quyển sử của mình Trung Quốc có

đến 25 bộ Đoạn đại sử- từ Hán thư cho đến Thanh Sử Bộ Nhị thập ngũ sử

(25 bộ) là bộ bách khoa toàn thư lịch sử phong kiến Trung Quốc

Ngoài Đoạn đại sử, Trung Quốc cũng có những bộ thông sử viết chung về lịch sử cả nước, như Thư trị thông giám của Tư Mã Quang, Chu

Hy viết Thông giám cương mục, …

3.3 Sử học thời cận đại

- Sử học tư sản: Giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị sau khi cáccuộc cách mạng tư sản hoàn thành và xác lập chủ nghĩa tư bản trên phạm vitoàn thế giới Từ giai cấp tiến bộ đang lên, nó dần cản trở sự phát triển củalịch sử

Trang 25

So với sử học phong kiến, sử học tư sản có bước tiến vượt bậc Ở thời

kỳ đầu, sử học Khai sáng có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh chống

lại thế giới quan của sử học phong kiến và tìm ra quy luật lịch sử trong bảnchất con người, trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Tuy chưathoát khỏi quan điểm siêu hình, máy móc, song những nhận thức về quy luậtlịch sử có ý nghĩa quan trọng trong việc biến lịch sử thành một khoa học

Nửa sau thể kỷ XIX, khi chủ nghĩa tư sản thắng thế hoàn toàn đối vớichế độ phong kiến, thì sử học tư sản đạt đến sự hưng thịnh của mình, songtrong sự hưng thịnh đó, nó bắt đầu bộc lộ những quan điểm, tính chất phảntiến bộ Thể hiện rõ nhất là sự ảnh hưởng của triết lý duy tâm về lịch sử củaHêghen đến các nhà sử học các nước châu Âu

Đến cuối thế kỷ XIX, sử học tư sản có nhiều tiến bộ trong các lĩnhvực: tích lũy sự kiện, nghiên cứu tài liệu, nâng cao trình độ khoa học của cáccông trình nghiên cứu, tiếp tục phát triển các ngành khoa học hỗ trợ cho lịch

sử Xuất hiện nhiều sử gia có cống hiến trong việc nghiên cứu các giai đoạnđầu của lịch sử phát triển xã hội loài người, như G.H.Maorơ, L.G Moocgan

Tuy vậy, đây cũng là thời kỳ xuất hiện những cuộc xâm lăng của cácnước phương Tây đối với các dân tộc phương Đông và chủ nghĩa thực dân

đã toan tính việc sử dụng sử học như một công cụ cho công cuộc xâm lược

và nô dịch các dân tộc Á, Phi, Mỹ latinh Đây đó xuất hiện những chủ thuyết

về dân tộc văn minh, thượng đẳng và dân tộc dã man, hạ đẳng và hành vi

vô nhân đạo của các quốc gia tư bản chủ nghĩa được giới sử gia tư sản tô vẽnhư một sứ mệnh vinh quang -“khai hóa văn minh cho các dân tộc bánkhai”, hay được giải thích bằng các quy luật sinh học như “phù hợp vớiquy luật cạnh tranh sinh tồn”

- Sự ra đời của sử học mác xít: Mác và Ăng ghen đặt nền móng cho

sự ra đời của nền sử học mác xít bằng việc áp dụng chủ nghĩa duy vật biệnchứng và nghiên cứu khoa học xã hội làm cho khoa học lịch sử có cơ sởkhoa học về phương pháp luận Quan niệm duy vật lịch sử mở ra một bướcngoặt quan trọng trong nhận thức đời sống xã hội Tuy nhiên, sử học mácxít tiếp tục những thành tựu của nhiều thế hệ sử học trứơc kia để phát triểntrên cơ sở lí luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Những nguyên lí của chủ nghĩa Mác đã vũ trang cho khoa học lịch sử

sự hiểu biết về những vấn đề chủ yếu và quyết định của sự phát triển xã hội.Công lao của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác là làm cho khoa học lịch sửtrở thành một khoa học chân chính Như vậy, với sự ra đời của chủ nghĩaMác, sử học Mác xít được hình thành và hoàn thành công cuộc cách mạngtrong khoa học xã hội

3.4 Sử học thời hiện đại

Trang 26

- Sự phát triển của nền sử học mácxít: Các tác phẩm của Lênin trướccách mạng Tháng Mười chuẩn bị cho sự ra đời của sử học Xô viết Sau cáchmạng, chính quyền Xô viết tạo điều kiện cho nghiên cứu lịch sử phát triển:

mở các phòng lưu trữ, thành lập các cơ quan nghiên cứu lịch sử như Việnhàn lâm xã hội chủ nghĩa (1918), Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng và Cáchmạng tháng Mười (1920), Viện Mác – ăng ghen- Lênin (1921-1923), xuấtbản nhiều tạp chí khoa học

Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và trong chiến tranh giữnước vĩ đại, sử học Xô viết đã có nhiều đóng góp to lớn, thông qua các tácphẩm nghiên cứu lịch sử Nga, các nước cộng hoà trong Liên bang Xô viết,các nước đế quốc (Anh, Pháp, Đức, Mỹ) và nhiều nước thuộc địa, phụthuộc Phạm vi nghiên cứu khá rộng lớn, từ những vấn đề cụ thể đến nhữngvấn đề lí luận

Trên cơ sở học thuyết mác xít về quy luật, bản chất của phương thứcsản xuất tư bản chủ nghĩa, lần đầu tiên các nhà sử học mác xít làm sáng tỏnhiều vấn đề lịch sử thời kỳ tư bản chủ nghĩa: cách mạng công nghiệp ởPháp (của F.V Pôtemkin), lịch sử cách mạng công nghiêp tư bản chủ nghĩa

và tình cảnh của giai cấp công nhân, lịch sử về giai cấp công nhân và phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế, cũng như lịch sử về phong trào giải

phóng dân tộc, Kết quả được thể hiện trong các tác phẩm: Lịch sử phong

trào công nhân Anh của F.A Rôxkin, Lịch sử phong trào công nhân Nga

của A.M Panuvatova, Về phong trào giải phóng dân tộc ở các nước phương

Đông của A.A.Kin,

Nhiều thành tựu của nền sử học xô viết được ghi nhận bằng các công

trình nhiều tập về Lịch sử thế giới, Lịch sử Liên Xô, cuộc chiến tranh giữ

nước vĩ đại (1941 - 1945), bộ Bách khoa toàn thư lịch sử Xô viết,

Tuy nhiên, do những sai lầm về nhận thức chủ nghĩa xã hội, tệ sùngbái chủ nghĩa cá nhân, chế độ quan liêu bao cấp đã ảnh hưởng không nhỏđến sự phát triển của sử học Xô viết Không ít những công trình chỉ là sựminh hoạ, áp đặt của đường lối chính trị hoặc là những ý kiến cá nhân Một

số tài liệu còn bị bưng bít hoặc xuyên tạc làm cho các nhà nghiên cứu không

có điều kiện nhận thức đúng sự thật

Ở các nước xã hội chủ nghĩa khác như các nước Đông Âu trước đây,Trung Quốc, Cu Ba, Việt Nam, Triều Tiên, và một số nước tư bản chủnghĩa và độc lập dân tộc, sử học mác xít cũng phát triển mạnh mẽ

Ở Trung Quốc, việc tổ chức nghiên cứu lịch sử đến năm 1953-1954mới hoàn thành Viện Sử học hiện đại, Viện Khảo cổ học được thành lậpthuộc Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc Thành tựu sử học tiêu biểu làLược khảo lịch sử Trung Quốc do GS,VS Quách Mạt Nhược chủ biên trìnhbày lịch sử dân tộc từ thời cổ đại đến thế kỷ XX, là công trình quy mô lớn

Trang 27

đầu tiên Công tác thu thập tài liệu, hệ thống hoá và chú giả tư liệu lịch sửđược coi trọng Các công trình chuyên khảo lich sử được công bố trong bộ

sách nhiều tập Trung Quốc lịch sử toàn thư, các tạp chí Nghiên cứu lịch sử,

Tân nghiên sách, Khảo cổ, đã công bố nhiều công trình nghiên cứu có chất

lượng

Thời kỳ “đại cách mạng văn hoá” và nhiều năm sau đó, việc nghiêncứu lịch sử của Trung Quốc bị đình trệ Hiện nay, sử học Trung Quốc đangđổi mới, có nhiều thành tích nghiên cứu

- Sử học tư sản thời hiện đại: Những biến cố xảy ra dồn dập ở thế kỷ

XX đã ảnh hưởng mạnh đến sử học tư sản

Sử học tư sản đã gây ra khủng hoảng về lí luận và triết lí lịch sử.Nhiều nhà sử học tư sản lẩn tránh vấn đề cơ bản của triết học như vấn đềquan hệ giữa nhận thức và tồn tại trong bản thân khoa học lịch sử và đi tớikết luận rằng: nhà nghiên cứu không thể nhận thức được quá khứ lịch sử

Lợi dụng sự khủng hoảng đi tới sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên

Xô và Đông Âu, các nhà sử học tư sản đẩy mạnh hơn nữa việc chống chủnghĩa Mác – Lênin, chống chủ nghĩa cộng sản, chống phong trào cách mạngthế giới Khuynh hướng chống cộng trong sử học phương Tây ngày một giatăng, tấn công vào học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa mácxít, tấn công chủ nghĩa Mác – Lênin và chế độ cộng sản, chống lại sự pháttriển của các nước độc lập dân tộc, Thậm chí sử học phương Tây còn đưa

ra cái gọi là “ngày tận thế” của xã hội loài người và nói tới sự “cáo chungcủa khoa học lịch sử”

Ngoài khuynh hướng phản động trên, sử học tư sản cũng có nhữngkhuynh hướng tiến bộ Họ chống lại khuynh hướng đối lập trên và nhiều sửgia thừa nhận quá trình phát triển hợp quy luật của lịch sử và xem lịch sử làmột khoa học thực sự

Hiện nay, xu thế hoà nhập quốc tế đang tăng lên, cùng với nó là sựthay đổi của nền sử học Các nhà sử học tiến bộ trên thế giới đứng lên đấutranh cho một nền sử học chân chính, cho dân chủ, hoà bình và tiến bộ xãhội Khi rào cản về ý thức hệ được xếp lại, các nhà sử học bắt đầu có đượctiếng nói chung, bình đẳng trong các cuộc tranh luận về học thuật, trao đổitài liệu, đóng góp ý kiến, thông qua các hội thảo khoa học cấp quốc gia,khu vực và quốc tế

Câu hỏi ôn tập:

1 Trình bày những thành tựu sử học tiêu biểu của nền sử học phương Đông

và phương Tây thời cổ đại

2.Những nét chung về thể loại chép sử và quan điểm sử học của các

sử gia phong kiến

Trang 28

3 Những đóng góp của sử học tư sản đối với sự phát triển của khoahọc lịch sử.

4 Vì sao với sự ra đời của chủ nghĩa Mác, lịch sử trở thành một khoahọc thực sự chân chính?

Chương IV: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA

KHOA HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 4.1 Sử học Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến nửa sau thế kỷ XIX

4.1.1 Đôi nét về nhận thức lịch sử trước thế kỷ X

Việt Nam có lịch sử lâu đời Các nhà khảo cổ học đã chứng minhrằng, Việt Nam là một trong những cái nôi sản sinh ra loài người với nhữngbằng chứng về sự sinh sống của con người cách đây hàng vạn năm về trước

Ngay từ khi mới xuất hiện, con người đã có ý thức tìm hiểu về nguồngốc, tổ tiên, sinh hoạt đời sống trong quá khứ… Nhận thức lịch sử trở thànhmột yêu cầu của con người trong xã hội Trong cuộc đấu tranh sinh tồn với

tự nhiên, rồi đấu tranh giai cấp, hiểu biết quá khứ là một điều kiện để tồn tại

và phát triển Bởi vì mỗi thế hệ đi vào cuộc sống, hướng theo sự phát triểnchung của nhân loại và dân tộc, không thể không mang theo những giá trịcủa quá khứ

Cũng như mọi dân tộc khác, trước khi có chữ viết, nhân dân Việt Nam

đã thể hiện những kiến thức, những quan điểm về lịch sử của mình được thểhiện trong các câu chuyện thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ca dao, tụcngữ… Văn học dân gian là một nguồn tư liệu lịch sử quý giá Nó phản ánh –

dù dưới hình thức chưa thật chính xác khoa học- một số sự kiện nhận thức,tâm tư, nguyện vọng của con người của thời đại xa xưa.Chữ viết mới đượcdùng ở nước ta khoảng trên 1000 năm, còn văn học dân gia đã tồn tại từ rấtlâu, là sản phẩm của tư duy, phản ánh quan điểm của những tập đoàn người

về bản thân mình, về những sự kiện lịch sử, về mối quan hệ giữa người vớithiên nhiên, con người với con người, các loại hình văn hóa dân gian đã mô

tả lịch sử xã hội qua các thời đại

- Các câu chuyện thần thoại: Âu Cơ – Lạc Long Quân, Sơn Tinh –Thủy Tinh, Thánh Gióng là những câu chuyện cổ nhất xuất hiện gần nhưđồng thời vào buổi đầu dựng nước của nhân dân ta Nó khái quát nhữngnhận thức đầu tiên của cha ông ta về nguồn gốc dân tộc, về cuộc đấu tranhvới thiên nhiên, về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm để giữ nước

- Truyền thuyết về các vua Hùng (Lang Liêu), các chuyện cổ tích(Trầu cau, Cây tre trăm đốt, Sọ Dừa)… sau khi gột bỏ những yếu tố hoangđường, kỳ bí sẽ nhận thấy sự phản ánh khéo léo của người xưa về phong tục

Trang 29

tập quán của dân tộc, lối sống, ứng xử giữa con người với thiên nhiên, conngười với con người trong cộng đồng, xã hội.

- Ca dao, tục ngữ lưu truyền rộng rãi trong dân gian cũng ghi lại rấtnhiều thông điệp lịch sử thời kỳ chưa có chữa viết Nguồn tài liệu này khôngchỉ phản ánh đời sống sinh hoạt vật chất, tinh thần của người dân lao động,

mà qua đó còn cho thấy cốt tính, bản chất của của con người

- Lễ hội dân gian, truyền thống dân tộc được diễn ra vào các thời điểmkhác nhau trong năm cũng là một trong những kho tàng tri thức lịch sử cầnđược chú ý xem xét và khai thác Bởi vì, những lễ hội này ra đời để phục vụsinh hoạt văn hóa tinhh thần của con người, phản ánh những hoạt động laođộng, sản xuất của họ và ở một mức độ nào đó đã được nâng lên thành sânkhấu hóa Do đó, các lễ hội dân gian, truyền thống dân tộc luôn mang trongmình thông điệp lịch sử và là nguồn tư liệu lịch sử quý giá

Khai thác tài liệu lịch sử trong văn học dân gian, kể cả trong lễ hội cổtruyền cho thấy quan niệm của tổ tiên ta về nhận thức lịch sử, thái độ đối vớicon người và sự việc trong quá khứ Qua tài liệu văn học dân gian, chúng ta

sẽ thu được nguồn tư liệu quý sau khi đã thẩm tra, xử lý

Hơn nữa, ở thời kỳ trước thế kỷ XI, việc nhận thức được lịch sử dântộc, nguồn gốc tổ tiên là một biện pháp hữu hiệu tạo nên sức mạnh dân tộc

để đấu tranh và tồn tại, phát triển, vượt qua mọi sự đàn áp, đồng hóa và thoátkhỏi ách thống trị gần 1000 năm của phong kiến phương Bắc Mặt khác,những nguồn sử liệu lưu truyền trong dân gian có vai trò to lớn trong việccung cấp thông tin cho các nhà sử học giai đoạn sau biên soạn lịch sử

4.1.2 Sử học thời Lý – Trần

- Sau khi thoát khỏi sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, các triềuđại Ngô, Đinh, Tiền Lê chưa có điều kiện ghi chép, biên soạn lịch sử dântộc Bắt đầu từ thời Lý (thế kỷ XI), việc xây dựng nền sử học Việt Nam mới

có điều kiện để chính thức hình thành

Từ thời Lý (1009-1226), khi công việc xây dựng một quốc gia độc lậpđược đặt ra với quy mô lớn thì nhu cầu xây dựng một nền văn học, sử họccũng được đặt ra cùng với việc mở rộng và phát triển kinh tế Nhà Lý bắtđầu chăm lo mở mang việc học tập và thi cử để tổ chức bộ máy quản lý.Năm 1070, nhà lý cho xây dựng Văn Miếu làm nơi thờ Khổng Tử và thấtthập nhị hiền, vừa là nơi học tập của con em quý tộc, quan lại Năm 1075,nhà Lý mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn nhân tài Nội dung học tập và thi

cử vẫn dựa vào bộ Tứ thư, Ngũ kinh và thêm Bắc sử (lịch sử Trung Quốc

thời Hán, Tống) Lịch sử dân tộc chưa được tổ chức biên soạn và chưa trởthành nội dung học tập và thi cử Tuy vậy, trong triều đã có chức sử quan

Ngày đăng: 15/07/2015, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w