1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật nữ trong truyện ngắn nguyễn khải sau 1975 (2017)

57 72 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả Đào Thủy Nguyên trong bài viết Thế giới nhân vật Nguyễn Khải trong cảm hứng nghiên cứu phân tích đã đưa ra nhận xét: Những người phụ nữ trong Người vợ, Chút phấn ở đời, Nếp nhà,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN

NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN

NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HUYỀN

NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN

NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS LA NGUYỆT ANH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy Cô giáo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các Thầy Cô giáo khoa Ngữ văn và các Thầy Cô giáo trong tổ Vănhọc Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và tạođiều kiện cho tôi thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo, TS.La Nguyệt

Anh-Người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành khóa luận với đề tài: “NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN

NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985”.

Trong quá trình nghiên cứu, tôi gặp không ít khó khăn và hạn chế vềmặt tài liệu, kinh nghiệm, kinh tế nên đề tài chưa được như ý muốn củangười thực hiện Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy Côgiáo và toàn thể các bạn đọc quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “NHÂN VẬT NỮ

TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985” hoàn thành dưới sự

hướng dẫn của TS.La Nguyệt Anh là công trình nghiên cứu riêng của tôi, đề

tài không trùng lặp với bất cứ một công trình khoa học nào khác Đề tài đượcthực hiện tại khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2

Hà Nội, ngày 25 tháng 04 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Thị Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Cấu trúc khóa luận 5

CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 6

1.1 Khái niệm và cách phân loại nhân vật văn học 6

1.1.1 Khái niệm nhân vật 6

1.1.2 Cách phân loại nhân vật văn học 7

1.1.2.1 Nhân vật chính, nhân vật phụ 7

1.1.2.2 Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện 8

1.1.2.3 Nhân vật nữ 9

1.2 Khái quát cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Khải 11

1.2.1 Khái quát cuộc đời 11

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 13

1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1978 14

1.2.2.2 Giai đoạn sau năm 1978 15

1.2.2.3 Khảo sát những truyện ngắn sau 1985 của Nguyễn Khải 16

CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985 19

2.1 Cách lựa chọn và thể hiện nhân vật nữ của Nguyễn Khải 19

2.1.1 Phẩm chất của nhân vật nữ 20

Trang 6

2.1.2 Nhân vật nữ với những khát vọng hằng thường 27

2.2 Nhân vật nữ trong các mối quan hệ 30

2.2.1 Nhân vật nữ trong mối quan hệ gia đình 31

2.2.2 Nhân vật nữ trong mối quan hệ xã hội 34

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN KHẢI SAU 1985 37

3.1 Ngôn ngữ 37

3.1.1 Ngôn ngữ nhân vật 37

3.1.2 Ngôn ngữ người kể chuyện 40

3.2 Giọng điệu 42

3.2.1 Giọng điệu xót xa, cảm thông chia sẻ 43

3.2.2 Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh 44

KẾT LUẬN 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

1.Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Nhà văn nổi tiếng với lí thuyết tình thương V.Huygo đã nói rằng:

“Người phụ nữ cảm và nói theo trực giác của con tim nên chẳng bao giờ sai

lầm Không ai biết nói những lời sâu sắc và êm ái cho bằng người phụ nữ.

Êm ái và sâu sắc, đó chính là con người họ” Nhân vật nữ là hình tượng nhân

vật văn học nhận được nhiều sự quan tâm của người nghệ sĩ từ cổ chí kim Ởmỗi thời kì người phụ nữ được nhìn nhận, đánh giá dưới những góc độ khácnhau Viết về nhân vật nữ chính là đi sâu vào tìm hiểu về con người họ, ở họ

có cả những cái đẹp, cái chưa đẹp và còn có cả nhưng cái cao cả nhưng cũngrất đỗi đời thường

Sau 1985 cùng với sự mở rộng đề tài trong văn học, phụ nữ trở thành

đề tài thu hút sự chú ý của người nghệ sĩ Nhân vật nữ được khám phá ở nhiềuchiều khác nhau đó là hình ảnh người phụ nữ giữa bộn bề lo toan cuộc sống,

là khát vọng được yêu thương trọn vẹn, là hành trình tìm kiếm hạnh phúc đờithường Mỗi người có một số phận riêng, hoàn cảnh riêng, không ai giống ai.Qua mỗi trang viết, mỗi thân phận là bức thông điệp thú vị về cuộc sống dù

có đau đớn, mất mát nhưng vẫn thấm đẫm chất nhân văn Trong văn học ViệtNam đề tài về người phụ nữ là một mảng đề tài lớn đã thu hút rất nhiều tácgiả văn học quan tâm trong đó phải kể đến Nguyễn Khải - một trong nhữngcây bút tiêu biểu của dòng văn học Việt Nam hiện đại

Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Khải, chúng tôi nhận thấy đề tài viết vềnhân vật nữ xuất hiện khá nhiều trong các sáng tác của ông, đặc biệt là ở cácsáng tác sau năm 1985 Nếu như ở truyện ngắn giai đoạn trước, nhân vật củaông hầu hết là trẻ tuổi, tự tin khẳng định tương lai của mình thì đến giai đoạn

này, ông viết nhiều về những người lớn tuổi, những người thất bại “lạc thời”,

đơn độc: một người mẹ cả đời hi sinh vì con cái, lúc tuổi già phải sống vạ vật

Trang 8

vỉa hè để con không bị “mất thể diện” trước bạn bè (Mẹ và các con), một

người vợ sống như nô lệ bên ông chồng gia trưởng ích kỉ và thực chất vô tích

sự mà lúc nào cũng mang mặc cảm mình không xứng đáng với chồng (Đời

khổ) Như vậy, cùng với quan niệm sống, kinh nghiệm thẩm mĩ của nhà văn

cũng có nhiều sự thay đổi Nguyễn Khải đo cái đẹp bằng nhãn quan văn hóa

mà tiêu biểu là cái đẹp nữ tính (Mẹ và con, Người vợ, Đời khổ, Một người Hà

Nội ) Từ góc độ văn hóa, ông đặt ra những vấn đề rất có ý nghĩa như nhu

cầu hạnh phúc của người già (Nắng chiều), sự công bằng đối với con trẻ (Người vợ)

Nghiên cứu đề tài“Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau

1985” giúp chúng tôi nhận thức rõ hơn về hình ảnh của người phụ nữ Việt

Nam nói chung và người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Khải từ sau 1985nói riêng Đề tài này sẽ là nguồn tư liệu phục vụ cho việc học tập và giảngdạy sau này

Với tất cả những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “Nhân vật nữ trong

truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.

Chúng tôi hi vọng rằng đây sẽ là một tài liệu bổ ích giúp bạn đọc có nhu cầutìm hiểu về thế giới nhân vật nữ vô cùng phong phú và hấp dẫn trong truyệnngắn Nguyễn Khải sau 1985 Đồng thời, giúp cho độc giả cũng như bản thânngười thực hiện đề tài thêm lòng kính yêu, quý trọng những tinh hoa nghệthuật của Nguyễn Khải cũng từ đó giúp cho việc học tập và nghiên cứu vềNguyễn Khải được dễ dàng hơn

2 Lịch sử vấn đề

Là cây bút đều đặn, miệt mài và thành công hơn cả ở thể loại truyệnngắn, Nguyễn Khải và các tác phẩm của ông đã thu hút được sự chú ý củagiới nghiên cứu, phê bình Nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Khải nóichung và truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 đã có rất nhiều công trình, bàiviết như:

Trang 9

Tác giả Bích Thu trong bài viết Giọng điệu trần thuật trong truyện

ngắn Nguyễn Khải những năm 80 đến nay trên Tạp chí Văn học số 10, 1997

đã nêu khái quát những vấn đề có liên quan đến giọng điệu trong các sáng táccủa Nguyễn Khải sau 1985

Tác giả Nguyễn Văn Long với Nguyễn Khải và sự đổi mới quan niệm

về con nguời trong Một nguời Hà Nội đăng trên Tạp chí văn nghệ quân đội đã

chỉ ra những chuyển biến ngày càng mạnh mẽ triệt để trong tư tưởng và nghệthuật của Nguyễn Khải Bên cạnh đó, tác giả cũng có những khái quát vềnhân vật nữ, đó là những nhân vật có cá tính, thông minh, sắc sảo nhưng lạirất khéo léo [6]

Tác giả Đào Thủy Nguyên trong bài viết Thế giới nhân vật Nguyễn

Khải trong cảm hứng nghiên cứu phân tích đã đưa ra nhận xét: Những người

phụ nữ trong Người vợ, Chút phấn ở đời, Nếp nhà, Một người Hà Nội… đều

là những con người biết giữ gìn phẩm giá và nhân cách bằng chính nghị lực

và lòng tự trọng của mình Lí trí luôn là những người bạn đường dẫn dắt vàmách bảo và mách bảo để họ có thể sống tốt hơn và người hơn, trong bất kìcảnh ngộ nào” [11,151]

Bàn về Thế giới nhân vật Nguyễn Khải theo dòng thời gian, tác giả Đào Thủy Nguyên nhận định: “Người phụ nữ trước đây trong Mùa lạc,

Chuyện người tổ trưởng máy kéo, Một cặp vợ chồng… dường như đi từ bóng

tối ra ánh sáng Còn bây giờ, người phụ nữ trong Đời khổ, trong Người vợ lại

đi trong sự giao hòa của những khoảng sáng tối Cái dấu ấn một thời của họdường như được hòa tan trong cái vĩnh viễn của mọi thời Qua đó, người vợ,người mẹ cụ thể được đưa lên tầm người phụ nữ Việt Nam mà không cần một lời bình luận văn vẻ hay một sự khoa trương nào” [11,76]

Có thể nói, người phụ nữ luôn luôn là nguồn cảm hứng vô tận trongsáng tác văn chương Nhân vật nữ được khám phá dưới nhiều chiều kích khác

Trang 10

nhau, chính vì thế chân dung người phụ nữ hiện lên nguyên vẹn trên từngtrang viết Qua mỗi trang viết, mỗi thân phận, mỗi mảnh đời là thông điệp thú

vị về cuộc sống: dù có đau đớn mất mát nhưng vẫn thấm đẫm chất nhân văn

Số lượng các bài viết, các ý kiến đánh giá về Nguyễn Khải và các tácphẩm của ông rất phong phú Mặc dù có nhiều nhà nghiên cứu đã đề cập đếnphong cách sáng tác của Nguyễn Khải nhưng vẫn chưa có một chuyên luậnnào đi sâu tìm hiểu nhân vật nữ trong các sáng tác của Nguyễn Khải sau 1985.Trên tinh thần tiếp thu, phát trển ý kiến của những người đi trước, chúng tôi

mạnh dạn góp phần nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề: Nhân vật nữ trong sáng

tác Nguyễn Khải sau 1985.

3 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài Nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau

1985 người viết muốn làm rõ những đóng góp của nhà văn trong việc xây

dựng hình tượng nhân vật và đặc biệt trong việc xây dựng hình tượng nhânvật nữ trong văn học Việt Nam sau thời kì đổi mới đất nước Đây là hình thứcnghệ thuật độc đáo, qua đó khẳng định vị trí của nhà văn Nguyễn Khải đốivới nền văn học hiện đại Việt Nam

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu hệ thống nhân vật nữ trong các sáng tác của Nguyễn Khải saunăm 1985

Tìm hiểu phương thức xây dựng hình tượng nhân vật nữ trong truyện

ngắn Nguyễn Khải sau năm 1985 để thấy được nét đặc sắc, cái “tôi” rất riêng

của tác giả

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống nhân vật nữ trongtruyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985

- Phạm vi nghiên cứu của khóa luận: Do giới hạn của đề tài khóa luận

chủ yếu đi sâu nghiên cứu truyện ngắn của Nguyễn Khải được đưa vào Tuyển

tập Nguyễn Khải tập III ( Nhà xuất bản Văn học Hà Nội - 1996).

Trang 11

6 Đóng góp của khóa luận

Với đề tài này, khóa luận góp phần làm rõ hơn phong cách nghệ thuậtcủa Nguyễn Khải trong việc xây dựng hình tượng nhân vật nữ trong thời kìđổi mới

Khóa luận cũng là một tư liệu thiết thực và có ý nghĩa trong học tập vàgiảng dạy những tác phẩm có liên quan đến Nguyễn Khải ở môn Ngữ vănTHPT

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dungchính của khóa luận được chia thành 3 chương cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thuyết chung

Chương 2: Thế giới nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985 Chương 3: Phương thức thể hiện nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải

sau 1985

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG 1.1 Khái niệm vàcách phân loại nhân vật văn học

1.1.1 Khái niệm nhân vật

Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán chủ biên) nhân vật văn

học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học Đó chính là nơi

“tác giả gửi gắm thông điệp và độc giả tiếp nhận,“giải mã” những vấn đề hiện thực cốt yếu đặt ra trong tác phẩm” [5,235], nhân vật văn học là một đơn

vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thậttrong đời sống Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách

của con người Nhân vật văn học còn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí

tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với

chủ đề của tác phẩm

Theo cuốn Lí luận văn học (tập 2) (Trần Đình Sử chủ biên) nhân vật

văn học là khái niệm dùng để chỉ hình tượng các cá thể con người trong tácphẩm văn học - cái đã được nhà văn nhận thức, tái tạo, thể hiện bằng cácphương tiện riêng của nghệ thuật ngôn từ [8,114]

Nhân vật văn học luôn hiện hữu trong các tác phẩm văn học Đó lànhững nhân vật có tên như Tấm, Cám, bà Hiền, chị Bơ hay những nhân vật

không tên như chị vợ của Tràng trong Vợ nhặt của Kim Lân, thằng bán tơ trong Truyện Kiều, nhân vật bà cô trong Nếp nhà của Nguyễn Khải Nhân

vật có thể được thể hiện bằng những hình thức khác nhau nhất Đó có thể lànhững con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tínhcách, có tiểu sử như một khách thể thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch

Đó có thể là những người thiếu hẳn những nét đó, nhưng lại có tiếng nói,giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗiniềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình

Trang 13

Nhân vật do đó không chỉ là hình thức cơ bản thể hiện quan niệm nghệthuật về con người mà còn là hình thức cơ bản để khái quát những qui luậtcủa đời sống và là nơi tập trung mọi giá trị - tư tưởng của nghệ thuật Quanhân vật, người đọc có thể hiểu được tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm và cátính sáng tạo của nhà văn Nhân vật là đứa con tinh thần, là sản phẩm, là vốnsống trực tiếp của nhà văn, là nơi thể hiện rõ nhất quan điểm nghệ thuật cũngnhư quan niệm của nhà văn về cuộc đời và con người.

1.1.2 Cách phân loại nhân vật văn học

Nhân vật văn học là một hiện tượng đa dạng cho nên các phương diệnloại hình của nhân vật cũng hết sức đa dạng Căn cứ vào những tiêu chí khácnhau, có thể phân chia thành các loại hình nhân vật khác nhau Chẳng hạn,căn cứ vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của tác phẩm, nhânvật văn học được chia thành nhân vật chính, nhân vật phụ; căn cứ vào đặcđiểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn, nhân vật văn họcđược chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện,…

1.1.2.1 Nhân vật chính, nhân vật phụ

Nhân vật chính là nhân vật đóng vai trò chủ chốt, xuất hiện nhiều, giữ

vị trí then chốt của cốt truyện hoặc tuyến cốt truyện Đó là con người liên canđến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm, là cơ sở để tác giả triển khai đề tài cơ

bản của mình Nhân vật chính trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải là

bà Hiền, nhân vật tôi,… đó là những người tham gia vào những sự kiện chínhtrong tác phẩm

Trong các nhân vật chính của tác phẩm lại có thể nhận thấy nổi lênnhững nhân vật trung tâm xuyên suốt tác phẩm về mặt ý nghĩa, đó là nơi quy

tụ các mối mâu thuẫn của tác phẩm, là nơi thể hiện vấn đề trung tâm của tác

phẩm Chẳng hạn như bà Bơ trong Nắng chiều, chị Khuê trong Người vợ, bà Hiền trong Một người Hà Nội.

Trang 14

Ngoài nhân vật chính, trong tác phẩm văn học còn có nhân vật phụ.

Các nhân vật có tính cách, tình tiết như nhân vật “tôi” trong Một người Hà

Nội, người vợ trong Cặp vợ chồng ở chân động Từ Thức, bà Xuân Thái trong Chuyện tình của mỗi người Bên cạnh đó, còn có nhân vật phụ chỉ thấp

thoáng trong các tình tiết như: Huy, Thành, Đồi trong Một thời gió bụi Nhân

vật phụ mang các tình tiết, sự kiện, tư tưởng có tính chất phụ trợ, bổ sung, họchẳng những là một bộ phận không thể thiếu trong bức tranh chung, mà nhiềukhi, nhân vật phụ hàm chứa những tư tưởng quan trọng của tác phẩm

1.1.2.2 Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện

Xét về phương diện hệ giá trị, về quan hệ đối với lí tưởng, các nhân vậtlại có thể chia ra thành nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) vànhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực) Sự phân biệt nhân vật chínhdiện và nhân vật phản diện gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong đờisống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập về quan điểm tư tưởng và lí tưởngsống Nhân vật chính diện mang lí tưởng, quan điểm tư tưởng, đạo đức tốtđẹp của thời đại Ngược lại, nhân vật phản diện lại mang những phẩm chấtxấu xa, trái với đạo lí và lí tưởng, đáng lên án và phủ định Hai loại nhân vậtnày luôn đối kháng nhau như nước với lửa và nó thường được in dấu rõ néttrong hệ thống các truyện cổ tích, truyền thuyết

Trong văn học hiện thực, nhiều khi không dễ dàng tách bạch nhân

vật chính diện và phản diện Theo Bakhtin “cần phải thống nhất trong bản

thân mình vừa các đặc điểm chính diện lẫn đặc điểm phản diện, vừa cái tầm thường lẫn cái cao cả, vừa cái buồn cười lẫn cái nghiêm túc” [9,132].

Nhân vật phản diện trong văn học hiện thực nhiều khi không phải là do làmviệc xấu, thiếu đạo đức, mà chủ yếu là do thiếu tính người, thiếu ý thứcngười

Trang 15

1.1.2.3 Nhân vật nữ

Phụ nữ từ lâu được xem là biểu tượng của cái đẹp, hiện thân của sựsinh tồn và luân chuyển sự sống Hình tượng người phụ nữ luôn là một đề tàiquen thuộc nhất và dường như phụ nữ là một nguồn cảm hứng vô tận mà vănhọc muôn đời vẫn chưa khai thác hết

Văn học truyền thống Việt Nam mọi thời đều dụng công khám phá đềtài người phụ nữ Trong văn học dân gian, nhân vật nữ đại diện cho lí tưởngthẩm mĩ của nhân dân hiện lên trong các câu chuyện cổ tích thường có sốphận

bi thảm nhưng luôn tỏa sáng những nét đẹp: hiền lành, chăm chỉ, giàu đức hisinh, giàu lòng nhân ái và cuối cùng chắc chắn sẽ được hưởng hạnh phúc.Người phụ nữ trong ca dao lại mang vẻ đẹp đằm thắm ý nhị, dịu dàng và kínđáo nhưng đồng thời cũng là hiện thân cho những bi kịch, phải gánh chịu sốphận bất hạnh, không có quyền tự quyết định cho cuộc đời mình

Đến văn học trung đại đã có biết bao tiếng nói xót xa, thương cảm chothân phận người phụ nữ bị chà đạp, vùi dập trong xã hội phong kiến Trong

Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là hình ảnh những người phụ nữ

đức hạnh, đẹp người, tốt nết luôn khát khao một cuộc sống bình yên, hạnhphúc nhưng bị những thế lực cường quyền và cả thế lực phong kiến khắcnghiệt xô đẩy đến những cảnh ngộ éo le, ngang trái bất hạnh

Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 tiếp tục khai thác đề tài vềngười phụ nữ Sáng tác của Tự Lực Văn Đoàn, đặc biệt là của Nhất Linh đãxuất hiện hình ảnh những người phụ nữ mới, đòi quyền tự do yêu đương vượt

lên mọi lễ giáo phong kiến như Nhung trong Lạnh lùng (Nhất Linh), Loan trong Đoạn tuyệt (Nhất Linh),… Văn học hiện thực phê phán giai đoạn này đi

tìm hiểu những bi kịch khác nhau trong cuộc đời của người phụ nữ Đó là

cuộc đời đầy cơ cực, lắm đắng cay của chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Tám Bính trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng, hay thân phận của một “dị nữ” như

Trang 16

Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Người phụ nữ trong các tiểu

thuyết, truyện ngắn của các nhà văn hiện thực hiện lên như một biểu tượngtrong văn học về nỗi khổ đau, bất hạnh chồng chất của kiếp người và cuộc đời

họ bao giờ cũng kết thúc trong sự tuyệt vọng, bế tắc

Đến văn học giai đoạn 1945 - 1975, nhân vật nữ tiếp tục được phản ánh

và được làm nổi bật trong mối quan hệ với các vấn đề chung của thời đại.Tắm mình trong bầu không khí hào hùng của dân tộc, người phụ nữ góp phần

không nhỏ làm nên những chiến thắng vẻ vang Đó là chị Sứ trong Hòn đất của Anh Đức, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu Có thể thấy, nhân vật

nữ trong giai đoạn này là con người của cộng đồng, của xã hội, gắn với cuộcchiến đấu bảo vệ Tổ quốc được soi rọi dưới cái nhìn lí tưởng mang tính sử thi

Sau năm 1985, văn học có xu hướng trở về cái đời thường muôn mặt,cảm hứng sử thi nhạt dần thay thế vào đó là cảm hứng thế sự - đời tư Vấn đềcác nhà văn quan tâm không phải là cuộc sống chiến đấu dũng cảm vì dân vìnước của người phụ nữ nữa mà là những lo toan thường nhật, nỗi đau đớn mấtmát của họ Nhân vật nữ xuất hiện đa dạng, phong phú và mỗi nhà văn tìmthấy cho mình một hướng đi riêng

Qua đây, chúng ta thấy hình tượng nhân vật nữ là hình tượng xuyênsuốt và nổi bật trong nền văn học Việt Nam, gắn liền với sự vận động trongquan niệm nghệ thuật về con người qua các giai đoạn văn học Có một đặcđiểm là người phụ nữ luôn là hình ảnh tích cực, được nhà văn gửi gắm nhiềutình cảm thương yêu trân trọng: nhẫn nại, đa cảm, thua thiệt và chủ động, đódường như là nét tiêu biểu của nhân vật nữ trong văn học Việt Nam ở mọithời

Có thể thấy, nhân vật nữ trong các tác phẩm văn học luôn mang trongmình thiên tính nữ Theo tác giả Nguyễn Xuân Kháng “Thiên tính nữ đơnthuần là tính mềm mại, tính nhu, uyển chuyển của người phụ nữ” [3,164]

Trang 17

Thiên tính nữ trong văn học trước hết được biểu hiện là tinh thần của cái đẹp,

đó là tấm lòng bao dung hào phóng với tất cả mọi người, đó là thiên tính làm

mẹ, tình cảm hồn nhiên muốn đùm bọc, che chở, cứu giúp Thiên tính nữ cònđược thể hiện ở tấm lòng bao la sẵn sàng cảm thông với mọi người Nhìnchung, khi xây dựng các nhân vật nữ, các nhà văn khai thác và ngợi ca vẻ đẹp

nữ tính của người phụ nữ trên cơ sở kế thừa và phát huy quan điểm thẩm mỹ

và giá trị truyền thống Đó là vẻ đẹp dịu dàng, đằm thắm, sự độ lượng, tấmlòng khoan dung, trắc ẩn và đức hy sinh của người phụ nữ

1.2 Khái quát cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Khải

1.2.1 Khái quát cuộc đời

Tác giả Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày03/12/1930 ở phố Hàng Cót - Hà Nội trong một gia đình quan lại phong kiến.Quê cha ở phố Hàng Nâu (Nam Định), quê mẹ ở xã Hiến Nam, huyện Tiên

Lữ, tỉnh Hưng Yên Ông nội của Nguyễn Khải là tri phủ, bố Nguyễn Khải là

tri huyện nhưng Nguyễn Khải lại chịu số phận của cảnh “vợ lẽ con thêm” Trong xã hội phong kiến trước đây, “vợ lẽ con thêm” là những thân phận bèo

bọt bị rẻ rúng thậm chí là bị từ bỏ, cha và mẹ cả đã đối xử rất bất công với mẹcủa ông Suốt thời thơ ấu, Nguyễn Khải phải sống trong cảnh buồn tủi, lúc ởvới mẹ đẻ, lúc ở với mẹ cả, khi sống đậu ở nhà anh (cùng cha khác mẹ) ở HảiPhòng Nhiều lần bị lăng nhục, bị đổ oan là “thằng ăn cắp” Nguyễn Khải đã

có một tuổi thơ đầy cay đắng và nhiều nước mắt Cha ông đã không nhìn nhậnđứa con do chính mình sinh ra vì thế khi nghĩ về cha đối với Nguyễn Khải làmột quá khứ nhiều đau buồn

Năm 12 tuổi, Nguyễn Khải từ Hải Phòng lên Hà Nội trú trong căn gácchật hẹp Ba mẹ con sống chật vật, đã có lúc bà mẹ nghĩ đến việc chết với haiđứa con cho đỡ khổ Mãi về sau này nhà văn vẫn không sao quên được cảmgiác bị tổn thương và nỗi hờn giận đã gặm nhấm tâm hồn ông những năm

Trang 18

tháng sau đó: “Tưởng là con cha cháu ông hóa ra không phải, chỉ là con thêm

con thừa” [9,125] Bao nhiêu mơ mộng của tuổi thơ chốc lát mất sạch, cái sự

thật về thân phận qua mỗi tháng lại tuột ra một lớp vỏ, rút lại cái lõi của nókhông đáng một xu Nhưng chính trong hoàn cảnh cay đắng ấy đã làm bùng

cháy ở ông về ý thức thân phận và ý chí sống để khẳng định mình: “Vậy thì

phải sống, sống bằng cái nhẫn nhục, cái chịu đựng chịu thương chịu khó, không giây phút nào được buông lơi, không giây phút nào được huyễn hoặc Sống cho hết cái có thể của mình rồi đời sẽ giúp mình sau” [9,201].

Cách mạng tháng Tám đến với ông như một ân huệ lớn, ông đã tìm đượcniềm hạnh phúc lớn nhất đời mình, được trả lại tư cách làm người, được chọncon đường viết văn để thực hiện cách sống, tạo dựng uy tín, danh dự Đây làcon đường để ông đền đáp ơn nghĩa cách mạng và rửa sạch nỗi hờn tủi bịchính những người ruột thịt hắt hủi Đầu năm 1947, ông tham gia kháng chiến

ở Hưng Yên, gia nhập đội quân tự vệ ở thị xã rồi trở thành chiến sĩ một đơn vị

bộ đội ở địa phương Một thời gian làm y tá, sau đó ông lại trở thành phóngviên báo của tỉnh Hưng Yên Từ đây Nguyễn Khải một lòng dùng cuộc đờimình để đền đáp cách mạng và ông đã chọn văn chương để trả ơn cách mạng

Từ cuối năm 1950, Nguyễn Khải được cử đi tham dự lớp nghiên cứu vănnghệ do Hội văn nghệ Trung ương và chi hội văn nghệ Khu IV tổ chức tạiVĩnh Lộc - Thanh Hóa

Bước ngoặt lớn nhất vào tháng 5/1951, ông được cử đi dự trại viết củahai chi đội văn nghệ Liên khu III và Liên khu IV tổ chức tại Kim Tân - Thanh

Hóa “Đó là mốc quan trọng trên đường dẫn đến nghề văn của tôi” Nguyễn

Khải đã nói như vậy về lớp học mà nhờ đó lần đầu tiên ông được tiếp xúc vớicác thần tượng văn học của ông: Nguyễn Tuân; Xuân Diệu cuối khóa họcNguyễn Khải bắt đầu có truyện ngắn đăng báo

Năm 1955, ông trở về dự trại toàn quân để viết truyện anh hùng Mạc Thị

Bười Kết thúc trại viết ông có tác phẩm Người con gái quang vinh.

Trang 19

Năm 1956, ông chuyển công tác về Tạp chí Văn nghệ quân đội, làm việc

cùng nhiều nhà văn nổi tiếng như: Thanh Tịnh, Chính Hữu,

Năm 1957 ông trở thành một trong những thành viên trẻ nhất tham giathành lập Hội nhà văn Việt Nam Tại đây ông đã phát biểu quan niệm nghệ

thuật của mình như sau: “Nghệ thuật là khoa học thể hiện lòng người, là lịch

sử của lòng người” Quan niệm này đã chi phối trực tiếp phương hướng tiếp

cận hiện thực của ông trong các sáng tác: lấy thế giới tinh thần, tư tưởng cáclối sống và một nghệ thuật giàu màu sắc chính luận Từ đại hội lần thứ hai,Nguyễn Khải trở thành Ủy viên Ban chấp hành, Ủy viên thường vụ về sauông còn giữ nhiều trọng trách quan trọng đối với quá trình phát triển của Hộinhà văn

Sau năm 1975, ông đã cùng gia đình chuyển vào sinh sống ở Sài Gòn

Theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, “cái lí lịch đặc biệt của anh khiến anh

hình như có hai con người trong một con người, có hai vùng thẩm mĩ trong một thế giới nghệ thuật” [9,201] Trong ông có sự pha trộn giữ hai dòng máu

“Dòng máu của lớp cùng dân từng bị dày xéo, lăng nhục” sẽ in dấu vào nhữnglời văn “khi thì uất hận, khi thì xót xa - một thứ văn như để đòi nợ, như để trảthù, như để giải oan” Còn dòng máu của tầng lớp thượng lưu lại sinh ra mộtNguyễn Khải thích nói chuyện sang, thích nói giọng sang, dùng văn chương

để phô bày cái hoàn hảo, lịch lãm

Với những đóng góp cho nền văn học nước nhà, năm 2000 Nguyễn Khải

đã được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về nghệ thuật và Giảithưởng ASEAN cùng năm đó

Năm 2008 nhà văn qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh

1.2.2 Sự nghiệp sáng tác

Trong một lần trả lời phỏng vấn, Nguyễn Khải tự chia sáng tác của

mình thanh hai giai đoạn: “từ 1955 đến 1977 tôi sáng tác theo một cách, từ

Trang 20

1978 đến nay theo một cách khác” [9,203] Tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn

Khải chúng tôi phần nào hiểu rõ cơ sở của sự phân chia này Tuy nhiên, theoquan sát chủ quan của chúng tôi, quá trình sáng tác của Nguyễn Khải có thểchia thành hai gia đoạn: giai đoạn trước năm 1985 và giai đoạn sau năm 1985

1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1985

Ở giai đoạn này, các trang văn của Nguyễn Khải tập trung và hai mảng

đề tài trung tâm: đề tài nông thôn và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đềtài chiến tranh cách mạng

Với đề tài nông thôn và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tác giả tập trungkhẳng định vẻ đẹp của những con người lao động mới, những con người gắn

kết cộng đồng trở thành nhu cầu máu thịt của mỗi cá nhân như cô Đào (Mùa

lạc); Tấm (Đứa con nuôi); Nguyễn Khải đã miêu tả bộ mặt đầy sức sống

của nông thôn miền Bắc với những vẻ đẹp mới mẻ trong các mối quan hệ đầytin cậy giữa tập thể với cá nhân, giữa cấp trên và cấp dưới, tình đồng chí, tìnhbạn bè, vừa tỏ thái độ không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cựckhông mang tinh thần chủ nghĩa xã hội như lối làm ăn kiểu phường hội: Tuy

Kiền (Tầm nhìn xa); Mơ (Chủ tịch huyện)…

Ở đề tài chiến tranh và cách mạng, Nguyễn Khải đã khắc họa nổi bật vẻđẹp của con người Việt Nam: lòng yêu nước, tinh thần kỉ luật, niềm khát khaokhẳng định phẩm giá trước kẻ thù, tỉnh táo trong nhận thức, thông minh tháovát trong hành động và đức tính kiên nhẫn, khiêm nhường Ông ít diễn tả khíacạnh mất mát hay mặt trái của chiến tranh mà khám phá sức mạnh tinh thầntiềm ẩn trong mỗi con người, đặt họ vào các tình huống thử thách để bắt họbộc lộ tài trí, nhân cách Các tác phẩm đều ít nhiều tạo được không khí nhờcác chi tiết đặc sắc và nhờ giọng kể sôi nổi, hóm hỉnh giàu màu sắc hùng biện.Tuy nhiên, nhiệt hứng ngợi ca khẳng định rõ ràng đã làm cho các trang viết về

Trang 21

chiến tranh thiếu cái chân thực, góc cạnh, cái dữ dội khốc liệt của những sốphận làm nên chiều sâu đời sống.

Con mắt nghệ sĩ đằm thắm và mối dây đồng cảm của một người tuổithơ bị sỉ nhục đã giúp Nguyễn Khải tìm được cách khám phá riêng về hiệnthực Ông đặc biệt nhạy cảm với những thân phận nhỏ bé, những tính cáchkhiêm nhường, nhưng khao khát thầm lặng về hạnh phúc Đồng thời, thói háodanh, sự ích kỉ, dù có ngụy trang kĩ lưỡng đến đâu, cũng bị ông vạch ra thậtsắc sảo Nguyễn Khải nồng nhiệt khẳng định vẻ đẹp của những người laođộng kiểu mới - những con người làm cho sự gắn kết cộng đồng trở thành nhu

cầu máu thịt của mỗi cá nhân Các tác phẩm tiêu biểu ở chặng này: Hãy đi xa

hơn nữa (tiểu thuyết, 1963) Người trở về (1964); Họ sống và chiến đấu

(1966); Hòa vang (1967); Đường trong mây (tiểu thuyết, 1970); Ra đảo (tiểu thuyết, 1970); Chủ tịch huyện (truyện, 1972); Chiến sĩ (tiểu thuyết, 1973);

1.2.2.2 Giai đoạn sau năm 1985

Do đòi hỏi của hoàn cảnh lịch sử và thị hiếu công chúng, văn học saunăm 1985 có nhiều biến đổi, chủ nghĩa đề tài mất ý nghĩa khi quan niệm vềhiện thực được mở rộng Thay vì coi trọng biến cố lịch sử, văn học lấy conngười làm tâm điểm khám phá, ngòi bút Nguyễn Khải trẻ lại với niềm say mê

“cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn” Ông chiếm lĩnh nhiều vùng đất mới mà

vùng đất nào cũng để ông không ngừng trăn trở về số phận con người, về giátrị làm người Bên cạnh đó thì cái “tôi” tiểu sử của tác giả cũng xuất hiện đậmđặc đem lại hiệu quả thẩm mĩ cao góp phần vào việc đổi mới văn học Tiểuthuyết và truyện ngắn là hai thể loại tiêu biểu cho sáng tác ở giai đoạn này củaNguyễn Khải

Ở giai đoạn này, truyện ngắn của Nguyễn Khải có nhiều khởi sắc Đó làthế giới phong phú những cảnh ngộ cá biệt, những hành trình sống đầy nhọcnhằn do bao hệ lụy thường tình, những cuộc vật lộn kiên cường của con người

Trang 22

với hoàn cảnh để bảo vệ một niềm tin cá nhân, những cá nhân với bảng giá trị

tự nó xác lập cho nó Ông đặt con người vào các mối quan hệ đời thường Cóthể nói, truyện ngắn Nguyễn Khải chặng này chứa đựng nhiều chiêm nghiệm

về nhân thế Cuộc sống mưu sinh đầy hỗn tạp, ba động, con người cũng dễđổi thay, Nguyễn Khải đã thực hiện hành trình riêng “đãi cát tìm vàng”, nângniu những hạt bụi vàng của cuộc sống

Các tác phẩm tiêu biểu ở chặng này: Cha con và (tiểu thuyết 1979);

Thời gian của người (tiểu thuyết, 1985); Một nguời Hà Nội (tập truyện ngắn,

1990); Một thời gió bụi (truyện ngắn, 1993), Sống ở đời (truyện ngắn, 2002);

Thượng đế thì cười (tiểu thuyết, 2004);

Với số lượng tác phẩm đồ sộ, Nguyễn Khải xứng đáng trở thành mộttrong những cây bút hàng đầu của văn xuôi Việt Nam từ sau cánh mạng thángTám 1945 Ông đã đóng góp những tiếng nói mới mẻ, những khám phá vềchiều sâu của cuộc sống cho sự đổi mới của văn học Hành trình sáng tác củaNguyễn Khải tiêu biểu cho quá trình vận động của văn học từ thời khángchiến sang thời hòa bình

1.2.2.3 Khảo sát những truyện ngắn sau 1985 của Nguyễn Khải

Sau năm 1985, sáng tác của Nguyễn Khải có đổi mới rõ rệt, ông quantâm đến những vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống Đặc biệt hình tượng nhânvật nữ được Nguyễn Khải quan tâm và thể hiện một cách chân thực nhất

Bảng: Khảo sát nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Khải sau 1985

phụ

cơm

Trang 23

4 Một thời gió bụi Vợ Tú Con gái Tú

Cô con dâu

Qua khảo sát, chúng ta có thể nhận thấy hình tượng nhân vật nữ xuấthiện khá nhiều trong các sáng tác của Nguyễn Khải đặc biệt là truyện ngắnsau 1985 Nhân vật nữ đóng vai trò là cầu nối gắn kết các nhân vật, sự kiệntrong truyện Trong những trang viết của Nguyễn Khải những con người,những nhân vật trải qua bao sóng gió để khẳng định được giá trị sống, ông đãmiêu tả người phụ nữ với một sự quan tâm, niềm trăn trở của một tâm hồnnhạy cảm và cái nhìn mang tính nhân đạo

Những nhân vật nữ trong sáng tác của Nguyễn Khải ở thời kì này xuấthiện khá đa diện Họ có thể là nhân vật chính, có thể là nhân vật phụ nhưng

Trang 24

đều được miêu tả khá đa diện Phẩm tính của nhân vật nữ được miêu tả kháchquan Họ vừa mang vẻ đẹp truyền thống nhưng cũng rất hiện đại Trong mọicảnh huống họ lại tỏ ra là con người bản lĩnh, luôn làm chủ cuộc đời, làm chủhoàn cảnh Trong cảm nhận của độc giả họ vừa đáng yêu, đáng trân trọng vàcũng có lúc đáng ghét Chân dung họ được khắc họa ở cự li gần nhất Ngườiđọc cảm thấy như gặp họ đâu đó ở ngoài đời…

Nguyễn Khải đã tìm được chỗ dựa cho sự bình yên của các “tổ ấm”

hạnh phúc ở những người phụ nữ Ông vẫn sẵn sàng tôn vinh những người

phụ nữ “là vàng mười, là kim cương, là báu vật, là sự may mắn lớn nhất mà

chồng con họ có được ở cõi đời này”.

Trang 25

CHƯƠNG 2 THẾ GIỚI NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN

NGUYỄN KHẢI SAU 1985

Từ sau 1975, đặc biệt sau 1985, diện mạo nền văn học Việt Nam cónhững biến đổi sâu sắc trên nhiều bình diện trong đó có yếu tố nhân vật

Nếu ở giai đoạn trước đó, con người xuất hiện với tư thế con ngườicộng đồng được lí tưởng hóa cao độ bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãngmạn thì nay nó được khám phá dưới góc độ đời tư thế sự trong mối quan hệvới biết bao sự ngổn ngang, phức tạp của các vấn đề đời sống Đây là đặcđiểm chung bao trùm lên các sáng tác văn học thời kì này trong đó có truyệnngắn Nguyễn Khải Do vậy, theo dõi truyện ngắn Nguyễn Khải giai đoạn sau

1985 ta thấy thế giới nhân vật nữ hiện ra phong phú, sinh động như chính bảnthân đời sống Có thể bắt gặp đủ mọi loại người với nhiều cảnh ngộ và thânphận khác nhau

2.1 Cách lựa chọn và thể hiện nhân vật nữ của Nguyễn Khải

Phụ nữ là linh hồn của cuộc sống, là sản phẩm tuyệt diệu của tạo hóa,

là biểu tượng của cái đẹp, là hiện thân của sự sinh tồn và luân chuyển sự sống

Hình tượng người phụ nữ ở mỗi thời kì được xây dựng theo một dụng ýnghệ thuật, họ mang theo những vẻ đẹp riêng Trước 1975, nhất là trongkháng chiến, nhân vật nữ thường mang những phẩm chất lí tưởng như Nguyệt

(Mảnh trăng cuối rừng), chị Chiến (Những đứa con trong gia đình) hay

những nhân vật được đổi đời như Mị, Đào… Sau 1975, người phụ nữ lại hiệnlên một cách đa diện hơn, ở họ có cả những cái tốt - xấu, cao cả - thấp hèn,cao thượng… Nhân vật nữ xuất hiện đa dạng, phong phú, mỗi nhà văn tìmthấy cho mình một phong cách riêng khi khai thác đề tài này Nguyễn Huy

Thiệp khai thác thiên tính nữ qua một loạt các truyện ngắn Chảy đi sông ơi,

Trang 26

Con gái thủy thần, Nhà bua, còn Nguyễn Minh Châu tiếp tục khai thác vẻ

đẹp truyền thống của người phụ nữ nhưng chú ý nhiều hơn đến đời sống nội

tâm của họ như Qùy trong Người đàn bà trong chuyến tàu tốc hành, Thái trong Cỏ lau, người vợ trong Bến quê, người đàn bà hàng chài trong Chiếc

thuyền ngoài xa, Nguyễn Khải lại khai thác về người phụ nữ qua cách nhìn

mới mẻ với những phẩm tính truyền thống nhưng cũng rất hiện đại, họ luônkhát khao một cuộc sống đời thường, bình dị

2.1.1 Phẩm chất của nhân vật nữ

Trước 1975, nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Khải đó là những cô

Đào (Mùa lạc), Tấm (Đứa con nuôi ), Thoa (Chuyện người tổ trưởng máy

kéo), mỗi nhân vật, mỗi cảnh đời riêng Song cuộc sống mới đã đem lại cho

họ những hạnh phúc mà họ khao khát dù rất giản dị nhưng trước kia họ đãkhông thể có Dưới chế độ mới trong lòng một xã hội tốt đẹp, họ thực sự đãđược đổi đời

Sau 1975, đặc biệt là sau những năm 1985, Nguyễn Khải đã miêu tảnhững con người ấy với một sự quan tâm, niềm trăn trở của một tâm hồn nhạycảm và cái nhìn mang tính nhân bản Họ xuất hiện trong nhiều tác phẩm củaNguyễn Khải, đặc biệt là truyện ngắn, thuộc nhiều kiểu người, nhiều cuộcđời, số phận khác nhau, đa dạng, phong phú như chính con người của hiện

thực cuộc sống hàng ngày Đó là những người phụ nữ đầy bản lĩnh dù là

trong cuộc sống gia đình hay trong cuộc sống xã hội đi nữa họ đều toát lên

khí chất của riêng mình Chẳng hạn trong truyện Nắng chiều, tác giả đã đưa

bạn đọc đến với một số phận trong cuộc đời đó là bà Bơ Cuộc đời người phụ

nữ này là những ngày dài cô đơn và bơ vơ, không một mái ấm, không mộthạnh phúc riêng, một mình bà chống chọi với nỗi buồn tủi của kiếp người.Tưởng chừng cuộc đời bà Bơ sẽ kết thúc trong bất hạnh, nhưng cuộc đời lại

bù đắp cho bà hạnh phúc của một gia đình khi bà đã bước sang tuổi bảy mươi

Trang 27

Hay như nhân vật bà Hiền (Một người Hà Nội) cũng chỉ là một người phụ nữ

như bao người khác Cuộc đời bà cũng chẳng có chiến công nào, công trạngnào cho đất nước, bà chỉ thuần là một người Hà Nội chân chính với tất cả nétthanh lịch của mảnh đất kinh kì Bà cũng lo toan, định liệu cho cuộc sống giađình được êm ấm, hạnh phúc Nguyễn Khải đã kể cho chúng ta nghe vềnhững con người, tuy họ không nổi bật ở vẻ đẹp chói sáng nhưng ẩn sâu trong

đó là vẻ đẹp tâm hồn như những hạt ngọc khuất lấp trong cuộc sống đờithường, vẻ đẹp của những con người trong nhọc nhằn lam lũ, vẻ đẹp của tuổihoàng hôn, của những quầng sáng rực rỡ trong cái vàng úa của buổi chiều tà

Trong truyện ngắn Đời khổ Nguyễn Khải đã khắc họa rất chân thực

cuộc đời đầy trắc trở, éo le của chị Vách Chị Vách cũng giống bao nhiêunhững người phụ nữ khác mong muốn có được một mái ấm gia đình, đượcchăm sóc cho chồng, cho con là hạnh phúc của những người phụ nữ dưới chế

độ xã hội mới Khi chị xây dựng gia đình với người chồng là thiếu tá, vốntrước kia là con địa chủ nhưng đối với chị Vách là mãn nguyện, chị toàn tâm,toàn lực chăm sóc hi sinh cho cái gia đình nhỏ bé của chị Nhưng cuộc đời lạithật éo le, chồng chị không giúp được chị suốt ngày chỉ biết “đọc sách vàđánh giặc” Trong khi đó chị phải tần tảo, lo toan cho cuộc sống gia đình

Khi giặc ném bom bắn phá miền Bắc chị gửi con vào trại sơ tán để chocon ăn học chị vẫn một mình lam lũ, chăn nuôi kiếm tiền cho con ăn học.Nhưng thật trớ trêu, bất hạnh lại đến với chị, ông chồng bị tai biến mạch máunão mất và để lại bốn đứa con thơ dại Tưởng chừng người chồng mất đi thìnhững đứa con sẽ là chỗ dựa tình thần để chị vượt qua mọi nỗi đau Nhưng đốivới chị, cái éo le, bất hạnh lại liên tiếp ập xuống gia đình chị Đứa con gái đầu

đã hai lăm tuổi, cao ngóng cao ngòng xin được đi làm còn chồng thì vẫn chưa

ai ngó Đứa con gái thứ hai lại bị tật từ nhỏ, cứ đi một bước, nhảy một bước.Thằng con trai lớn học hành không nên người, lêu lổng đi buôn mất cả vốnlẫn lãi rồi mất trí hóa điên Cả gia đình chỉ còn trông chờ vào thằng con út

Trang 28

Có thể nói cuộc đời, số phận của chị Vách đầy bất hạnh Mặc dù trongkhổ đau, bất hạnh chị vẫn cố vươn lên để tiếp tục duy trì sự sống, mái ấm giađình nhưng những khó khăn cứ ập đến ngẫu nhiên, khổng thể tính trước được.Đứng trước cảnh ngộ này, Nguyễn Khải cũng không thể giấu được nỗi xúc

động “Cái vui, cái buồn của những thân phận cùng khổ luôn làm tôi gai

người như bị cứa vào tận hồn cốt của mình” [10,434] Trong cái cùng cực đầy

bất hạnh của chị Vách, Nguyễn Khải vẫn nhận ra sức mạnh tinh thần ẩn giấubên trong con nguời nhỏ bé của chị Nhà văn vẫn nhìn thấy trong tâm hồn chị

tồn tại một sức sống bền bỉ, cốt cách thanh cao như những “hạt bụi vàng”.

Khi xây dựng nhân vật, đặc biệt là nhân vật nữ, Nguyễn Khải chú trọng

đến việc “xây dựng những tính cách nhân vật nữ vừa có cái mạnh mẽ cứng

cỏi của người phụ nữ hiện đại, vừa có cái nét truyền thống của người phụ nữ ngày xưa” [6,160] Ở chị Vách hội tụ được cả vẻ đẹp của người phụ nữ

truyền thống đó là sự lam lũ, nhân hậu, giàu đức hi sinh Bên cạnh đó, chị còn

là người rất nhanh nhẹn, tháo vát và cũng rất cứng cỏi, mạnh mẽ Chính điềunày tạo thêm sức mạnh và nghị lực sống để họ vượt qua những bão tố của

cuộc đời “ giữa muôn vàn đắng cay tủi nhục của cuộc sống họ vẫn tìm thấy

niềm vui nho nhỏ để có thêm nghị lục tiếp tục chống chèo con thuyền gia đình giữa hai bờ “bình yên và bão tố” của cuộc sống hàng ngày [10,161] Và khi

viết về những con người này, vẫn cảm hứng nghiên cứu, phân tích về số phậncon người trước những đổi thay chóng mặt của thời cuộc, Nguyễn Khải vẫn

tìm thấy được sự bình yên của cái “tổ tấm” hạnh phúc ở những người phụ nữ Ông vẫn luôn sẵn sàng tôn vinh những người phụ nữ “là vàng mười, là kim

cương, là báu vật, là sự may mắn lớn nhất mà chồng con họ có được ở cõi đời này” [10,161].

Đọc truyện ngắn Tiền của Nguyễn Khải chúng ta thấy Hiền - cô nhân

viên kế toán của một cửa hàng ăn uống, là một con người đầy bản lĩnh Từ

Ngày đăng: 12/01/2020, 15:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử (2007),Văn xuôi nghiên cứu đời sống hôm nay (đối thoại về sáng tác gần đây của Nguyễn Khải), Báo Văn nghệ ngày 11- 06 - 1983 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi nghiên cứu đời sống hômnay "(đối thoại về sáng tác gần đây của Nguyễn Khải), Báo "Văn nghệ
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử
Năm: 2007
2. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơbản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
3. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
4. Hà Minh Đức (2008), Lí luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2008
5. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2006), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữvăn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
6. Nguyễn Khải và sự đổi mới quan niệm về con người trongMột người Hà Nội, Tạp chí Văn nghệ quân đội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khải và sự đổi mới quan niệm về con người trongMột người HàNội
8. Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà (1986), Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu, Trần Đình Sử, Lê Ngọc Trà
Nhà XB: Nhàxuất bản Giáo dục
Năm: 1986
9. Nguyễn Văn Long (chủ biên) (2012), Giáo trìnhVăn học Việt Nam hiện đại tập II (Từ sau cách mạng tháng Tám 1945), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhVăn học Việt Nam hiện đạitập II (Từ sau cách mạng tháng Tám 1945
Tác giả: Nguyễn Văn Long (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sưphạm
Năm: 2012
10. Vương Trí Nhàn tuyển chọn và giới thiệu (1996), Tuyển tập Nguyễn Khải tập III, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Nguyễn Khảitập III
Tác giả: Vương Trí Nhàn tuyển chọn và giới thiệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 1996
11. Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nhà xuất bản Đà Nẵng
Năm: 2006
12. Hà Công Tài, Phan Diễm Phương tuyển chọn và giới thiệu (2002), Nguyễn Khải về - tác giả và tác phẩm, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Khải về - tác giả và tác phẩm
Tác giả: Hà Công Tài, Phan Diễm Phương tuyển chọn và giới thiệu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
13. Phùng Gia Thế, Trần Thiện Khanh (biên soạn) (2016) Văn học và giới nữ, Nhà xuất bản thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và giới nữ
Nhà XB: Nhà xuất bản thế giới
14. Trần Đình Sử (chủ biên) (2008), Ngữ văn 12 (Nâng cao -Tập 2), Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12
Tác giả: Trần Đình Sử (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 2008
15. Trần Đình Sử (1996), Lý luận và phê bình Văn học, Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phê bình Văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhàvăn
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w