Đề tài nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt là một trongnhững đề tài khoa học gây sự chú ý và quan tâm của các nhà nghiên cứu ở cáckhía cạnh khác nhau.. Đóng góp của khóa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ NGỌC LAN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận, được sự tận tình chỉ bảo của TS.
Nguyễn Thị Ngọc Lan, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến cô giáo!
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô giáo trong tổ Văn học Việt Nam cùng với các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn – Trường ĐHSP Hà Nội
2 đã dạy dỗ và tạo điều kiện thuận lợi nhất để em được hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Người thực hiện
Đỗ Thị Kim Oanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp này chính là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêngtôi Đề tài của khóa luận không trùng với kết quả nghiên cứu của công trìnhnào đã được công bố Tôi xin chịu trách nhiệm với những lời cam đoan củamình
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Người thực hiện
Đỗ Thị Kim Oanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Cấu trúc của khóa luận 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT 6
1.1 Khái niệm nhân vật và nhân vật nữ 6
1.2 Các kiểu nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt 8
1.2.1 Nhân vật nữ trong kiến tạo văn hóa và lao động sản xuất 9
1.2.2 Nhân vật nữ trong chiến đấu 12
Tiểu kết chương 1 16
Chương 2 NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN THUYẾT CHỦ ĐỀ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC 17
2.1 Ngoại hình, diện mạo 17
2.2 Phẩm chất, tài năng 20
2.3 Hành trạng 25
Tiểu kết chương 2 33
Chương 3 NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN THUYẾT CHỦ ĐỀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC 35
3.1 Ngoại hình, diện mạo 35
3.2 Phẩm chất, tài năng 41
Trang 63.3 Hành trạng 47 Tiểu kết chương 3 61
KẾT LUẬN 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Nhân vật là yếu tố được coi như linh hồn của tác phẩm, đồng thời nó làhình thức cơ bản để thông qua đó nhà văn miêu tả thế giới một cách hìnhtượng Vì thế mà trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta thấyhình tượng nhân vật phụ nữ xuất hiện khá sớm và trở thành một đề tài quenthuộc trong văn chương Từ thể loại thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tíchđến ca dao, tục ngữ, những sáng tác văn học trung đại cho đến văn học hiệnđại chưa bao giờ nhân vật phụ nữ vắng bóng Nhân vật phụ nữ luôn là vấn đềnổi bật trong các sáng tác nghệ thuật Đây là một hình tượng thể hiện rõ giá trịnhân văn và giàu mĩ cảm của nghệ thuật nước nhà.
1.2 Nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt hiện lên vôcùng sinh động và phong phú Những trang văn về nhân vật nữ đem lại chođộc giả những dấu ấn sâu đậm và khó phai Họ là những người phụ nữ có vẻđẹp ngoại hình và đời sống tâm hồn, phẩm chất đáng ngưỡng mộ và ngợi ca
Đó là những người con gái trẻ trung, xinh đẹp thông minh và anh dũng.Người vợ, người mẹ đảm đang sinh ra những người con anh hùng tài giỏi,hiên ngang Những người phụ nữ ấy ghi danh trên những lĩnh vực khác nhau
Trang 8và tạo dựng lịch sử, truyền thống của dân tộc Truyền thuyết dân gian ngườiViệt về nhân vật nữ thực sự đã đem lại ấn tượng sâu sắc đối với chúng tôi Đó
là những câu chuyện phần lớn thuộc thần tích các làng Hiện nay nhiều xứ sởvẫn còn lưu giữ những công trình mang văn hóa tâm linh Khá nhiều nhân vật
nữ chính là những còn người bất tử trong các ngôi đền miếu linh thiêng ấy
1.3 Truyền thuyết là một trong những thể loại văn học dân gian đượcđưa vào giảng dạy trong nhà trường Việc nghiên cứu đề tài này giúp chúngtôi thêm hiểu những giá trị của truyền thuyết trong đời sống văn hóa dân tộc,đồng thời nâng cao kiến thức, phục vụ cho công tác giảng dạy ngữ văn saukhi tốt nghiệp
Vì những lý do trên nên chúng tôi lựa chọn: Nhân vật nữ trong truyền
thuyết dân gian người Việt, làm đề tài cho khóa luận của mình.
Năm 1974, trong Tạp chí văn học, số 1, tác giả Vũ Tố Hảo có bài
“Bà Triệu qua một số tư liệu dân gian sưu tầm ở Thanh Hóa” Trong bàiviết này tác giả đã đề cập đến “hình tượng Bà Triệu”, do khai thác “hìnhảnh Bà Triệu hiện lên từ hình dáng, tính tình hành động… cho tới cái chếtcủa Bà” Tuy nhiên điểm hạn chế của bài viết trên là tác giả chỉ đề cập đếnhình tượng “Nữ anh hùng” mà chưa nghiên cứu về hình tượng tập thể nữanh hùng [3, tr 34-39]
Trang 9Năm 1978, trong công trình Lịch sử văn học Việt Nam, Tập 1, Nxb
Giáo dục (Bùi Văn Nguyên làm chủ biên), tác giả đã đưa ra nhận định khinghiên cứu về nội dung và ý nghĩa của thể loại truyền thuyết “có thể nói, đấutranh chống ngoại xâm bảo vệ đất nước là chủ đề căn bản của “thần thoại đờisau” của chúng ta” Trong quá trình nghiên cứu về truyền thuyết lịch sử, tácgiả đã đưa ra khẳng định: “Trong số những vị anh hùng dân tộc thời xưa màtruyền thuyết lưu lại còn phải kể đến những truyện Hai Bà Trưng, Bà Triệu”.Như vậy trong công trình trên, tác giả đã đưa ra những khái quát về nhữngngười anh hùng dân tộc là nữ giới [23, tr 146]
Năm 1980 trong Tạp chí văn học, số 2, Trần Gia Linh có bài viết về
“Vai trò của người phụ nữ khai sáng đất nước và dân tộc trong truyền thuyếtdân gian” Trần Gia Linh đã khẳng định về vai trò quan trọng của nhữngngười phụ nữ trong xã hội Tác giả đưa ra nhận định: “Tìm hiểu truyền thốnganh hùng của phụ nữ là tìm hiểu một bộ phận quan trọng của truyền thuyếtanh hùng dân tộc” Nhà nghiên cứu cũng đề cập thêm: “Cùng với truyềnthuyết về người anh hùng khai sáng đất nước và dân tộc là nam giới, nhân dân
ta đã để lại một hệ thống truyền thuyết nói về người phụ nữ anh hùngkhông kém phần lộng lẫy tươi đẹp” Như vậy bài viết trên chỉ đề cập đếnvai trò của phụ nữ mà chưa đi tìm hiểu về những đặc điểm của các truyệnnày [21, tr 34- 40]
Năm 1998, trong Bình giảng truyện dân gian, Nxb Giáo dục, tác giả
Hoàng Tiến Hựu khi bàn về vấn đề “cốt truyện và nhân vật”, ông đã chỉ ra thếgiới của nhân vật nữ như sau: “Xét về giới tính, tỷ lệ nhân vật không đều giữacác truyện, trong truyện truyền thuyết và cổ tích, nhân vật nữ xuất hiện tươngđối nhiều và ở nhiều truyện nhân vật nữ đóng vai trò quan trọng”
Cùng theo hướng nghiên cứu đó thì năm 2013, trong khóa luận tốt
nghiệp đại học Truyền thuyết về nhân vật nữ trong thời kì Bắc thuộc, tác giả
Trang 10Đào Thị Sen đã thống kê được các truyện viết về nhân vật nữ, khai thác cácđặc điểm truyện viết về nhân vật nữ Tác giả viết: “Nhân vật nữ trong thời kìBắc thuộc hấp dẫn, lôi cuốn người đọc không chỉ ở những vẻ đẹp của ngoạihình mà còn ở những tài năng và đời sống nội tâm vô cùng phong phú” [30,
tr 57] Tuy nhiên phương diện và phạm vi khai thác của khóa luận còn hạnhẹp Khóa luận mới chỉ khai thác ở phương diện thể loại truyền thuyết vàphạm vi khai thác truyện về nhân vật nữ chỉ giới hạn trong thời kì Bắc thuộc
mà chưa chú ý đến hình tượng nhân vật nữ trong truyền thuyết ở các thời kìkhác
Đề tài nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt là một trongnhững đề tài khoa học gây sự chú ý và quan tâm của các nhà nghiên cứu ở cáckhía cạnh khác nhau Mặc dù có đề cập đến nhân vật nữ nhưng những côngtrình nghiên cứu vẫn chỉ mang tính chất nhỏ lẻ Tuy nhiên đó chính là nhữnggợi ý quý báu giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Nắm được những kiến thức về đặc điểm của truyền thuyết
+ Khóa luận làm rõ đặc điểm về nhân vật nữ trong truyền thuyết dângian người Việt
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi tư liệu khảo sát: Các truyện về truyền thuyết dân gian người
Việt, qua công trình Tổng tập văn hóa dân gian người Việt, sáu tập do Kiều
Thu Hoạch (Chủ biên), Nxb KHXH, 2004
- Phạm vi nội dung: Khóa luận tập trung khảo sát và phân tích các đặcđiểm nổi bật của hệ thống nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian ngườiViệt, ở cả hai chủ đề: xây dựng đất nước và bảo vệ đất nước
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận
Lựa chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn rút ra được những nhậnxét khoa học về đặc điểm nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt
và khẳng định được những nét đẹp của người phụ nữ cùng với giá trị lịch sửcủa kiểu truyện này
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, Nội dung của khóa luận có bốcục ba chương như sau:
Chương 1: Hệ thống nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người ViệtChương 2: Nhân vật nữ trong truyền thuyết chủ đề xây dựng đất nước
Chương 3: Nhân vật nữ trong truyền thuyết chủ đề bảo vệ đất nước
Trang 12NỘI DUNG Chương 1 HỆ THỐNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN THUYẾT
DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT 1.1 Khái niệm nhân vật và nhân vật nữ
Từ trước đến nay nhân vật mang nhiều khái niệm khác nhau Thuật ngữ
“nhân vật” xuất hiện khá sớm trong tiếng Hy Lạp cổ Ban đầu nó mang ýnghĩa là “cái mặt nạ” tức chỉ công cụ biểu diễn của diễn viên trên sân khấu.Theo thời gian chúng ta sử dụng thuật ngữ này nhiều hơn để thể hiện nhân vậttrong tác phẩm văn học Trong một số trường hợp khác nhau, người ta sửdụng thuật ngữ “vai” và “tính cách” để thay thế cho nhân vật văn học Thuậtngữ “tính cách” tức chỉ những nhân vật có tính cách Còn thuật ngữ “vai” thìchỉ tính chất và hành động cá nhân Trên thực tế, không phải nhân vật nàocũng mang hành động và nhân vật nào cũng thể hiện tính cách rõ nét Vì vậythuật ngữ “nhân vật” mang nội hàm phong phú và đa dạng hơn nên hai thuậtngữ trên không thể bao quát hết được những biểu hiện khác nhau của các loạinhân vật trong tác phẩm văn học
Nhân vật là khái niệm được sử dụng nhiều trong văn chương nghệthuật Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đã đưa ra rất nhiều khái niệmkhác nhau về nhân vật văn học
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, định nghĩa khái niệm nhân vật như
sau: “Nhân vật văn học hình tượng nghệ thuật về con người, một trong nhữngdấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bêncạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, cácsinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống con người” [32, tr.41] Tác giả Lại Nguyên Ân đã đưa ra định nghĩa khá hoàn chỉnh về nhânvật văn học Theo tác giả thì nhân vật chính là yếu tố tạo ra phong cáchcho nhà văn với một màu sắc riêng trong từng trường phái văn học
Trang 13Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học (nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên) thì đưa ra định nghĩa “nhân vật văn học
là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học
có thể có tên riêng hoặc không có tên riêng… nhân vật văn học là một đơn vịnghệ thuật mang tính ước lệ không thể đồng nhất với con người có thật trongđời sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách conngười Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm
mĩ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn luôn gắn với chủ thể tácphẩm” [14, tr 235]
Trong cuốn Lý luận văn học (GS Hà Minh Đức chủ biên), các tác giả
cho rằng: “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,
đó không phải là sự sao chụp đầy đủ một chi tiết, biểu hiện đầy đủ của conngười mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu
sử nghề nghiệp, tính cách… Cũng có khi đó không phải là những con người,
sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc liên quan tới conngười, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [30, tr 126]
Mặc dù khái niệm nhân vật có rất nhiều những định nghĩa khác nhaunhưng tất cả các định nghĩa đều có những điểm chung như sau: Nhân vật có
vị trí rất quan trọng trong tác phẩm Nhân vật chính là đối tượng được nhà vănmiêu tả Nhân vật có thể là con người cụ thể, cũng có thể là những sự vật, convật, hiện tượng mang bóng dáng và tính cách của con người Nó được sửdụng như những phương thức khác nhau để biểu hiện về con người Nhân vậtchính là cầu nối truyền đạt nội dung, tư tưởng giữa bạn đọc và nhà văn
Như vậy, mỗi nhân vật được thể hiện thành công trong tác phẩm ở cácthời đại khác nhau thì đều chứa đựng những khám phá to lớn Qua những sựkhám phá ấy mà nhà văn đã khẳng định được lý tưởng thẩm mỹ của bản thân
và làm phong phú, đa dạng nền văn học dân tộc Vì thế mà đã từng có nhận
Trang 14định rằng: đối với các nhà văn lớn thì bạn đọc có thể quên đi chính tác giảnhưng sẽ không quên được nhân vật mà tác giả đó xây dựng nên.
Vừa kể về những nhân vật và sự kiện hư cấu hoặc xác thực có liên quanđến lịch sử trọng đại của dân tộc, giai cấp, truyền thuyết còn thể hiện ý thức
và thái độ của nhân dân đối với nhân vật và sự kiện lịch sử Vì thế mà truyềnthuyết thể hiện nhân vật không phải bằng sự sao chép nguyên mẫu, mà chỉdựa vào nguyên mẫu để “tái tạo” nên hình tượng nhân vật phù hợp với tâmtình và thái độ của nhân dân
Nhân vật nữ được coi như loại hình cụ thể của nhân vật Hay nói theocách khác: Nhân vật nữ là hình ảnh, hình tượng người phụ nữ được xây dựng,miêu tả và thể hiện ở trong tác phẩm văn học thông qua các phương tiện vănhọc Và nghiên cứu về nhân vật nữ chính là nghiên cứu về một kiểu cấu trúccủa nhân vật văn học đặc thù
Nhân vật nữ luôn là biểu tượng, hiện thân của cái đẹp, là một nửa củathế giới Phụ nữ được sinh ra với sứ mệnh cao cả đó là duy trì sự sinh tồn,luân chuyển sự sống Từ xa xưa đến nay, phụ nữ luôn là một đề tài quenthuộc, hấp dẫn, một nguồn cảm hứng dồi dào và bất tận đối với sự sáng tạocủa các nghệ sĩ Trong văn học truyền thống, ở mỗi một thời kỳ, hình tượngngười phụ nữ luôn được coi là tâm điểm
Trong truyền thuyết nhân vật nữ được hiện lên vô cùng sinh động vàphong phú Nhân vật nữ đại diện cho ước mơ và lý tưởng thẩm mỹ của nhândân Tuy nhiên, những chuẩn mực thẩm mỹ của buổi ban đầu vẫn chưa đượcthể hiện cụ thể, rõ nét, đầy đủ diện mạo của người phụ nữ Vì thế mà ngườiphụ nữ trong truyền thuyết chủ yếu được xây dựng và thể hiện qua hành trạng
và một vài nét tính cách đơn giản và nhất quán
1.2 Các kiểu nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt
Như chúng ta đã thấy, truyền thuyết là một thể loại truyện kể dân giannằm trong loại hình tự sự dân gian Đặc điểm cơ bản nhất và nổi bật nhất là
Trang 15tính hư cấu lịch sử Hình tượng nhân vật lịch sử được hình tượng hóa và kì ảohóa theo quan điểm của nhân dân Các nhân vật dù có được hư cấu hay là đíchthực lịch sử thì cũng đều có tên tuổi, gốc gác,… có một lịch sử rõ ràng gắnvới địa phương hay thời đại Nhân vật nữ được xây dựng khá nhiều trong hệthống truyền thuyết dân gian người Việt Truyền thuyết được sáng tạo theosuốt chiều dài lịch sử dân tộc, vì vậy ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, cácnhân vật nữ lại được sáng tạo dưới sự chi phối khác nhau của quan niệm thẩm
mĩ nhân dân Chúng tôi qua quá trình tìm đọc và khảo sát đã thống kê được sốlượng truyện tái hiện nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt
Như vậy, qua bảng thống kê ở phần Phụ lục [Bảng 1], chúng ta thấy
truyện viết về nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian người Việt là cáctruyện mà nhan đề cũng như nhân vật chính trong truyện là nữ Nhân vật nữđược các nghệ sĩ dân gian xây dựng chủ yếu xuất hiện trong các thời kì ÂuLạc và Bắc thuộc (gồm 49/106 truyện như bảng trên), thời kì Pháp thuộc(gồm 38/106 truyện như bảng trên) và mức độ xuất hiện ít trong thời kỳphong kiến tự chủ (19/106 truyện) Việc xây dựng nhân vật nữ trong các thời
kỳ với tần số xuất hiện khác nhau thể hiện ý thức phản ánh và lý giải lịch sửcũng như thái độ tình cảm của các nghệ sĩ dân gian đối với nhân vật nữ
Qua khảo sát 106 truyện chúng tôi đã thống kê được có 118 nhân vật
nữ (không kể dị bản) Nhưng nhân vật nữ này có xuất thân, địa vị, nghềnghiệp và độ tuổi, chiến công khác nhau Để người đọc có cái nhìn tổng quát
về các nhân vật nữ, chúng tôi đã phân loại các nhân vật nữ ở phần Phụ lục
[Bảng 2]
1.2.1 Nhân vật nữ trong kiến tạo văn hóa và lao động sản xuất
Truyền thuyết dân gian đã dành một khối lượng lớn trang văn để cangợi vị trí và vai trò quan trọng của nhân vật nữ trong sự nghiệp kiến tạo văn
hóa và lao động sản xuất Qua bảng thống kê ở phần Phụ lục [Bảng 1], cho ta
Trang 16thấy ở mỗi một thời kỳ việc xây dựng hình tượng các nhân vật nữ ngoài ýthức phản ánh lịch sử còn thể hiện dụng ý riêng của tác giả Các nhân vật nữvới những tài năng khác nhau đã đóng góp trí tuệ và công sức của mình vào
đa dạng các lĩnh vực nghề nghiệp nhưng chủ yếu là lĩnh vực nông nghiệp
Các truyền thuyết trong buổi đầu dựng nước đã thể hiện niềm tự hàocủa nhân dân về tổ tiên, giống nòi, về nguồn gốc các dân tộc người Vì thế mànhân vật nữ trong thời kỳ này được các nghệ sĩ dân gian xây dựng để giảithích về cội nguồn nòi giống thiêng liêng, cũng như ca ngợi những anh hùngvăn hóa đầu tiên của nước Việt Các nhân vật nữ được ngợi ca đó là nàng Âu
Cơ (Âu Cơ), người mẹ của dân tộc Việt Nàng đã sinh ra bọc trăm trứng và từ
ấy nở ra một trăm người con, chia nhau đi khai hoang ruộng đất, mở rộnglãnh thổ, cai quản bốn phương Không những thế nhân vật nữ còn được cangợi là những người chăm chỉ, cần cù và tiên phong trong lĩnh vực lao độngsản xuất Sau này mẹ Âu Cơ đã giúp dân trồng cấy, làm nghề,… hay đó còn lànhững người con gái đã giúp cua Hùng dựng nước, mở mang bờ cõi, cai trị
dân chúng như: con gái Tiên Dung dạy dân làm ăn (Truyện Nhất Dạ Trạch),
mở mang bờ cõi; con gái Ngọc Hoa dạy dân trồng lúa, dệt vải, hát múa…
Đến truyền thuyết thời phong kiến độc lập tự chủ về sau, khi nước tachấm dứt ách nô lệ, mở ra một thời kỳ độc lập của dân tộc thì nhân vật nữđược khắc họa một cách sinh động, phong phú và đa dạng trong những ngànhnghề khác nhau để giúp dân, góp công sức trong sự nghiệp xây dựng đấtnước Các nghệ sĩ dân gian đã vẽ ra một bức tranh trong lao động sản xuấtđầy sống động và hăng say Việt Nam là nước có nền văn minh thuần nông vìvậy nghề nghiệp chính của con người là nghề nông tang Do đó, ở hầu hết cáctruyện, các nghệ sĩ dân gian đã xây dựng các nhân vật nữ xuất hiện trongkhung cảnh lao động Bà chúa Tó đang làm cỏ lúa trên đồng thì bắt gặp nhà
vua đi ngang qua (Bà chúa Tó), nàng Khiết Nương vì đang say sưa hái dâu
Trang 17trên tằm nên đã không yết kiến nhà vua (Sự tích Ỷ Lan phu nhân), hay nàng
Dương Vân Nga hiện lên với vẻ đẹp đầy sức sống trong con mắt của hai chú
cháu nhà Đinh Bộ Lĩnh lúc nàng đang mải mê cắt cỏ (Hoàng hậu thời thơ ấu),
… Số lượng các nhân vật nữ xuất hiện trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm20.7% trong tổng số 106 truyện Họ chính là một trong những nguồn lao độngchủ yếu trong sản xuất nông nghiệp
Trong truyền thuyết, các nghệ sĩ dân gian xây dựng nhân vật nữ hầu hếtđều xuất thân từ những người nông dân nên cuộc sống của họ thường gắn liềnvới cái quốc, cái cày, dưa muối… Vì thế mà các nhân vật nữ không nhữnggiỏi trong lĩnh vực nông tang mà họ còn tài năng trong các ngành nghề khácnhư nghề dệt, nghề làm muối, bốc thuốc và nghề ca hát,… Họ hăng hái thamgia vào công cuộc lao động sản xuất để tạo ra nguồn lương thực dồi dào phục
vụ cho cuộc sống no đủ và dự trữ cho đất nước khi có giặc ngoại xâm Đó là
những “anh hùng trong sản xuất” và được ngợi ca là chúa Lẫm (Bà chúa
Lẫm), chúa Tó (Bà chúa Tó) hay đó còn là bà chúa dệt Thụ La (Bà chúa dệt: Thụ La công chúa) rất khéo tay, nhanh nhẹn và bằng sự thông minh của mình
mà vải của nàng dệt ra vừa bền lại vừa đó, có những nghề mà rất ít các nhân
vật nữ tham gia như nghề làm muối của nàng Nguyệt Ánh (Bà chúa Muối) (chiếm 0.94%), nghề chế biến thực phẩm của mẹ Âu Cơ (Mẹ Âu Cơ tổ nghề
nông tang và chế biến thực phẩm) (chiếm 0.94%), nghề bốc và làm thuốc của
nàng Ngọc Hoa (Đại Yên và chuyện Trần Ngọc) và bà chúa Vĩnh (Bà chúa
Vĩnh) (chiếm 1.89 %),… Không những chăm chỉ cần cù trong công việc lao
động sản xuất, các nhân vật nữ còn sáng tạo ra những lời ca tiếng hát để manglại những phút giây thư giãn vui vẻ sau những giờ làm việc mệt nhọc Từ đónhân dân sáng tạo ra nghề hát với các làn điệu dân ca phong phú, đặc trưngcủa từng vùng miền Số lượng nhân vật nữ sáng tạo ra lời ca tiếng hát chiếm
số lượng 5 truyện trên tổng số 106 truyện (chiếm 4.72%) Đó là Vua Bà Nhữ
Trang 18Nương là người đã sáng tạo ra những câu hát quan họ “Tiếng hát của nàng…bừng bừng như năn nỉ, nó khắc khoải, oán trách, lưu luyến vấn vương… Hiện
nay có đến 49 làng ở Hà Bắc hằng năm mở hội hát quan họ” (Vua Bà), hay đó
là Lầu Slam đã sáng tạo ra nhiều điệu hát cho dân tộc Cao Lan như véo ca,
cục tờ u, ú múng ca, (Lầu Slam - Bà chúa thơ)…
Không những trực tiếp tham gia vào lĩnh vực sản xuất mà các nhân vật
nữ còn được ca ngợi như những danh nhân văn hóa, những người có côngkhai sáng, phát minh ra những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần của nhân
dân Vì thế mà trong đời sống cộng đồng họ đã để lại những công trình kiến
trúc có giá trị văn hóa nghệ thuật cao Trong Sự tích Ỷ Lan phu nhân, nàng Ỷ
Lan ở thời Lý đã cho xây dựng 72 ngôi chùa, xây tháp Bảo Thiên để trấn giữ
quốc gia trước giặc xâm lược.Trong dị bản Bà phù thánh linh nhân (Bà Ỷ
Lan) thì nàng Ỷ Lan đã sáng tạo ra nghi thức tắm Phật Hay bà chúa Tó (Bà chúa Tó) đã giúp nhân dân tạo ra món ăn mới để cung cấp lương thực cho
cuộc chiến “Chúa Tó có sáng kiến làm bánh chè Lam, làm Cốm nếp nhàomật để quân sỹ có lương khô ăn đường”… Món ăn đặc sản của vùng Kẻ Hữu
đã trở thành nét riêng biệt và hấp dẫn trong ẩm thực Việt Nam
Như vậy để làm được những công việc như trên, các nhân vật nữ trongtruyền thuyết dân gian đã ý thức được sự phân chia về lãnh thổ bờ cõi của đấtnước cũng như ý thức được vai trò và vị trí của mình trong xã hội
1.2.2 Nhân vật nữ trong chiến đấu
Hình ảnh nổi bật, gây ấn tượng mạnh mẽ của người phụ nữ Việt Nam
đó là sự dũng cảm hy sinh của họ trên chiến trường Khi đất nước có giặcngoại xâm, những người phụ nữ sẵn sáng đứng dậy, xả thân vì nền độc lậpcủa dân tộc và họ chính là những người phải chịu nhiều thiệt thòi và đaukhổ nhất
Trang 19Qua bảng thống kê ở phần Phụ lục [Bảng 2], chúng tôi xin đưa ra
những nhận xét như sau:
Thứ nhất, trong tổng số 106 truyện kể về nhân vật nữ thì có tới 56
truyện ca ngợi những người phụ nữ với vai trò là những người những ngườithông minh, tài giỏi, hiên ngang Họ chính là những cô gái “đầu đội trời, chânđạp đất”, hiên ngang sánh vai cùng cùng các bậc nam nhi, trực tiếp cầm vũkhí chiến đấu xông pha trận mạc để đánh đuổi quân thù xâm lược, giành lại tự
do cho đất nước, cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân Bằng tình yêu nướcnồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc những người phụ nữ ấy đã làm nênnhững chiến thắng oanh liệt cho dân tộc Họ trở thành những “anh hùng chiếnđấu” cho dân tộc như hình ảnh người con gái ít tuổi, khỏe mạnh đã xuống núi,xin vua được đi đánh giặc Ân Nàng chỉ lấy đá mà ném đã giết được giặc
trong nhiều trận (Người con gái núi Tam Đảo), Hai Bà Trưng (Bà Trưng Nhị
và thành Dền) đã chống lại quân nhà Đông Hán để giành lại chủ quyền cho
nước nhà, nàng Thục Nương (Sự tích Bát Nàn công chúa) hai tay cầm hai
thanh kiếm chém mươi thủ cấp tỳ tướng của Tô Định… Sau này đó là hìnhảnh của kiên cường của cô bé Trần Ngọc Hoa, chín tuổi đã theo Lý Thường
Kiệt giết giặc Chế Ma Na ở Chiêm Thành vào năm 1103 (Đại Yên và chuyện
Trần Ngọc Hoa)…
Thứ hai, trong tổng số 106 truyện viết về nhân vật nữ thì có 32 truyện
ca ngợi nhân vật nữ là những người mẹ sinh ra những người con anh hùng, tàigiỏi
Trước sự biến động đầy cam go dữ dội của đất nước, trước sự xâm lăng
đô hộ từ kẻ thù thì những người phụ nữ đã hạ sinh cho quê hương, đất nướccác thế hệ anh hùng hào kiệt Đó là năm anh em nhà chàng Vịt, Mộc Hoàn và
Lý Bí, Triệu Quang Phục… Họ là những người anh hùng hào kiệt đã dũngcảm xông pha chiến trận để mang lại hòa bình cho đất nước
Trang 20Truyền thuyết đã ca ngợi bà mẹ Chiên Nương, người mẹ đã sinh rangười con “thông minh thần vũ, có tài dẹp loạn, tích trữ binh lương, mưu đồđại sự” Đó chính là Đinh Bộ Lĩnh trong lúc “đất nước không có vua, các hàotrưởng nổi lên xưng vương cát cứ mỗi người một phương” thì ông đã cùngcác tướng sĩ đi dẹp loạn được mười hai sứ quân, “thu gom non sông về mộtmối” Ngoài ra còn những người con tài giỏi khác như Phạm Thành, ĐinhĐiền, Phạm Hạc, Lưu Công, Lĩnh Sát,… Họ đã đóng góp công sức và trí tuệ
của mình vào sự thắng lợi chung của đất nước (Sự tích bà mẹ Đinh Tiên
Hoàng và các công thần) Bà Lan Hoa đã sinh ra Trù Công, một người “học
một biết mười, không gì không tỏ tường” Sau này Trù Công đã theo Bà
Trưng đánh đuổi giặc Tô Định (Sự tích anh em Trù Công và Thuận Nương
giúp bà Trưng đánh đuổi Tô Định) Hay đó là người mẹ Tạ Cận sinh ra anh
hùng Đường Hoàng Đó là người “tướng mạo khôi ngô, thiên tư dĩnh ngộ,thông minh khác thường, khi ngài lên ba tuổi đã biết lễ nghĩa, biết kínhnhường Đến năm 13 tuổi ngài đã văn võ kiêm toàn, ai ai cũng khen là một
ông thánh” (Sự tích Đường Hoàng thời vua Trưng)…
Những người mẹ ấy không chỉ sinh ra những nam anh hùng thông minhxuất chúng mà còn sinh ra những nữ anh hùng quả cảm và vô song Đó lànhững cô gái xinh đẹp, thông minh và đầy sự dũng cảm Nàng Quế Nương vàDung Nương con của ông bà Lý Châu ở đời Hậu Ngô đều có nhan sắc tuyệtđẹp không những thế hai nàng còn am hiểu về thiên văn địa lý, võ nghệ cũngthành thạo Hai nàng đã cùng với các anh của mình đánh thắng giặc Ma Na
(Quế Nương và Dung Nương); đó là nàng Ngọc Xiêm dung mạo phi thường
đã giúp vua Trần Anh Tông đánh đuổi giặc Nguyên xâm lược (Truyện nàng
công chúa đời Trần); nàng Thục Nương con gái của ông Vũ Công Chất và bà
Hoàng Thị Mậu, người thành Phong Châu Nhan sắc của nàng vào bậc “tuyệtthế giai nhân, đọc sách khắp cả Chư tử Bách gia không sách nào không thiệp
Trang 21liệp qua, lại giỏi đường gươm mũi giáo” Vì thế Thục Nương được các bậcanh hùng gọi là “Thánh nữ giáng trần” Sau này Thục Nương đã tự xưng làBát Nàn đại tướng quân kêu gọi các anh em hào kiệt ở khắp nơi giết Tô Định.
Nàng đã trở thành nữ tướng tài ba dưới thời Hai Bà Trưng (Sự tích Bát Nàn
công chúa); đó còn là các nàng Ả Tú, Ả Huyền và Thượng Cát cùng với Hai
Bà Trưng đã đánh thắng quân Mã Viện (Sự tích Ả Tú, Ả Huyền, Thượng Cát
ba nữ tướng thời Hai Bà Trưng) hay là nàng Phật Nguyệt tài năng và nhan sắc
hơn người đã trở thành một vị nữ tướng giỏi đánh tan quân Mã Viện (Đinh
Thị Phật Nguyệt)… Tất cả những cô gái ấy đều trở thành những nữ anh hùng
hào kiệt có đóng góp to lớn vào nền hòa bình của đất nước
Qua khảo sát trên chúng ta thấy mặc dù người mẹ không trực tiếp cầm
vũ khí đánh giặc trên chiến trận nhưng họ là những người gián tiếp góp côngsức của mình vào sự nghiệp chiến đấu của nước nhà là sinh ra các anh hùngcho thời đại
Thứ ba, trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi thấy rằng ngoài
những truyền thuyết viết về những nữ tướng có tên tuổi, quê quán trực tiếptham gia giết giặc cứu nước thì các nghệ sĩ dân gian còn kể về những ngườidân thường, những người phụ nữ vô danh đã tham gia đánh giặc cứu nướcbằng mọi cách
Trong truyện Người con gái núi Tam Đảo, nghệ sĩ dân gian đã ca ngợi
nhân vật nữ không tên gọi bằng cái tên chung là người con gái Nàng mặc dùnhỏ tuổi nhưng rất anh dũng đã xin vua xung phong đi đánh giặc Ân; đó còn
là người phụ nữ vô danh đã mang lương thực ủng hộ quân nhà Trần và máchngày con nước của sông Bạch Đằng cho Trần Hưng Đạo bố trí mai phục mànay còn có đền thờ ở gần sống Bạch Đằng, gọi là đền Vua Bà [6, tr 71]
Trong truyện Cánh đồng mẫu hậu, ca ngợi người đàn bà không tên đã
giúp đoàn quân của Lê Lợi trong lúc quân của ông bị quân minh đuổi; hay đó
Trang 22là mụ hàng dầu đã giúp Lê Lợi trong trận chiến với giặc Minh Mụ hàng dầugiàu lòng yêu nước, ngày ngày gánh dầu tiếp tế hàng ba bốn chuyến cho quân
đội (Sự tích núi dầu); trong truyện Bán cháo ca ngợi về người phụ nữ không
tên đã đóng góp công sức của mình vào công cuộc đánh đuổi bọn xâm lượcMãn Thanh Hàng ngày bà tất bật nấu cháo cho các quân sĩ;…
Tiểu kết chương 1
Như vậy, truyền thuyết là truyện kể về những nhân vật và sự kiện hưcấu hay xác thực, có liên quan - ảnh hưởng tới lịch sử trọng đại của dân tộc.Qua đó nhân dân thể hiện ý thức và thái độ đối với nhân vật và sự kiện lịch sử
Nhân vật trong truyền thuyết được lựa chọn và phản ánh là những nhânvật lịch sử thu hút được sự chú ý của nhân dân và những nhân vật này đều cótầm vóc nhất định trong lịch sử dân tộc Thông qua việc khắc họa hình tượngnhân vật truyền thuyết, các tác giả dân gian đã thể hiện quan niệm nghệ thuật,khuynh hướng phát triển của tư tưởng thẫm mỹ, mang đậm tính nhân dântrong trường kỳ lịch sử dân tộc…
Trong truyền thuyết, thế giới nhân vật nữ hiện lên khá đa dạng và phongphú Đó là những người phụ nữ vừa có vẻ đẹp ngoại hình lẫn vẻ đẹp đời sống
và tính cách Đó có thể là những cô gái còn rất trẻ, hay những người mẹ sinh
ra những người con anh hùng, những người vợ thông minh, thủy chunggiúp chồng dựng xây sự nghiệp nước nhà thậm chí là những người phụ nữ vôdanh Tất cả những con người đó đều có vị trí và vai trò quan trọng trong xãhội Mỗi người đều có trí tuệ tài năng, công việc khác nhau nhưng điểm chungcủa họ là đều có lòng yêu nước và dũng cảm để hiên ngang chống trọi với kẻthù gian ác Những người phụ nữ ấy chính là sự hóa thân của cộng đồng
Trang 23Chương 2 NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỀN THUYẾT CHỦ ĐỀ
XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
Theo Ph Ăngghen: “Tất cả các dân tộc trong quá trình phát triển lịch
sử của nó đều phải trải qua thời đại anh hùng” Đó là thời kì con người bứt rakhỏi đời sống dã man, bước vào chế độ văn minh đầu tiên Thời kì được đánhdấu bằng những chiến công lao động và những biến đổi xã hội sâu sắc
Nội dung chủ yếu của các truyền thuyết với chủ đề xây dựng đất nước
là ngợi ca chiến công thiên nhiên, lao động sản xuất, chống xâm lấn bảo vệcộng đồng, khẳng định sức mạnh và ý thức lịch sử của tập thể trong quá trìnhphát triển lịch sử đó Vì thế mà các nhân vật nữ được các nghệ sĩ dân gian xâydựng trong thời kỳ này không những để giải thích về nguồn gốc con rồngcháu tiên của nhân dân Việt mà còn ca ngợi họ trong vai trò kiến tạo văn hóa
và lao động sản xuất
2.1 Ngoại hình, diện mạo
Phụ nữ chính là một nửa của thế giới, vậy nên hình tượng người phụ nữ
từ xưa cho tới nay đã đi vào văn học một cách hết sức tự nhiên với một vẻ đẹpriêng, một sức hút riêng Do đó mà trong cuốn danh ngôn viết về người phụ
nữ thì Lessinh đã khẳng định “đàn bà là kiệt tác của vũ trụ” Vì thế vẻ đẹp củanhững người phụ nữ trước hết được thể hiện ở ngoại hình với những đườngnét gợi cảm, như một kiệt tác của thiên nhiên ban tặng
Ngoại hình là khái niệm chỉ hình dáng, diện mạo, trang phục, cử chỉ,tác phong… tức toàn bộ những biểu hiện tạo nên dáng vẻ bên ngoài của nhânvật Có nhiều cách khắc họa ngoại hình nhân vật: thông qua ngôn ngữ người
kể chuyện; thông qua ngôn ngữ hoặc cái nhìn của nhân vật khác trong tác
Trang 24phẩm; thông qua những tình huống và hoạt động của nhân vật được miêu tả…Ngoại hình là một trong những yếu tố biểu hiện tính cách nhân vật, góp phầntạo nên một nhân vật hoàn chỉnh Trong văn học viết sự đa dạng trong việcmiêu tả ngoại hình của nhân vật tùy thuộc vào phong cách sáng tạo riêng củamỗi nhà văn Với chủ nghĩa lãng mạn thì các nhà văn thời kì này khi miêu tảnhân vật thường lý tưởng hóa nhân vật Còn sang với chủ nghĩa hiện thực thì
vẻ đẹp ngoại hình của nhân vật được thể hiện một cách chân thực và sinhđộng nhất
Tuy nhiên trong văn học dân gian thì việc miêu tả ngoại hình, diện mạonhân vật chưa mang một “dụng ý nghệ thuật” và có nguyên tắc riêng nhưtrong văn học viết Các nghệ sĩ nhân gian cũng chú trọng đến yếu tố ngoại hìnhnhưng nó chỉ dừng lại ở một mức độ nhất định nào đó Và đối với thể loạitruyền thuyết thì việc miêu tả ngoại hình nhân vật cũng có thể là điểm nhấncủa mạch trần
thuật
Đến với truyền thuyết dân gian người Việt khi miêu tả về vẻ đẹp ngoạihình, diện mạo của nhân vật nữ, ta bắt gặp đầu tiên là vẻ đẹp khỏe khoắn, trànđầy sức sống Trong truyện Người con gái núi Tam Đảo, nhân vật nữ được
miêu tả là có vẻ ngoài trông “khỏe khoắn, che thân bằng vỏ cây… đi lạichuyền nhảy nhanh như sóc, nhẹ như vượn” Sau này khi đứng trước mặtLang Liêu thì người con gái ấy lại được miêu tả “mắt sáng long lanh, gươngmặt tươi tắn đỏ hồng, vóc dáng xinh đẹp khỏe mạnh, vua rất vui đón về kinh
đô làm lễ cưới” Nhân vật Mụ giạ (Mụ giạ) cũng được giới thiệu với vẻ bề
ngoài “to cao, khỏe mạnh” Chính sức vóc ấy mà bà đã được nhà vua tintưởng và giao cho trọng trách rất quan trọng đó là mở mang bờ cõi
Truyền thuyết viết về nhân vật nữ còn ca ngợi họ với vẻ đẹp đoan trang
của người phụ nữ phương Đông Nàng Khiết Nương tức Hoàng thái hậu sau
này (tên là Yến, lại có tên là Cám) có “dung mạo đoan chính lại gồm đủ tứ
Trang 25đức (công, dung, ngôn, hạnh)” Vẻ đẹp của nàng nhẹ nhàng hòa vào đất trời
bình yên lại thêm có mây ngũ sắc che đầu khiến vua càng mến mộ (Sự tích Ỷ
Lan phu nhân); nàng Nguyệt Ánh được miêu tả với vẻ đẹp “không những đẹp
người lại đẹp nết” Không những thế nàng còn có “đôi tay đẹp, trên đầu lại có
đám mây che” khiến ai gặp mặt cũng phải yêu mến (Bà chúa Muối).
Các nhân vật nữ trong truyền thuyết còn sở hữu vẻ đẹp gợi cảm lôi
cuốn và đầy hấp dẫn Trong truyện Bà chúa Lẫm đã khắc họa vẻ đẹp “lồ lộ
đương xuân” của nàng chúa Lẫm Cảm vì nhan sắc cũng như trọng mến sựthông minh ý tứ của nàng mà chàng hoàng tử nhà Lý đem lòng yêu nàng vàmuốn cưới làm vợ Và rồi duyên tình của “trai anh hùng sánh với gái thuyềnquyên” ngày càng khăng khít và nồng đậm Sắc đẹp của nàng là khởi nguồncủa hạnh phúc Hay đó là bà chúa Mía tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Liệu có
“sắc đẹp hơn người” vì thế mà bà được tuyển vào cung chúa Trịnh, dưới triều
Lê Thần Tông, đầu thế kỷ XVII (Bà chúa Mía).
Các nghệ sĩ dân gian còn thể hiện vẻ đẹp kì lạ khác thường ở các nhân
vật nữ trong truyền thuyết Vẻ đẹp ấy được thể hiện sinh động qua bà chúa
Binh (May áo chồng bằng hơi thở ấm) Bà là một võ nữ nên sức vóc được
miêu tả là phi thường Khi bà làm việc, “đôi vú to của bà đập vào đòn cào,vào cán cào, cán cuốc nghe đồm độp cả ngày” Chính vì sức vóc như vậy, nênmùa đông đứng bên bà thì như đứng bên đống sưởi Hay nàng Nhữ Nươngđược các nghệ sĩ dân gian miêu tả diện mạo với vẻ khác thường so với các chị
em cùng trang lứa Ai cũng môi son má đỏ, da trắng tóc dài, thân hình đầyđặn thì nàng lại sở hữu vóc dáng “thấp gầy, da lại đen… trông cô gái lờ đờ
ngơ ngác… hồn vía để đi đâu mất rồi” (Vua Bà).
Vẻ đẹp ngoại hình, diện mạo của các nhân vật nữ còn được thể hiện
thông qua những câu khái quát ngắn gọn Tác giả dân gian sử dụng vẻn vẹn
ba từ để nói về nhan sắc “rất xinh đẹp” của nàng Âu Cơ (Âu Cơ), bà chúa Vót
Trang 26(Bà chúa Vót), bà chúa Tó (Bà chúa Tó) và Hoàng Phủ Thiếu Hoa (Bà tổ nghề dệt lụa).Còn các nhân vật nữ như Ngọc Đài (Bà Ngọc Đài), Nguyễn Thị
La (Bà chúa dệt: Thụ La công chúa) thì được ca ngợi với vẻ bên ngoài là “tài
sắc tuyệt vời” Vẻ đẹp ngoại hình diện mạo của Ngọc Đô thì được xếp vào
hàng “sắc nước hương trời” (Bà chúa thiên niên), còn nàng Quế Nương có nhan sắc “nghiêng nước nghiêng thành” (Thánh mẫu thượng ngàn).
Như vậy, chúng ta thấy rằng vẻ đẹp ngoại hình, diện mạo của các nhânvật nữ trong truyền thuyết với chủ đề xây dựng đất nước được miêu tả mộtcách khái quát Và dù được miêu tả, khắc họa theo cách nào đi chăng nữa thìtrong truyền thuyết, các nhân vật nữ đều có ngoại hình đẹp
2.2 Phẩm chất, tài năng
Truyền thuyết dân gian người Việt không những ca ngợi vẻ đẹp ngoạihình của nhân vật nữ mà còn dành những trang văn để miêu tả vẻ đẹp phẩmchất và tài năng của họ Họ là những người đẹp về cả ngoại hình lẫn tâm hồn,tài năng
Viết về tài năng của các nhân vật nữ, truyền thuyết ca ngợi họ với tài
năng văn học, ca hát Trong truyện Bà pháp tính: bà chúa Kim Cương có ghi
lại bà Trịnh Thị Ngọc Trúc nguyên là một vị quận chúa, con gái của TrịnhTráng, sống vào thế kỷ XVII ở nước ta Bà thông hiểu cổ kim, nhất là cónhiều suy nghĩ về tiếng nói và chữ viết của nước nhà Bà đã biên soạn đượcmột cuốn sách đặc sắc, là cuốn “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” Chữ Nômđược sử dụng vào thơ phú từ đời Trần và sang đời Lê thì rất thịnh Nhưngchưa có ai làm sách từ vị, thu thập giải nghĩa các tiếng và cách viết Cuốnsách của bà là một đóng góp cho nền văn hóa Việt Nam Mãi cho đến nhiềunăm về sau, vẫn chưa ai lưu tâm viết những loại sách như thế
Nàng Nguyễn Thị Kể sinh ra trong gia đình nghệ thuật ca xướng Vìthế khi lớn lên nàng Kể trở thành một ca nữ có giọng hát hay, tài sắc nổi danh
Trang 27khắp cả một vùng Chính tài năng ấy đã làm nao lòng chúa Trịnh và nàngđược làm cung phi Ở trong cung vì tinh thông âm luật, nàng luôn bày vẽ chocác đội nữ nhạc tiếng đàn dạy hát, gây được không khí hồ hởi, lan rộng ra cảngoài đô thành Thăng Long Được chúa Trịnh yêu quý nên sau này nàng cũng
đã dành những lời khuyên giúp chúa cai quản đất nước hợp lòng dân (Bà Tri
Chỉ).
Tài năng ca hát còn thể hiện rõ ở bà Ngọc Đài (Bà Ngọc Đài) Bà là
người con gái họ Phùng, là một đào nương danh tiếng hồi đầu thế kỷ XVII ởnước ta Bà nghĩ ra một trò vui cho dân đó là cho họ vác mai cuốc, xếp hànglại với nhau thành những chữ Hán như “Quốc Thái dân an”, “Thiên hạ tháibình”… Người này cầm cờ, người kia múa hát, sắp thành các điếm, các đội,một người điều khiển cả đội gọi là “Tổng Cờ” Từ đó đến ngày hội, để chođẹp mắt người dân đã thay những cán cuốc cán mai bằng những cây gậy quấngiấy xanh đỏ, buộc tua ở đầu và những cây cờ ngũ sắc Họ cũng xếp thànhnhững chữ để múa hát Bà Ngọc Đài đã tạo ra trò chơi bổ ích để giải lao chonhân dân sau những giờ lao động mệt nhọc Sau này nhân dân tôn bà làmthành hoàng làng Bảo Ngũ Chính bà là người đã sáng kiến ra hội kéo chữ,một trò diễn đẹp mắt mà mang đậm ý nghĩa văn hóa
Hay nàng Bạch Hoa (Mãn đào hoa công chúa) con của viên quan châu
Bạch Đình Sa Nàng có nhan sắc đẹp tuyệt trần, giọng hát hay điệu múa dẻo.Bạch Hoa cùng với chồng của mình chăm chú dạy nghề đàn hát cho lớp trẻ ởtrong vùng khiến quan khách ai ai cũng phải trầm trồ khen ngợi Từ tài năng
ca hát của hai vợ chồng mà Cổ Đạm làng quê của hai người trở thành đấtthanh lịch, thịnh hành lối hát ả đào từ xưa đến nay chưa hề có trên đất nước
ta Dân làng Cổ Đạm lập đền thờ tôn là Mãn Đào Hoa công chúa – là vị tổ củangành hát ả đào
Trong truyện Sự tích hát xoan đã ca ngợi nàng Quế Hoa xinh đẹp bằng
tài năng ca hát của mình nàng đã giúp cho vợ của vua Hùng quên đi cơn đau
Trang 28mà sinh được ba người con trai khôi ngô đẹp đẽ Quế Hoa ở gần thành PhongChâu, nàng múa giỏi hát hay, tay uốn chân đưa, người mềm như tơ, dẻo nhưbún ai cũng phải mê Vua Hùng đã vô cùng vui mừng, mới bảo các mỹ nươnghọc lấy điệu múa hát của nàng và gọi là hát Xuân hay chính là hát Xoan; nàng
Nhữ Nương (Vua Bà) mặc dù không sở hữu vẻ đẹp tuyệt thế giai nhân giống
như những cô gái khác nhưng khi nhập vào cuộc ca hát thì Nhữ Nương trôngrất linh hoạt, duyên dáng hẳn lên Khi nàng cất lên tiếng hát thì lời ca vừa baybổng vừa chân thực, khi ngộ nghĩnh, hồn nhiên, khi thấm thía ân tình Giọnghát, lời ca của Nhữ Nương đã tạo cho cô một khuôn mặt mới, kỳ ảo và mêđắm lòng người Nàng đam mê hát đến nỗi vừa làm nàng vừa nhẩm nhữngcâu hát chợt nghĩ ra Giọng ca của nàng âm vang trên mặt sóng đồng không
Từ những sườn đồi cỏ mọc lút đầu, tiếng ca Nhữ Nương vút lên hòa với tiếnglíu lo chim ngàn, tiếng rì rào bờ sông nước chảy… Nàng có thể cất lời catiếng hát ở khắp mọi nơi lúc rảnh rỗi cũng như làm việc trên cánh đồng Tiếnghát của nàng khiến người già nghe thấy trẻ lại, người trẻ nghe thấy chân tay tựnhiên gõ nhịp, miệng mấp máy hát theo… Nhữ Nương thường khuyến khíchcác bạn trong làng: “Cứ hát đi, đừng ngại không có giọng Cốt nhất trong lòngmình muốn hát lên… ” Nàng còn dạy các bạn tập hát, chẳng bao lâu khắplàng đều vang lên tiếng hát Bên gái bên trai họp thành bọn, hát đối đáp thâuđêm Giọng hát đầy huyền bí ấy đã làm mê mẩn vị hoàng tử con út của vuaThủy Tề Bao nhiêu lần nàng hát chàng cũng đều ở dưới lắng nghe Sau nàymỗi một cuộc hát quan họ đều được mở đầu bằng câu:
“Thủy tổ quan họ làng taNhững lời ca xướng Vua Bà sinh nên… ”
Các nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian còn là những người thông
minh và tài giỏi Nàng chúa Lẫm (Bà chúa Lẫm) không chỉ là người thông
minh mà còn là người tinh tế và chủ động Khi hoàng tử đang lang thang giữa
Trang 29cánh đồng bộn bề nước trắng, trời lại đang tối và chàng đói bụng nên đànhtìm nơi nghỉ trọ Khi thấy túp lều nhỏ, hoàng tử lên tiếng gọi Nhưng trongtúp lều chỉ có người con gái nên hoàng tử lúng túng và định quay đầu ra về.Đứng trước sự ngại ngùng lúng túng của hoàng tử, nàng đã nhanh ý tiếp lời:
“Xin chàng chớ ngại, ở đây đâu chỉ có chàng với thiếp, mà còn có ngọn đènnày nữa” Ngọn đèn là vật vô tri vô giác nhưng bằng sự nhạy cảm và tinh tếnàng đã biến nó giống như vật thể sống Nàng khuyên hoàng tử đừng ngại vìtrong phòng không chỉ có chàng với nàng mà còn có cả ngọn đèn nữa Thấy
cô gái sáng ý và tha thiết nên hoàng tử đã vui lòng ở lại
Trong truyện Bà Kiệt Đặc, ca ngợi người con gái Nguyễn Thị Duệ
thông minh và học giỏi Năm mười tuổi, cô bé chưa được đi học mà đã biếtđọc sách, truyện và viết tập làm văn Nguyễn Thị Duệ có tinh thần ham họchỏi, để được đi học thì nàng đã xin cha mẹ được cải trang thành con trai “mặcquần áo nam giới, không xêu lỗ tai” và cô đã đỗ tiến sĩ Với tấm lòng thật thà
và tài năng của bản thân thì nàng được giữ lại trong cung để dạy dỗ cho cung
nữ Thậm chí khi bà giao thiệp với các nhà khoa bảng cùng các trọng thầnuyên bác, ai cũng phải công nhận bà có trình độ học vấn sâu sắc và có đạođức thanh cao Khi được vua Lê chúa Trịnh hỏi ý kiến về các việc liên quanđến chính sự, Nguyễn Thị Duệ tìm ngay được những câu chuyện hoặc tấmgương tương tự trong sử sách đời xưa để trả lời, ngụ ý khuyên răn vua chúacần phải theo đường chính học, chăm sóc đời sống của nhân dân Trong triềuđình ai cũng ngượng mộ và kính phục nàng
Nhân vật nữ trong truyền thuyết dân gian còn là những con người có
đời sống tâm hồn cao đẹp Nét đẹp chịu thương chịu khó, nết na và hiếu nghĩa
chính là vẻ đẹp chung của các nhân vật nữ trong truyền thuyết.Đó là nàng
Khiết (Sự tích Ỷ Lan phu nhân), người con rất đảm đang Khi mẹ mắc bệnh,
cha thì đi phục dịch quan chưa về, ở nhà nàng lo toan mọi việc Nàng Khiết
Trang 30ngày ngày cơm cháo thuốc thang cho mẹ, hết sức lo tròn đạo hiếu Nhà vua
Lý Thánh Tông đã từng ca ngợi nàng: “Đây quả là người có đức, có lẽ làngười có một không hai trong thiên hạ” Chính bởi đức tính tốt ấy mà nhà vuaphong nàng làm Ỷ Lan phu nhân
Sự chịu thương chịu khó còn được tái hiện rõ nét ở nàng Nhữ Nương
(Vua Bà) Rời quê nhà Nhữ Nương đi mọi nơi để kiếm sống Nhiều người ái
ngại trước cảnh sống của cô nhưng cô đã nói: “Ta tuy tứ cố vô thân, nhưngkhông muốn làm con chim hót tiếng đau xót trong lồng giam… Ai thương tatrơ trọi độc, liệu có đông bầu bạn thân thích bằng ta không? Ta có trời đất làmcha mẹ, có núi sông làm anh chị, còn chim bướm hoa cỏ đều làm bạn bè…Còn ai sướng hơn ta nữa” Nhữ Nương không hề than phiền hay sợ cuộc sốngnghèo khổ Nàng lặn lội khắp đồng xa đồng gần mò tôm bắt cá, kiếm con cuacon ốc mang về đổi lấy lẻ gạo sống qua bữa Suốt ngày làm lụng vất vả, quần
áo ướt sũng, lấm lem bùn đất nhưng Nhữ Nương vẫn vui Bằng tinh thần chịuthương chịu khó mà nàng Nhữ Nương đã vượt qua được sự nghèo khổ trongcuộc sống
Đó còn là bà Chúa Binh, một võ nữ có sức vóc phi thường và rất chămchỉ, chịu khó Bố mẹ mất sớm, một mình bà vỡ đồi, cuốc bãi hoang hàng chụcmẫu ruộng mà chẳng nhờ và thuê mượn một ai cả Bà làm một mình tất cả cáccông việc đồng áng từ gặt lúa, gánh lúa cứ quần quật hết cánh đồng này sangcánh đồng khác Bà làm rất giỏi và nhanh Tác giả dân gian đã ghi “đôi vú tocủa bà đập vào đòn cào, vào cán cào, cán cuốc nghe đồm độp cả ngày” Vơi
sự chịu thương chịu khó ấy sau này bà đã có công rất lớn trong cuộc chiến
chống giặc ngoại xâm phương Bắc (May áo cho chồng bằng hơi thở ấm).
Trong truyện Dương Vân Nga, đó là hình ảnh chăm chỉ cần cù của
nàng đã được chú cháu Đinh Bộ Lĩnh bắt gặp khi nàng đang cắt cỏ và hát:
“Tay cầm bán nguyệt xênh xang
Trang 31Muôn ngàn ngọn cỏ hai hàng tay ta”.
Lao động không khiến nàng thấy vất vả, ngược lại càng làm cho cuộcsống của nàng có ý nghĩa và tinh thần phấn chấn hơn
Nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ còn thể hiện qua tầm nhìn xa trông
rộng của mỗi người Ta bắt gặp điều đó qua hình ảnh bà chúa Lẫm (Bà chúa Lẫm) Bố mẹ nàng mất sớm, sống trong cảnh nghèo khó thế nhưng nàng lại
không muốn nương tựa nhờ cậy ai mà tự mình làm túp lều có chỗ ở để kiếmsống Hoàn cảnh càng khó khăn thì nàng lại càng mạnh mẽ vượt lên trên sốphận Những lời nàng tâm sự khiến cho hoàng tử rất ngưỡng mộ “Thiếp nghĩgiàu nghèo là tự tay mình làm ra Cứ chăm chỉ rồi sẽ khá lên, phải khôngchàng? Người ta đi gặt ăn tuồng bỏ vãi, thiếp cứ đi cóp nhặt lại của họ mà lạiđược nhiều thóc hơn Gần đây có kho lương, thiếp cứ đào hang chuột cũngkhối thóc…
Hoàng tử không ngờ người con gái quê mùa chân thực lại có tâm sựhơn người đến thế”
Như vậy, truyền thuyết dân gian đã khắc họa tài năng và đời sốngtâm hồn của những người phụ nữ rất phong phú và đẹp đẽ Họ xuất thân từtầng lớp bình dân vì thế mà sớm sớm đã phải chịu nhiều khổ sở, vất vả.Chính trong những hoàn cảnh khốn khó đó mà những người phụ nữ mớihình thành những tài năng và phẩm chất, đạo đức cao quý Sự vất vả, nghèokhổ không làm cho con người đầu hàng trước số phận Nhân vật nữ vẫnyêu đời và lạc quan trong cuộc sống Đó chính là một trong những phẩmchất đáng quý của người phụ nữ
Trang 32sáng tạo ra những giá trị tinh thần mang đậm văn hóa Việt Khi đất nước cógiặc ngoại xâm các nam giới đều ra chiến trận khi đó những người phụ nữ trởthành lực lượng nòng cốt trong lao động sản xuất Họ trở thành nguồn laođộng chủ yếu và quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Vì thế mà hành trạngcủa các nhân vật nữ trong truyền thuyết với chủ đề xây dựng đất nước gắnliền với công cuộc kiến tạo văn hóa và lao động sản xuất.
Các nhân vật nữ đã tham gia rất tích cực vào lĩnh vực lao động sảnxuất Đó là cô gái ở ấp Hoa Xá, tả Thanh Oai (nay thuộc huyện Thanh Trì,ngoại thành Hà Nội) đang làm việc chăm chỉ giữa trưa Khi vua Lê Đại Hànhthấy vậy đến hỏi thì nàng dõng dạc trả lời: “Nhà vua có việc của nhà vua,chúng em có việc của chúng em Nhà vua dẹp giặc nước, chúng em dẹp giặccỏ” Trước lời nói của cô gái nông dân ấy nhà vua rất lấy làm nể phục Hìnhảnh của nàng chúa Tó đang hăng say làm cỏ lúa giữa ruộng cũng chính làhình ảnh của các cô gái thời chiến Cho dù có khó khăn, vất vả thì họ luônhăng say miệt mài lao động Họ chính là những người trực tiếp làm ra lương
thực thực phẩm để cung ứng cho các quân sĩ ngoài chiến trận (Bà chúa Tó).
Nhân vật nữ chính là những người giúp dân tạo dựng nghề nghiệp và truyền nghề cho nhân dân Đó là mẹ Âu Cơ, dân gian ca ngợi nàng là bà tổ nghề nông tang và chế biến thực phẩm (Mẹ Âu Cơ tổ nghề nông tang và chế
biến thực phẩm) Khi nàng Âu Cơ sinh ra được bọc trăm trứng, trứng nở ra
thành một trăm người con trai thì các con đã chia tay nhau Năm mươi ngườicon theo mẹ Âu Cơ về núi Phong Sơn nay là huyện Bạch Vạc Vĩnh Phú Từđây Âu Cơ đã kiếm giống lúa cho dân chỉ cho dân cách đốt cây rẫy cỏ đểtrồng lúa nương Ngoài ra Âu Cơ còn dạy dân trồng dâu ở các bãi ven sông,nuôi tằm để dệt tơ lụa và dạy dân trồng lúa; hay đó là những người con gáigiúp vua Hùng dựng nước, mở mang bờ cõi, cai trị dân chúng như: con gái
Trang 33Tiên Dung dạy dân làm ăn (Truyện Nhất Dạ Trạch), mở mang bờ cõi; con gái
Ngọc Hoa dạy dần trồng lúa, dệt vải, hát múa…
Những người phụ nữ ấy còn chính là những người tạo ra nghề nghiệpmới cho đất nước Chẳng hạn như nghề dệt Đây là ngành tiểu thủ công mới
phát triển ở thời kì phong kiến tự chủ Đó là nàng La (Nàng chúa dệt: Thụ La
công chúa), không những là người thợ giỏi mà còn là người thầy nhiệt tình và
tận tụy Nàng La rất khéo tay, dệt vải rất đẹp Nàng La đã cùng với chồng củamình tự mở xưởng dệt và chủ động đi dạy người dân dệt vải Tiếng đồn lanrộng, nhà vua nhiều lần mời nàng vào cung, dạy cho công chúa và các cung
nữ Các tiểu thư nhà quan cũng đua nhau mời nàng về nhà để dạy Ai ai cũngphục cái tài của nàng La và gọi nàng là bà chúa dệt
Trong truyện Bà tổ nghề dệt lụa đã ca ngợi nàng công chúa xinh đẹp
Hoàng Phủ Thiếu Hoa Công chúa không ưa cuộc sống nhung lụa mà lại ưacuộc sống nông tang, chỉ một lòng chuyên nghề canh cửi Đến Cổ Sắt nàngdạy dân trồng dâu, nuôi tằm và dệt lụa Nàng không những dạy cho dân làng
Cổ Đô, Vân Sa lại còn mang nghề sang truyền bảo cho hơn sáu mươi làngxung quanh Vì vậy mà sau này, làng Cổ Đô và Vân Sa dệt lụa nổi tiếng làđẹp và bền, nhân dân vùng Sơn Tây cũ còn truyền tụng lại câu ca:
“Lụa này thật lụa Cổ ĐôChính tông lụa cống, các cô ưa dùng”
Dưới sự dạy dỗ tận tình, người dân đã thành thạo với việc dệt lụa.Tương truyền nghề canh cửi dần dần được lan truyền sang các vùng kháctrong đất Hà Tây và truyền tới nhiều làng thuộc các tỉnh Hà Nam, Nam Định,Ninh Bình, Thái Bình ngày nay Các làng có nghề dệt cửi đều coi bà HoàngPhủ Thiếu Hoa là thủy tổ nghề dệt lụa của mình
Hay nàng Quỳnh Hoa con gái của ông Trần Vỹ (Bà chúa nghề tằm)
không những thông minh, xinh đẹp mà lại có tài và khéo tay Bà thường dạy
Trang 34các cung nữ nghề nuôi tằm dệt vải Khi chồng mất bà về quê chồng giúp dânđịa phương về nghề tằm tang; bà Phạm Thị Ngọc Đô hay còn gọi là bà chúadệt lĩnh, bà chúa Thiên Niên chính là người đã truyền lại nghề dệt lĩnh cho
nhân dân làng Trích Sài, Bái Ân, Nghĩa Đô (Bà chúa Thiên Niên) Nàng có
hai mươi bốn nữ tỳ cũng đều thông minh nhanh nhẹn và thành thạo kim chỉ vámay như chủ Nàng tụ tập người dân và chiêu mộ thêm người, cùng các nữ tỳcủa mình dạy dỗ nghề dệt lĩnh cho dân chúng Vì thế Lĩnh Bưởi nổi tiếng ởthủ đô và ở khắp nước ta những ngày trước cách mạng tháng Tám Có đượcnghề thủ công quý báu như thế, là vì nhân dân đã được:
“Nhờ đức thiên tôn, dạy nết cửi canhChân giày tay dệt đã nhanh
Văn chương có chữ rành rành bởi aiViệc cung chức tiên tài đủ vẻ
Dạy nữ công văn nghệ cho tườngQuay tơ lụa chỉ nhiều đườngDọc theo đậm mắt, dệt ngang có mành”
Đó còn là nghề trồng mía của nhân dân ở nàng Sơn Tây Công lao vunđắp cho nghề trồng mía là một tay bà Nguyễn Thị Ngọc Liệu tạo nên Bà làngười có trí thông minh và sắc đẹp hơn người nên được tuyển vào cung chúaTrịnh dưới triều Lê Thần Tông Mặc dù được tuyển làm cung phi thế nhưng
bà không hay ở trong cung mà thường xin phép chùa trở về làng để khuyếnkhích dân làng trồng mía Bà kêu gọi mọi người trồng, thậm chí bà còn tự taymình chăm sóc lấy bãi mía của nhà mình Được sự săn sóc và khuyến khíchnghề nghiệp trồng mía mà nhân dân ở Đông Sàng, Mông Phụ và rộng ra cảSơn Tây đều làm ăn phát đạt Nhân dân kính trọng bà và tôn bà là bà chúa
Mía Cho đến tận ngày nay thì nơi đó vẫn giữ nghề trồng mía (Bà chúa Mía).
Trang 35Quế Nương (Thánh mẫu thượng ngàn) sở hữu vẻ đẹp nghiêng nước
nghiêng thành Nàng lại nổi tiếng là người khéo tay hay làm, nết na thùy mị
Vì thế mà theo nếp mẹ truyền, nàng công chúa tài khéo sớm hơn, chuyên cầndạy dân làm đủ các việc: cày ruộng, phát nương, dệt vải, chăn thú rèn vàngluyện kim cương, làm đồ gốm, chống thú rừng… Những người nghèo khóđều đươc công chúa cưu mang hết lòng Chẳng bao lâu nơi dây trở nên trùphú Lúa vàng khắp ruộng, sắn ngô xanh mướt trên nương, chim chóc đưanhau bay về núi rừng quanh bản, rộn hót suốt đêm ngày… Bởi thế cả trăm họtrong vùng đều vô cùng kính trọng Quý Nương
Trong truyện Bà chúa Vĩnh, tương truyền Bà chúa Vĩnh là con gái của
bà Tổ Cô Bà rất thông minh khi bà đã nghĩ ra cách đi nhặt phân về bón cholúa Bà bắt tay vào làm và hướng dẫn cho những người dân trong vùng làmtheo Quả nhiên vụ mùa năm ấy, bông thóc nào cũng uốn câu, nặng trĩu hạtmẩy Khi đó những bầy thú, bầy chim rừng đua nhau kéo đến cắn phá thì BàVĩnh lại nảy ra ý định gọi mọi người ra săn bắt, đuổi đánh chim thú đi Làngười tỉ mỉ và cẩn thận, bà quan sát các loài thú vật, chim chóc chữa vếtthương cho nhau mà bà đã học được rất nhiều phương thức quý Trong làngngoài xóm ai có bệnh gì bà đều chữa khỏi, danh tiếng của bà được khắp vùngbiết tới Tấm lòng nhân hậu của bà đã mang lại cuộc sống yên bình, ấm nocho người dân khỏi nghèo đói và bệnh tật; hay bà Chóa, cũng là con gái của
bà Tổ Cô là người đi đến vùng xa nhất để truyền nghề (Bà Chóa tổ nghề trồng
dâu nuôi tằm) Mẹ con bà Chóa đã đi vào bãi phá hoang và chặt giống dâu về
trồng Khi dâu đã mọc xanh tốt thì ba mẹ con đã hái lá dâu về chăn tằm rồikéo tơ để dệt vải Người dân đều khen tơ lụa của bà mịn mát và mong bàtruyền nghề cho Từ đó ba mẹ con bà hăng say đi truyền nghề trồng dâu, nuôitằm, dệt vải cho dân làng
Trang 36Vạn Vót là một xóm làm nghề chài lưới hoặc buôn bán trên sông nước,kèm theo nghề đan lát Có câu ca dao cổ trẻ em thường hay hát:
“Đồn rằng vạn Vót vui thayTrên thì vạn Thúng, dưới may vạn Thuyền”
Người phụ nữ tạo ra nghề vót cho dân đó chính là bà Chúa Bà đã bỏtiền ra chiêu mộ dân chúng và cùng bà con chăm lo một nghề thủ công mới
Đó là nghề vót tre, vót nan, đan thúng mủng, rổ rá, đan cả loại thuyền thúng,thuyền nan để làm phương tiện đi lại, hoặc chuyên chở khoai lúa ở những nơiđồng trũng, có nhiều kênh rạch Lâu dần nghề đó trở nên phát đạt Làng được
gọi tên là Vạn Vót (Bà chúa Vót).
Không chỉ dừng lại ở đó, nhân vật nữ còn giúp dân tạo dựng ra nghềlàm muối Đó là nàng Nguyệt Ánh quê huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình đãtruyền cho dân cách làm muối Nàng sinh ra trong gia đình chuyên nghề làmmuối Và điều thú vị ở nàng mà dân gian đã ghi lại là “những nơi Nguyệt Ánh
đi qua muối bị lâu khô mà sau này lại rất tốt Muối trắng như bong, độ mặn rấtcao” Hễ thuyền muối của nàng đi đến đâu thì đều đắt khách đến đó Sau này
khi nàng mất, nhân dân tôn kính nàng gọi là bà chúa Muối (Bà chúa Muối).
Những nhân vật nữ trong truyền thuyết còn là những người giúp dân
khai hoang ruộng đất, mở mang diện tích đất canh tác Bà chúa Lẫm (Bà chúa Lẫm) cùng dân mở rộng diện tích đất canh tác Bà đã dõng dạc nói với
người dân: “Giàu nghèo là ở tay mình Sao cứ chịu mãi thế này? Vùng nàycòn bao nhiêu đất bỏ hoang, ta phải cày xới lên mà ăn chứ” Bà không những
là người trực tiếp chỉ đạo việc khai hoang đất trống mà bà còn tuyên truyềnkhai sáng tư tưởng cho nhân dân rằng cuộc sống giàu hay nghèo là phụ thuộcvào chính sự chăm chỉ của mỗi người “Lúc đó vào mùa nước tháng tám,tháng chín, khắp các ngả đồng bằng trắng băng một mầu, bà chúa Lẫm tayđeo bị trấu, đi dọc từ Quả Cảm theo triền sông Cầu xuống tới vùng núi Bài
Trang 37thuộc dãy Nham Biền Vừa đi bà vừa vung trấu vãi xuống mặt nước GióĐông Bắc đưa trấu đi tới đâu, bà chúa Lẫm cho cắm đồn điền tới đó Khi cóđược đất rồi, bà chúa Lẫm phân người đi các nơi, lập nên bảy mươi hai trang
ấp trong vùng, cùng lo cai quản cày cấy” Cứ như vậy sau mỗi vụ thu hoạchthì cảnh trí ngày càng hưng thịnh lên Dân gian không ngớt lời ca tụng côngđức bà chúa Lẫm
Nàng Nguyễn Thị Kể (Bà Tri Chỉ) sau mười hai năm ở trong phủ chúa
Trịnh, nàng xin trở về quê mình Bà đã bỏ tiền mua ruộng, mời các chức dịchđến phân chia Lời bia ở đền còn ghi rõ là bà đã chia các sở ruộng ấy thành:
“Học điền, ruộng giúp đỡ cho người đi học Binh điền, ruộng trợ cấp cho cácgia đình quân nhân Lão điền, ruộng giúp đỡ người già cả Kỵ điền, ruộng để
tế tự.” Những việc làm của bà Kể chứng tỏ bà rất lưu tâm đến việc mở mang
và xây đắp cho phong hóa ở thôn xã
Người có công trong việc mở mang bờ cõi còn thể hiện qua nhân vật
mụ Giạ (Mụ Giạ) Thuở ấy nước ta gọi là nước Văn Lang do vua Hùng làm
chủ Ở phía Nam, nước ta giáp với nước Tiết Hầu Để phân chia lãnh thổ, hainước đã đưa ra giải pháp hòa bình: “mỗi bên cử ra một người, cùng một giờ,một ngày, ra đi từ nước mình sang phía nước bên kia Hễ hai người này gặpnhau ở đâu thì lấy nơi đó làm giới hạn biên cương của mỗi nước” Chính vìvậy mà mụ Giạ đại diện cho nước Văn Lang đảm nhận trọng trách quan trọngnày Bà đi nhanh như chim bay Chưa đầy nửa buổi mà đã đi được mấy trămdặm đường Đến quá trưa, chân bà đã đặt tới dãy Khai Trướng ở Nghệ An, vàcuối cùng bà đã gặp người của nước bên kia ở phía Nam một con đèo Từ đóngọn đèo trở thành biên giới phía Tây Nam của nước Văn Lang Ngọn đèo ấythuộc dãy núi Nam Giới, nằm giữa đất Tân Ấp của Hà Tĩnh và đất bản ThongKham của nước Lào ngày nay Bà đã có công lớn trong việc mở mang bờ cõi
Trang 38và để tỏ lòng biết ơn, vua đã lấy tên bà đặt luôn cho ngọn đèo ấy Chính làđèo Mụ Giạ ngày nay.
Bằng trí tuệ và tài năng của mình thì những người phụ nữ ấy đã để lại
những công trình kiến trúc có giá trị văn hóa nghệ thuật cao Trong Sự tích Ỷ Lan phu nhân thì nàng Ỷ Lan ở thời Lý đã cho xây dựng 72 ngôi chùa, xây
tháp Bảo Thiên để trấn giữ quốc gia trước giặc xâm lược Tháp gồm 12 tầng
và cao 12 trượng Nó được xây dựng trên khuôn viên tháp Sùng Khánh ở phíaTây hồ Lục Thủy (tức Hồ Gươm, Hà Nội ngày nay) nguyên vật liệu bằng đá
và gạch, riêng ở tầng hai thì đúc bằng đồng
Trong dị bản Bà phù thánh linh nhân (Bà Ỷ Lan) thì nàng Ỷ Lan đã đi
du ngoạn nhiều nơi núi sông trong nước xem chỗ để xây dựng các chùa tháp
Bà cho sửa sang các hồ như hồ Linh Chiểu, hồ Bích Tri, dựng tháp ở các chùaDiên Hựu, chùa Lãm Sơn Nàng Ỷ Lan còn đại diện cho những người phụ nữ
có công sáng tạo ra những nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc Bà là
người rất giỏi về lễ nghi nên bà đã sáng tạo ra nghi thức tắm Phật Sau này trởthành tục lệ chung của các hội hè cầu đảo trong cả nước Với việc làm ấy của
bà đã mang lại nét đặc sắc văn hóa cho dân tộc Việt
Hay bà chúa Tó (Bà chúa Tó) đã giúp nhân dân tạo ra món ăn mới để
cung cấp lương thực cho cuộc chiến “Chúa Tó có sáng kiến làm bánh chèLam, làm Cốm nếp nhào mật để quân sỹ có lương khô ăn đường”; hay là congái Đế Lai dòng dõi thần nông, Âu Cơ đã biết chế ra rất nhiều thứ bánh trong
đó có bánh Uôi làm bằng bột nếp giã kỹ, trộn với nước mía làm thành hìnhtròn, hấp trong chõ cho kín Những món ăn giản dị ấy đã trở thành nét đẹptrong ẩm thực người Việt
Bà Cống Kỷ người làng La Xuyên, xã Đông Ngạc, Nam Sách (Cầu
chẹm và khối vàng của bà Cống Kỷ) Bà là người phụ nữ xinh đẹp, nết na,
sống trong gia đình giàu có Bà thi đỗ Hương cống nhưng biết mình là nữ, nếu
Trang 39làm quan sẽ phạm tội khi quân nên bà đã chọn con đường buôn bán Bà bỏtiền mua dải đất lia làng Đồng Khê làm đường đi và bắc chiếc cầu đá mườinhịp để nối liền La Xuyên với chợ Thanh Lâm Cầu ấy mang tên cầu Chẹm.Nhờ có cây cầu Chẹm, mà cả làng La Xuyên đi lại dễ dàng, thoải mái Bàkhông chỉ làm cầu, mà còn có công đức làm đình, chùa, văn miếu Đời đờidân ghi nhớ những việc làm tốt đẹp ấy của bà Đã có câu ca dao nói về bàCống Kỉ như một biểu tượng của gái La Xuyên:
“Gái La Xuyên như hoa thiên lýTrai thiên hạ có ý thì trông”
Như vậy, hành trạng của nhân vật nữ trong truyền thuyết về chủ đề xâydựng đất nước đã có vai trò và đóng góp vô cùng to lớn trong việc kiến tạovăn hóa và lao động sản xuất Nhân vật nữ không những là người đi dạy nghềcho dân chúng mà còn trực tiếp tham gia vào lĩnh vực lao động sản xuất nângcao đời sống cho nhân dân Qua đó, tác giả dân gian bày tỏ thái độ cảm phục
và ngợi ca đến những người phụ nữ tài giỏi mà chịu thương chịu khó
Tiểu kết chương 2
Truyền thuyết dân gian người Việt viết về nhân vật nữ chính là bài catoàn diện để ca ngợi về người phụ nữ Người phụ nữ trong truyền thuyết vớichủ đề xây dựng đất nước không những đẹp ở diện mạo, ngoại hình mà cònđẹp ở cả tài năng, phẩm chất và hành trạng
Tác giả dân gian không đi sâu vào việc miêu tả chi tiết, cụ thể vẻ đẹp từlàn da, khuôn mặt, mái tóc của nhân vật nữ mà chỉ khái quát diện mạo bằngnhững câu nói ngắn gọn Phải chăng đây chính là dụng ý nghệ thuật của cácnghệ sĩ dân gian, cố ý xây dựng nhân vật từ những chi tiết bình dị trong mốiquan hệ với nhân dân để khắc họa nhân vật nữ gần với hiện thực Tác giả dân
Trang 40gian tập trung miêu tả hành trạng của nhân vật để thấy được những đóng góp
to lớn của các nhân vật nữ trong công cuộc kiến tạo văn hóa và lao động sảnxuất Những người phụ nữ đã trở thành chỗ dựa vững chắc cho gia đình vànguồn lao động dồi dào cho sự phát triển của xã hội Họ tham gia tích cực vàolĩnh vực lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất nuôi sống gia đình và duytrì sự sống cho xã hội Bằng chính tài năng của bản thân, những người phụ nữ
ấy đã tạo ra những giá trị văn hóa tốt đẹp và được lưu truyền cho tới mãimuôn đời sau
Nhân vật nữ trong truyền thuyết với chủ đề xây dựng đất nước đượccác nghệ sĩ dân gian khắc họa như để giải thích nguồn gốc con rồng cháu tiêncủa nhân dân Việt cũng như khẳng định vị trí và vai trò to lớn của họ trongcông cuộc kiến tạo văn hóa và lao động sản xuất Qua đó, truyền thuyết đã thểhiện tình cảm và thái độ trân trọng biết ơn của các nghệ sĩ dân gian đến cácnhân vật nữ