1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận cao học hiệu quả kinh tế của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

35 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 264,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU I. VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 1.Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình Truyền hình là loại hình truyền thông ra đời muộn hơn rất nhiều so với các loại hình truyền thông khác, nhưng với thế mạnh về hình ảnh và âm thanh, nên thông tin của truyền hình đến với công chúng rất sinh động và hấp dẫn. Không những sản phẩm hấp dẫn mà công việc làm nên sản phẩm cũng là điều thú vị, thu hút sự quan tâm của công chúng. Hiện giờ, công việc sản xuất làm ra sản phẩm truyền hình không phải chỉ do các phóng viên của một kênh truyền hình, một đài TH thực hiện nữa, mà là công việc chung của nhiều người. Ở đó họ có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp làm nên sản phẩm. Họ có thể đi khai thác tin, bài, tham gia đóng góp thêm công sức, trí tuệ, tài chính... để làm cho sản phẩm chương trình TH phong phú hơn. Chính hình thức này đã làm cho mô hình sản xuất sản phẩm truyền hình theo cách truyền thống đó là: nhà báo phóng viên truyền hình (người theo diện biên chế của đài nhận lương của Nhà nước) trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, sau đó sản phẩm này được chuyển đến phục vụ công chúng, có sự thay đổi. Sự thay đổi thể hiện ở việc, công chúng không còn chỉ là người tiếp nhận thông tin một cách thụ động. Giờ đây, họ những người ngoài đài còn có thể là đối tượng cùng với các nhà báo góp phần làm nên những sản phẩm truyền hình. Nhiều nơi trên thế giới gọi đội ngũ này là “nhà báo công dân” (citizen journalist). Sự tham gia của các đối tượng ngoài đài TH trong việc làm nên sản phẩm phát trên sóng truyền hình đã tạo ra sự khác biệt trong tổ chức sản xuất chương trình theo cách truyền thống. Sự tham gia của đối tượng này vào hoạt động sản xuất đã tác động làm thay đổi nhiều vấn đề trong một đài, điều này đòi hỏi phải có sự cấu trúc lại hoạt động của đài TH nói riêng, ngành truyền hình nó chung. Đó là: cần phải tổ chức lại nhân sự (với bộ máy gọn nhẹ, nhưng phải “tinh”), thiết lập kế hoạch sản xuất chương trình mới (sản xuất bao nhiêu? tiêu chí nào để chuẩn hóa sản phẩm?) cũng như cách thức phát sóng... Như vậy, quá trình nhiều thành phần xã hội tham gia làm nên sản phẩm truyền hình chính là hoạt động XHH SXCTTH. Nói một cách khác “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là quá trình mở rộng sự tham gia và thu hút nguồn lực của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp vào một hay nhiều khâu trong quy trình sản xuất các chương trình truyền hình – đây vốn là công việc của một tổ chức chuyên trách về lĩnh vực truyền hình”

Trang 1

MỞ ĐẦU

I VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

1.Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Truyền hình là loại hình truyền thông ra đời muộn hơn rất nhiều so với các loại hình truyền thông khác, nhưng với thế mạnh về hình ảnh và âm thanh, nên thông tin của truyền hình đến với công chúng rất sinh động và hấp dẫn Không những sản phẩm hấp dẫn mà công việc làm nên sản phẩm cũng là điều thú vị, thu hút sự quan tâm của công chúng Hiện giờ, công việc sản xuất làm ra sản phẩm truyền hình không phải chỉ do các phóng viên của một kênh truyền hình, một đài

TH thực hiện nữa, mà là công việc chung của nhiều người Ở đó họ có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp làm nên sản phẩm Họ có thể đi khai thác tin, bài, thamgia đóng góp thêm công sức, trí tuệ, tài chính để làm cho sản phẩm - chương trình TH phong phú hơn

Chính hình thức này đã làm cho mô hình sản xuất sản phẩm truyền hình theo cách truyền thống đó là: nhà báo - phóng viên truyền hình (người theo diện biên chế của đài - nhận lương của Nhà nước) trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, sau

đó sản phẩm này được chuyển đến phục vụ công chúng, có sự thay đổi

Sự thay đổi thể hiện ở việc, công chúng không còn chỉ là người tiếp nhậnthông tin một cách thụ động Giờ đây, họ - những người ngoài đài - còn có thể làđối tượng cùng với các nhà báo góp phần làm nên những sản phẩm truyền hình.Nhiều nơi trên thế giới gọi đội ngũ này là “nhà báo công dân” (citizen journalist)

Sự tham gia của các đối tượng ngoài đài TH trong việc làm nên sản phẩmphát trên sóng truyền hình đã tạo ra sự khác biệt trong tổ chức sản xuất chươngtrình theo cách truyền thống Sự tham gia của đối tượng này vào hoạt động sảnxuất đã tác động làm thay đổi nhiều vấn đề trong một đài, điều này đòi hỏi phải có

Trang 2

sự cấu trúc lại hoạt động của đài TH nói riêng, ngành truyền hình nó chung Đó là:cần phải tổ chức lại nhân sự (với bộ máy gọn nhẹ, nhưng phải “tinh”), thiết lập kếhoạch sản xuất chương trình mới (sản xuất bao nhiêu? tiêu chí nào để chuẩn hóasản phẩm?) cũng như cách thức phát sóng

Như vậy, quá trình nhiều thành phần xã hội tham gia làm nên sản phẩm truyền hình chính là hoạt động XHH SXCTTH Nói một cách khác “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là quá trình mở rộng sự tham gia và thu hút nguồn lực của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp vào một hay nhiều khâu trong quy trình sản xuất các chương trình truyền hình – đây vốn là công việc của một tổ chức chuyên trách về lĩnh vực truyền hình”

2 Tính tất yếu của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình

- Nhu cầu thông tin của công chúng và khả năng nội tại của đài TH

Mặc dù ra đời sau rất nhiều so với báo viết và phát thanh, nhưng do thôngtin được truyền tải bằng hình ảnh và âm thanh sinh động nên truyền hình đã nhanhchóng thu hút được sự quan tâm theo dõi của khán giả

Để có nhiều chương trình hay, hấp dẫn với tính chất, quy mô lớn, hiện đạithì cơ sở vật chất, kỹ thuật, kỹ năng sản xuất chương trình TH đòi hỏi phức tạp vàtốn kém Đây cũng là lý do khiến nhiều đài TH, kênh truyền hình khó đáp ứng nổiđặc biệt là về tài chính Vậy nên, việc cần có sự tham gia của những đối tác, đặcbiệt là các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế, những tập thể, cá nhân có điều kiệnvào hoạt động sản xuất chương trình xuất hiện

- Sự phát triển của khoa học công nghệ

Khoa học kỹ thuật đã giúp cho thiết bị sản xuất các chương trình TH ngàymột hiện đại, tiện nghi và đặc biệt là rẻ hơn rất nhiều so với trước Và đây là cơ hội

để công chúng có thể mua được những phương tiện và dễ dàng làm nên sản phẩmtruyền hình góp sức với nhà đài

Còn đối với nhà đài, khi công nghệ phát triển, việc tăng số lượng kênhcũng đơn giản hơn rất nhiều Nếu như trước kia một máy phát chỉ có thể phát đượcmột kênh sóng, thì hiện nay, nhờ công nghệ phát triển, một máy phát kỹ thuật sốcùng một lúc có thể phát sóng được rất nhiều kênh Khi có nhiều kênh sóng, đồngnghĩa với việc cần phải có nhiều thời lượng chương trình hơn Ngoài sự nỗ lực của

Trang 3

cán bộ, phóng viên nhà đài thì việc có thêm sự hợp tác trong sản xuất chương trìnhvới các đối tác bên ngoài là điều cần thiết

- Khả năng của các đối tác

Đối tác của các đài TH là những cá nhân, tổ chức có khả năng tham gia vào hoạtđộng sản xuất chương trình TH Đó có thể là những nhà sản xuất có năng lực chuyên lo

về nội dung hoặc có thể là các tập đoàn, doanh nghiệp thậm chí những cá nhân có tiềmlực kinh tế có khả năng tài trợ kinh phí để sản xuất chương trình

Theo Tổng cục thống kê, hiện ở nước ta có hơn 3.000 doanh nghiệp truyềnthông có khả năng thực hiện nhiều chức năng khác nhau như: từ quan hệ côngchúng, tổ chức sự kiện, quảng cáo, thiết kế website… tham gia vào các hoạt độngcủa các loại hình báo chí trong đó có sản xuất các chương trình phát trên sóngtruyền hình Việt Nam Không ít công ty truyền thông tuy mới ra đời nhưng nhờ cótiềm lực thực sự về kinh tế nên họ đã sẵn sàng đầu tư để có thể làm nên nhữngchương trình có giá trị

Công ty TNHH Bình Hạnh Đan (BHD) là một minh chứng Khởi đầu, với

10 nhân viên tại văn phòng ở Hà Nội, tới nay, công ty đã xây dựng được thêmnhiều trụ sở, trang thiết bị và studio tiện nghi phục vụ sản xuất các chương trìnhtrò chơi (gameshow) và phim truyền hình cho hai thành phố lớn nhất của ViệtNam là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Hiện nay, BHD có gần 100 nhân viên chínhthức và hàng chục cộng tác viên làm việc thường xuyên cho nhiều bộ phận khácnhau Hiện, đối tác của BHD rất đa dạng, với nhiều đài TH từ trung ương đến địaphương Từ năm 2008 đến nay, BHD phối hợp với Đài THVN sản xuất mỗi năm

52 chương trình “Hãy chọn giá đúng” (VTV3) Công ty đã đầu tư hàng tỷ đồng

bao gồm chi phí bản quyền và format, quảng cáo, làm băng rôn, khẩu hiệu, quàtặng cho khán giả; bảo dưỡng, vận chuyển, lắp đặt sân khấu và thuê kho để bảoquản đạo cụ; phí dịch vụ trao đổi quảng cáo trọn gói, chi trả lương cho ekip lênđến hàng chục người

- Lợi ích về kinh tế

Trang 4

Bản chất của hoạt động XHH là sự hợp tác giữa đài TH và các đối tác bênngoài đài trong quá trình cùng sản xuất sản phẩm truyền hình Nhưng sự liên kết đókhông phải ngẫu nhiên mà bao giờ cũng gắn chặt với lợi ích của cả hai bên

Các đơn vị đối tác tham gia sản xuất chương trình TH với hai mục đíchchính: quảng bá thương hiệu nâng cao uy tín của mình trong xã hội và tìm kiếm cáclợi ích về kinh tế từ nguồn thu quảng cáo, từ lệ phí truyền hình trả tiền hay dịch vụgiá trị gia tăng trên truyền hình Trong đó, nguồn thu từ quảng cáo là lớn nhất

Những năm gần đây, tổng doanh thu quảng cáo của các đài TH trên cả nước

ta luôn ở mức cao Đặc biệt, năm 2009, mặc dù bị ảnh hưởng của khủng hoảngkinh tế nhưng doanh thu từ hoạt động quảng cáo của TVAd (Trung tâm quảng cáo

và dịch vụ truyền hình Đài THVN) vẫn đạt mức xấp xỉ 1.900 tỉ đồng Năm 2010,con số đó là hơn 2.000 tỷ đồng Mặc dù, một số đài TH vẫn được bao cấp nhưngdoanh thu từ các hoạt động quảng cáo và dịch vụ trên truyền hình đã giúp chonhiều kênh truyền hình có thể tự chủ đến 70% kinh phí hoạt động Đây là nhữngmiếng mồi béo bở không một công ty truyền thông nào bỏ qua

Cùng với nguồn lợi thu từ quảng cáo, sự phát triển đa dạng của các kênhtruyền hình trả tiền (Pay TV) cũng là một hình thức thu lợi nhuận cao cho truyềnhình bằng phí truyền hình của người xem Càng nhiều thuê bao, lợi nhuận cànglớn Lợi nhuận này không chỉ đài TH mà các đối tác đều nhận thấy Chính vì vậy

mà việc nhiều công ty, tổ chức cùng muốn “hưởng” lợi và như vậy đồng nghĩa vớiviệc họ “bắt tay” với nhà đài sản xuất chương trình là điều dễ hiểu

Ngoài lợi ích về nguồn thu từ quảng cáo, từ dịch vụ truyền hình trả tiền,dịch vụ giá trị gia tăng trên truyền hình cũng là một nguồn thu không nhỏ Loạihình dịch vụ này ngoài việc cho phép gia tăng mối liên hệ giữa khán giả với khángiả, khán giả với người làm truyền hình, còn giúp các đài và đơn vị đối tác có thểthu lợi từ các nguồn rao bán sản phẩm (thời trang, mỹ phẩm, dược phẩm, nhàđất ), chia phần trăm “hoa hồng” từ phí tin nhắn điện thoại của các đơn vị viễnthông hoặc đơn vị kinh doanh dịch vụ internet Khi XHH SXCTTH phát triển thìdịch vụ giá trị gia tăng vừa là một nhu cầu, vừa là một phương thức quan trọng đểkinh doanh của đơn vị phối hợp thực hiện chương trình

Trang 5

II HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH Ở ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

1 Sơ lược sự ra đời và phát triển hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Đài truyền hình Việt Nam

- Giai đoạn mới thành lập - những năm 70 (thế kỷ XX):

+ Hoạt động hợp tác sản xuất chương trình manh nha từ những ngày đầutruyền hình ra đời Bên cạnh những chương trình do phóng viên của đài sản xuất,năm 1971, khi truyền hình Việt Nam còn đang phát sóng những chương trình thửnghiệm, Cục công tác Chính trị - Bộ Công an thấy đây là một phương tiện thôngtin đại chúng hiện đại, mang tính quần chúng rộng rãi, đã cử cán bộ sang đàinghiên cứu, thực tập, phối hợp với Đài làm chương trình phát sóng Đây là mộtnhững dấu mốc đầu tiên đánh dấu hoạt động mở rộng sản xuất chương trình TH ởViệt Nam

+ Năm 1978 - sau gần 8 năm ra đời và phát triển, truyền hình cũng mới chỉsản xuất và phát sóng được 120 phút/ngày Để có đa dạng chương trình phục vụcông chúng, Đài THVN đã liên hệ với hãng Wisnews ở Hồng Kông mua băng thời

sự quốc tế của hãng này, đây là cơ hội giúp cho chương trình TH của Đài phongphú về thông tin, có sự hấp dẫn hơn về mặt thể hiện Đây là bước phát triển quantrọng trong việc trao đổi, mua các sản phẩm của nước ngoài về phát trên sóngtruyền hình Việt Nam phục vụ khán giả

+ Cùng với việc mua sản phẩm là những chương trình hoàn thiện, để cónhiều chương trình phong phú hấp dẫn phục vụ khán giả, năm 1978, được sự đồng

ý của các cơ quan quản lý, đài đã phối hợp với một số cơ quan và cá nhân bênngoài có điều kiện về máy móc cùng hợp tác sản xuất một số chương trình TH.Những đề tài được sản xuất theo cách thức này chủ yếu là về lĩnh vực dân số và kếhoạch hóa gia đình, chương trình văn nghệ, khoa giáo

+ Sau này, để có thêm nhiều chương trình phục vụ khán giả, đài đã phốihợp với các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội Ví dụ: Chuyên mục

“Phụ nữ” phát sóng trên VTV được sản xuất với sự tham gia của Hội liên hiệp

Trang 6

Phụ nữ Việt Nam; “Lao động và Công đoàn” (VTV) hợp tác với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; truyền hình “Quân đội nhân dân” của ngành Quân đội

- Những năm 90 thế kỷ XX:

Thời gian này, một hình thức XHH nữa đã xuất hiện đó là một số đơn vịtham gia tài trợ tài chính để đài sản xuất chương trình

- Đến nay, những năm đầu tiên của thế kỷ XXI: hoạt động XHH sản xuất

chương trình ở Đài THVN ngày càng phát triển với nhiều hình thức đa dạng

Nếu năm 2006, tỷ lệ đơn vị tham gia XHH SXCTTH trên VTV1 là 1 đơn

vị, VTV3 là 2 đơn vị thì năm 2007 đã lần lượt tăng lên 5 và 7 đơn vị, năm 2008 là

9 và 11 đơn vị, năm 2009 là 14 và 23 đơn vị [38]

Ngoài hai kênh VTV1 và VTV3, từ năm 2009 trên sóng truyền hình quảng

bá Đài THVN, số lượng đơn vị tham gia hợp tác với các kênh truyền hình kháccũng bắt đầu xuất hiện Đến năm 2011, ở khu vực truyền hình quảng bá, đàiTHVN đã có gần 60 đơn vị là các doanh nghiệp truyền thông tham gia phối hợpthường xuyên với đài THVN cùng sản xuất chương trình

Cùng với tăng đối tác, số lượng các chương trình TH XHH cũng tăng hàngnăm Năm 2008, trên kênh quảng bá, có 49 đầu mục chương trình được thực hiệntheo hình thức XHH, năm 2009, là 52 chương trình và năm 2010 có 62 đầu mụcchương trình [38] Trong đó, qua khảo sát thấy rằng thời lượng chương trìnhXHH trên kênh quảng bá hàng năm chiếm trung bình khoảng 20% tổng thờilượng chương trình phát sóng

Cùng với khu vực truyền hình quảng bá, hoạt động XHH sản xuất chươngtrình ở khu vực truyền hình trả tiền ở Đài THVN cũng phát triển mạnh mẽ trên haimạng: VCTV và SCTV

Kênh truyền hình InfoTV kênh thông tin tài chính kinh tế ra đời 2007 đánh dấu sự xuất hiện hoạt động XHH đầu tiên khu vực truyền hình trả tiền ở ViệtNam Đến nay, sau hơn 5 năm phát triển hoạt động XHH trên hệ thống truyền hìnhtrả tiền đã có 15 kênh chuyên biệt Trong đó, có 1 kênh VCTV11 là toàn bộ cácchương trình ở đó do đối tác bên ngoài sản xuất (XHH cả kênh), 11 kênh XHHmột phần, 3 kênh đài tự sản xuất hoàn toàn

Trang 7

-Cùng với cáp VCTV, Đài THVN còn có một hệ thống cáp nữa với tên gọi

là SCTV, đây là kết quả liên doanh giữa đài THVN và Công ty TNHH Truyềnhình Saigontourist (SCTV Co., Ltd) Đến năm 2011, hệ thống cáp SCTV phátsóng 70 kênh analog, trong đó có 52 kênh khai thác, 18 kênh sản xuất nội địa.Trong 18 kênh này có 7 kênh được sản xuất theo hình thức XHH sản xuất chươngtrình cho cả kênh, 11 kênh chương trình được sản xuất theo hình thức XHH một phần

Tóm lại, hiện nay trên hệ thống quảng bá và hệ thống trả tiền (VTV, VCTV

và SCTV) Đài THVN có tổng số 143 kênh, trong đó sản xuất nội địa (Việt Namsản xuất) là 44 kênh, còn lại 99 kênh là khai thác

2 Hiệu quả của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Đài truyền hình Việt Nam

- Hiệu quả về mặt thông tin

Thực tế khảo sát cho thấy: nhờ có sự phối hợp trong sản xuất, số lượngchương trình của các đài tăng lên rõ rệt Nếu như thời gian đầu mới thành lập, Đàichỉ có một kênh với một, hai giờ phát sóng/ngày thì nay, đài TH không chỉ tăng sốlượng kênh sóng mà mỗi kênh thời lượng chương trình phổ biến lên tới18h/ngày,

có kênh là 24 giờ/24 giờ ngày

Năm 2001, VTV chỉ có 4 kênh (VTV1, VTV2, VTV3, VTV4) với tổng thờilượng 42,4 giờ/ngày thì đến năm 2009 (tăng thêm 2 kênh VTV5 và VTV6) thờilượng tăng gấp 3 lần lên 121 giờ/ngày và 2010 là 127,5 giờ/ngày, tương đương46.000 giờ/năm/6 kênh

Biểu đồ 3.1 Thời lượng phát sóng trên kênh quảng bá của VTV từ 2001 đến 2010

Trang 8

42,4h/ngày (15.475h/năm)

121h/ngày (44.165h/năm)

127h/ngày (46.000h/năm)

Năm 2001 Năm 2009 Năm 2010

(Nguồn: Tổng hợp các báo cáo của đài THVN từ 2001 - 2010)

Cùng với các kênh quảng bá, các kênh truyền hình trả tiền của VTV cũngphát triển rầm rộ, thời lượng phát sóng hàng năm tăng rõ rệt Năm 2001, tổng thờilượng phát sóng (mới và phát lại) toàn đài (cả quảng bá và trả tiền) là 291.144 giờthì đến năm 2008 tăng gấp 3 lần là 764.000 giờ; năm 2010 nâng lên là 849.059 giờ[33]

Để có thời lượng phát sóng tăng vượt bậc như vậy, ngoài sự nỗ lực sản xuấtcủa phóng viên biên tập của đài phải kể tới sự đóng góp không nhỏ của các đối tácbên ngoài thông qua hoạt động XHH với khoảng gần 20% tổng thời lượng phát sóngmới của cả Đài (Riêng năm 2009, trên kênh quảng bá của Đài THVN đã có gần4.000 giờ sản xuất mới XHH/17.000 giờ sản xuất mới/năm

Cùng với tăng về thời lượng qua hoạt động XHH, dạng chương trình, kênhchương trình chuyên sâu cũng ngày càng đa dạng tạo, thông tin đa chiều tạo nên

sự phong phú cho các chương trình của Đài

Trước kia, trên truyền hình chủ yếu chỉ có các chương trình tin tức, thời sự,chuyên đề cùng một số chương trình giải trí truyền thống như phim, ca nhạc thìhiện nay, qua hình thức XHH, nhiều dạng chương trình mới đã phát triển và ngàycàng có vị trí trong lòng khán giả như trò chơi truyền hình (gameshow), gặp gỡgiao lưu truyền hình (talkshow), phim ngắn, hài (sitcom)

Trang 9

Bên cạnh lượng thông tin đa dạng, hoạt động XHH đã giúp cho truyền hìnhphân khúc khán giả dễ dàng hơn với nhiều chương trình chuyên biệt Sự chuyênbiệt về đối tượng, về lĩnh vực, lứa tuổi tạo điều kiện cho công chúng có nhiều cơhội lựa chọn những chương trình thích hợp hơn với nhu cầu sở thích của mình Vídụ: chuyên về âm nhạc có YanTV(SCTV2), SaoTV(SCTV3), chuyên về mua sắmcó: Home Shopping Network (SCTV10), TVShopping (VCTV11), chuyên kinh tế,tài chính có: InfoTV (VCTV9), Invest TV (VCTV15)

- Hiệu quả về mặt xã hội của hoạt động XHH

XHH không chỉ đem lại thành công về chất lượng tuyên truyền, lợi ích kinh

tế cho đài TH và đối tác mà hiệu quả đáng ghi nhận hơn cả đó là các chương trình

đã góp phần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và cao hơn nữa là hình thànhnhững hành vi tích cực của các đối tác, các thành viên trong xã hội dành chonhững người có hoàn cảnh khó khăn Mỗi năm, hàng nghìn tỷ đồng đã được trích

từ nguồn quỹ tài trợ và nguồn thu quảng cáo thu được từ nhiều đài để hỗ trợ cho

những người bệnh tật, có ý thức vươn lên trong cuộc sống Chương trình “Lục lạc vàng” (VTV1) - phối hợp giữa VTV và công ty CP truyền thông Lasta trong sản

xuất là một trong rất nhiều ví dụ điển hình Theo thống kê, 6 tháng đầu năm 2010

đã hỗ trợ cho 24 hộ gia đình khó khăn 48 con bò sinh sản, với tổng giá trị gần 1tỷđồng

- Hiệu quả về mặt kinh tế

Bên cạnh hiệu quả to lớn về mặt thông tin và xã hội do hoạt động XHHSXCTTH đem lại cho Đài truyền hình Việt Nam như đã phân tích ở trên Mộthiệu quả không kém phần qua trọng được tạo nên từ việc phối hợp – hợp tác trongsản xuất chương trình giữa Đài truyền hình Việt Nam và đối tác đem lại đó là hiệuquả kinh tế Đây là phần trọng tâm của tiểu luận nên chúng tôi tác riêng thành mộtmục để tiện phân tích sâu (mục III)

III KHẢO SÁT HIỆU QUẢ VỀ MẶT KINH TẾ CỦA HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH Ở ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

Trang 10

1 Hiệu quả tích cực

Từ năm 2008 đến nay, có hàng chục cơ quan, ban ngành tổ chức Nhà nướccùng hơn 100 doanh nghiệp truyền thông tư nhân với hàng nghìn thành viên củacác đối tác và cả những cá nhân đã tham gia vào các hoạt động sản xuất chươngtrình TH Sản phẩm của họ hiện có mặt trên hơn 100 kênh truyền hình quảng bá vàtrả tiền ở Việt Nam

Nghị định số 54/2010 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Điện

ảnh số 31/2009/QH12 đã nêu rõ tại điều 17: “Tỷ lệ thời lượng phát sóng phim truyện Việt Nam của mỗi Đài TH đạt ít nhất là 30% so với tổng thời lượng phát sóng phim”[14] Qui định mới này là cơ hội để khán giả được tiếp cận nhiều hơn

với phim Việt Nam Với nghị định này, mỗi năm trung bình ở 67 Đài PTTH ở ViệtNam với gần 100 kênh truyền hình quảng bá (nếu chỉ phát 30% tổng thời lượng làphim Việt và phát mới lần một) cần có trung bình gần 30.000 tập phim để phục vụkhán giả cả nước Đây là cơ hội giải trí lớn cho khán giả

Tuy nhiên, điều này không đơn giản đối với nhà sản xuất là các hãng phimNhà nước, bởi khả năng sản xuất của đài có hạn, (không phải đài TH nào cũng cóthể sản xuất phim, nhất là các đài TH địa phương) Vì vậy, việc tham gia sản xuấtchương trình TH nói chung, phim truyền hình nói riêng để phát sóng của các cánhân, tổ chức ngoài đài trong thời gian qua đóng vai trò quan trọng, góp phầngiảm tải gánh nặng cho đài về nhiều mặt

Bên cạnh hai đơn vị sản xuất phim hàng đầu ở Việt Nam là VFC (Trungtâm sản xuất phim truyền hình - Đài THVN) và TFS (Hãng phim truyền hình TP

Hồ Chí Minh), hoạt động XHH sản xuất chương trình TH đã giúp khán giả biết tớitên tuổi của nhiều hãng phim, công ty tư nhân có đóng góp trong việc làm phongphú thêm số lượng cũng như chất lượng chương trình phát trên truyền hình hiệnnay Từ năm 2008 đến hết năm 2010, qua hoạt động XHH, riêng kênh VTV1 và

Trang 11

VTV3 đã mang đến cho khán giả 23 bộ phim truyền hình Việt Nam với 899 tậpvới hơn 40.000 giờ phim [38].

Doanh thu quảng cáo từ phim Việt đem lại không thua kém phim nướcngoài, từ khoảng 400 triệu đồng/tập trên kênh VTV1 đến hơn 1 tỉ đồng trênVTV3 Năm 2010, khoảng 70% doanh thu quảng cáo của Đài THVN thu được là

do phim truyền hình mang lại, trong đó phim truyền hình Việt chiếm khoảng 45%doanh thu đó

Bảng 3.1 Một số bộ phim có doanh thu bình quân vượt trội trên VTV

(Nguồn: Ban Thư kí Biên tập Đài THVN, năm 2010)

Với khoản thu lớn như vậy từ phim truyền hình của một số đài, phim Việt

đã khẳng định được khả năng tự bù đắp chi phí sản xuất và có điều kiện hỗ trợ sảnxuất các mảng khác của truyền hình

Bên cạnh nguồn thu từ quảng cáo phát trong phim thì nguồn thu từ cácdạng chương trình khác được thực hiện theo hình thức XHH như trò chơi, gặp gỡ,

Trang 12

chuyên mục cũng rất lớn Những năm gần đây, doanh thu quảng cáo của đàiTHVN trung bình ở mức trên 1.000 tỷ đồng

Ở Đài THVN doanh thu từ quảng cáo nói chung và các chương trình giảitrí, phim nói riêng tăng đều hàng năm Năm 2008, doanh thu của Đài là 1.560 tỷ(trong đó doanh thu quảng cáo là 1.202 tỷ) Năm 2009, mặc dù bị ảnh hưởng củakhủng hoảng kinh tế nhưng doanh thu của Đài vẫn tăng lên 2.150 tỷ (hoạt độngquảng cáo thu 1.780 tỉ đồng) Năm 2010, là 3.164 tỷ đồng trong đó doanh thu từquảng cáo là 2.400 tỷ [38]

Hiện nay, Đài THVN đã chuyển hẳn sang hình thức tự hạch toán, tự quyếtđịnh việc thu chi của đơn vị mình, doanh thu từ các hoạt động quảng cáo và dịch

vụ trên truyền hình cũng đã giúp cho nhiều đài có thêm nguồn kinh phí để hoạtđộng Một số con số về các nguồn thu kể trên đã phần nào khẳng định hiệu quảcủa hoạt động XHH đem lại về mặt kinh tế

Cùng với việc tăng thời lượng chương trình phát sóng, chất lượng các chươngtrình TH nói chung, chương trình XHH nói riêng cũng dần được khẳng định

Để có chương trình chất lượng phát sóng vào những khung giờ tốt đồngnghĩa việc thu lợi nhuận từ quảng cáo điều này đã thúc đẩy sự cố gắng trong quátrình sản xuất của các đối tác Các đối tác đã không ngừng đổi mới về nội dung,cách thức thể hiện Nhiều sản phẩm của hoạt động XHH đã được các đài TH đánhgiá tốt và ghi nhận sự đóng góp của đối tác Trong Báo cáo tổng kết hoạt động

năm 2010, Đài THVN đã tổng kết: “Các chương trình văn nghệ, thể thao, giải trí trong năm 2010 có nhiều nét nổi bật, vừa đáp ứng tốt nhu cầu giải trí của người xem vừa đóng góp quan trọng cho nguồn thu của Đài Các chương trình trò chơi truyền hình có nhiều cố gắng cải tiến chất lượng góp phần giữ vững thương hiệu VTV3” [33] Ngoài các chương trình theo hình thức XHH từ nhiều năm trước vẫn duy trì được tỷ lệ người xem cao như: “Ai là triệu phú”, “Đồ rê mí”, “Hãy chọn giá đúng”, “Chiếc nón kỳ diệu” thì một số chương trình TH thực tế mới như:

“Bước nhảy hoàn vũ”, “Người mẫu Việt Nam” (cũng là những chương trình XHH) đã được Đài THVN đánh giá đây là những chương trình: “vừa góp phần

Trang 13

làm phong phú kênh sóng, vừa tạo được nét riêng biệt, đem lại nguồn thu đáng kể cho Đài” [33].

2 Ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động kinh tế tác động vào sự phát triển hoạt động của Đài THVN

Không thể phủ nhận, thời gian qua, quảng cáo đã đem lại nguồn thu lớn cho cácPTTTĐC, trong đó doanh thu quảng cáo của ngành truyền hình luôn vượt trội

Biểu đồ 3.2: Doanh thu quảng cáo trên TH và báo in ở Việt Nam

(Nguồn TNS Media VietNam - TV & Kantar Media)

Trong ngành truyền hình thì những đài TH ở những địa bàn có điều kiệnkinh tế, dân trí phát triển luôn có nguồn doanh thu lớn hơn so với các đài TH ở cáckhu vực khác

Biểu đồ 3.3: Doanh thu quảng cáo trên các kênh truyền hình

ở Việt Nam năm 2010 (Đơn vị: triệu USD)

Trang 14

27.2 15

6.8 6.4 5.3 4.6 4.2 4.1 3.3

(Nguồn: Kantar Media & TVM media)

Riêng Đài THVN, năm 2009, có doanh thu đạt 2.150 tỷ đồng, trong đó phầnlớn là thu từ quảng cáo, chỉ có 300 tỷ đồng thu từ dịch vụ khác [33] Trong nguồnthu từ quảng cáo của các đài, thì nguồn thu từ các chương trình thực hiện theo hìnhthức XHH chiếm số lượng lớn khoảng 60 - 70% Nguồn lợi lớn này từ quảng cáoluôn tác động rất mạnh vào nhận thức cũng như hành động của các đơn vị liên quan

- cả đài TH và đối tác trong tổ chức sản xuất cũng như phát sóng chương trình

Về góc độ tổ chức sản xuất, qua khảo sát cho thấy, bên cạnh những mặt tíchcực như số liệu đã thể hiện ở trên, hoạt động XHH có một số tác động tiêu cực

Xem xét dưới tác động từ mặt kinh tế, điều này thể hiện ở việc Quảng cáo, tài trợ

đã có những chi phối nhất định tới hoạt động sản xuất chương trình.

+ Thực tế, những chương trình có nhiệm vụ chính là thông tin, tuyên truyềnđường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước (chính luận, chuyên mục)thì thường có ít hoặc thậm chí không có quảng cáo so với các chương trình giải trí.Chính điều này đã tạo một tâm lý trong việc lựa chọn dạng chương trình hợp tácsản xuất của đối tác vì vậy, thực tế đã xuất hiện sự chênh lệch lớn về tỷ lệ chươngtrình giải trí với các dạng chương trình khác Thực trạng này nếu không được nhậnthức một cách đúng đắn, quản lý một cách hợp lý có thể sẽ dễ dẫn tới sự thươngmại hóa Nghĩa là, các chương trình hợp tác sản xuất tìm mọi cách thỏa mãn nhucầu thị hiếu của công chúng miễn sao lợi nhuận kinh tế thu được nhiều nhất

Trang 15

+ Ngoài việc quảng cáo giữa các đoạn trong chương trình thì nhiều đối tác

để có thêm nguồn thu đã tiến hành quảng cáo ngay trong nội dung của chươngtrình Thực tế, qua khảo sát thấy không ít sản phẩm hàng hóa được quảng cáo lộliễu trong chương trình, nhất là trong phim truyền hình và ca nhạc Trong nội dungnhững chương trình đó thường có hình ảnh những sản phẩm, hình hiệu, địa điểmkinh doanh của các hãng quảng cáo như: trang phục, đồ uống khiến không ítkhán giả khó chịu khi xem một số chương trình TH

+ Một số phim sản xuất quá dài tập Nguyên nhân của hiện tượng này: cácđơn vị đối tác của đài sản xuất phim nhiều tập vì nhiều lý do nhưng trong đó có lý

do, khi xác định khả năng “ăn khách” của bộ phim, đồng nghĩa với việc sẽ bánthêm được quảng cáo và như vậy sẽ thu thêm được lợi nhuận từ những tập phimthêm này Chính vì vậy, nhà sản xuất đã kéo dài thêm một số tập Điều này có lúc

đã dẫn tới hiện tượng có những tập phim khiến người xem thấy quá dài dòng

+ Theo như quy định của một số đài TH: yêu cầu các đơn vị sản xuất camkết doanh thu quảng cáo trong phim Chính vì phải gánh hai vai: vừa sản xuất nộidung vừa lo quảng cáo nên không ít đối tác bị phân tâm Có đơn vị không lo nổiquảng cáo đã phải bán sản phẩm cho một công ty truyền thông trung gian Nhưvậy, lợi nhuận lẽ ra được hưởng hết giờ sẽ phải chia sẻ, điều này đồng nghĩa vớidoanh thu bị giảm Việc này ảnh hưởng đến tinh thần và đặc biệt là kinh phí đầu tưcho việc tái sản xuất của đơn vị đã làm ra sản phẩm

Tuy nhiên, điều đáng suy nghĩ là hiện tượng có quá nhiều quảng cáo, dựavào quảng cáo để hoạt động có nguy cơ dẫn đến việc suy giảm chức năng tuyên

truyền - chức năng cơ bản của báo chí là phục vụ công chúng và dẫn tới “chỉ còn rất ít “đất” cho nghề báo chuyên nghiệp” [50, tr.40] Truyền hình chuyên nghiệp

đang ngày càng bị áp lực của thương mại, kinh tế (đầu tư tài chính…) Hậu quả,công chúng được đối xử như “người tiêu dùng thuần túy” trong cuộc cạnh tranhthương mại mà họ không có sự lựa chọn tự do nào bởi sự lựa chọn của họ lànhững gì cơ quan báo chí và người quảng cáo thỏa thuận với nhau, những áp lực

về thương mại đã bó hẹp vị trí của các diễn đàn công chúng

Trang 16

3 Nguyên nhân của hạn chế

- Quan điểm và nhận thức về hoạt động XHH – đặc biệt nhận thức về mối quan hệ lợi ích thông tin – lợi ích kinh tế của các bên tham gia chưa thống nhất

+ Thứ nhất: mâu thuẫn về mục đích hợp tác

Sản phẩm vật chất của việc liên kết hợp tác sản xuất giữa đài TH và đối tác

là các chương trình và kênh chương trình TH Sản phẩm này chỉ có ý nghĩa khiđược công chúng đón nhận Vậy nên, khán giả - đối tác - đài TH là ba đối tượngliên quan mật thiết đến sản phẩm truyền hình Sản phẩm gắn với quyền lợi, lợi íchcủa mỗi bên Thực tế, lợi ích của mỗi bên luôn khác nhau - đây là những mâuthuẫn cần giải quyết hợp lý trong quá trình thực hiện XHH

Ở Việt Nam, báo chí nói chung, truyền hình nói riêng ngay khi ra đời đãxác định được chức năng nhiệm vụ cũng như trọng trách lớn lao đó là một loại

hình hoạt động chính trị xã hội Điều 1, chương 1, Luật báo chí có ghi “Báo chí nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội là diễn đàn của nhân dân”

Trong bối cảnh nhu cầu thông tin của công chúng ngày càng cao và đadạng, một mình các đài TH không đảm đương hết nhiệm vụ, việc chia sẻ côngviệc, trách nhiệm cho xã hội của xã hội là rất cần thiết Tuy nhiên, hiện nay, cácđối tác tham gia hoạt động XHH chủ yếu lại là các doanh nghiệp tư nhân Với cácdoanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của họ làkinh doanh Mà, theo luật doanh nghiệp, kinh doanh: là việc thực hiện liên tụcmột, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêuthụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Đốivới doanh nghiệp thì lợi ích kinh tế là mục đích cơ bản nhất

Hiện nay, ở Việt Nam, một số đài TH đã thực hiện tự thu chi, tự chủ về tàichính và được giao là đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có quản lý một số doanhnghiệp Mục tiêu đầu tiên của những đơn vị truyền thông này vẫn là nhiệm vụ tư

Trang 17

tưởng, chính trị và sau đó mới là những nhiệm vụ khác Chính vì mục đích khácnhau cơ bản đó trong sự phát triển của mỗi đơn vị truyền hình hay doanh nghiệpnhư vậy nên đã dẫn tới một số mâu thuẫn trong quá trình hợp tác của các đơn vị.Không ít đối tác tham gia XHH sản xuất chương trình đặt lợi nhuận làm mụcđích hàng đầu, vì vậy mà quan tâm nhiều hơn đến lợi ích riêng là lợi nhuận - bằngmọi cách thu được nguồn thu lớn vậy nên chất lượng không ít chương trình chưanhư mong muốn Có những chương trình hay bộ phim phải dừng lại giữa chừng,

không sản xuất nữa hoặc không được phát sóng “Những người độc thân vui vẻ”

và “Anh chàng vượt thời gian” phát sóng trên kênh VTV3 hay một số chương

trình trên kênh bán hàng qua truyền hình trong thời gian vừa qua là những ví dụ

Kinh phí bỏ ra sản xuất chương trình lớn nên các đối tác luôn phải tính cách

có lãi Mặc dù một sản phẩm làm ra được đài tính toán trả chi phí cho việc sảnxuất (chủ yếu bằng quảng cáo) Nhưng thực tế kinh phí đài trả đôi lúc thấp nên để

có lãi nhiều đối tác đã phải tính toán mọi cách Ví dụ, đối với việc sản xuất phimtruyền hình Để duy trì việc hợp tác, trong sản xuất đối tác đã chi phí bớt đi có thểthời gian quay một tập phim sẽ nhanh hơn để bớt chi phí cho việc kéo dài ngày sảnxuất và chi phí phát sinh Hoặc cách khác, kéo dài số tập phim so với nội dungnhằm duy trì quảng cáo Khi điều này xuất hiện, chất lượng nội dung chương trìnhnhiều lúc khó đạt yêu cầu Và hệ quả, xuất hiện mâu thuẫn với khán giả bởi khángiả luôn muốn được xem nhiều những chương trình chất lượng nhưng kết quả nhiềulúc không như ý muốn

Một số chương trình quảng cáo nhiều và lộ liễu khiến người xem khó chịu

Để sản xuất một chương trình TH rất tốn kém, nếu như chương trình đó khôngđược phát thì đồng nghĩa với việc đơn vị sản xuất sẽ bị lỗ vốn Vậy nên, một thực

tế qua khảo sát thấy rằng một số đơn vị, một số bộ phận kiểm duyệt cũng “đã chiasẻ” với đối tác nhằm giữ chân đối tác hợp tác lâu dài mặc dù chương trình mới chỉđúng về định hướng nhưng chưa thật sự hấp dẫn Điều này dẫn tới hiện tượng chấtlượng của chương trình chưa thật đảm bảo

- Thứ hai: nhận thức chưa hết về bản chất, khó khăn, thách thức của hoạt

động XHH

Ngày đăng: 16/09/2018, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin Toffler (2002), Thăng trầm quyền lực, Tập 2, Nxb Thanh niên, Hà Nội 2. Trâm Anh (2007), Xã hội hoá các chương trình truyền hình: cạnh tranh hay hợptác?, Thanhnien online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng trầm quyền lực", Tập 2, Nxb Thanh niên, Hà Nội 2. Trâm Anh (2007), "Xã hội hoá các chương trình truyền hình: cạnh tranh hay hợp "tác
Tác giả: Alvin Toffler (2002), Thăng trầm quyền lực, Tập 2, Nxb Thanh niên, Hà Nội 2. Trâm Anh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2007
4. Bộ Thông tin và Truyền thông (2009), Thông tư quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2009
5. Bộ Thông tin và Truyền thông (2011), Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấp giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2011
6. Bộ Văn hóa - Thông tin (1998), Các quy định pháp lý về báo chí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy định pháp lý về báo chí
Tác giả: Bộ Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
7. Bilton T., Bonnett K., Jones P., Stanworth M. (1993), Nhập môn xã hội học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học
Tác giả: Bilton T., Bonnett K., Jones P., Stanworth M
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
11. Chính phủ (1995), Quy hoạch phát triển ngành truyền hình Việt Nam đến năm 2000 và những năm sau, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển ngành truyền hình Việt Nam đến năm 2000 và những năm sau
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1995
12. Chính phủ (1999), Về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1999
13. Chính phủ (2002), Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
14. Chính phủ (2007), Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật điện ảnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật điện ảnh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15. Chính phủ (2008), Báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về công tác xã hội hóa chăm sóc sức khỏe nhân dân
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2008
16. Chính phủ (2010) Quy hoạch phát triển Đài TH Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển Đài TH Việt Nam đến năm 2010
17. Chính phủ (2011), Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
18. Vũ Chung (2004), Xã hội hoá truyền hình - xu thế tất yếu, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá truyền hình - xu thế tất yếu
Tác giả: Vũ Chung
Năm: 2004
19. Lê Văn Duy (1998), Xã hội hóa điện ảnh - thực trạng và giải pháp, Văn hóa nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa điện ảnh - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Lê Văn Duy
Năm: 1998
20. Đinh Xuân Dũng (2000), Xã hội hoá hoạt động văn hoá - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hoá hoạt động văn hoá - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
21. Nguyễn Văn Dững (1998), Phạm vi bao quát và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước thi hành Luật Báo chí, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm vi bao quát và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước thi hành Luật Báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Năm: 1998
22. Ngô Thành Dương (2006), Bàn về khái niệm xã hội hóa, Tạp chí Cộng sản, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khái niệm xã hội hóa
Tác giả: Ngô Thành Dương
Năm: 2006
23. Đài PTTH Đà Nẵng (2009), Báo cáo tình hình liên kết sản xuất các chương trình Phát thanh - Truyền hình, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình liên kết sản xuất các chương trình Phát thanh - Truyền hình
Tác giả: Đài PTTH Đà Nẵng
Năm: 2009
24. Đài PTTH Đà Nẵng (2009), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011
Tác giả: Đài PTTH Đà Nẵng
Năm: 2009
31. Đài TH Việt Nam (2010), Sống với nghề truyền hình, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống với nghề truyền hình
Tác giả: Đài TH Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w