Ngân hàng là một trung gian tài chính, là một kênh dẫn vốn quan trọng cho toàn bộ nền kinh tế. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc hoàn thiện và mở rộng các hoạt động là hướng đi và phương châm cho các ngân hàng tồn tại và phát triển. Trong các hoạt động của ngân hàng có hoạt động cho vay, tuy nhiên từ xưa tới nay, các ngân hàng chỉ quan tâm tới cho vay các nhà sản xuất kinh doanh mà chưa quan tâm tới giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất là tiêu dùng. Nếu chỉ cho vay sản xuất nhiều mà khách hàng không tiêu thụ được do người dân không có nhu cầu về hàng hóa đó hoặc có nhu cầu nhưng lại không có khả năng thanh toán thì tất yếu sẽ dẫn tới cung vượt quá cầu, hàng hóa bị tồn kho và ứ đọng vốn. Từ thực tế đó cho thấy khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có các công ty, doanh nghiệp là cần vốn để sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường mà hiện nay, các cá nhân cũng là những người cần vốn hơn bao giờ hết. Cuộc sống ngày càng hiện đại, mức sống của người dân cũng được nâng cao, cuộc sống giờ đây không chỉ bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà đã dần chuyển sang “ăn ngon, mặc đẹp” và cũng còn biết bao nhu cầu khác cần phải được đáp ứng. Giờ dây, tâm lý của người dân coi việc đi vay là muốn sử dụng hàng hóa trước khi có khả năng thanh toán. Đáp ứng lòng mong mỏi của người dân, các ngân hàng đã phát triển một hoạt động cho vay mới, đó là cho vay tiêu dùng, một mặt vừa tạo thêm thu nhập cho chính ngân hàng, mặt khác giúp đỡ cho các cá nhân có được nguồn vốn để cải thiện cuộc sống của mình. Tín dụng là một trong các chức năng hàng đầu của các Ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của các thành phần trong nền kinh tế.Trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, các Ngân hàng cung cấp các loại hình cho vay khác nhau dựa trên quy mô của từng Ngân hàng, trên cơ sở đó tín dụng được phân thành nhiều loại như¬: cho vay ngắn hạn, cho vay dài hạn, cho vay cá nhân, cho thuê… trong đó mảng cho vay tiêu dùng là một trong những thị trư¬ờng đầy tiềm năng của các Ngân hàng. Nhận thức đ¬ược tầm quan trọng của việc cho vay tiêu dùng với những kiến thức đã đ¬ược học và trong khuôn khổ môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ em đã nghiên cứu đề tài Một số vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay.
Trang 1MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM 3
1.1.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng 3
1.1.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng 3
1.2 Các hình thức CVTD – Quy trinh CVTD 4
1.2.1 Các hình thưc CVTD 4
1.2.1.1 Căn cứ vào mục đích vay 4
1.2.1.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả 4
1.2.1.3 Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ 6
1.3 Quy trình nghiệp vụ CVTD 10
CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGTM 12
2.1 KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ CVTD 12
2.2 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ CVTD 12
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ CVTD 15
2.3.1 Môi trường vi mô 15
2.3.2.Môi trường vĩ mô 19
3.1 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CVTD TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 21 3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CVTD TRONG NHTM 24
3.2.1 Nâng cao hiệu quả công tác thẩm định 24
3.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 28
3.2.3 Chú trọng công tác phòng ngừa và hạn chế rủi ro 30
Trang 23.2.4 Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát của
ngân hàng 32
3.2.5 Đẩy mạnh hoạt động Marketing ngân hàng 33
KẾT LUẬN 35
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 36
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Ngân hàng là một trung gian tài chính, là một kênh dẫn vốn quan trọngcho toàn bộ nền kinh tế Trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, việchoàn thiện và mở rộng các hoạt động là hướng đi và phương châm cho cácngân hàng tồn tại và phát triển Trong các hoạt động của ngân hàng có hoạtđộng cho vay, tuy nhiên từ xưa tới nay, các ngân hàng chỉ quan tâm tới chovay các nhà sản xuất kinh doanh mà chưa quan tâm tới giai đoạn cuối cùngcủa quá trình sản xuất là tiêu dùng Nếu chỉ cho vay sản xuất nhiều mà kháchhàng không tiêu thụ được do người dân không có nhu cầu về hàng hóa đóhoặc có nhu cầu nhưng lại không có khả năng thanh toán thì tất yếu sẽ dẫn tớicung vượt quá cầu, hàng hóa bị tồn kho và ứ đọng vốn
Từ thực tế đó cho thấy khi xã hội ngày càng phát triển, không chỉ có cáccông ty, doanh nghiệp là cần vốn để sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường
mà hiện nay, các cá nhân cũng là những người cần vốn hơn bao giờ hết Cuộcsống ngày càng hiện đại, mức sống của người dân cũng được nâng cao, cuộcsống giờ đây không chỉ bó hẹp trong “ăn no, mặc ấm” mà đã dần chuyển sang
“ăn ngon, mặc đẹp” và cũng còn biết bao nhu cầu khác cần phải được đápứng Giờ dây, tâm lý của người dân coi việc đi vay là muốn sử dụng hàng hóatrước khi có khả năng thanh toán Đáp ứng lòng mong mỏi của người dân, cácngân hàng đã phát triển một hoạt động cho vay mới, đó là cho vay tiêu dùng,một mặt vừa tạo thêm thu nhập cho chính ngân hàng, mặt khác giúp đỡ chocác cá nhân có được nguồn vốn để cải thiện cuộc sống của mình
Tín dụng là một trong các chức năng hàng đầu của các Ngân hàng để tàitrợ cho nhu cầu chi tiêu của các thành phần trong nền kinh tế.Trong hoạt độngkinh doanh của các Ngân hàng, nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủyếu, các Ngân hàng cung cấp các loại hình cho vay khác nhau dựa trên quy
mô của từng Ngân hàng, trên cơ sở đó tín dụng được phân thành nhiều loại
Trang 4như: cho vay ngắn hạn, cho vay dài hạn, cho vay cá nhân, cho thuê… trong
đó mảng cho vay tiêu dùng là một trong những thị trường đầy tiềm năng củacác Ngân hàng Nhận thức được tầm quan trọng của việc cho vay tiêu dùngvới những kiến thức đã được học và trong khuôn khổ môn học Lý thuyết tài
chính tiền tệ em đã nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề cơ bản về cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay".
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng và đưa ra giảipháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng
Đề tài của em ngoài phần mở đầu và kết luận được kết cấu gồm 3chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu cho vay tiêu dùng của NHTM
Chương 2: Hiệu quả cho vay tiêu dùng tại các NHTM
Chương 3: Xu hướng và Giải pháp nâng cao hiệu quả CVTD tại các NHTM
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng với kiến thức và thời gian hạn chế nên
đề tài của em không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự chỉbảo góp ý của các thầy cô để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin trân trọng cảm ơn cô: PGS.TS Phan Thị Thu Hà đã giúp em
hoàn thành đề tài này!
Trang 5CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VAY TIÊU DÙNG CỦA NHTM 1.1.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng
Trong hoạt động kinh doanh của các NHTM, nghiệp vụ tín dụng lànghiệp vụ sinh lời chủ yếu, chiếm từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của các ngânhàng Các ngân hàng cung cấp nhiều loại hình cho vay khác nhau dựa trênquy mô của từng ngân hàng, tương ứng với sự đa dạng trong mục đích vaycủa các ngân hàng, trên cơ sở đó tín dụng được phân thành nhiều loại như:cho vay ngắn hạn, cho vay dài hạn, cho vay cá nhân, cho thuê… trong đómảng CVTD là một trong những thị trường đầy tiềm năng của các ngân hàng CVTD là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu củangười tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình Đây là một nguồn tài chínhquan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình
và xe cộ… Bên cành đó những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và dulịch… cũng có thể được tài trợ bởi CVTD
1.1.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Quy mô của từng hợp đồng vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí tổ chức chovay cao, vì vậy lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn so với lãi suất củacác loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳkinh tế
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng hầu như ít co dãn với lãi suất,người đi vay thường quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họphải trả
Trang 6 Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai biến số có quan hệ rất mật thiếttới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng
Chất lượng thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao
Nguồn trả nợ chủ yếu của người đi vay có thể có biến động lớn, phụthuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc củanhững người này
Tư cách của khách hàng là yếu tố khó xác định xong lại rất quan trọngquyết định sự hoàn trả của khoản vay
1.2 Các hình thức CVTD – Quy trinh CVTD
1.2.1 Các hình thưc CVTD
Việc phân loại CVTD được dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau nhằmgiúp đưa ra một cái nhìn toàn diện về CVTD ở những giác độ khác nhau
1.2.1.1 Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vayC, CVTD được chia ra làm hai loại:
CVTD cư trú (Residential Mortgate Loan): Là các khoản cho vay
nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hay cải tạo nhà ở của kháchhàng là cá nhân hay hộ gia đình
CVTD phi cư trú (Unresidential Loan): CVTD phi cư trú là các khoản
cho vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng giađình, chi phí học hành, giải trí và du lịch…
1.2.1.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, CVTD có thể chia làm ba loại:
CVTD trả góp (Installment Consumer Loan): Đây là hình thức
CVTD trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiền gốc và lãi) cho ngân hàngnhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay Phương thứcnày được áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kìcủa người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay
Đối với loại cho vay tiêu dùng này, các ngân hàng thường chú ý tới
Trang 7một số vấn đề cơ bản, có tính ngyên tắc sau:
Loại tài sản được tài trợ : thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơnnếu tài sản hình thành từ tiền vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dàitrong tương lai Khi lựa chọn tài sản để tài trợ, ngân hàng thường chú ý tớiđiều này, nên thường chỉ muốn tài trợ cho nhu cầu mua xắm những tài sản cóthời gian sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn Vì rằng, với những loại tài sảnnhư vậy người tiêu dùng sẽ được hưởng những tiện ích từ chúng trong mộtthời gian dài
Số tiền phải trả trước : thông thường người đi vay phải thanh toántrước một phần giá trị tài sản cần mua xắm , số tiền này được gọi là số tiền trảtrước phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay Số tiền trả trước cần phải đủ lớn cầnmột mặt làm cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu tài sản, mặtkhác nó có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngân hàng Một khi không cảm nhậnđược rằng mình là chủ sở hữu tài sản hình thành từ tiền vay thì người vay sẽ
có thái độ miễn cưỡng trong việc trả nợ Ngoài ra khi khách hàng không trả
nợ trong nhiều trường hợp ngân hàng đành phải thụ đắc hoặc phát mãi tài sảntài sản để thu hồi nợ Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị,tức là giá trị thị trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của tài sản cho nên số tiềntrả trước có một vai trò quan trọng giúp ngân hàng hạn chế rủ ro
Số tiền trả trước nhiều hay ít tùy thuộc vào các yếu tố sau :
* Loại tài sản : đối với những tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì sốtiền trả trước nhiều và ngược lại
* Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng : tài sản sau khi đã qua
sử dụng nếu vẫn có thể được tiếp tục mua bán dễ dàng thì số tiền trả trước có
xu hướng thấp và ngược lại
* Môi trường kinh tế
* Năng lực tài chính của người đi vay
CVTD phi trả góp (Noninstallment Consumer Loan): Các khoản
Trang 8CVTD phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ, với thời hạnkhông dài Theo phương pháp này tiền vay được khách hàng thanh toán mộtlần khi đến hạn Thường thì các khoản cho vay tiêu dùng phi trả góp chỉ đượccấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ với thời hạn không dài.
CVTD tuần hoàn (Revoling Consumer Credit): Là các khoản CVTD
trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hànhloại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai Theo phương phápnày, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chitiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phépthực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn mức tíndụng Lãi phải trả mỗi kỳ có thể được tính dựa trên một trong ba cách sau:
Lãi được tính trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương phápnày số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khikhách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng
Lãi được tính dựa trên số dư nợ trớc khi được điều chỉnh: Theophương pháp này, số dư nợ dùng để tính lãi là số dư nợ mỗi kỳ có trước khikhoản nợ được thanh toán
Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân
1.2.1.3 Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ
Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ, CVTD gồm:
- CVTD gián tiếp (Indirect Consumer Loan): CVTD gián tiếp là hình
thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công
ty bán lẻ bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng
Trang 9Sơ đồ 1.1: CVTD gián tiếp
(1): Ngân hàng và công ty bán lẻ ký kết hợp đồng mua bán chịu Tronghợp đồng, ngân hàng thường đa ra các điều kiện về đối tượng khách hàng đư-
ợc bán chịu tối đa và loại tài sản bán chịu
(2): Công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hànghoá Thông thường người tiêu dùng phải trả trước một phần giá trị tài sản
(3): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
(4): Công ty bán lẻ bán toàn bộ chứng từ bán chịu hàng hoá cho ngân hàng.(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
* CVTD có một số ưu điểm sau:
Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD
Cho phép ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay
Ng©n hµng C«ng ty b¸n lÎ
Ng êi tiªu dïng
1 5
4
2
6
Trang 10 Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạtđộng ngân hàng khác
Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, CVTD giántiếp an toàn hơn CVTD trực tiếp
Trang 11
* Bên cạnh một số ưu điểm vừa kể, CVTD gián tiếp có một số nhược điểm sau:
Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu
Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bánchịu hàng hoá
Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao
*CVTD gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thức sau:
Tài trợ truy đòi toàn bộ : theo phương thức này khi bán cho ngân hàngcác khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chị, công ty bán lẽ cam kết sẽ thanhtoán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đếm hạn người tiêu dùngkhông thanh toán cho ngân hàng
Tài trợ truy đòi hạn chế : theo phương thức này trách nhiệm của công tybán lẻ đối với khoản nợ người tiêu dùng mua chịu chưa thanh toán chỉ giớihạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã đượcthỏa thuận giữ ngân hàng với công ty bán lẻ Dưới đây là các thỏa thuậnthường gặp trong trường hợp truy đòi hạn chế :
Công ty bán lẻ phải chị trách nhiệm một phần nợ trong trường hợp : nếungười mua chịu không đủ tiền để trả trước một số tiền nhất định khi mua chịuhoặc không đủ tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng đề ra
Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịucho đến khi ngân hàng thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất địnhđúng hạn
Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn theomột tỷ lện nhất định so với tổng số nợ trong một thời gian nhất định
Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạntrong một phạm vi số tiền dự phòng kí gửi tại ngân hàng Thường số tiền dựphòng được trích từ chênh lệch giữa chi phí tài trợ mà công ty bán lẻ tính chongười mua chịu và chi phí tài trợ mà ngân hàng tính cho công ty bán lẻ Đây
Trang 12là trường hợp các ngân hàng áp dụng phổ biến nhất.
Số tiền ký gửi tại các ngân hàng có tác dụng hạn chế rủi ro cho ngânhàng khi người mua chịu không trả nợ hoặc trả nợ trước hạn
- CVTD trực tiếp (Direct Consumer Loan): Là các khoản CVTD trong
đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thuhồi nợ từ người này
Sơ đồ 1.2: CVTD trực tiếp
(1): Ngân hàng và người tiêu dùng ký kết hợp đồng vay
(2): Người tiêu dùng trả trước một phần số tiền mua tài sản cho công tybán lẻ
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán lẻ.(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng
5
Trang 13(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
So với CVTD gián tiếp, CVTD trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng đượcmột số ưu điểm sau:
Trang 14 Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng,những người này thường được đào tạo chuyên môn vâ có kinh nghiem tronglĩnh vực tín dụng cho nên các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàngthường có hiệu quả cao hơn so với trường hợp chúng được quyết định bởicông ty bán lẻ hoặc nhân viên tín dụng của công ty bán lẻ Ngoài ra , tronghoạt động việc tạo ra các khoản cho vay chất lượng tốt trong khi những nhânviên của công ty bán lẻ thường chú trọng tới việc bán hàng cho được nhiềuhàng Bên cạnh đó tại các điểm bán hàng , các quyết định tín dụng thườngđược đưa ra vội vã và như vậy có nhiều khoản tín dụng được cấp ra một cáchkhông chính đáng Hơn nữa, một trong số trường hợp do quyết định nhanhcông ty bán lẻ có thể từ chối cấp tín dụng đối với khách hàng tốt của mình.Nếu người cấp tín dụng là ngân hàng điều này có thể được hạn chế
Do tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên tín dụng tiêu dùng linh hoạthơn so với tín dụng tiêu dùng gián tiếp Khi khách hàng có quan hệ trực tiếpvới ngân hàng, có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thoả mãnquyền lợi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng
1.3 Quy trình nghiệp vụ CVTD
Quy trình thực hiện nghiệp vụ CVTD gồm có các bước sau:
Bước 1: Tiếp xúc ban đầu với khách hàng và hướng dẫn khách hàng
lập hồ sơ nếu đủ điều kiện, tiêu chuẩn cho vay của chi nhánh
Bước 2: Tiếp nhận hồ sơ vay của khách hàng, tiến hành phân tích tín
dụng và thẩm định hồ sơ vay của khách hàng
Bước 3: Quyết định có cho khách hàng vay hay không do trưởng phòng
tín dụng hoặc giám đốc chi nhánh quyết định căn cứ vào qui định về mức uỷquyền phán quyết tín dụng của NHNo & PTNT Việt Nam.Lập hợp đồng kýkết với khách hàng nếu từ chối, phải trả lời cho rõ lý do cho khách hàng biết
Trang 15 Bước 4: Thực hiện giải ngân và các biện pháp đảm bảo tín dụng như:
lập hồ sơ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, phong toả tài sản tiết kiệm cá nhân…Đồng thời cán bộ tín dụng lập hồ sơ theo dõi khoản vay
Bước 5: Tiến hành kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn sử dụng vốn,
trả nợ và xử lý phát sinh
Trang 16CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGTM
2.1 KHÁI NIỆM HIỆU QUẢ CVTD
Các khoản cho vay có hiệu quả khi vốn vay được khách hàng sử dụng đúng mục đích, tạo ra số tiền lớn hơn, thông qua dó ngân hàng thu lại được gốc và lãi, còn khách hàng có thể trả được nợ , bù đắp chi phí và thu được lợi nhuận Điều này có nghĩa là NHTM vừa tạo ra hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội
2.2 CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ CVTD
Để đánh giá hiệu quả CVTD của các ngân hàng thương mại, có thể dựatrên một số chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu nợ quá hạn
Nợ có quá hạn là các khoản nợ phát sinh từ mối quan hệ tín dụngkhông hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được hoặc thực hiệnkhông đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng tíndụng với ngân hàng
o Chỉ tiêu nợ quá hạn tuyệt đối: chỉ tiêu này được tính bằng hiệu sốgiữa nợ quá hạn CVTD năm t với nợ quá hạn năm (t-1)
Mức tăng giảm nợ quá
Nợ quá hạn CVTD
-Nợ quá hạnCVTD năm (t-1)
o Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn được tínhbằng tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn CVTD và tổng dư nợ CVTD của ngânhàng tại một thời điểm nhất định, thường vào cuối tháng, cuối quý, cuối năm
Tỷ lệ nợ quá hạn CVTD = Nợ quá hạn CVTD
Tổng dư nợ CVTD
Trang 17Thông qua các chỉ tiêu này, có thể đánh giá được hiệu quả hoạt độngCVTD Nếu tỉ lệ nợ quá hạn CVTD cao chứng tỏ hoạt động quản lý, thu hồicác khoản nợ CVTD thấp, nguy cơ mất vốn của ngân hàng cao, lợi nhuận củangân hàng bị giảm xuống, và như vậy có nghĩa rằng hiệu quả của hoạt độngCVTD thấp Và ngược lại khi tỷ lệ này thấp thì hiệu quả CVTD ở mức cao.
- Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn CVTD so với tổng nợ quá hạn từ hoạtđộng cho vay
Tỷ trọng nợ quá hạn CVTD = Nợ quá hạn CVTD *100%
Nợ quá hạn từ hoạt động cho vay
- Chỉ tiêu này phản ánh tình hình hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng
trong hiệu quả hoạt động tín dụng nói chung Tỷ lệ này nếu cao hơn tỷ trọnggiữa dư nợ CVTD và dư nợ tín dụng nói chung thì hoạt động CVTD có hiệuquả thấp hơn so với tình hình chung của hoạt động tín dụng Và ngược lại,nếu tỷ lệ này thấp hơn tỷ trọng CVTD và dư nợ tín dụng nói chung chứng tỏhoạt động CVTD có hiệu quả tốt so với hoạt động tín dụng chung của ngânhàng Do đó, nếu tỷ lệ này thấp thì ngân hàng cần quan tâm mở rộng hoạtđộng CVTD để tăng lợi nhuận cho ngân hàng và đảm bảo an toàn, chia sẻ rủi
ro cho các hoạt động khác
Chỉ tiêu nợ xấu
“ Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại điều 6hoặc điều 7 của quyết định 493/ NHNN
* Ch tiêu t l n x u ỷ lệ nợ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư ệ nợ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư ợ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư ấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư đượ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư c tính b ng t l % gi u n x u CVTD v t ng d ằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư ỷ lệ nợ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư ệ nợ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư ữu nợ xấu CVTD và tổng dư ợ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư ấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư à tổng dư ổng dư ư
n CVTD c a ngân h ng t i m t th i i m nh t ợ xấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư à tổng dư ại một thời điểm nhất định , thường vào cuối tháng, cuối ột thời điểm nhất định , thường vào cuối tháng, cuối ời điểm nhất định , thường vào cuối tháng, cuối đ ểm nhất định , thường vào cuối tháng, cuối ấu được tính bằng tỷ lệ % giữu nợ xấu CVTD và tổng dư định , thường vào cuối tháng, cuối nh , th ười điểm nhất định , thường vào cuối tháng, cuối ng v o cu i tháng, cu i à tổng dư ối tháng, cuối ối tháng, cuối quý, cu i n m ối tháng, cuối ăm.
Tỷ lệ nợ xấu CVTD =
Nợ xấu CVTDTổng dư nợCVTD
Thông qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được chất lượng của khoản vay,với tỷ lệ này càng cao chứng tỏ nguy cơ mất vốn trong hoat động CVTD là rất
Trang 18lớn , điều đó có thể nói hiệu quả tín dụng tiêu dùng của ngân hang là khôngtốt và ngược lại.
Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu CVTD trên tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu CVTD trên tổng dư nợ = Nợ xấu cho vay tiêu dùngTổng dư nợ hoạt động cho vay
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của tổchức tín dụng. Chỉ tiêu này thường được dùng để đánh giá khả năng quản lý vốntín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Chỉ tiêu lợi nhuận
- chỉ tiêu lợi nhuận CVTD
Một khoản CVTD có hiêu quả cao khi nó đem lại lợi nhuận cho ngânhàng Do mỗi khoản vay của khách hàng đều được hình thành từ vốn tự có,vốn huy động, hoặc vốn đi vay của ngân hàng Để có được phần vốn đó, ngânhàng phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định Lợi nhuận do ngân hàng manglại chứng tỏ khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi
Tuy nhiên nếu một NHTM chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ
lệ nợ quá hạn thấp, trong khi không tăng được lợi nhuận, thì tỷ lệ nợ quá hạn thấp
đó cũng không có ý nghĩa Như vậy một tỷ lệ nợ quá hạn CVTD thấp chỉ thực sự
có ý nghĩa khi nó góp phần làm nâng cao khả năng sinh lời cho ngân hàng
Doanh thu CVTD = Dư nợ * lãi xuấtLợi nhuận CVTD = Doanh thu từ hoạt động CVTD – chi phí hđ CVTD – thuếTrong đó chi phí bao gồm : chi phí trả lãi, chi phí tiền lương, chi phí
khác……
2.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ CVTD
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động CVTD cũng như hiệu quảCVTD của các ngân hàng thương mại Có thể chia các yếu tố thành hai nhómlà: nhóm nhân tố thuộc môi trường vi mô và nhóm nhân tố thuộc môi trường
vĩ mô.Khi thực hiện hoạt động CVTD cần xem xét, đánh giá các nhân tố này
Trang 19để có quyết định chính xác hơn trong các quyết định tín dụng.
2.3.1 Môi trường vi mô
Bao gồm các yếu tố trong nội bộ ngành ngân hàng và liên quan đếncác tác nghiệp kinh doanh của ngân hàng
Tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng, đồngthời rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trungvào hoạt động tín dụng CVTD đang là một trong những thị trường đầy tiềmnăng cho các ngân hàng, vì vậy đòi hỏi các ngân hàng phải xây dựng một hệthống chính sách tín dụng hợp lý, linh hoạt, phù hợp với mục tiêu của ngânhàng trong từng thời kỳ, giúp ngân hàng phân bổ và sử dụng nguồn vốn hợp
lý đảm bảo mang lại lợi nhuận và thực hiện mục tiêu của ngân hàng đã đề ra
Quy trình cho vay của ngân hàng
Là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cấp tíndụng Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn,theo một trật tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ gắn bó với nhau từkhâu chuẩn bị cho vay cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng Một quy trìnhtín dụng hợp lý, linh hoạt sẽ tạo ra sự thống nhất, đồng bộ và kết hợp nhịpnhàng trong các bước thực hiện, từ đó đáp ứng nhu cầu đa dạng của kháchhàng, đồng thời giúp ngân hàng phát hiện kịp thời những sai sót, những điềucha hợp lý, cần điều chỉnh.Từ đó có những biện pháp phòng ngừa, điều chỉnhnhằm hạn chế rủi ro, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng tín dụng cho
Trang 20ngân hàng.
Thông tin tín dụng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, trong khi
đó ngân hàng chủ yếu dựa vào nguồn thông tin từ bên ngoài để đánh giákhách hàng.Chính vì vậy việc có được hệ thống thông tin liên quan đến kháchàng là rất cần thiết Các thông tin tín dụng bao gồm thông tin tài chính (khảnăng tài chính, kết quả kinh doanh, nhu cầu vay vốn…), thông tin phi tàichính (tư cách, uy tín, năng lực, pháp lý…), các thông tin gián tiếp (tình hìnhkinh tế xã hội…) Thông tin tín dụng không những giúp ngân hàng nhanhchóng nắm bắt được nhu cầu của khách hàng mà còn giúp ngân hàng có điềukiện xem xét, phân tích đánh giá một cách khách quan, kịp thời, đầy đủ, chínhxác nhu cầu của khách hàng, tìm ra những nguy cơ tiềm ẩn.Từ đó đa ra quyếtđịnh đúng đối với những khoản vay
Trong CVTD khách hàng thường có xu hướng che dấu thông tin vềbản thân mình,vì vậy việc có đươc thông tin về khách hàng thường gặp nhưnhiều khó khăn Với vai trò như vậy đòi hỏi thông tin tín dụng phải được cậpnhật đầy đủ, thường xuyên, chính xác, nhằm nâng cao hiệu quả thẩm định,cũng như cho vay
Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở hai mặt đạo đức nghề nghiệp vàtrình độ nghiệp vụ Đây là hai yếu tố đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng rất lớnđến hiệu quả tín dụng, do chính đạo đức và trình độ chuyên môn của nhânviên ngân hàng là một trong những nhân tố tạo ra sự khác biệt cho mỗi ngânhàng Các cán bộ tín dụng là những người làm việc trực tiếp với khách hàng,tạo ra ấn tượng với khách hàng và thu hút khách hàng về với ngân hàng Vìvậy một cán bộ tín dụng bên cạnh việc đảm bảo trình độ chuyên môn, thườngxuyên học tập nâng cao trình độ để có khả năng thẩm định, thì một điều quantrọng không kém đó là luôn có tư cách đạo đức nghề nghiệp để có thể đa ra