TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ====== PHÍ KHÁNH LINH NHÂN VẬT NỮ TRONG TẬP TRUYỆN NGƯỜI SÓT LẠI CỦA RỪNG CƯỜI VÕ THỊ HẢO VÀ TIỂU THUYẾT CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
PHÍ KHÁNH LINH
NHÂN VẬT NỮ TRONG TẬP TRUYỆN NGƯỜI
SÓT LẠI CỦA RỪNG CƯỜI (VÕ THỊ HẢO) VÀ
TIỂU THUYẾT
CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
PHÍ KHÁNH LINH
NHÂN VẬT NỮ TRONG TẬP TRUYỆN NGƯỜI
SÓT LẠI CỦA RỪNG CƯỜI (VÕ THỊ HẢO) VÀ
TIỂU THUYẾT
CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Trongquá trình làm khóa luận tốt nghiệp em đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều phía.Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Nguyễn Thị VânAnh đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho em trongsuốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn đến thầy cô trong khoa Ngữ Văn, tổ Lí luận vănhọc, những người đã truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm cho em trong thờigian học tập ở đại học
Khóa luận này còn thiếu sót vì thiếu kiến thức chuyên môn và kinhnghiện thực tế Em mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp từ các thầy cô
và bạn bè để nội dung khóa luận tốt nghiệp có thể hoàn thiện hơn
Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2019
Tác giả khóa luận
Phí Khánh Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của riêng tôidưới sự hướng dẫn TS Nguyễn Thị Vân Anh Nội dung nghiên cứu và kếtquả nghiêm cứu là trung thực và chưa từng được công bố hình thức nào trướcđây Ngoài ra, trong khóa luận có sử dụng những nhận xét, đánh giá đã đượcchú thích ghi rõ nguồn gốc
Nếu có phát hiện hình thức gian lận nào em xin chịu hoàn toàn tráchnhiệm về nội dung khóa luận của mình
Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2019
Phí Khánh Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH 6
1.1 Khái niệm văn học so sánh và sự hình thành bộ môn văn học so sánh
6 1.1.1 Khái niệm văn học so sánh
6 1.1.2 Sự hình thành bộ môn văn học so sánh 8
1.2 Các loại hình nghiên cứu của văn học so sánh 9
1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng 9
1.2.2 Nghiên cứu song hành 12
1.2.3 Nghiên cứu liên ngành 15
1.3 Ý nghĩa của việc tiếp cận văn học từ lí thuyết văn học so sánh 15
CHƯƠNG 2: NÉT TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ TRONG NGƯỜI SÓT LẠI CỦA RỪNG CƯỜI VÀ CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ 17
2.1 Phụ nữ là nạn nhân đau thương của chiến tranh 17
2.1.1 Những mất mát về tinh thần 17
2.1.2 Những thiếu thốn về vật chất 23
2.2 Cảm quan về chiến tranh của người phụ nữ 25
2.2.1 Chiến tranh - nguồn gốc của những chấn thương về mặt tâm lí 26
2.2.2 Chiến tranh - kẻ cướp đạt bản thể giới 29
2.3 Cảm quan về người phụ nữ trong chiến tranh 31
2.3.1 Ngợi ca vẻ đẹp nữ tính 31
Trang 62.3.2 Cái nhìn đồng cảm, thương xót 35
CHƯƠNG 3: ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ TRONG NGƯỜI SÓT LẠI CỦA RỪNG CƯỜI VÀ CHIẾN TRANH KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ 39
3.1 Vai xã hội của giới nữ 39
3.2 Tâm lý, tính cách và số phận của nhân vật nữ 45
3.3 Những vấn đề đặt ra 51
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Theo lí luận văn học: “Văn học phản ánh hiện thực nhưng không phải
là chụp ảnh sao chép hiện thực một cách hời hợt nông cạn Nhà văn không bênguyên si các sự kiện, con người vào trong sách một cách thụ động, giản đơn.Tác phẩm nghệ thuật là kết quả của một quá trình nuôi dưỡng cảm hứng, thainghén sáng tạo ra một thế giới hấp dẫn, sinh động thể hiện những vấn đề có
ý nghĩa sâu sắc, bản chất của đời sống xã hội con người Nhân vật trong tácphẩm của một thiên tài thực sự nhiều khi thật hơn cả con người ngoài đời, bởisức sống lâu bền, bởi ý nghĩa điển hình của nó Qua nhân vật, ta thấy cả mộttầng lớp, một giai cấp, một thời đại, thậm chí có nhân vật vượt lên cả thời đại,
có ý nghĩa nhân loại, vĩnh cửu sống mãi với thời gian” [2] Văn học không thểthiếu nhân vật, bởi đó là hình thức cơ bản để văn học miêu tả thế giới mộtcách rõ nét Văn học thực chất có mối quan hệ với đời sống hiện thực, nó táihiện đời sống qua đối tượng nhất định Nhân vật văn học là một hiện tượngnghệ thuật ước lệ, đóng vai trò là những tấm gương phản chiếu cuộc đời.Nhân vật văn học khác với nhân vật trong hội họa, điêu khắc ở chỗ nó thểhiện qua hành động, lời nói Nó luôn hứa hẹn những điều chưa biết, nhữngđiều sẽ xảy ra trong quá trình giao tiếp Việc nghiên cứu nhân vật văn học sẽcung cấp những phương diện về giá trị tư tưởng, cảm quan nghệ thuật của nhàvăn cũng như những đóng góp vào văn chương các tiếp nhận mới
Nhân vật trong văn học được lấy từ những con người thực ngoài đờisống, phụ thuộc vào thời gian, quốc gia, dân tộc, tôn giáo, thời đại… mà nhânvật trong mỗi tác phẩm có đặc điểm khác nhau Cũng giống như ngoài đờisống, nhân vật văn học có giới tính, có độ tuổi, quê quán rõ ràng Về giới tính,nhân vật nam và nhân vật nữ có tính cách phụ thuộc vào quan điểm của tácgiả Xuất hiện trong các thể loại văn học, các nền văn học và thời gian khácnhau, điều đó cho thấy nhân vật nữ là nguồn cảm hứng vô tận cho các tác giảnhân loại Không chỉ được khắc họa ở vẻ đẹp ngoại hình mà các nhân vật nữcòn được khám phá ở tâm lý, suy nghĩ, tính cách, ngôn ngữ, hành động Cácnhân vật nữ có thể mang vẻ đẹp toàn mĩ về cả tâm hồn và ngoại hình nhữngcũng chỉ có một trong hai phương diện đó Ở đó các nhân vật nữ được tái hiện
từ những khuôn mẫu người phụ nữ ngoài đời thực một các chân thực nhất
Trang 8Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich là hai tác phẩm cùng viết về
người phụ nữ là nạn nhân của chiến tranh Nhưng đồng thời, hai tác phẩm nàythuộc hai nền văn học khác nhau, hai dân tộc khác nhau và thời điểm sáng táckhác nhau Đã có những nghiêm cứu về hai tác phẩm này trên nhiều phươngdiện, song chưa được nhìn nhận ở góc độ văn học so sánh
Bộ môn Văn học so sánh hình thành tương đối muộn vì văn học thếgiới đã có sự giao lưu rất lâu đời Trong nghiên cứu văn học xuất hiện nhucầu khái quát văn học nhân loại và xác định tính đặc thù của mỗi nền văn họcquốc gia Chúng ta không thể nhìn thế giới bằng con mắt dân tộc mình màphải thường xuyên nhìn văn học dân tộc mình bằng con mắt thế giới.Văn học
so sánh, do đó, là bộ phận vượt lên giới hạn của văn học dân tộc để nghiêncứu mối quan hệ giữa các nền văn học trên thế giới
Qua bài nghiên cứu về nhân vật nữ Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo và tiểu thuyết Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Sve-
lana Alexievich với mục đích chỉ ra nét tương đồng và điểm khác biệt về kiểunhân vật nữ trong hai tác phẩm này Đồng thời cho thấy tính thực tiễn của
bộ môn Văn học so sánh
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về tập truyện ngắn Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo với 27
truyện ngắn trong tập truyện này Mỗi câu chuyện là một số phận, một cảnhđời khác nhau được khắc họa dưới ngòi bút chân thực nhất từ những câuchuyện trong đời sống về những người phụ nữ là nạn nhân của chiến tranh
Đã có không ít những ý kiến nhận xét về nhân vật nữ trong truyện ngắn Người
sót lại của rừng cười, chúng tôi xin đưa ra những đánh giá, bình luận tiêu biểu
như sau:
Qua bài phỏng vấn Võ Thị Hảo Suốt đời chỉ mơ một giấc, Nguyễn
Hằng đưa ra nhận định: “Chị được xếp vào hàng những cây bút sắc sảo vàgiàu nữ tính Những phận đàn bà, những con người nhỏ bé trước bão lũ cuộcđời, những gì rất riêng tư mà chẳng riêng tư chút nào, là điều mà chị luôn trăntrở trên các trang viết của mình”
Trang 9Ở bài viết Huyền thoại tình yêu, Nguyễn Văn Lưu có đánh giá: “Tác
giả giành cho trái tim người phụ nữ, cho số phận người phụ nữ lòng yêuthương đau xót sâu sắc nhất Thân phận người phụ nữ lòng trở thành tâm
niệm thường xuyên, da diết trong những trang viết của Võ Thị Hảo”.
Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ - Một tác phẩm của tác
giả Svetlana Alexievich - Nobel văn chương 2015 Cuốn tiểu thuyết Chiến
tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich là một trong
nhiều cuốn sách viết về chiến tranh của Svetlana Alexievich Tác phẩm đượcxuất bản lần đầu tiên tại Nga năm 1983, được nhà văn Nguyên Ngọc dịch vàxuất bản ở Việt Nam cuối thập niên 1980 Tới năm 2013, Svetlana Alexievichviết lại hoàn toàn cuốn sách, bản mới được dịch và ra mắt khán giả sau đó
Trong tạp chí Sông Hương - số 20 (T.8 - 1986) đăng bài: Xet-la-na và
tác phẩm chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ do Vương Kiều dịch
bằng tiếng Pháp đã ghi lại cuộc phỏng vấn của bà về một số vấn đề xoayquanh tác phẩm, đặc biệt là những người phụ nữ trong chiến tranh: “Tôi đãtiếp xúc với những mẫu phụ nữ hết sức khác nhau, có người thái độ của họquả quyết trong chiến tranh, có người bị chiến tranh đè bẹp, có người giữđược bản chất thanh khiết, lại có người bị tước mất tinh thần thơ mộng, cóngười e dè khép kín, có người lại cởi mở Đó là những phụ nữ với sức mạnhtinh thần của họ, cộng với khả năng to lớn của tâm hồn nhân bản, họ đã tạonên chủ đề cuốn sách của tôi” [14]
Nhìn chung qua việc khảo sát tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận
thấy hai tác phẩm Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo và tiểu thuyết
Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlanna Alexievich đã
được nhiều nhà nghiên cứu ở các phương diện khác nhau Tuy nhiên, nhân vật
nữ trong hai tác phẩm chưa được nhìn nhận một rõ nét khi đối sánh hai tácphẩm với nhau Vì vậy, với lý thuyết của bộ môn Văn học so sánh và đặcđiểm của nhân vật nữ trong hai tác phẩm này chúng tôi sẽ làm sáng rõ néttương đồng và điểm khác biệt Từ đó đóng góp vào thực tiễn nghiên cứu của
bộ môn Văn học so sánh
3 Đối tượng nghiên cứu
Phân tích, so sánh nhân vật nữ trong hai tác phẩm Người sót lại của
Rường cười (Võ Thị Hảo) và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ
Trang 10(Alexievich) nhằm thấy được nét tương đồng và khác biệt của những hiệntượng văn học nói trên.
4 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài nghiên cứu trên, chúng tôi tập trung khảo sát và phântích trong hai tác phẩm:
- Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo, NXB Phụ Nữ, 2006.
- Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich
(Nguyên Ngọc dịch), NXB Hà Nội, 2015
Ngoài ra, nhằm chứng minh thuyết phục hơn về những đặc điểm tươngđồng và khác biệt cũng như sự độc đáo của hai tác phẩm nói trên, tác giả khóaluận còn mở rộng phạm vi khảo sát và nghiên cứu sang một số hiện tượng văn
học tiêu biểu khác, chẳng hạn như: Chiến tranh và hòa bình của L Tônxtôi,
các tác phẩm của Juri Bondarev…
5 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết của Văn học so sánh vào việc nghiên cứu đề tài
“Nhân vật nữ trong tập truyện Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo)
và tiểu thuyết Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (Svetlana
Ale-ievich)” để thấy được giá trị nội dung và nghệ thuật của hai tác phẩm này
So sánh kiểu nhân vật nữ trong hai tác phẩm để thấy được những đặcđiểm, sáng tạo và ảnh hưởng của mỗi tác phẩm Đồng thời khẳng định sựthành công về đề tài giới nữ của hai tác giảthuộc hai nền văn học khác nhau,
ta nhận thấy vị trí, tầm quan trọng của bộ môn Văn học so sánh
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 11Trong các phương pháp kể trên chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh
là phương pháp chủ yếu
7 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa khóa luận được triển khai làm 3 chương cụ thể như sau:
- Chương 1: Những vấn đề chung về văn học so sánh
- Chương 2: Nét tương đồng giữa kiểu nhân vật nữ trong Người sót lại
của rừng cười và Chiến tranh không có khuôn mặt người phụ nữ.
- Chương 3: Điểm khác biệt giữa kiểu nhân vật nữ trong Người sót lại
của rừng cười và Chiến tranh không có khuôn mặt người phụ nữ.
Trang 12NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC SO SÁNH 1.1 Khái niệm văn học so sánh và sự hình thành bộ môn văn học so sánh
1.1.1 Khái niệm văn học so sánh
Thuật ngữ “littérature comparée” trong tiếng Pháp được dịch sang tiếngViệt có nghĩa là “văn học so sánh”, xuất hiện đầu ở nước Pháp năm 1816 tronggiáo trình Văn học so sánh của Noel và Laplace và lan rộng sang các nướcChâu Âu Bên cạnh tiếng Pháp, các nước khác cũng đưa ra các thuật ngữ khácnhau Trong tiếng Anh có thuật ngữ Comparative literature, tiếng Nga có thuậtngữ “Изучите сравнительную литературу” được hiểu là “nghiên cứu văn học
so sánh”, tiếng Đức có thuật ngữ “Vergleichende Literaturgeschichte” Tuynhiên đến nửa sau thế kỷ XIX đến nay, thuật ngữ “littérature comparée” trongtiếng Pháp và “Comparative literature” trong tiếng Anh được sử dụng phổ biến.Ban đầu là một thuật ngữ được ít người biết đến, sau này, khi nhu cầu nghiêncứu sự giao thoa các nền văn học lớn trên thế giới trở nên cần thiết thì thuậtngữ này mới được nhắc đến nhiều hơn Cho đến nay, trên thế giới có hàng trămđịnh nghĩa về văn học so sánh Mỗi nhà nghiên cứu ít nhiều liên quan đến bộmôn mới này đều có cách định nghĩa riêng và các cách định nghĩa đó cónhững nét tương đồng và dị biệt khi cắt nghĩa
Đại diện cho trường phái văn học so sánh Pháp, ông J.P Carré đã địnhnghĩa: “Văn học so sánh là một phân ngành của văn học lịch sử Nó nghiêncứu những quan hệ tinh thần mang tính quốc tế, nghiên cứu những mối liên hệthực tế giữa Bairon và Puskin vv, nghiên cứu những mối liên hệ thực tế trêncác phương diện tác phẩm, linh cảm, thậm chí cả cuộc sống giữa các nhà văn
của những nền văn học khác nhau”.
Văn học so sánh Mỹ, họ đã mở rộng đối tượng so sánh của khoa học này
ra các môn nghệ thuật khác Ông Henry H.H Remark đưa ra quan điểm: “Vănhọc so sánh là sự nghiên cứu văn chương bên ngoài giới hạn của một xứ sởriêng biệt, và là sự nghiên cứu mối liên hệ giữa văn chương một bên với cáclĩnh vực tri thức và tín ngưỡng khác, như nghệ thuật (hội họa, điêu khắc, kiếntrúc, âm nhạc), triết học, lịch sử, các khoa học xã hội (chính trị, xã hội học,
Trang 13kinh tế học), các khoa học, tôn giáo v.v một bên khác Tóm lại đây là sự sosánh một nền văn chương với một hay nhiều nền văn chương khác và sự sosánh văn chương với các lĩnh vực biểu đạt khác của con người” [6].
Ông Jirmumsky người Nga đưa ra quan điểm: “Văn học so sánh lịch sử
là một phân nhánh của văn học lịch sử, nó nghiên cứu những mối liên hệ vàquan hệ quốc tế, nghiên cứu những chỗ dị đồng trong những hiện tượng vănnghệ của các nước trên thế giới Những chỗ giống nhau trên thực tế văn học,một mặt có thể là do sự xúc tiếp về văn học giữa các nước, mặt khác có thể do
sự tương đồng về sự phát triển xã hội và văn hóa của dân tộc Tương ứng vớichúng có thể phân thành tương đồng loại hình của những quá trình văn học,cùng những mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại về văn học; thông thường cả haithông dụng lẫn nhau, nhưng không nên lẫn lộn” [17]
Daniel-Henri Pageaux đưa ra khái niệm: “Văn học so sánh là chuyênngành nghiên cứu những mối quan hệ tương đồng, quan hệ họ hàng hay ảnhhưởng giữa văn học với các lĩnh vực nghệ thuật hay các lĩnh vực tư duy khác,giữa các sự kiện hay văn bản văn học, những mối quan hệ này có thể gần hay
xa, trong không gian hay trong thời gian, miễn là chúng thuộc nhiều ngôn ngữkhác nhau, hoặc nhiều văn hoá khác nhau, cho dù có chung một truyền thống”[26-tr.12]
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu lí luận cũng đưa ra những quan điểm
của mình Trương Đăng Dung, trong bài báo Văn học dịch và những vấn đề lý
luận của văn học so sánh, định nghĩa rằng: “Văn học so sánh là một trong
những ngành khoa học văn học, nghiên cứu mối quan hệ qua lại cũng nhưnhững đặc điểm tương đồng và khác biệt giữa các nền văn học nhằm tiếp cậntiến trình văn học lớn nhất: Văn học thế giới” [4-tr.21] Theo ông Nguyễn
Văn Dân, trong cuốn Lí luận văn học so sánh, viết rằng: “Văn học so sánh có
thể được định nghĩa như là một bộ môn khoa học nghiên cứu các mối quan hệ
giữa các nền văn học dân tộc” [3-tr.19].
“Xuất phát từ các cách nhìn nhận và ở các thời điểm khác nhau, thế giớinghiên cứu đưa ra nhiều dịnh nghĩa khác nhau về văn học so sánh Văn học sosánh là một bộ môn nghiên cứu vượt ra ngoài phạm vi một nước và nghiên
Trang 14cứu mối quan hệ giữa văn học với các lĩnh vực tri thức khác và lĩnh vực tínngưỡng, bao gồm nghệ thuật (như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc),triết học, lịch sử, khoa học xã hội (như chính trị, kinh tế, xã hội học), tự nhiên,tôn giáo… Nói theo cách khác, Văn học so sánh là so sánh văn học của mộtnước này với một nước khác, hoặc nhiều nước khác, là so sánh văn học vớicác lĩnh vực biểu hiện khác của nhân loại”.
Trước đổi mới, người ta thường nhầm lẫn văn học so sánh và so sánhvăn học Nói so sánh văn học là nói cấp độ phương pháp trong hệ thống phâncấp phương pháp luận So sánh là một thao tác của tư duy dùng để so sánh cáchiện tượng văn học so sánh trong một hoặc nhiều nền văn học Còn nói tớivăn học so sánh là nói trên phương diện bộ môn khoa học, nó hoàn toàn caohơn cấp độ phương pháp Văn học so sánh không chỉ sử dụng duy nhất mộtphương pháp là so sánh văn học, nó có quyền sử dụng không hạn chế bất cứphương pháp nào trong cấp tập hợp các phương pháp Văn học so sánh sosánh văn học là hai phạm trù hoàn toàn phân biệt với nhau, vì vậy ta cần phânbiệt để tránh đồng nhất hai thuật ngữ này
1.1.2 Sự hình thành bộ môn văn học so sánh
1.1.2.1 Điều kiện hình thành bộ môn Văn học so sánh
Văn học so sánh ra đời tương đối muộn Vì văn học thế giới đã có sựgiao thoa rất lâu đời Nhưng để nhận ra mối quan hệ đó phải có điều kiện nhấtđịnh Có ít nhất hai điều kiện là kinh tế - văn hóa - xã hội và điều kiện họcthuật:
- Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội:
Ngay từ thuở đầu nền văn học thế giới tồn tại không biệt lập, văn họccác nước không ngừng giao thoa và tác động lẫn nhau Trong quá trình đódiễn ra sự ảnh hưởng, thâm nhập, tiếp nhận… Với nhịp độ toàn cầu hóa ngàymạnh mẽ như hiện nay thì cục diện về một nền “văn hóa thế giới” xuất hiệncàng rõ hơn sự giao thoa giữa các dân tộc
Cho đến thế kỷ XVII - XIX, chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh ởphương Tây Sự trao đổi và giao lưu kinh tế văn hóa trong đó có văn họcđược thực hiện trên phạm vi quốc tế được thể hiện trong Tuyên ngôn củaĐảng cộng sản (1848) và chủ trương phát triển văn học thế giới của thi hào
Trang 15người Đức Johann Wolfgang von Goethe (1749 - 1832) Thuật ngữ “văn họcthế giới” ở đây có nghĩa là “nghiên cứu văn học quốc tế”, là việc trao đổinghiên cứu văn học giữa các nước với nhau.
- Điều kiện học thuật:
Từ đầu thế kỷ XIX, sự phát triển hưng thịnh của khoa học lịch sử đã tạođiều kiện cho các bộ môn lịch sử văn học phát triển nở rộ
Phương pháp so sánh được áp dụng chuyên sâu trong nhiều ngành khoahọc như Lịch sử Folkore so sánh và Lịch sử ngôn ngữ học so sánh…
1.1.2.2 Quá trình phát triển của bộ môn văn học so sánh
Giai đoạn thứ nhất - nửa cuối thế kỷ XIX: Giai đoạn hình thành vàkhắng định Đóng góp xây dựng nền móng bộ môn phải nhắc đến các nhànghiên cứu lịch sử văn học như Pháp, Anh, Đức, Mĩ, Thụy Sĩ, Italia
Giai đoạn thứ hai - nửa đầu thế kỷ XX: Đây là giai đoạn phát triển Giaiđoạn này tập trung vào nghiên cứu ảnh hưởng và vay mượn Nó gắn với cônglao của các nhà nghiên cứu thực chứng - lịch sử người Pháp như:Baldenspenger, Tieghem, Guyard…
Giai đoạn thứ ba - nửa sau thế kỷ XX: Giai đoạn hoàn chỉnh bộ mônvăn học so sánh Giai đoạn này đã vượt qua chủ nghĩa thực chứng, khắc phục
lý thuyết vay mượn để nghiên cứu các mối liên hệ quốc tế.Các nhà nghiêncứu góp công lớn cho giai đoạn này là René Wellek, Etimble người Pháp,Zirmunsky, Meletinsky người Nga - Xô…
1.2 Các loại hình nghiên cứu của văn học so sánh
1.2.1 Nghiên cứu ảnh hưởng
1.2.1.1 Khái niệm
“Nghiên cứu ảnh hưởng (nghiên cứu các mối quan hệ trực tiếp) là việcdùng phương pháp lịch sử để xử lý các mối liên hệ thực tế tồn tại giữa các nềnvăn học dân tộc khác nhau, căn cứ của nó là sự giao lưu tiếp xúcc lẫn nhaugiữa các nền văn học dân tộc”
Hướng nghiên cứu này nhấn mạnh đến thực chứng và các mối liên hệ
Trang 16thực tế, phàm các suy luận hoặc phán đoán thiếu căn cứ thực tế đều khôngthuộc phạm trù nghiên cứu này.
Nghiên cứu ảnh hưởng là loại hình nghiên cứu có sức thuyết phục,cũng là phương pháp xuất hiện sớm nhất Đóng góp trong hai loại hình nghiêncứu này là các nhà nghiên cứu người Pháp
1.2.1.2 Phương pháp nghiên cứu
“Phương pháp mà loại hình nghiên cứu ảnh hưởng sử dụng những cáchthức sau: Trước hết là đặt giả thiết (phải có tư tưởng mới có giả thiết), từ đótìm tư liệu để minh chứng và làm sáng rõ giả thiết đó, Khi sưu tầm được tưliệu người viết sử dụng phương pháp phân tích những tư liệu để tìm nguồngốc sự sáng tạo của đối tượng so sánh Cuối cùng dùng phương pháp tìm ảnhhưởng và siêu ảnh hưởng để nghiên cứu về đối tượng”
1.2.1.3 Điều kiện nảy sinh ảnh hưởng
“Điều kiện nảy sinh ảnh hưởng bao gồm vật gây ảnh hưởng và vật chịuảnh hưởng Vật gây ảnh hưởng phải có sức lan tỏa, sự phù hợp hoặc tính chấtdẫn đầu Vật chịu ảnh hưởng bao gồm: hoàn cảnh xã hội của nước tiếp nhận(mức độ cởi mở của chính trị, tinh thần dân tộc, kết cấu tâm lí văn hóa…),truyền thống nghệ thuật, thói quen thưởng thức của nước tiếp nhận và cuốicùng là điều kiện nội tại của cá nhân người chịu ảnh hưởng (tư tưởng, tính cách,khí chất, hứng thú của nhà văn với một hiện tượng văn hóa cự thể nào đó)”
1.2.1.4 Tính chất và mức độ ảnh hưởng
“Tính chất ảnh hưởng bao gồm: ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng giántiếp, ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực Ảnh hưởng trực tiếp là tiếpxúc, tiếp nhận trực tiếp Ảnh hưởng gián tiếp là tiếp xúc, tiếp nhận thông quamối giới như dịch thuật, bình luận, giới thiệu… ảnh hưởng tích cực và ảnhhưởng tiêu cực có mối liên hệ với nhau Ảnh hưởng tích cực giúp thúc đẩylàm phong phú sáng tác của nước khác Ảnh hưởng tiêu cưc là ngăn cản, pháhoại sáng tác của người khác”
Các mức độ ảnh hưởng của nghiên cứu ảnh hưởng bao gồm: ảnh hưởng
về kĩ thuật viết văn, sự vay mượn đề tài, chủ đề và ảnh hưởng về quan niệm…
Trang 171.2.1.5 Các loại hình nghiên cứu ảnh hưởng
“Nghiên cứu ảnh hưởng không chỉ dừng lại ở cái ảnh hưởng, mà phảiđứng ở góc độ của cái bị ảnh hưởng, phải xuất phát từ yêu cầu xã hội thực tạicủa cái bị ảnh hưởng mới thấy hết các giá trị đặc thù dân tộc của nó Ảnhhưởng không đơn giản là sao chép, vay mượn, mô phỏng, học tập mà còn cóvấn đề đồng hóa, sáng tạo, vượt lên để tạo ra những giá trị thẩm mĩ mới.Nghiên cứu ảnh hưởng được thể hiện ở nhiều loại hình khác nhau”:
- Nghiên cứu nhà văn với nhà văn: Có một số nghiên cứu tìm ra sự ảnhhưởng trong phong cách viết văn của những nhà văn của thuộc hai quốc gia,thời đại sinh sống khác như: Lỗ Tấn và Gôgôn, Xuân Diệu và Baudelaie, VũTrọng Phụng và Zola…
- Tác phẩm và tác phẩm: Một số tác phẩm nổi tiếng được nghiên cứuđối sánh với nhau bởi có những nét tương đồng của các tác phẩm về cốttruyện, về thân phận bi kịch người phụ nữ như: Truyện Kiều (Nguyễn Du) -Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân), Chuyện người con gái NamXương và Ramayana của Valmiki…
- Nhóm tác phẩm: Các tác phẩm văn học trong một thời kỳ lịch sử cólối viết giống nhau trong các tác phẩm, tiêu biểu như giai đoạn Văn học hiệnthực Việt Nam 1930 - 1945 (Vũ Trọng Phụng, Nam Cao …)
- Nhóm nhà văn với Nhóm nhà văn: Các nhóm nhà văn được đặt vàonghiên cứu ảnh hưởng bởi có cùng quê quán như: Nhóm thơ Bình Định như một
số tên tuổi (Hàn Mạc Tử Chế Lan Viên…) Hay Nhóm thơ tượng trưngPháp với lối sáng tác tượng trưng có nét tương đồng nhà như Baudelaire,Verlaine…
- Nhà văn và nền văn học: Các nhà văn được coi là đi đầu, tiêu biểu vàthể hiện thành công trong các tác phẩm ở mỗi quốc gia như Đào Tiềm trongthi ca Việt Nam, Pauxtopxki, Lỗ Tấn, Gorki, Huygo, Banlzac… ở Việt Nam
- Nhà văn và trào lưu văn học: Các nhà văn nổi tiếng với các phongcách sáng tác tiêu biểu làm nên trào lưu văn học trong một thời đại của mỗiquốc gia để các nhà văn khác học hỏi như: Xuân Diệu - chủ nghĩa tượngtrưng, Ngô Tất Tố - Thơ tượng trưng Pháp (Balzac, Srantal)…
Trang 18- Thể loại văn học và thể loại văn học: Các thể loại văn học của cácquốc gia được đặt vào nghiên cứu bởi nó có sự giao lưu, học hỏi lẫn nhaunhư: Thơ cổ điển Việt Nam - thơ cổ điển Trung Quốc…
- Nền văn học và nền văn học: Các nền văn học có sự giao thoa của mỗiquốc gia cũng được đặt trong nghiên cứu ảnh hưởng như: Văn học Việt Nam -Văn học Trung Quốc
- Trào lưu và trào lưu: Trào lưu sáng tác của các quốc gia cũng đượcnghiên cứu ảnh hưởng, trào lưu dân tộc này ảnh hưởng đến trào lưu văn họckhác, hoặc có sự học hỏi, giao thoa như: Thơ mới Việt Nam - Thơ lãng mạnPháp, Văn học hiện thực Việt Nam - Văn học hiện thực Pháp
1.2.1.6 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu ảnh hưởng
“Nghiên cứu ảnh hưởng do các học giả người Pháp sáng lập Khuynhhướng nghiên cứu này còn được gọi là nghiên cứu thực chứng liên quốc gia.Trên thực tế, nghiên cứu ảnh hưởng đã làm phong phú thêm di sản văn họcnhân loại bởi tinh thần thực chứng khoa học, lí luận tỉ mỉ và tác phong nghiêncứu cẩn trọng Bên cạnh những ưu điểm thì nghiên cứu ảnh hưởng vẫn còntồn tại những hạn chế”
“Nghiên cứu ảnh hưởng đã bỏ qua tính chỉnh thể thẩm mĩ của tácphẩm, các tính sáng tạo của nhà văn, ít nhiều làm cản trở sự cảm nhận tácphẩm của người đọc do quan tâm nhiều đến mối liên thực tế, chú trọng nguồngốc và ảnh hưởng đặt trọng tâm nghiên cứu vào phát hiện và khảo chứng tưliệu Đồng thời, phạm vi nghiên cứu bị hạn chế (chủ yếu nghiên cứu văn họcChâu Âu) và việc tổng kết quy luật của văn học gặp nhiều khó khăn khó cảithiện bởi nhấn mạnh vào việc chứng thực”
1.2.2 Nghiên cứu song hành
1.2.2.1 Khái niệm
“Nghiên cứu song hành hay còn có tên gọi là nghiên cứu song song,đồng đẳng Nghiên cứu song hành là việc nghiên cứu hai hiện tượng hoặc hainền văn học khác nhau trở lên mà giữa chúng không có mối liên hệ ảnhhưởng trực tiếp Nghiên cứu song hành có thể quan sát văn học các nước khác
Trang 19nhau từ nhiều góc độ, phương diện Do đó, nó có phạm vi nghiên cứu rấtrộng Nghiên cứu song song chú trọng tính văn học của đối tượng, chú trọng
so sánh chủ đề, thể loại, hình tượng nhân vật, phong cách… Các nhà so sánhluận Hoa Kì đề xuất hướng nghiên cứu này”
1.2.2.2 Cơ sở của hướng nghiên cứu song hành
“Cơ sở nghiên cứu song hành là tính phổ quát và tính đặc thù của vănhóa văn học Tính phổ quát: Loài người có hình thức sinh mệnh giống nhau(Sinh - lão - bệnh - tử, ngũ quan, tâm - sinh lí…) Do đó, việc thực nghiệmnhân sinh đều mang tình cảm tương tự, tương đồng (sướng - khổ, yêu - ghét,hợp - tan, sống - chết) Bản thể văn học và cách thức tồn tại của nó trong nềnvăn học các dân tộc có sự giống nhau (thể loại, chủ đề, quan niệm nghệ thuật
về thế giới…) Những tính chất này tạo nên cái siêu cá thể, siêu lịch sử củavăn học”
“Tính đặc thù của nghiên cứu song hành thể hiện qua hình thức thựcnghiệm nhân sinh và thủ pháp trong văn học lại được làm rõ trong truyênthống văn hóa, lịch sửu đặc thù của mỗi dân tộc Vì vậy, trong các trạng tháitồn tại và phát triển của văn học, nét khác biệt của hiện tượng văn học ở mỗiđất nước là sự tất yếu”
1.2.2.3 Mục đích của nghiên cứu song hành
“Nghiên cứu song hành giúp nhà văn thấy được hiện tượng tương đồngcủa nhân loại, đồng thời phát hiện những nét đặc sắc mang tính chất dân tộc,văn hóa vùng miền Tùy theo nhu cầu nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu cầnlàm nổi bật cái chung hay cái đặc thù”
1.2.2.4 Một số lĩnh vực nghiên cứu
- Nghiên cứu tác giả: Các tác giả được nghiên cứu trên các phương diệnphong cách sáng tác, quan niệm nhà văn như các tác giả: Herder - Đireot,Shakespeare - Thăng Hiển Tô, Gớt - Đỗ Phủ…
- Nghiên cứu tác phẩm: Các tác phẩm có hệ thống nhân vật có tính cáchgiống nhau, hoặc có cố truyện, có thông điệp giống nhau đều được đối sánhvới nhau Tuy nhiên là mỗi tác phẩm phải thuộc một dân tộc khác nhau, thời
Trang 20đại sáng tác như các tác phẩm: Romeo và Juliet (Shakespeare) và Lương Sơn
Bá - Chúc Anh Đài (truyền thuyết Trung Quốc), Tố Tâm (Hoàng NgọcPhách) và Nỗi đau của chàng Vecte (Geothe)
- Bút pháp nghệ thuật: Các bút pháp nghệ thuật nổi bật của một tác giảđược sử dụng trong nhiều tác phẩm vào một thời đại nào đó đều được nghiêncứu và đặt tên như: Kỹ thuật dòng ý thức trong Ulyses (Fame Joyce), Đi tìmthời gian đã mất (Marcel Proust)…
- Thể loại: Thể loại cũng là một lĩnh vực được nghiên cứu song hànhchú ý đến, những thể loại làm nên tên tuổi của các tác giả nổi tiếng như:Truyện ngắn Sêkhốp và truyện ngắn O Herry (kết cấu và bố cục)
- Cảnh tượng, hình ảnh, chi tiết: Những ảnh tượng, hình ảnh, chi tiết gây
ấn tượng với người đọc, tiêu biểu trong các tác phẩm cũng được nghiên cứusong hành chú ý đến, tiêu biểu như một số cảnh tượng, hình ảnh, chi tiết như:
Cảnh giông tố trong vở lịch Giông tố của Ostorosky với cảnh giông tố trong Đồi gió hú (E Bronti), con hổ trong kịch của B Brech với con báo trong
Tuyết trên đỉnh núi Calimạnro của E Hemingue… Hoặc các hình ảnh mặt
trắng, thiên nhiên, núi trong tác phẩm của các dân tộc khác nhau, so sánh lễhội, tính dục, tập quán, tín ngưỡng… trong các tác phẩm của các dân tộc khácnhau
- Quá trình văn học: Các trào lưu, hoặc thể loại văn học của mỗi dân tộcđược nghiên cứu đồng hành với như: So sánh thơ hiện đại Trung Quốc vớithơ hiện đại Việt Nam
1.2.2.5 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu song hành
“Ưu điểm: Nghiên cứu song hành giúp mở ra không gian nghiên cứucủa văn học so sánh Nghiên cứu song hành vừa chú ý nghiên cứu đi sâu vàotính chất thẩm mĩ của văn học, đồng thời có thể bổ sung những kiến thức phổquát về các quy luật tiến triển của văn học”
“Hạn chế: Bên cạnh những đóng góp hữu ích thì nghiên cứu song hànhvẫn tồn tại những hạn chế sau: Thứ nhất, lí luận chưa toàn diện và mang tínhthuyết phục nhất định Thứ hai, việc lựa chọn đối tượng chưa thực sự là chọnlọc nghiêm túc, chặt chẽ nên vẫn làm cho tính chất của bộ môn thiếu sự ngắngọn, cô đọng”
Trang 211.2.3 Nghiên cứu liên ngành
“Nghiên cứu so sánh liên ngành đặt đối tượng so sánh trên hai phươngdiện, hai loại hình nghệ thuật, văn hóa khác nhau trở lên Nghiên cứu so sánhliên ngành là loại hình nghiên cứu mới, ra đời tương đối muộn vào nhữngnăm 60, được đưa ra từ học giả người Mĩ H Remak (1916 - 2009) Theo nhànghiên cứu Remak, văn học so sánh phải là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vựchoạt động sáng tạo khác nhau của loài người Remak viết trong bài báo cáo
Văn học so sánh: Định nghĩa và chức năng: “Văn học so sánh nghiên cứu văn
học vượt qua phạm vi một nước, đồng thời nghiên cứu quan hệ văn học vớinhững lĩnh vực tri thức và tín ngưỡng khác (nghệ thuật, triết học, lịch sử, cáckhoa học xã hội, tôn giáo ) Tóm lại, nó so sánh văn học của một nước vớivăn học của một nước hay nhiều nước khác, so sánh văn học với các lĩnh vựcbiểu đạt khác của con người” [29]
Phạm vi khảo sát của nghiên cứu so sánh liên ngành gồm hai nội dungsau: Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác(văn học và hội họa, văn học và âm nhạc, văn học và kiến trúc, văn học vàđiện ảnh ) và nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học với các hình thái ý thức
xã hội khác (văn học và tôn giáo, văn học và đạo đức, văn học và triết học,văn học và ngôn ngữ học, văn học và tâm lý học, văn học và khoa học kỹthuật)
1.3 Ý nghĩa của việc tiếp cận văn học từ lí thuyết văn học so sánh
“Trước hết, bộ môn Văn học so sánh giúp mở rộng không gian nghiêncứu và bổ sung phương pháp nghiên cứu học thuật Thứ hai, cung cấp tri thức
về lịch sử văn học và lí luận văn trong nước và ngoài nước Cuối cùng, giúpđẩy mạnh mối quan hệ và giao lưu văn học, văn hóa giữa các dân tộc Thờiđại hiện nay, Văn học so sánh có sự phát triển ngày càng lớn bởi nhu cầu giaolưu hội nhập ngày càng cao”
Việc tiếp cận văn học từ lí thuyết văn học so sánh giúp làm sáng tỏ sựtương đồng và khác biệt giữa các hiện tượng văn học và các nền văn hóa khácnhau Đồng thời, làm nổi bật những nét độc đáo nghệ thuật trong các tácphẩm trên thế giới
Tóm lại, với nhịp độ toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ như hiện nay thì
Trang 22cục diện của một nền “văn học thế giới” xuất hiện càng rõ hơn, sự giao thoagiữa các dân tộc về văn hóa, văn học ngày càng phát triển Những tư tưởngvăn học được truyền bá, các tác phẩm Noel… sẽ càng làm văn học bớt tínhhạn chế, định kiến, nhất là định kiến dân tộc Nghiên cứu văn học xuất hiệnnhu cầu khái quát văn học nhân loại và xác định tính đặc thù của mỗi nền vănhọc quốc gia Chúng ta không thể nhìn thế giới bằng con mắt dân tộc mình màphải thường xuyên nhìn con mắt dân tộc mình bằng con mắt thế giới.
Trang 23CHƯƠNG 2: NÉT TƯƠNG ĐỒNG GIỮA KIỂU NHÂN VẬT NỮ
TRONG NGƯỜI SÓT LẠI CỦA RỪNG CƯỜI VÀ CHIẾN TRANH
KHÔNG CÓ MỘT KHUÔN MẶT PHỤ NỮ
2.1 Phụ nữ là nạn nhân đau thương của chiến tranh
Chiến tranh đã qua đi nhưng nhũng ký ức đau thương về nó vẫn còn tồntại đến tận bây giờ Đàn ông hồi tưởng chiến tranh qua những sự kiện, cònphụ nữ là qua những dòng cảm xúc Từ trước đến giờ, chiến tranh vẫn luônđược biết đến qua những lời kể, qua những lời ca ngợi chiến công, qua những
sự kiện từ góc độ đàn ông Quả đúng như vật chiến tranh dưới góc nhìn của
người phụ nữ thật khác Qua hai tác phẩm Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo và Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alex-
ievich đã được cả hai nhà văn tái hiện chiến tranh theo cái nhìn của nhân vật
nữ Tuy cả hai tác phẩm được viết ở hai thời điểm khác nhau, ở những quốcgia khác nhau và nhân vật nữ là những người tham gia chiến tranh ở hai thờiđiểm khác nhau nhưng qua ngòi bút của Võ Thị Hảo và Svetlana Alexievichbởi chiến tranh là là nỗi sợ hãi, là ký ức đau thương mà chính là nạn nhân
Theo Từ điển Tiếng Việt 2000, Giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên lý giải
“bi kịch là những yếu tố gây thương cảm, bi kịch là cảnh éo le, mâu thuẫn
đến đau thương” [27].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán Trần Đình Sử Nguyễn Khắc Phi (Đồng Chủ Biên), định nghĩa “bi kịch là một thể của loại
-hình kịch, thường được coi là độc lập với hài kịch, bi kịch phản ánh không
bằng tự sự mà bằng hành động của nhân vật chính” [24] Khái niệm này cũng
Trang 24được sử dụng khi đưa ra định nghĩa về nhân vật bi kịch dưới góc nhìn của Mỹhọc đại cương.
Theo Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên xuất bản năm 1985 có viết “Tính cách nhân vật bi kịch không thể yếu đuối, càng không thể tiêu cực hoặc phản động.” [18-tr.160].
Ở cả hai tác phẩm, những nhân vật nữ là những con người có số phậnđáng thương, họ bị rơi vào những hoàn cảnh éo le, phải chịu những nỗi ámảnh từ chiến tranh đã đẩy họ vào bi kịch Bi kịch đau đớn nhất của nhữngngười phụ nữ là không còn là phụ nữ nữa Những người phụ nữ trở thành nạnnhân “bất đắc dĩ” của chiến tranh, họ bị cuốn vào dòng lịch sử chiến tranh.Trước khi tham gia chiến tranh họ đều là những cô gái mười sáu, mười bảy trẻtrung, đầy sức sống hoài bão, ước mơ nhưng chiến tranh nổ ra, họ trở thànhnhững cô giao liên, lính du lích, những trung úy, bác sĩ,… những người thựchiện nhiệm vụ để bảo vệ Tổ quốc
Trước hết, trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ
của Svetlana Alexievich nhân vật nữ là người lính Nga chiến đấu trong cuộcChiến tranh thế giới thứ II Họ mang trong mình những mất mát không chỉ ở
cơ thể mà cả về tinh thần Những người lính Nga trở về có người lành lặnnhững cũng có người bị chiến tranh lấy đi một phần cơ thể của họ những họđều mang nỗi ám ảnh, sợ hãi khi chứng kiến những đồng đội ngã xuống hayngười phụ nữ phải sống trong điều kiện chiến đấu thiếu thốn những nhu yếuphẩm dành cho nữ
Tác phẩm là những câu chuyện tác giả Svetlana Alexievich phỏng vấnhàng trăm người phụ nữ từng là lính Nga trở về, từng câu chuyện lại gợi cho tanhững cảm xúc riêng về những gì những người phụ nữ đã phải trải qua Khi họnhớ lại những điều mà họ phải trải qua đó là những ám ảnh: “Không, tôikhông muốn Tôi không thể Ngay cả hôm nay, tôi không thể xem một phim
chiến tranh” [20-tr.37] Hay “Tôi không thể quên được chuyện đó… Không
thể… Tôi đã trở về và tôi phải bắt đầu lại tất cả từ con số không Tôi phải tập
đi lại giày ban sau ba năm đi ủng ngoài mặt trận Chúng tôi đã quen lúc nàocũng nai nịt Bây giờ tôi có cảm giác quần áo của tôi cứ lòng thòng nhưnhững cái túi,
Trang 25tôi cảm thấy khó chịu Tôi nhìn một chiếc váy hay một chiếc áo sơ mi một cácghê tởm Vì ngoài mặt trận chúng tôi luôn mặc quần” [20-tr.54] Trong hàngtrăm câu chuyện là hàng trăm gương mặt phụ nữ lần lượt hiện ra Họ kể chotác giả nghe nhưng cũng là nhìn thẳng vào quá khứ của bản thân Họ là một
xạ thủ bắn tỉa, một y tá, chiến sĩ cáng thương, phi công, xạ thủ phòng không,nhân viên giao thông, điện thoại viên, lính bộ binh… Câu chuyện của ngườinối tiếp chuyện người kia, ký ức người sau gối ký ức người trước, không aigiống ai nhưng kỳ lạ, chúng liền mạch và như là một câu chuyện không củariêng người nào Svetlana Alexievich có đề tên, chức vụ, công việc của từngnhân chứng nhưng rõ ràng khi đọc tác phẩm, danh tính của từng người khôngđược chú ý đến mà được định danh chung - phụ nữ Như Svetlana Alexievichchia sẻ, sau khi nghe từng ấy câu chuyện, gặp gỡ từng ấy người, tác giả khôngcòn nhớ cụ thể một gương mặt nào mà chỉ nghe thấy giọng nói của họ cất lênvới sự trầm buồn khi nhớ về quá khứ Đối với những người phụ nữ là lính Nga
họ được chia sẻ câu chuyện của chính bản thân mình với Svetlana Alexievichgiống như họ phơi bày ra bi kịch của cuộc đời họ, “Tôi không chịu được
nữa… Cho tôi thở một chút” [20-tr.166] Svetlana Alexievich viết: “Tôi
muốn nói! Nói! Nói tất cả trong tim Cuối cùng, người ta đã thật lòng muốnnghe chúng tôi Biết chúng tôi đã im lặng suốt bao nhiêu năm, ngay cả ở nhàmình Suốt nhiều chục năm Năm đầu tiên, khi trở về từ chiến tranh, tôi nói,tôi nói nhưng chẳng ai lắng nghe Chẳng ai hiểu tôi Vậy nên tôi đã câm lặng”.Không nhận được sự chia sẻ, đồng cảm từ mọi người xung quanh là bi kịch đầutiên sau khi trở về từ chiến trường Chiến tranh không chỉ cướp đi tuổi thanhxuân, sức khỏe, thể xác của những người phụ nữ mà còn “đeo bám” họ trongtâm trí suốt quãng đời còn lại Có một điều không thể phủ nhận là dù nhữngngười phụ nữ ấy giữ chức vụ là binh nhì, chiến sĩ cán thương, trung sĩ cận vệ,chiến sĩ liên lạc, đại uy, hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ nhất thiếu úy… thì họ vẫnmang trong tâm trí những nỗi ám ảnh, sợ hãi mang tên chiến tranh
Người phụ nữ bị đẩy vào những tình cảnh éo le đầy nguy hiểm buộcphải hi sinh đồng đội, bản thân và ngay cả đứa con của mình: “Cùng chúngtôi có một nữ điện báo viên Cô vừa sinh dậy Đứa bé còn rất nhỏ, phải cho
bú Nhưng người mẹ không đủ ăn, thiếu sữa, và đứa bé khóc Bọn SS ở rất
Trang 26gần… Với cả chó Nếu chúng nghe được, thì chúng tôi chết hết Cả đội Bachục người… Cô hiểu không? Chúng tôi có một quyết định… Không ai dámtruyền đạt lệnh của người chỉ huy, nhưng tự người mẹ đoán ra Cô nhận đứa
bé địu trên người xuống nước và giữ hồi lâu… Đứa bé không còn rống lênnữa… Nó đã chết và chúng tôi không ai dám ngước mắt lên nữa Về phíangười mẹ, và bất cứ người nào trong chúng tôi…?” [20-tr.26] Những lời vănđược viết ra dường như đi sâu và tâm trí của người đọc bởi nó là sự lựa chọnquá tàn nhẫn đối với một người mẹ Hay ám ảnh về lần đầu tiên giết người,những lần chứng kiến cảnh tra tấn, cảnh giết người hay những người bị giếtmột cách tàn nhẫn, quả thật là vượt qúa sức chịu dựng của phụ nữ: “Tôikhông biết tôi đã giết hắn hay chỉ làm hắn bị bị thương Nhưng sau đó tôicàng run dữ hơn, tôi như khiếp đảm: Tôi, tôi vừa giết một con người sao? ”[20-tr.45] Ám ảnh về tinh thần đã dày vò những người phụ nữ đã đẩy họ vàonhững bi kịch
Chiến tranh cũng đã kiến người phụ nữ chịu những nỗi đau về thể xác.Những trận đánh khốc liệt, những trận du kích hay hơn thế nữa: “Các trậnđánh ác liệt Tôi xông vào các trận giáp lá cà Thật tàn bạo… Ta trở thành Đây không phải là chuyện của con người…Người ta phang, người ta xuyênlưỡi lê của mình và một cái bụng, vào mắt, người ta tóm lấy cổ họng nhau để
mà xiết cổ nhau Người ta làm vỡ xương nhau ra…” [20-tr.204] Đấy lànhững gì người lính nữ phải trải qua, nó chỉ là một trận chiến trong hàngnghìn trận chiến mà họ phải chiến đấu và tất nhiên có những người đã vượtqua, có những người đã ngã xuống, có những người bị thương Họ mất đi mộtphần cơ thể, những thương binh phải cắt chân vì nhiễm trùng vết thương, tất
cả thật đáng sợ “Tôi bị mảnh đạn đại bác găm vào lưng, Người ta định cắt cáichân của tôi Cắt trên đầu gối, vì đã bắt đầu hoại tử” [20-tr.167]
Chiến tranh mang đến chiến công, gọi tên những anh hùng nhưng cũng
là gây ra cho con người khổ đau, mất mát Những tàn tích của nó đè nặngtrong những con người nhỏ bé và yếu đuối, đó chính là người phụ nữ Trong
tập truyện ngắn Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo cũng vậy, người
phụ nữ cũng phải chịu những bi kịch của chiến tranh Bằng cách này hay cáchkhác, dù là những con người trực tiếp tham gia chiến tranh hay là những
Trang 27người sống trong chiến tranh, họ là nạn nhân bị cuốn vào chiến tranh Tậptruyện viết về những người phụ nữ sau chiến tranh những năm 1975, nhữngmảnh đời, những số phận người phụ nữ chịu những bi kịch, những chấnthương đến bi lụy.
Thảo trong Người sót lại của rừng cười là người duy nhất sống sót
trong năm cô gái ở rừng Trường Sơn Chiến tranh đã cướp đi tuổi trẻ, vẻ đẹpthanh xuân của những cô gái nơi chiến trường: “Bốn cô gái trẻ măng nhưngmái tóc chỉ còn là một dúm xơ xác” [10-tr.87] Thảo nhập ngũ với mái tóc dàióng mượt khiến cả bốn cô gái yêu mến và ao ước có được bộ tóc như Thảobởi ngày mới đến Rừng Cười, tóc họ cũng đen và mượt như thế Chính nơirừng thiêng nước độc đã làm cho bộ tóccủa Thảo cũng trở nên xơ xác, hơn thế
cả năm cô gái đều sống biệt lập tại một khu rừng ở Trường Sơn mà người tagọi là Rừng Cười Họ sống biệt lật với đồng đội khác, họ cười điên dại “Trênsàn chòi khấp khểnh, ba cô gái đang vừa cười vừa khóc, tay dứt tóc và xéquần áo Còn một cô khác trẻ hơn đang chạy tới chạy lui ôm đầu đầy tuyệtvọng” [10- tr.91] Họ làm những anh lính chùn chân sợ hãi bởi những tiếngcười văng vẳng trong rừng hay là nỗi ám ảnh của các anh lính “Sau chín năm
ở chiến trường, nay tôi đã nhìn thấy ở Rừng cười, cái cười méo mó, man dạicủa chiến tranh Tôi rùng mình khi nghĩ rằng, người yêu tôi, em gái tôi, cũngđang cười sằng sặc như thế, giữa một khu rừng mênh mang nào đó Tôi sẵn
sàng chết hai lần cho họ khỏi lâm vào cảnh ấy” [10-tr.96] Đó là những nỗi
đau về thể xác, bi kịch mà họ phải chịu đựng thật sự là những chấn thương vềtâm hồn Khi trở về sau chiến trận, thảo bị ám ảnh, mặc cảm với những gìmình đã trải qua Thảo thấy mình lạc lõng, cô đơn trong cuộc sống hiện tại
Ám ảnh về cuộc sống, về chiến tranh khiến Thảo mặc cảm và khó nhập cuộcvới cuộc sống sau chiến tranh Thảo có người yêu là Thành, nhưng khi gặp lạiThảo lại chạnh buồn “Thảo xuống tàu, vai đeo ba lô, thân hình gầy gò trong
bộ quân phục lạc lõng, qua làn môi nhợt nhạt, mái tóc xơ xác làm anh ngỡngàng đến không thốt nổi một lời khi vừa nhìn thấy cô” [10-tr.98] Thảo trởthành sinh viên năm nhất khoa Văn và yêu Thành những cô nhận ra mìnhkhông thể hòa nhập với các bạn cùng phòng bởi những giấc mơ tuổi thanhxuân ám ảnh từ chiến tranh: “Cô chỉ thấy tóc rụng như trút, rụng đầy khuôn
Trang 28ngực đã bị đâm nát của chị Thắm và từ trong đám tóc ấy nẩy ra hai giọt nước
mắt trong veo và rắn câng như thuỷ tinh, đập mãi không vỡ” [10-tr.97] Thảo
rơi vào bi kịch của nỗi ám ảnh và có những chấn thương về tâm lý Thảo pháthiện ra Thành yêu say đắm một cô sinh viên cùng lớp có đôi môi mòng mọngnhư nũng nịu, với làn da trắng hông, tươi mát Cô trở nên tự ti và mặc cảmvới bản thân, cô nhận ra rằng “Thành gắn bó với cô chỉ bằng nghĩa chứ không
có chữ tình” [10-tr.101] Cô đã chủ động rời xa Thành bằng cách lựa chọnmình là người phụ bạc Có thể thấy, Thảo rơi vào đau khổ tột cùng, cô chọnrời xa Thành, cô phải chịu những lời trách móc mình phụ tình, vừa dằn vặtbởi nỗi ám ảnh nơi Rừng Cười Bi kịch của thảo là vừa khóc vừa cười, đaukhổ trong sự cô đơn, tủi hổ Thảo là người duy nhất sót lại của Rừng Cười,nhưng số phận bi kịch lại đẩy Thảo và đau thương, những chấn thương tâm lýkhông thể chữa khỏi Thảo chính là nạn nhân đáng thương của chiến tranh
Bi kịch của người phụ nữ trong tập truyện Người sót lại của rừng cười
còn những số phận bất hạnh khi không chấp nhận được sự thật người chồngcủa mình bị cướp đi bởi chiến tranh khốc liệt Câu chuyện kể về phụ nữ đượcgọi với cái tên là bà Điên lạc tới làng Đẽo với đứa con gái mười sáu, mười bảytuổi tên Hòa Hòa phải bỏ học theo mẹ đến làng Đẽo, ngôi làng toàn nhữngngười đàn bà lam lũ có chung một ngày giỗ chồng Chiến tranh thật tàn nhẫn
đã cướp đi người chồng, người cha của các con họ Có biết bao nhiêu người
ra chiến trận những có mấy ai được trở về với vợ con nguyên vẹn hình hài.Những người phụ nữ ấy cũng chung một nỗi đau với bà Điên mất chồng,những bia đá được dựng lên để tưởng nhớ chồng, cha, con họ…Thật đau đớn
Bà điên không chấp nhận sự thật mất chồng mà ngước nhìn bức tượng: “Anh
mà chết thì phải có anh dưới mồ chứ Dài người ta báo nhầm đấy thôi Làngtrên chả có hai người báo tử rồi lại lừn lững về là gì! Em biết anh còn sốngmà…” [10-tr.18] Chồng tử trận đối với người phụ nữ ấy là mất mát khôngthể bù đắp được, chiến tranh là một thứ đáng sợ đã cướp đi những người thânyêu của người phụ nữ Họ yếu đuối, nhỏ bé và trở thành nạn nhân của chiếntranh
Hay nhân vật bà đồng trong Dây neo trần gian từng chịu nỗi đau mất
một người yêu trong chiến tranh, để khi nghe nhắc đến chuyện cũ: “mắt bàđồng bỗng long lên sòng sọc Lúc này trông bà đích thực là một người điên
Trang 29Một người điên trẻ trung chỉ hơn nàng dăm tuổi Đôi mắt có hàng mi dài của
bà vằn đỏ và bộ ngực lép của bà vồng lên trong nhịp thở dồn” [10-tr.75] Bà
đã giúp đỡ nhiều người phải chịu những mất mát mà chiến tranh gây ra,nhưng bà lại không thể xoa dịu được đau thương của bản thân mình
Ở một góc độ khác, Võ Thị Hảo nhìn những người phụ nữ với cái nhìn
cảm thông ngay cả khi họ phạm phải sai lầm, như người vợ trong Biển cứu rỗi
dẫu có phụ bạc chồng, “biến ngôi nhà bên đường chiến tranh! Động mạch củachiến tranh! thành nơi diễn ra những cuộc giao hoan vội vã thoảng mùi chếtchóc trước khi đi vào họng tử thần “[10-tr.40] của những người lính và rồi để lại
đằng sau những đứa trẻ khác bố lít nhít trứng gà trứng vịt “Chị không thể là
người đàn bà chờ đợi chồng đến bạc tóc cũng chỉ bởi: “Cả làng trắng đàn ông,chỉ còn lại đây đó các ông già lụ khụ Ra trận và ra trận! Đàn bà vác cày, cầmsúng, đi lấp hố bom và bị buộc phải trở thành đàn ông Trong khi đàn bà đượctạo hoá sinh ra để làm chiếc dây leo đẹp quấn yểu điệu quanh cây đại thụ:Người đàn ông ” Cảm thông được nỗi lòng của những người phụ nữ phảigánh chịu những đau thương mất mát, tác giả không chỉ lên án chiến tranh màcòn giãi bày và đó là tiếng nói tri âm của người đồng giới
2.1.2 Những thiếu thốn về vật chất
Chiến tranh xảy ra dưới góc nhìn quân sự là đấu tranh để dành tự do,dành quyền lực, để lập những chiến công lẫy lững nhưng nó cũng mang đếnmất mát đau thương, sự sợ hãi, chia ly và thiếu thốn về vất chất Chiến tranhphá hủy mọi thứ, đã đẩy con người vào khổ cực vào đói nghèo Cả hai nhàvăn Võ Thị Hảo và Svetlana Alexievich đã tái hiện nhân vật nữ trong bi kịchcủa cái đói, cái nghèo đã đẩy người phụ nữ đến bước đường cùng
Trong tiểu thuyết Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, người
phụ nữ bị bủa vây bởi cái đói, cái nghèo phải lựa chọn giết chính đứa conmình sinh ra Chiến tranh ác liệt không hề nương tay với vất kỳ ai, kể cả vớinhững đứa trẻ vừa mới chào đời Những dòng cảm xúc nghẹn ngào khi phải
chứng kiến cảnh thương tâm thể hiện qua từng câu văn: “Đêm, Nastia, bà
láng giềng của chúng tôi, đánh con gái vì nó cứ khóc hoài Nastia phải chămnăm đứa con Tất cả đều nhỏ và đứa nào cũng đòi ăn Và Nastia điên lên…
Trang 30Mẹ ơi, dừng nhấn con nước con Con không làm thế nữa Con không đòi ănnữa đâu Hôm sau, không thấy Iouletchka ở đấy nữa… Không còn nhìn thấylại nó nữa” [20-tr.29] Hay qua những lời kể đầy ám ảnh: “Cùng chúng tôi cómột nữ điện báo viên Cô vừa sinh dậy Đứa bé còn rất nhỏ, phải cho bú.Nhưng người mẹ không đủ ăn, thiếu sữa, và đứa bé khóc Bọn SS ở rất gần…Với cả chó Nếu chúng nghe được, thì chúng tôi chết hết Cả đội Ba chụcngười… Cô hiểu không? Chúng tôi có một quyết định… Không ai dám truyềnđạt lệnh của người chỉ huy, nhưng tự người mẹ đoán ra Cô nhận đứa bé địutrên người xuống nước và giữ hồi lâu… Đứa bé không còn rống lên nữa… Nó
đã chết và chúng tôi không ai dám ngước mắt lên nữa” [20-tr.26] Tình mẫu
tử thiêng liêng nhưng chiến tranh không cho phép người phụ nữ thực hiệnđiều đó Chính tay họ phải giết chết đứa con mình sinh ra bởi vì đói, vì sẽ gâynguy hiểm cho người khác
Người phụ nữ còn phải vượt qua những thiếu thốn về nhu yếu phẩmdành cho nữ Ở chiến trường mọi thứ không dành sự quan tâm đến nữ giới, họthiếu đồ lót, họ phải mang những đôi ủng với cỡ chân của đàn ông Có nhữngngười phải chết vì xấu hổ khi đến ngày phụ nữ trước mặt đàn ông: “Nhiều côgái đang có… Nói thế nào Cái thứ mà phụ nữ nào cũng có… Chảy nhỏ giọtdọc chân… Người ta chẳng cấp gì cho chúng tôi cả, đúng không?” [20-tr.23].Những người lính nữ không lên được những bước chân vì đôi ủng quá to và
tất nhiên, công nghiệp quân sự không sản xuất riêng cho phụ nữ: “Tôi sẵn
sang lập bất cứ chiến công nào, những không đi nổi giày số 43 rong khi cỡchân tôi là số 35 Quá nặng và quá xấu xí…” [20-tr.99] Chiến tranh còn thiếuthốn buộc đẩy một cô quân y nơi mặt trận nguy cấp không có dụng cụ buộc
phải dùng răng nhay xé phần thịt hỏng của thương binh để cứu anh Hay là cái
đói đâng trào mà phải ăn thịt lẫn nhau: “Chúng tôi bị bao vây… Một đem cậubên cạnh rỉ tai tôi: Thằng bé chỉ còn thoi thóp Kiểu nào rồi nó cũng toi Cậuhiểu tớ… - Cậu định nói gì? - Thịt người cũng có thể ăn Nếu không, tất cả bọ
ta cũng bị thế tất” [20-tr.28] Sự thiếu thốn về vật chất, thiếu thốn về thức ăn,thiếu thốn về đồ dùng dành cho nữ, thiếu thốn cả dụng cụ quân y để cứungười, tất cả đồn ép người phụ nữ đưa ra những lựa chọn khó khăn, họ khôngcòn cách nào khác để giải quyết tình thế éo le Chiến tranh mà ta thấy đã đâmtoạc tinh thần, sự nhân hậu hiền lành, mềm yếu của người phụ nữ
Trang 31Nhđn vật nữ trong Người sót lại của rừng cười cũng được tâi hiện ở
nhiều góc độ khâc nhau Sự thiếu thốn trong tđm hồn hay thể xâc cũng đẩyngười phụ nữ rơi văo bi kịch của chiến tranh Sự nghỉo đói vđy hêm vă đeobâm họ như một thứ nghiệp chướng vă cũng từ câi nghỉo lại kĩo theo nhiều
nỗi cơ cực khâc trong cuộc đời họ Bă Diễm trong Người gânh nước thuí
không gia đình, không con câi, một người đăn bă bĩ loắt choắt, mặt nhănnheo, “gầy sạm chỉ còn hai con mắt, bă vừa đi vừa lắc lư câi lưng còng, chiếcđòn gânh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của bă Nó bâm chặt lấy bănhư một thứ nghiệp chướng, nó vă bă hợp thănh một chỉnh thể của sự bấthạnh” [10-tr.58] Bă Diễm sống bằng nghề gânh nước thuí, chỉ những nhă cómâu mặt trong khu năy mới thuí bă bă gânh nước nhưng lại bị những người tahoăi nghi vă xăm soi những thùng nước mă bă gânh Bă sống qua ngăy bằngnghề gânh nước nhọc nhằn vất vả, nhưng sự xuất hiện của ông Tiếu đê thayđổi cuộc sống cô đơn, khổ cực ấy Bă Diễm có bạn đồng hănh gânh nước lẵng Tiếu, họ không gọi ông tiếu bằng câi tín nữa mă lă gọi lă bồ của băDiễm Người ta cười nhạo nhưng họ đê về nương tựa văo nhau những ngăycuối đời, nhưng số phận không mỉm cười với họ ông Tiếu không chịu nổinhững sự giễu cợt, kinh thường, tủi hổ ra đi với lời ước nguyện muốn tìm đứacon gâi bị thất lạc thời chiến tranh Bă Diễm lại sống với sự cô đơn, khổ cựcmuốn giúp ông Tiếu nhưng bất lực mêi không chạm tay tới hạnh phúc
Bằng sự đồng cảm chia sẻ, hai nhă văn Võ Thị Hảo vă SvetlanaAlexievich đều có những câi nhìn tương đồngvề người phụ nữ lă nạn nhđnđau thương của chiến tranh sự thật được phơi băy, những góc độ thầm kínđược sẻ chia, những cđu chuyện nối tiếp cđu chuyện cho thấy những nhđn vật
nữ hiện lín thật đâng thương
2.2 Cảm quan về chiến tranh của người phụ nữ
Phụ nữ tinh tế vă giău xúc, họ sinh ra để yíu, để cho đi sự sống Bởivậy mă chiến tranh từ góc nhìn phụ nữ cũng mang những góc cạnh hoăn toănkhâc Đăn ông thấy chiến tranh lă nơi vinh quang, lă nơi để lập chiến công, lănơi bảo vệ đất nước Phụ nữ không chỉ nhìn thấy trận chiến, kẻ thù tăn bạo,những chết chóc bi thương đất nước lđm nguy, họ còn nhìn thấy trọn vẹn thếgiới bao trùm lín tất cả những điều năy
Trang 322.2.1 Chiến tranh - nguồn gốc của những chấn thương về mặt tâm lí
Chiến tranh đã lùi xa những trong ký ức tồn tại của các nhân vật trong
hai tác phẩm Người sót lại của rừng cười của Võ Thị Hảo và Chiến tranh
không có một khuôn mặt phụ nữ của Svetlana Alexievich khi phải nhắc lại thì
nó là nỗi sợ hãi Dù ở trong thời chiến hay sau khi trở về thì chiến tranh đãgây ra những vết thương không thể xóa nhòa Những vết thương trực tiếp haygián tiếp, những chấn thương về mặt thể xác hay tâm hồn thì chiến tranhkhiến họ thật sự sợ hãi Ở đó, sự thật về chiến tranh được phơi bày, sự khốcliệt, tàn ác và những góc khuất được các nhân vật nữ sẻ chia
Những nhân vật nữ trong Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ
của Svetlana Alexievich đã phải chứng với những chết chóc bi thảm, nhữnghiểm nguy khi đối diện với kẻ địch, hay rất nhiều những khó khăn khác mà họ
phải vượt qua Nỗi sợ hãi đầu tiên mà những người phụ nữ ấy phải chứng
chiến những cái chết thương tâm, những con người bị tra tấn dã man: “Một
cô tá của chúng tôi bị bắt làm tù binh Ngày hôm sau nữa, khi chúng tôi lấy lạiđược ngôi làng, chúng tôi tìm lại được cô: mắt bị moi, vú bị cắt Chúng chọcxuyên suốt người cô… Trời giá Cô trắng bệch và tóc chuyển màu xám…”
[20-tr.189] Những dằn vặt bản thân: “Về sau chúng tôi đã trở lại, nơi họ đã
nằm: chúng tôi tìm thấy lại họ, mắt bị đâm thủng, bụng bị rạch toang Khi tôinhìn thấy cảnh ấy, tất cả trong tôi tối sầm lại, cả một đêm Bởi chính tôi, phảikhông? Đã đưa dồn tất cả họ về một chỗ… để cứu họ” [20-tr.206] Chiếntranh là nới khiến những người phụ nữ chưa từng bắn một phát đạn nào cũng
có thể sẽ hy sinh vì cuộc chiến đấu giữa Nga và phát xít Đức Mỗi sợ hãi ấy
hằn sâu vào những cảnh người phụ nữ đã trải qua: “Cùng chúng tôi có một nữ
điện báo viên Cô vừa sinh dậy Đứa bé còn rất nhỏ, phải cho bú Nhưngngười mẹ không đủ ăn, thiếu sữa, và đứa bé khóc Bọn SS ở rất gần… Với cảchó Nếu chúng nghe được, thì chúng tôi chết hết Cả đội Ba chục người…
Cô hiểu không? Chúng tôi có một quyết định… Không ai dám truyền đạt lệnhcủa người chỉ huy, nhưng tự người mẹ đoán ra Cô nhận đứa bé địu trên ngườixuống nước và giữ hồi lâu… Đứa bé không còn rống lên nữa… Nó đã chết vàchúng tôi không ai dám ngước mắt lên nữa” [20-tr.26] Những cái chết bủavây xung quanh vì thiếu lương thực, vì bị thương, bị truy đuổi và cả sự xấu hổ
Trang 33khi đến ngày phụ nữ Nỗi sợ hãi đã ăn sâu vào tâm hồn người phụ nữ càngphơi bày tội ác của chiến tranh, những người phụ nữ nhỏ bé, yếu đuối bị cuốnvào chiến tranh Họ không hề muốn phải giết người, sự run rẩy khi lần đầutiên phải kết liễu một mạng người: “Tôi không biết tôi đã giết hắn hay chỉ làmhắn bị bị thương Nhưng sau đó tôi càng run dữ hơn, tôi như khiếp đảm: Tôi,tôi vừa giết một con người sao? ” [20-tr.45] Hay hơn thế nữa là câu chuyệncủa người y tá thiếu dụng cụ cứu thương mà dùng răng cắn thịt của chiến sĩ bịthương: “Phải cắt ngay tức thì và băng lại chỗ còn lại, không thể khác Nhưngtôi không có dao cũng không có kéo… Thôi, tôi cắn bằng răng vào chỗ thịtấy” [20-tr.206].
Chiến tranh còn lại nỗi sợ hãi của chia ly, chia ly giữa con cái và cha
mẹ, chia ly với những đồng đội, chia ly với người yêu thương và sự mongmanh giữa sự sống và cái chết Dưới sự cảm nhận tinh tế của phụ nữ, trongchiến tranh không có một màu sắc nào khác ngoài màu đỏ và đen Những sắcnắng tươi tắn, màu xanh của cây, mày của hoa, màu canh của bầu trời, tất cả
bị bao chùm bởi màu màu của máu: “Ngoài mặt trận, mọi thứ toàn một màu
đen Chỉ có màu khác Chỉ có màu đỏ” [20-tr.55] Cái bầu trời toàn một màu
đen ấy đã lấy đi của những người phụ nữ cả tuổi trẻ, tuổi thanh xuân tươi đẹp:
“Thời gian của chúng tôi đâu rôi? Thời gian của chúng tôi bị chiến tranh giếtchết” [20-tr.170] Chiến tranh mà họ tham gia là những khổ đau trong nhữngnăm đẹp nhất của tuổi trẻ những nó lại đeo bám con người mãi về sau: “Chiếntranh đã làm tôi tốt hơn lên… Tôi đã trở thành một con người tốt hơn vì ở đấytôi đã biết nhiều đau khổ” [20-tr.151] Tất cả những nỗi sợ hãi mang tên chiếntranh đồn nén trong người phụ nữ nhỏ bé và yếu đuối Những thứ vốn không
dành cho con gái Svetlana Alexievich viết: “Tôi đi trên những dấu vết của
đời sông nội tâm, tôi tiến hành ghi âm tâm hồn Đối với tôi, đường đi của tâmhồn quan trọng hơn bản thân sự kiện Biết “chuyện đó đã diễn ra như thế nào”không quan trọng lắm đâu, chẳng qúa cần thiết đâu; cái phập phồng, đó là cáicon người sống… ta thấy và hiểu… cái ta thấy và hiểu về chiến tranh, tổngquát hơn là về cuộc sống và về cái chết Cái ta chiết ra từ chính bản thân ởgiữa bóng tối khôn cùng… Không phải lịch sử chiến tranh hay lịch sử nhànước, mà là lịch sử những con người bình thường sống một cuộc sống bình