1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm của các công ty truyền thông Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng Đài

118 1,3K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, người viết chọn đề tài: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm 2008 đến năm 201

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*******

TRẦN THỊ HỒNG VÂN

XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH

TRUYỀN HÌNH QUA SẢN PHẨM CỦA CÁC

CÔNG TY TRUYỀN THÔNG: CÁT TIÊN SA, LASTA, HOA HỒNG VÀNG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010

TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Mã số: 60 32 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: BÁO CHÍ HỌC

TP.HCM, 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

*******

TRẦN THỊ HỒNG VÂN

XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH

TRUYỀN HÌNH QUA SẢN PHẨM CỦA CÁC

CÔNG TY TRUYỀN THÔNG: CÁT TIÊN SA, LASTA, HOA HỒNG VÀNG TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010

TRÊN SÓNG ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học

Mã số: 60 32 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS DƯƠNG XUÂN SƠN

TP.HCM, 2011

Trang 3

DANH MỤC VIẾT TẮT

TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh

HTV: Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh

Cát Tiên Sa: Công ty TNHH Đầu tư và Quảng cáo Cát Tiên Sa Lasta: Công ty cổ phần L.A.S.T.A

Hoa hồng vàng: Công ty TNHH Truyền thông Hoa Hồng Vàng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÃ HỘI HÓA VÀ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH THỜI KÌ HỘI NHẬP 12 1.1 Vấn đề xã hội hóa và xã hội hóa truyền hình 12

1.1.1 Xã hội hóa là gì 12

1.1.2 Sự phát triển của xu hướng xã hội hóa ở TP.HCM 13

1.2 Báo chí TP.HCM trong thời kỳ hội nhập 15

1.2.1 Sự tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động báo chí 15

1.2.2 TP.HCM có những điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động báo chí 19

1.2.3 Truyền hình trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân TP.HCM 20

1.3 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình là một xu hướng tất yếu 22

1.3.1 Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình đáp ứng yêu cầu phát triển của truyền hình 22

1.3.2 Các yếu tố tác động đến xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 25

1.3.3 Đối tượng tham gia vào xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 30

Trang 5

Tiểu kết chương 1 34

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH

TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC CÔNG TY TRUYỀN THÔNG TẠI TP.HCM (TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2010) 36

2.1 Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trên sóng của HTV 36

2.1.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của HTV 36 2.1.2 Sự tham gia của các công ty truyền thông 38 2.1.3 Phương thức phối hợp giữa HTV và công ty truyền thông 42

2.2 Ưu thế của các chương trình truyền hình của Cát Tiên Sa,

Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm 2008 đến năm 2010 47

2.2.1 Cát Tiên Sa-công ty truyền thông hàng đầu của các chương trình truyền hình giài trí 47

2.2.2 Lasta-nhà sản xuất truyền hình chuyên nghiệp 54 2.2.3 Hoa Hồng Vàng-công ty truyền thông mới trong lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình 62

2.3 Hạn chế trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 65

2.3.1 Chất lượng không đồng đều 65 2.3.2 Nhân lực làm truyền hình còn nhiều hạn chế 68 2.3.3 Lợi nhuận kinh doanh chi phối chất lượng chương trình 70

Tiểu kết chương 2 72

Trang 6

CHƯƠNG 3:

KINH NGHIỆM, GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH XÃ HỘI HÓA SẢN

XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 74

3.1 Một số kinh nghiệm rút ra trong xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 74

3.1.1 Về nội dung 74

3.1.2 Về tổ chức sản xuất 78

3.1.3 Về quản lý 79

3.2 Các giải pháp và khuyến nghị để nâng cao chất lượng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 81

3.2.1 HTV phải giữ vai trò quyết định trong hoạt động liên kết sản xuất chương trình 82

3.2.2 Nâng cao năng lực sản xuất chương trình của các công ty truyền thông 86

3.3 Mô hình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 90

3.3.1 Mô hình về phương thức phối hợp giữa đài truyền hình và công ty truyền thông 91

3.3.2 Mô hình tổ chức sản xuất chương trình truyền hìn ở công ty truyền thông 93

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong xã hội hiện đại, truyền hình là một kênh thông tin quan trọng So với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng lớn các đài truyền hình Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, hiện cả nước

có 67 đài phát thanh-truyền hình, trong đó có 3 đài phủ sóng toàn quốc là Đài Tiếng nói Việt Nam-VOV, Đài Truyền hình Việt Nam-VTV và Đài Truyền hình kỹ thuật số VTC 64 đài phát thanh truyền hình địa phương gồm 62 đài phát thanh truyền hình của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, riêng TP.HCM có 2 đài: Đài Truyền hình TP.HCM- HTV và Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM-VOH Số lượng các kênh truyền hình tại Việt Nam lên tới gần

200 kênh, trong đó có gần 100 chương trình truyền hình quảng bá Bên cạnh

đó, nhiều chương trình truyền hình quốc gia và một số chương trình truyền hình quảng bá khác được phát sóng trên mạng internet đến các khu vực, các nước trên thế giới phục vụ thông tin đối ngoại

Hiện nay, trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, việc cạnh tranh thông tin giữa các đài truyền hình, kênh truyền hình cũng là một xu thế tất yếu Công chúng ngày càng có trình độ cao và luôn đòi hỏi cao về chất lượng, nội dung các chương trình truyền hình, đặc biệt là các chương trình truyền hình giải trí Bên cạnh đó, dưới sức ép của hàng trăm, hàng ngàn kênh truyền hình cũng như sự phát triển chóng mặt của các loại hình internet bắt buộc những người làm truyền hình phải luôn tìm những hướng đi mới cho sự phát triển của truyền hình

Nghị định 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích XHH đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường cho thấy Nhà nước khuyến khích các thành viên trong xã hội tham gia

Trang 8

vào các hoạt động mang lợi ích cộng đồng TP HCM với vai trò là đầu tàu kinh tế của đất nước, cũng là đơn vị đi tiên phong về XHH trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao TP HCM đã thực hiện XHH trong bối cảnh đất nước và thành phố đang trong quá trình phát triển nhanh, hội nhập với thế giới, tạo thêm những điều kiện, yếu tố tích cực cho công tác XHH triển khai nhanh, mạnh TP HCM đã thành công trong XHH sân khấu,

và trở thành điểm sáng trong XHH giáo dục, y tế Những thành công bước đầu trong các lĩnh vực trên đã cho thấy xu hướng XHH các hoạt động xã hội

là một xu hướng tất yếu của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là ở các đô thị lớn như TP.HCM Trong xu thế đó, XHH sản xuất chương trình truyền hình của HTV cũng đã thu được những kết quả đáng ghi nhận

Sự hợp tác giữa HTV và các công ty truyền thông đã góp phần mang đến diện mạo mới cho HTV, chương trình phong phú, đa dạng, phục vụ được nhiều đối tượng, nhiều mục đích trong giáo dục, giải trí, dân sinh, xã hội, nâng cao chất lượng trong thưởng thức văn hóa của công chúng Tuy là đài địa phương, trực thuộc Ủy ban nhân dân TP.HCM nhưng HTV đã có đến 41 điểm phủ sóng rộng khắp cả nước, đặc biệt ở miền Tây Nam bộ, HTV trở thành một đài truyền hình nhận được nhiều sự yêu mến của khán giả

Khái niệm XHH trong lĩnh vực truyền hình vẫn gây nhiều tranh cãi trong giới chuyên môn, các nhà khoa học nói riêng và dư luận nói chung XHH truyền hình được hiểu là XHH sản xuất chương trình truyền hình, ở nước ta phương thức và phạm vi thực hiện XHH khá đa dạng Các công ty truyền thông trong cuộc hợp tác với HTV đã thể hiện sự nhanh nhạy, năng động và khả năng làm việc hiệu quả qua các chương trình truyền hình Thế nhưng, không phải chương trình nào cũng thành công như mong đợi Phương thức XHH sản xuất chương trình truyền hình nào thực sự hiệu quả, và làm sao hoạt động này không bị thao túng bởi quyền lợi cá nhân đang là vấn đề bức

Trang 9

xúc của công luận, vướng mắc của các công ty truyền thông và là sức nặng đối với HTV trong tiến trình XHH

Tìm hiểu vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình trên sóng của HTV để hoàn thiện, nâng cao chất lượng cho các chương trình đang phát sóng

do công ty truyền thông sản xuất đang là vấn đề cấp thiết Chính vì vậy, người

viết chọn đề tài: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm

của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm

2008 đến năm 2010 trên sóng Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh” làm

luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Báo chí học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trên thế giới, các kênh truyền hình tư nhân hay các tập đoàn truyền thông đã không còn xa lạ Rất nhiều các kênh truyền hình nổi tiếng, hãng truyền hình lớn của nước ngoài đã được “tư nhân hóa” và mang tính thương mại Ở các nước Tư Bản có hẳn ngành công nghiệp truyền thông Những hãng: BBC, AP đã vươn tầm hoạt động khắp thế giới Trung Quốc cho phép thành lập tập đoàn truyền thông năm 1996 và đến năm 2008 đã có 56 tập đoàn truyền thông Thực tế hoạt động của các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền thông nước ngoài có sự khác biệt với điều kiện ở Việt Nam, do đó tính chất XHH ở các nước khác với thực tế ở Việt Nam

XHH sản xuất chương trình truyền hình qua hoạt động của các công ty truyền thông đã có từ nhiều năm trước và đến khi Việt Nam gia nhập WTO thì hoạt động này ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, mang tính hiệu quả rõ rệt

Thuật ngữ “xã hội hóa” sản xuất chương trình truyền hình cũng được bàn luận nhiều Việt Nam cũng đã có những tài liệu nghiên cứu về vấn đề này Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (ngày 05/01/2006) tại

Trang 10

Nha Trang-Khánh Hòa với nội dung: Sản xuất chương trình sẽ được xã hội

hóa như thế nào?

Trong Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 26 (ngày 11/01/2007)

đã tổ chức các buổi hội thảo với chủ đề chính là sản xuất chương trình truyền hình sẽ được XHH như thế nào thu hút được rất nhiều các đài truyền hình trong cả nước và các đơn vị, tổ chức ngoài ngành truyền hình tham gia

Hoạt động liên kết sản xuất chương trình phần nào được thể hiện qua Thông tư 19/2009/TT-BTTTT qui định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình của Bộ Thông tin Truyền thông

Đề cập đến vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình có Luận văn Thạc sĩ của học viên Học viện Báo chí-Tuyên truyền Lê Thị Thu Hòa với đề

tài “Xã hội hoá sản xuất các chương trình truyền hình của Đài Truyền hình

Việt Nam (Khảo sát kênh VTV1-VTV3 từ tháng 1-2007 đến tháng 6-2008)” và

Luận án Tiến sĩ “Xu hướng phát triển của truyền hình Việt Nam nhìn từ góc

độ kinh tế học truyền thông” (2011) của Bùi Chí Trung, Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Đề cập đến sự phát triển của truyền hình và nhu cầu thưởng thức chương trình nghe nhìn của công chúng truyền hình, qua đó phần nào lý giải vì sao các công ty truyền thông lại thành công trong lĩnh vực sản xuất chương trình ở nhóm các chương trình truyền

hình giải trí, văn hóa nghệ thuật có Luận án Tiến sĩ “Đặc điểm công chúng

truyền hình Việt Nam giai đoạn hiện nay” (2007) của Trần Bảo Khánh, Học

viện Báo chí-Tuyên truyền

Xung quanh vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình cũng có một số tài liệu nghiên cứu có đề cập tới như: xu hướng phát triển truyền hình nói chung, nghiên cứu kinh tế báo chí, nhân lực làm truyền hình cùng nhiều bài viết trên các báo, các trang mạng điện tử về vấn đề này như: “Xã hội hóa truyền hình: Đã đến lúc” trên vtv.vn, “Xã hội hóa truyền hình-Hay là bán

Trang 11

sóng” trên tuanvietnam.net, “Xã hội hóa truyền hình: Cuộc cạnh tranh của đẳng cấp” trên laodongonline.com, “Truyền hình được xã hội hóa mạnh mẽ” trên ITCnews

Như vậy, chưa có đề tài nào đi sâu, khảo sát nghiên cứu vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình với sự tham gia của các công ty truyền thông trên sóng HTV

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

-Luận văn có mục đích tìm hiểu về vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình tại HTV, khảo sát đánh giá chất lượng sản phẩm truyền hình của các công ty truyền thông Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng

3.2 Nhiệm vụ

-Làm rõ vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình với sự tham gia của các công ty truyền thông Trong đó, làm nổi bật mối quan hệ giữa HTV

và các công ty truyền thông tham gia sản xuất chương trình truyền hình

-Phân tích các chương trình do công ty truyền thông sản xuất trên HTV

từ năm 2008 đến năm 2010 Đồng thời, tiến hành khảo sát thực tế các chương trình đang phát sóng trên HTV của các công ty Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng

-Từ đó, đưa ra những giải pháp hữu dụng cho việc cải tiến và nâng cao chất lượng chương trình liên kết sản xuất trên HTV trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các công ty truyền thông tại TP.HCM đang liên kết sản xuất chương trình truyền hình với HTV

-Luận văn chú trọng khảo sát hiện trạng XHH sản xuất chương trình truyền hình của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng

từ năm 2008 đến năm 2010 trên sóng HTV

Trang 12

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài: “Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình qua sản phẩm

của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng từ năm

2008 đến năm 2010 trên sóng Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh” dựa

trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, xem xét đánh giá các chương trình truyền hình được XHH ở khâu sản xuất dựa vào hoàn cảnh thực tế của vấn đề trong các mối liên hệ khách quan

Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 12 năm 1989 đã qui định tại chương 1, điều 2 như sau: “Bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để phát huy đúng vai trò của mình” Thông tư 19/2009/TT-BTTTT qui định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình Việc nghiên cứu đề tài XHH sản xuất các chương trình truyền hình cũng phải dựa trên quan điểm của Đảng và Nhà nước trong sự phát triển sự nghiệp truyền hình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận báo chí truyền thông, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp thông tin-báo chí, các tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, báo và tạp chí có liên quan đến nội dung nghiên cứu Luận văn vận dụng những nghiên cứu thực tế các chương trình truyền hình của các công ty truyền thông trên sóng HTV

Để việc nghiên cứu đề tài có cơ sở và phương pháp luận vững chắc, luận văn còn vận dụng một số phương pháp như: phương pháp thống kê, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích, phương pháp miêu

tả, tổng hợp, so sánh Người thực hiện luận văn đã thực hiện nhiều phỏng vấn

Trang 13

sâu với các nhà báo, những giám đốc của các công ty truyền thông tư nhân, những người làm truyền hình lâu năm để thu thập thông tin, số liệu phục vụ việc phân tích, đánh giá

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn bổ sung thêm một số vấn đề lý luận báo chí về xu hướng XHH truyền hình qua hoạt động thực tiễn của các công ty truyền thông trên sóng HTV

về hoạt động XHH trên truyền hình hiện nay, đề xuất một số ý kiến, giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình của các công ty truyền thông khi tham gia sản xuất chương trình cho HTV

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương và 9 mục, 84 trang

Chương 1: Lý luận chung về xã hội hóa và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình thời kì hội nhập

Chương này giới thiệu các khái niệm về XHH và XHH sản xuất chương trình truyền hình Những điều kiện thuận lợi cho XHH sản xuất chương trình ở TP.HCM như: điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa, trình độ và thói quen tiếp nhận thông tin của người dân Chương 1 cũng chứng minh

Trang 14

XHH sản xuất chương trình truyền hình là một yêu cầu tất yếu, phù hợp với

sự phát triển của truyền hình

Chương 2: Thực trạng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của các công ty truyền thông tại TP.HCM (từ năm 2008 đến năm 2010)

Chương 2 mô tả khái quát phương thức phối hợp thực hiện giữa HTV

và công ty truyền thông trong việc XHH sản xuất chương trình truyền hình Phân tích các chương trình truyền hình phát trên HTV của các công ty truyền thông tại TP.HCM, những thành công cũng như hạn chế Từ đó, khái quát thành những điểm mạnh cũng như hạn chế của các chương trình truyền hình

do công ty truyền thông sản xuất

Chương 3: Kinh nghiệm, giải pháp và mô hình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Từ thực trạng XHH sản xuất chương trình truyền hình đã mô tả ở chương 2, chương này sẽ nêu ra một số giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình do công ty truyền thông sản xuất Các giải pháp kêu gọi sự phối hợp chặt chẽ giữa đài truyền hình và công ty truyền thông từ định hướng, xây dựng nguồn nhân lực, cải tiến nội dung và phương thức thực hiện chương trình cho đến chọn lựa giải pháp công nghệ phù hợp Chương 3 sẽ đưa ra các

mô hình XHH sản xuất chương trình truyền hình từ những kết quả đã khảo sát được

Trang 15

Theo Macionis John, J XHH là : “một khái niệm của nhân loại học và

xã hội học được định nghĩa là một quá trình tương tác xã hội kéo dài suốt đời qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình” [37,tr.154]

Khi chuyển từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường, Đảng

và Nhà nước ta thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế Nền kinh tế thị trường nước ta phát triển trên hình thức sở hữu nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế thị trường hình thành từ quá trình XHH lao động và sản xuất lấy giá trị sức lao động và hiệu quả của nó làm thước đo, nên tiến trình XHH diễn ra theo quy luật giá trị thặng dư Sự phát triển của XHH dựa trên những tiến bộ kỹ thuật Còn trình độ XHH cao hay thấp lại dựa vào cách mạng khoa học-kỹ thuật đi đôi với tiến bộ trong cải cách tổ chức và quản lý, tạo ra sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội Quá trình XHH trong kinh tế thị trường mang tính chất cạnh tranh để tồn tại và phát triển giữa các tư nhân, cá thể, giữa các doanh nghiệp, tập đoàn và đang phát triển sự cạnh tranh giữa các quốc gia Cạnh tranh trong kinh tế thị trường

có tác dụng như một động lực phát triển cho nền kinh tế Việt Nam phát triển

và tăng trưởng Cùng với quá trình này, khái niệm XHH không còn xa lạ Nó

Trang 16

được hiểu là “làm cho mang tính xã hội” hay “huy động toàn xã hội tham gia”

Ở nước ta, cụm từ XHH xuất hiện khoảng cuối thập niên 90 của thế kỉ trước và trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phố biến và thịnh hành trong xã hội hiện nay Có thể hiểu XHH là huy động nguồn lực xã hội, các tầng lớp nhân dân tham gia vào một lĩnh vực, một hoạt động nào đó mà trước kia chỉ có các đơn vị Nhà nước tham gia

XHH theo cách hiểu thuật ngữ kinh tế thị trường là tư nhân tham gia vào một số lĩnh vực thuộc Nhà nước quản lý để phát huy những tiềm năng, chất xám và khả năng của họ, tạo ra những sản phẩm có giá trị phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, phục vụ cộng đồng, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh

1.1.2 Sự phát triển của xu hướng xã hội hóa ở TP.HCM

Sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta hơn 20 năm qua đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Những thành tựu đó tạo ra xu thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế, mở ra một cục diện mới đối với sự phát triển của đất nước ta, là cơ sở quan trọng để hội nhập sâu hơn và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới

Trong điều kiện nước ta đã là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là mở cửa và hội nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc trong việc xây dựng các chiến lược, chính sách và hoạch định về vấn đề XHH một số lĩnh vực như: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế được coi là động lực cho sự phát triển của xã hội

TP.HCM là thành phố trẻ trung và hiện đại, là cửa ngỏ của đất phương Nam Từ rất sớm, nơi đây đã trở thành trung tâm thương mại sầm uất, giao

Trang 17

lưu với nước ngoài rất nhộn nhịp TP.HCM đã trở thành một trung tâm công nghiệp,văn hóa, khoa học kĩ thuật, trung tâm giao dịch quốc tế, đầu mối giao thông quan trọng, một trung tâm du lịch và là khu kinh tế trọng điểm của phía Nam và của cả nước Theo chỉ tiêu tổng hợp trên trang web của thành phố giai đoạn 2000-2006: nền kinh tế của TP.HCM đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực Nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%

Trong 5 năm qua (từ năm 2005), TP.HCM là đơn vị đi đầu trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là công tác XHH giáo dục XHH giáo dục đã khuyến khích

và tạo điều kiện cho nhiều thành phần kinh tế đầu tư nhằm đa dạng hóa các loại hình đào tạo như trường dân lập, trường tư thục, trường có yếu tố nước ngoài Nhờ đó, XHH giáo dục ở TP.HCM bước đầu đã có những thành công nhất định khi số lượng trường ngoài công lập đã gần 100 và chiếm khoảng 1/6 lượng học sinh theo học Không chỉ là học sinh ở TP.HCM mà các tỉnh lân cận, các tỉnh miền Trung đều có học sinh theo học tại các trường này Nhờ đó, TP.HCM luôn được coi là điểm sáng đi đầu trong XHH giáo dục

Sau hơn 10 năm triển khai XHH chăm sóc sức khỏe nhân dân, TP.HCM hiện được đánh giá là một trong những địa phương gặt hái thành công chủ trương này Với 28 bệnh viện và hàng ngàn cơ sở hành nghề y dược

tư nhân, hệ thống y tế ngoài công lập này đang góp phần không nhỏ bảo vệ sức khỏe người dân thành phố và các tỉnh lân cận Một số bệnh viện tạo được

uy tín như: bệnh viện Triều An, Hoàn Mỹ, bệnh viện đa khoa quốc tế Vũ Anh, bệnh viện Vạn Hạnh, bệnh viện liên doanh Pháp-Việt Về chuyên khoa

Trang 18

phải kể đến sự đóng góp của bệnh viện Phụ sản quốc tế Sài Gòn, bệnh viện Tim Tâm Đức Theo Sở Y tế TP.HCM, tính đến cuối năm 2008, toàn thành phố đã có hơn 13.000 cơ sở y dược hành nghề tư nhân với hơn 90 phòng khám đa khoa và 28 bệnh viện tư nhân với tổng cộng gần 20.000 giường bệnh nội trú

Ở địa hạt sân khấu, XHH sân khấu đã làm nên một sân khấu kịch tươi mới và hấp dẫn nhất cả nước Ở sân khấu phía Nam, những cái tên sân khấu XHH: Sân khấu 5B Võ Văn Tần, sân khấu Phú Nhuận, sân khấu IDECAP và gần đây là sân khấu Hoàng Thái Thanh, thường xuyên xuất hiện trên trang văn hóa nghệ thuật của nhiều phương tiện thông tin đại chúng bởi họ liên tục

có những vở diễn mới Chính sân khấu XHH góp phần mang lại đời sống tinh thần phong phú cho người dân, đồng thời làm nên diện mạo sân khấu đa hình,

đa sắc của TP Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung

1.2 Báo chí TP.HCM trong thời kì hội nhập

1.2.1 Sự tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động báo chí

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở giai đoạn cao Nói đến kinh tế thị trường là nói đến hàng hóa Giai cấp tư sản có ý thức rất rõ việc xây dựng, khai thác và sử dụng báo chí như một loại hàng hóa có khả năng đem lại lợi nhuận cao

Lợi nhuận từ kinh doanh báo chí chủ yếu từ bán báo và bán quảng cáo Báo càng có số lượng phát hành lớn, lợi nhuận càng cao Các doanh nghiệp cần quảng cáo sản phẩm hàng hóa và dịch vụ thường điều tra, tìm hiểu mức

độ, phạm vi ảnh hưởng của các sản phẩm báo chí và tìm tới các tờ báo có số lượng công chúng đông để hợp đồng đăng, phát quảng cáo Quảng cáo trong nhiều trường hợp đó chính là sự đầu tư mang lại hiệu quả cao Các chủ báo cũng hiểu điều mà các doanh nghiệp, các nhà sản xuất cần ở họ Chính vì vậy,

Trang 19

bất cứ chủ báo nào cũng nỗ lực tìm cách nâng số lượng phát hành càng cao càng tốt và các thành viên của tòa soạn cũng ý thức rõ về vấn đề cốt tử này

Thị trường báo chí là nơi diễn ra quá trình mua bán sản phẩm báo chí, thực hiện những hợp đồng quảng cáo hoặc những cam kết tài trợ để thông qua

đó quảng bá cho thương hiệu các sản phẩm Việc ra đời thị trường báo chí luôn có ý nghĩa lớn với mỗi nền báo chí, đánh dấu bước phát triển của báo chí

Là sản phẩm hàng hóa, báo chí chịu tác động của quy luật cạnh tranh như bất cứ loại hàng hóa nào khác Bán báo tức là bán thông tin Các loại công chúng khác nhau có nhu cầu khác nhau về thông tin Mua báo tức là mua giá trị thông tin in, phát trên tờ báo hoặc trên chương trình phát thanh, truyền hình Công chúng là khách hàng của báo chí, do vậy, họ có quyền lựa chọn cho mình loại sản phẩm báo chí mà họ cảm thấy cần thiết, bổ ích

Tầm quan trọng của thông tin thị trường có tác động tích cực hay tiêu cực tới hiệu quả của một nền kinh tế Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay, thông tin thị trường càng được nhìn nhận như một yếu tố quan trọng hàng đầu Các hoạt động thông tin kinh doanh trong thương mại là bước đi đầu tiên mà bất cứ nhà doanh nghiệp nào cũng cần phải có trước khi triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh Sự phong phú hay nghèo nàn của thông tin thị trường phụ thuộc vào mức độ sôi động hay trầm lắng của bản thân nền kinh tế

Những thành quả của công cuộc đổi mới trên đất nước ta chính là cơ hội cho báo chí phát triển ngày càng mạnh mẽ Điều đó thể hiện ở số lượng, chất lượng sản phẩm báo chí và đội ngũ cán bộ báo chí Tất cả những điều trên đã khiến cho diện mạo báo chí nước ta ngày càng phong phú và đa dạng hơn

Trang 20

Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có báo chí

Nó tạo điều kiện để báo chí phát triển, tự đổi mới để thích ứng với yêu cầu của cơ chế mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao quyền được thông tin của nhân dân và đã thực sự thu hút được nhiều người đọc, người xem hơn

Cùng với cuộc cách mạng công nghệ thông tin, sự phát triển đa dạng, sôi động của nền kinh tế thị trường không những tác động mạnh mẽ, toàn diện đến hoạt động kinh tế, đời sống xã hội mà còn tác động to lớn đến hoạt động báo chí Việc giải phóng sức sản xuất, kích thích những năng lực tiềm năng, khuyến khích khát vọng làm giàu, tạo điều kiện cho mọi nhu cầu sản xuất, kinh doanh, làm kinh tế để tạo nên nhu cầu thông tin phong phú, làm xuất hiện thị trường thông tin, đưa báo chí nước ta từng bước trở thành một bộ phận của kinh tế thị trường, thành một loại hàng hóa đặc biệt Cũng từ đó, yêu cầu cạnh tranh báo chí xuất hiện và trở thành động lực quan trọng đối với báo chí

Chủ trương xóa bao cấp về tài chính trong hoạt động báo chí, yêu cầu báo chí vừa đảm bảo vai trò vừa là một bộ phận công tác tư tưởng-văn hóa của Đảng, vừa làm kinh tế theo luật định khiến mỗi tờ báo buộc phải không ngừng đổi mới, xem đó là điều kiện để tồn tại Chính nhờ chủ động được về tài chính, nhiều tờ báo và cơ quan báo chí trong cơ chế thị trường đã có điều kiện để cải thiện đời sống phóng viên, biên tập viên và mở rộng quan hệ giao lưu trong nước và ngoài nước, từng bước hiện đại hóa cơ sở thiết bị phương tiện nghiệp vụ, đổi mới cách thức hành nghề để có thể hòa nhập với báo chí khu vực và thế giới

Nền kinh tế thị trường ở nước ta đã tạo ra một môi trường báo chí gồm nhiều lĩnh vực phong phú, đa dạng, làm cho báo chí nước ta phát triển một

Trang 21

cách vượt bậc và đầy hứa hẹn Cơ chế thị trường đã mở rộng cánh cửa kho tàng thông tin của cuộc sống làm cho thông tin như những dòng chảy từ khắp mọi ngõ ngách đổ về với báo chí, tạo điều kiện cho báo chí khai thác nguồn chất liệu dồi dào này Do tác động của sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường

đã làm cho chất lượng của báo chí nâng cao, số lượng ngày càng tăng, đa dạng về chủng loại, phong phú về hình thức, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng báo chí

Cơ chế thị trường đã tham gia lựa chọn các nhà quản lý báo chí giỏi và những nhà báo có tài Cơ chế thị trường còn tạo điều kiện cho báo chí tháo gỡ khó khăn để phát triển, đã kích thích mạnh mẽ được tính chủ động, sáng tạo của người làm báo và của cơ quan báo chí Báo chí trong cơ chế thị trường có sức hút mạnh mẽ, góp phần thỏa mãn những nhu cầu thông tin đa dạng, nhiều chiều, cấp bách trên nhiều lĩnh vực mà người tiêu dùng đòi hỏi Thêm nữa, các phương tiện thông tin đại chúng luôn phải cạnh tranh nhau để chiếm được

sự quan tâm của công chúng Trong quá trình cạnh tranh thì những nội dung thông tin hấp dẫn luôn là những tài nguyên khan hiếm với bất kì một cơ quan báo chí nào Mỗi tờ báo đều được cải tiến về nội dung và hình thức thông tin, cải tiến trong cách in ấn và trình bày, cố gắng nắm bắt nhu cầu bạn đọc, chủ động phát hành nhanh và rộng, quan tâm hơn đến hiệu quả trực tiếp của hoạt động báo chí Các tờ báo phải luôn luôn quan tâm đến độc giả, phải tính đến hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn bỏ ra, phải quản lý và tính toán chặt chẽ

có hiệu quả các chi phí sản xuất, bố trí hợp lý và mở rộng việc tiêu thụ các sản phẩm của mình

Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, nghề làm báo cũng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, báo chí cũng trở thành một loại hàng hóa nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt Nó phải trở thành món ăn tinh thần bổ ích, thiết thực của quần

Trang 22

chúng đang thực hiện công cuộc đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nếu để cho mặt tiêu cực của cơ chế thị trường lấn át, trước hết là để cho mặt trái của xu hướng thương mại chi phối, báo chí sẽ mất đi sức mạnh của mình

1.2.2 TP.HCM có những điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động báo chí

TP.HCM là đô thị lớn nhất cả nước với dân số khoảng 8 triệu người, chiếm hơn 9% dân số cả nước Là nơi hội tụ văn hóa đông tây, do ảnh hưởng của quá trình hình thành và phát triển, TP.HCM là nơi hội tụ nhiều dòng chảy văn hóa, có nền văn hóa mang dấu ấn của người Việt Nam, người Hoa, Chăm, Khơ me rồi Sài Gòn trở thành một trong những trung tâm của cả nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua các giai đoạn thăng trầm của đất nước

TP.HCM là đô thị có bề dày của hoạt động báo chí, xuất bản, là cái nôi khai sinh ra báo chí Việt Nam hiện đại Xưa nay, TP.HCM bao giờ cũng là nơi hội tụ đông đúc dân cư với quy mô đô thị lớn nhất của cả nước Cùng với các đô thị lớn Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ thì TP.HCM là một trong những đô thị nhiều tiềm năng của báo chí: đây là nơi có tốc độ phát triển hoạt động báo chí-hoạt động truyền thông xếp hàng đầu cả nước Đây là nơi báo chí luôn có sự phát triển sôi động và mạnh mẽ Theo website của Sở Thông tin Truyền thông TP.HCM, thành phố hiện có 41 đơn vị báo chí thành phố, 113 văn phòng đại diện báo chí Trung Ương và địa phương, mạng lưới thông tấn xã, đài phát thanh, đài truyền hình Tại TP.HCM đã xuất hiện những

mô hình báo chí giống như những tổ hợp truyền thông Có những trường hợp một tờ báo, tạp chí nhưng có thể xuất bản nhiều phụ trương, ấn phẩm bao gồm cả tiếng Anh như: Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Thời báo kinh tế Sài Gòn Đây cũng là nơi đặt trụ sở của các cơ quan báo chí có hoạt động mạnh mẽ, có số

Trang 23

phát hành, số công chúng lớn nhất cả nước như báo Tuổi Trẻ, báo Thanh Niên, báo Công an TPHCM và hàng loạt các hoạt động truyền thông của các công ty truyền thông với đầy đủ các lĩnh vực hoạt động trong ngành báo chí truyền thông ở nước ta

Người dân thành phố thuộc mọi thành phần xã hội, mọi giới đều hầu như có tính, có nếp quen thuộc trong đời sống thường nhật là đọc báo, xem tivi và nghe radio Nhịp sống ở đây năng động, trẻ trung, sôi nổi, luôn đòi hỏi những món ăn tinh thần mới lạ, phong phú, đa dạng Khán giả tại TP.HCM có thể xem được khá nhiều kênh truyền hình Chủ yếu là Đài Truyền hình Việt Nam-VTV, HTV, sau đó là một số đài địa phương lân cận như: Bình Dương, Long An, Bà Rịa Vũng Tàu, Tây Ninh chưa kể đến hệ thống truyền hình cáp, truyền hình kĩ thuật số với hàng trăm kênh truyền hình Hoạt động của HTV là một dẫn chứng cụ thể và sinh động nhất cho hoạt động hiệu quả của truyền thông Ở khu vực miền Tây Nam bộ, có thể nói HTV là Đài truyền

hình có tầm ảnh hưởng nhất Những chương trình như: Vượt lên chính mình,

Ngôi nhà mơ ước, Câu chuyện ước mơ, Vì ngày mai tươi sáng… tạo được sự

đồng thuận mạnh mẽ từ phía người xem HTV luôn chú trọng đến nhu cầu, thị hiếu của người xem, luôn luôn đổi mới các chương trình của mình nhằm hướng đến mọi đối tượng công chúng: vừa là doanh nghiệp, vừa là người lao động, người cao tuổi, giới trí thức Chính vì lẽ đó, HTV luôn có một lượng khán giả đông đảo đủ mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi Chịu khó đầu tư, luôn mới mẻ là điều mà công chúng ghi nhận từ hoạt động của HTV

1.2.3 Truyền hình trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân TP.HCM

Kể từ những năm cuối thập niên 30 của thế kỉ XX-thời điểm đánh dấu

sự ra đời của truyền hình ở Anh và Mỹ đến nay, vô tuyến truyền hình ngày càng phổ biến và trở thành phương tiện truyền thông mang tính quần chúng

Trang 24

rộng rãi Kỹ thuật ngày càng hiện đại truyền hình trở thành phương tiện truyền tin nhanh nhạy và hấp dẫn nhất Nếu như cách đây vài chục năm, sự phát triển tiến bộ của truyền hình được lấy mốc là thập kỉ, thì ngày nay chỉ còn được tính bằng năm, hay thậm chí bằng tháng Sự phát triển này không chỉ dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ mà còn dựa vào những thay đổi tâm lý thưởng ngoạn và việc cải tiến liên tục về mặt nội dung chương trình

Bên cạnh các chức năng cơ bản của truyền hình như: chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng tổ chức-quản lý xã hội, chức năng giám sát xã hội thì chức năng phát triển văn hóa và giải trí của truyền hình là một chức năng quan trọng và ngày càng được xem trọng, đặc biệt là ở đô thị lớn như TP.HCM Ưu thế số một của truyền hình hiện nay đó là đáp ứng được một cách cao nhất nhu cầu thông tin giải trí cho khán giả xem truyền hình Chính vì thế, truyền hình trở thành phương tiện truyền thông quan trọng nhất trong các phương tiện truyền thông hiện nay Ngoài việc cung cấp thông tin, truyền hình còn là phương tiện giải trí quan trọng đối với công chúng Thông qua các chương trình truyền hình, khán giả vừa có điều kiện giải trí, vừa có điều kiện nâng cao kiến thức của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhờ vào khoa học-kĩ thuật công nghệ ngày càng hiện đại, người dân có thể ngồi tại nhà và lựa chọn tất cả những kênh truyền hình mà họ yêu thích

Ca nhạc, phim ảnh tất cả những loại hình nghệ thuật đáp ứng nhu cầu giải trí

và nâng cao kiến thức của con người đều được đáp ứng trên truyền hình Đây

là một ưu điểm đặc biệt mà không phải loại hình báo chí nào cũng có được Chính vì vậy mà mặc dù xuất hiện sau các loại hình báo chí khác nhưng truyền hình đã nhanh chóng khẳng định được vị trí và có được một lượng khán giả đông đảo

Trang 25

Ở TP.HCM, đa số cư dân thành phố đều sử dụng truyền hình và một số phương tiện nghe nhìn phổ biến như đầu video, đầu đĩa hình, nên các phương tiện này thực sự là công cụ thông tin, truyền bá kiến thức cũng như nhu cầu giải trí của số đông dân cư Công chúng TP.HCM có mức sống tương đối cao

so với công chúng ở các đô thị khác, nên có điều kiện quan tâm đến nhu cầu giải trí, văn hóa nghe-nhìn Văn hóa nghe-nhìn là một hình thức văn hóa mới của xã hội công nghiệp hiện đại, nó hình thành và phát triển dựa trên cơ sở của tiến bộ trong các kỹ thuật truyền thanh, truyền hình, ghi âm, ghi hình và trên cơ sở xu hướng tâm lý mong muốn sử dụng thời gian rảnh rỗi một cách hiệu quả nhất cho sự nghỉ ngơi, thư giãn về tâm lý cũng như thể chất và đồng thời đem lại những lợi ích thiết thực khác Các hoạt động trong thời gian rỗi ngoài mục tiêu giải trí và nghỉ ngơi còn hướng đến mục tiêu học tập để không ngừng nâng cao sự hiểu biết, đến sự thưởng thức văn hóa-nghệ thuật Sự thay đổi cách thức sử dụng thời gian rỗi đó phản ánh những đặc điểm văn hóa mới của xã hội, nó tạo ra tập quán, thói quen mới: học thêm, đọc báo, đọc sách, chơi thể thao, nghe xem băng, nghe radio, xem truyền hình

1.3 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình là một xu hướng tất yếu

1.3.1 Xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình đáp ứng yêu cầu phát triển của truyền hình

Bất cứ tờ báo nào hoạt động hiệu quả đều phải huy động đội ngũ cộng tác viên có chất lượng, huy động sự đóng góp năng lực, chất xám ngoài xã hội

để làm cho thông tin phong phú, đa dạng hơn

Từ khoảng những năm 90 của thế kỷ XX, các đài truyền hình từ Trung ương đến địa phương đã tiến những bước dài trong mọi lĩnh vực, từ kỹ thuật, công nghệ truyền hình đến việc cải tiến nội dung chương trình, từ việc tăng thời lượng phát sóng, tăng kênh đến việc đổi mới bộ máy cơ cấu tổ chức nhân

Trang 26

sự Nếu so với báo viết thì báo hình ngày nay có những ưu thế quan trọng hơn: thông tin nhanh nhạy hơn với những hình ảnh cụ thể, tác động ngay vào

ý thức của người xem, nhiều trò chơi mang tính giải trí với những giải thưởng thiết thực, nhiều chương trình khoa học giáo dục có ích Cũng trên truyền hình, sự tham gia của cá nhân là khán giả đã trở nên phổ biến Họ có thể gửi bài trực tiếp cho các tờ báo, gọi điện phản ánh và gửi những đoạn phim tự quay về những vấn đề nóng của xã hội nơi họ sinh sống Trong lĩnh vực truyền hình, cộng tác viên chính là nguồn nhân lực quan trọng góp phần cho

sự phát triển của XHH sản xuất các chương trình truyền hình

Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng quan trọng để góp phần nâng cao dân trí, trình độ thẩm mỹ của nhân dân, cung cấp những thông tin cần thiết và bổ ích trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Tuy nhiên, do tài lực và nhân lực còn nhiều thiếu thốn nên truyền hình chưa thể phát huy hết vai trò của mình Hiện nay, với số lượng đông đảo các đài truyền hình Trung ương, đài truyền hình khu vực, đài truyền hình địa phương và hàng trăm kênh truyền hình khác đã đặt ra một vấn đề là với số lượng đông đảo các đài truyền hình như vậy, việc xây dựng chương trình phong phú, hấp dẫn luôn là một thách thức lớn đối với những người làm truyền hình Nội dung các chương trình không tránh khỏi nghèo nàn, thiếu phong phú bởi trang thiết bị kỹ thuật không đầy đủ, thiếu hiện đại, đội ngũ người làm công tác truyền hình còn thiếu và yếu về trình độ chuyên môn, việc chạy đua phát sóng với thời lượng lớn dẫn đến việc thiếu chương trình phát sóng Việc các đài tự mình sản xuất

và lấp đầy thời lượng phát sóng sẽ khiến tổng chi phí đội lên rất cao Thay vì

tự sản xuất, các đài có thể trực tiếp mua thành phẩm từ các cá nhân hay đơn vị khác Khi liên kết với các nhà sản xuất bên ngoài, các đài truyền hình sẽ cắt giảm được giá thành đầu tư, lại vừa có chương trình hay để phát Đây là một

Trang 27

ưu thế của XHH sản xuất các chương trình truyền hình mà các đài đã nhận thấy và áp dụng trong thời gian qua

XHH sản xuất chương trình truyền hình đã manh nha tại Việt Nam từ những năm 90 của thế kỉ trước đến khi Việt Nam gia nhập WTO thì hoạt động này ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và mang hiệu quả rõ rệt Cùng với Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), HTV đã đi tiên phong trong XHH sản xuất chương trình

Ở các kì Liên hoan Truyền hình toàn quốc lần thứ 25 và lần thứ 26, vấn

đề XHH sản xuất chương trình truyền hình cũng đã được bàn thảo và đi đến thống nhất cách hiểu Khái niệm XHH truyền hình đã hàm chứa trong nó cả mục tiêu xây dựng một nền truyền hình hiện đại nhờ phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội Đây cũng là con đường để việc sản xuất các chương trình truyền hình đi theo hướng chuyên môn hóa, chất lượng và năng suất hơn XHH hoạt động truyền hình xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và là xu thế phát triển tất yếu của ngành truyền hình, đây là hướng đi hợp với qui luật của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhận định tính đúng đắn của hướng đi này, chủ trương XHH truyền hình được Nhà nước hoàn toàn khuyến khích Thậm chí, nhằm đẩy nhanh quá trình XHH, Đài Truyền hình Việt Nam đã được giao nhiệm vụ là đơn vị chủ chốt thực hiện nhiệm vụ này

XHH truyền hình được hiểu là xã hội hóa hoạt động sản xuất chương trình Hiểu theo nghĩa rộng, XHH việc sản xuất các chương trình truyền hình

là huy động các nguồn lực của xã hội, bao gồm nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất từ các tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài đài truyền hình để sản xuất chương trình truyền hình Theo ý nghĩa này thì việc sản xuất sản phẩm

(chương trình) truyền hình đã diễn ra từ lâu, với các hình thức rất khác nhau

XHH sản xuất các chương trình truyền hình là tạo những điều kiện tốt nhất để các tổ chức, cá nhân có thể hợp tác bình đẳng với các đài truyền hình

Trang 28

để sản xuất các chương trình truyền hình XHH tận dụng được những năng lực tư duy của xã hội đóng góp vào việc sản xuất chương trình truyền hình và tận dụng được những năng lực kinh tế của các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội có khả năng đóng góp cho truyền hình ở từng lĩnh vực khác nhau Việc cạnh tranh giữa các chương trình của các đài truyền hình với các đối tác không nằm trong hệ thống truyền hình hiện nay sẽ thúc đẩy việc nâng cao chất lượng, hiệu quả các chương trình truyền hình Đây có thể coi là một

tư duy mới, một cách làm mới, một bước tiến mới của những người làm truyền hình ở nước ta hiện nay

Như vậy, XHH sản xuất chương trình truyền hình đã huy động trí lực

và tài lực ngoài xã hội Đài vừa có kinh phí hoạt động và tái đầu tư, nâng cao chất lượng chương trình phát sóng, vừa có nhiều chương trình hay, thiết thực

là một quá trình sản xuất đòi hỏi đầu tư lớn Kinh phí của các đài truyền hình thường được chi cho việc sản xuất hoặc mua các chương trình do các đơn vị khác thực hiện Chính vì thế, vấn đề kinh tế và chi phí sản xuất là yếu tố chi phối chủ yếu quá trình XHH sản xuất chương trình truyền hình ở nước ta Do

đó, việc liên kết sản xuất giữa nhà đài và các công ty truyền thông vừa đảm bảo tối ưu hóa hiệu quả thông tin tuyên truyền vừa tiết kiệm được nguồn lực đầu tư từ ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, cốt lõi của vấn đề XHH sản xuất các chương trình truyền hình không phải là vì tiền mà là sự huy động nguồn

Trang 29

lực của các đơn vị, tổ chức, cá nhân không thuộc đài truyền hình tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm bớt áp lực cho các đài cũng như tạo hiệu quả tốt cho các chương trình truyền hình Và tất cả những yếu tố này phải hướng đến một mục tiêu là nâng cao chất lượng các chương trình, thu hút

sự quan tâm và ủng hộ của công chúng

Tác động đến XHH sản xuất các chương trình truyền hình còn có các yếu tố:

 Bản quyền chương trình truyền hình

Mua bản quyền là việc làm phổ biến hiện nay mà các đài truyền hình, các công ty truyền thông đang áp dụng Việc mua bản quyền từ các nước có

kỹ thuật sản xuất truyền hình tiên tiến là phù hợp với điều kiện còn thiếu kinh nghiệm ở truyền hình Việt Nam những năm qua Các nguyên nhân như: đội ngũ làm chương trình còn hạn chế, chủ yếu phục vụ cho công tác tuyên truyền, chưa có kinh nghiệm trong sản xuất các chương trình truyền hình giải trí, kinh phí sản xuất thấp, thiết bị kỹ thuật quá lạc hậu đã khiến cho các chương trình truyền hình do các đài sản xuất chưa hấp dẫn, chưa thu hút được

sự quan tâm của công chúng Từ những chương trình mua bản quyền nước ngoài và thay đổi một số nội dung cho phù hợp với văn hóa của Việt Nam, truyền hình giải trí ở nước ta đã có sự thay đổi rõ rệt Các chương trình thực hiện theo công thức nước ngoài đã khiến công chúng háo hức theo dõi và hào hứng tham gia chương trình Theo dõi các chương trình truyền hình đang phát

sóng thu hút được nhiều sự quan tâm của công chúng hiện nay như: Chiếc

nón kì diệu, Đi tìm triệu phú, Vietnam Idol, Bước nhảy hoàn vũ…đều có thể

nhận thấy các chương trình này được thực hiện hoàn toàn theo phiên bản nước ngoài từ hình hiệu, nhạc hiệu cho đến thiết kế sân khấu

Trong quá trình XHH sản xuất các chương trình truyền hình có hai mối quan hệ chủ yếu được đặt ra với vấn đề bản quyền truyền hình là: quan hệ về

Trang 30

bản quyền giữa các đài truyền hình và các đơn vị ngoài đài truyền hình ở trong nước; quan hệ về bản quyền truyền hình trong nước và truyền hình quốc

tế

Hiện nay, trong sự phát triển đa dạng của các kênh truyền hình, các chương trình truyền hình giải trí nở rộ thì việc bảo vệ bản quyền các chương trình truyền hình là vấn đề sống còn đối với nhà đài, kênh truyền hình và các công ty truyền thông Mỗi đài truyền hình phải tuân thủ nguyên tắc: bảo vệ sản phẩm trí tuệ của mình Đơn vị nào làm ra chương trình thì phải đăng ký bản quyền để khẳng định bản quyền chương trình do mình sáng tạo và sản xuất ra

Những chương trình truyền hình giải trí như trò chơi truyền hình là mảnh đất màu mỡ để các công ty truyền thông khai thác Thời điểm năm 2004-2005 được coi là bùng nổ các chương trình trò chơi truyền hình với sự tham gia đông đảo các công ty truyền thông trên HTV Những chương trình:

Nhịp sống sôi động, Trúc Xanh, Nốt nhạc vui, Chung sức, Rồng Vàng, Vượt lên chính mình đều được mua bản quyền của các nước: Thái Lan, Mexico,

Malaysia Những chương trình này khi thực hiện tại Việt Nam phải phù hợp với đất nước, con người, văn hóa Việt Nam Phần nội dung thường được điều chỉnh, biến tấu cho phù hợp, còn cách thể hiện và hình thức thể hiện thì đúng

mẫu bản quyền quốc tế Ví dụ: chương trình Ai là triệu phú phát sóng trên

VTV3 sử dụng thống nhất từ hình hiệu, nhạc hiệu, vị trí người dẫn chương trình, vị trí người chơi, cách thiết kế sân khấu theo đúng phiên bản quốc tế, còn nội dung câu hỏi được thay đổi cho phù hợp với trình độ, cách thức thưởng thức của công chúng Những chương trình này thường có giá bản quyền trung bình 150.000 USD/năm, những năm về sau tiền bản quyền sẽ tăng lên, cá biệt có những chương trình chào giá tại Việt Nam với giá rất đắt 1,5 triệu USD/ sử dụng trong một năm Nếu mua bản quyền cộng với toàn bộ

Trang 31

trang thiết bị máy móc, camera chuyên dùng thì có thể lên đến gần 1 triệu

USD như trường hợp của chương trình Rồng Vàng mua trọn gói từ Tập đoàn

Kantana Thái Lan Như vậy, các chương trình trò chơi truyền hình đòi hỏi sự đầu tư khá cao về công sức lẫn kinh phí, HTV đã chọn cách mở rộng hợp tác thực hiện với các công ty, đơn vị có khả năng tìm kiếm và tổ chức thực hiện Những công ty, đơn vị ngoài đài truyền hình sẽ góp thêm thế mạnh về sự chuyên nghiệp và năng động trong việc thương thảo mua bản quyền, xúc tiến thực hiện chương trình lẫn tạo hiệu quả kinh tế Đài truyền hình vừa có chương trình hay để phát, vừa đảm bảo quy định tuân thủ theo đúng phiên bản nước ngoài mà chi phí để trả cho công ty truyền thông lại thấp hơn nhiều so với chi phí đài truyền hình trực tiếp thực hiện

 Sự phát triển của quảng cáo trên truyền hình

Trên thế giới, quảng cáo xuất hiện ở khắp nơi, dưới mọi hình thức, bằng mọi phương tiện như: quảng cáo trên báo in, phát thanh, ngoài trời… Đặc biệt, quảng cáo trên truyền hình có sức hút lớn đối với những đơn vị kinh doanh Ở Việt Nam, vào giữa những năm 80 của thế kỉ XX cùng với đường lối đổi mới của Đảng, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước, quảng cáo thương mại bắt đầu có mặt trên các trang báo, tạp chí, trong các chương trình phát thanh truyền hình Nguồn kinh phí quảng cáo dần dần tăng lên và đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với các cơ quan báo chí

Quảng cáo là hoạt động kinh doanh chủ yếu của truyền hình, vì thế thời lượng phát sóng quảng cáo của các đài truyền hình trong nước ngày càng gia tăng, các chương trình nhằm mục đích phục vụ và thu hút quảng cáo ngày càng chiếm ưu thế Khi XHH sản xuất các chương trình truyền hình, quảng cáo còn phát triển hơn nữa theo xu thế chung và do sự năng động của các đơn

vị tham gia làm truyền hình Nhà quảng cáo sẵn sàng đầu tư cho các chương

Trang 32

trình có chất lượng cao hơn để thu hút đông đảo khán giả Qua truyền hình, hình ảnh các đơn vị quảng cáo đến với khán giả một cách thân thiện và đáng tin cậy hơn

Quảng cáo cũng chính là cách thức trao đổi quyền lợi khi nhà đài và công ty hợp tác sản xuất chương trình truyền hình Các công ty truyền thông

sẽ được hưởng quyền lợi quảng cáo từ việc tham gia vào sản xuất hay mua bản quyền các chương trình nước ngoài Việc phát sóng quảng cáo để thu lợi nhuận từ đó lấy kinh phí để sản xuất các chương trình truyền hình là việc làm rất phổ biến và hợp lý của hầu hết các đài truyền hình đang áp dụng hiện nay

 Sự tích hợp các phương tiện truyền thông

Con người của xã hội hiện nay là con người của xã hội hiện đại đã và đang chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại thông tin từ các phương tiện truyền thông khác nhau Một cá nhân có thể sẽ là công chúng của các phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau như: báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử Một người, nhất là người có trình độ văn hóa cao thì sẽ không nhất thiết là công chúng của riêng một loại hình báo chí nào Từ đây, cùng với

sự xuất hiện của internet, báo in, báo hình, báo nói đã bước vào một cuộc đua mới- cuộc đua chinh phục công chúng truyền thông hiện đại

Đặc điểm của truyền thông hiện đại là sự tích hợp nhiều phương tiện truyền thông khác nhau nhằm làm tăng hiệu quả truyền thông Một tờ báo in vừa có trang tin điện tử, vừa kết hợp phát thanh và truyền hình Ngược lại một đài truyền hình cũng có thể xuất bản ấn phẩm báo in, có trang tin điện tử riêng Hoạt động liên kết sản xuất chương trình cũng bị tác động bởi các yếu

Trang 33

nhờ đến sự hỗ trợ của các phương tiện truyền thông khác, từ họp báo ra mắt chương trình, cho đến mời các báo tham gia bảo trợ thông tin, đưa tin trong suốt thời gian chương trình phát sóng Người xem có cơ hội xem, nghe, nhìn những thông điệp của chương trình, những chuyện hậu kì, những thông tin về chương trình, nhờ đó chương trình vẫn duy trì được độ “nóng” đối với người xem

Hơn nữa, hầu hết các công ty đều có trang web riêng để cập nhật tin tức

và tình hình hoạt động, sản xuất của công ty Các chương trình truyền hình sau khi phát sóng nhanh chóng được công ty đưa lên web để những khán giả nào không xem được chương trình ngay thời điểm phát sóng có thể xem lại Như vậy, người xem sẽ không bỏ lỡ chương trình mình yêu thích Không chỉ đưa chương trình lên web của mình, các công ty còn liên kết với các trang tin điện tử, truyền hình online để đưa chương trình lên Đặc biệt là các chương trình văn hóa, nghệ thuật luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo công chúng Kèm theo những thông tin về chương trình là các video clip liên tục được cập nhận trên các trang báo mạng Chính vì thế “sức nóng” của các chương trình luôn được cộng hưởng thêm, chương trình đạt tỉ suất người xem cao

1.3.3 Đối tượng tham gia vào xã hội hóa sản xuất chương trình

Công ty truyền thông-đối tượng trực tiếp tham gia XHH sản xuất chương trình truyền hình

Đảng và Nhà nước ta vẫn thừa nhận và khuyến khích tạo điều kiện, cho phép báo chí hoạt động kinh tế-kinh doanh Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT giải thích hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình là hình thức hợp tác giữa một bên là đài truyền hình với một bên là đối tác liên kết Đối tác chính là tổ chức có tư cách pháp nhân, có đăng kí kinh doanh đang hoạt động

Trang 34

theo pháp luật Việt Nam tham gia hợp tác với đài truyền hình để tạo ra một phần hoặc toàn bộ sản phẩm liên kết

Chủ trương XHH sản xuất chương trình truyền hình như một bước ngoặt mở ra thời cơ cũng như thách thức cho những nhà làm truyền hình tại Việt Nam Khi Nhà nước có chủ trương XHH hoạt động truyền hình, các doanh nghiệp tư nhân vốn yêu thích ngành nghề này có cơ hội tham gia tích cực Đón đầu xu hướng XHH, các công ty truyền thông ra đời ngày càng nhiều Họ mạnh dạn trong đầu tư, năng động trong cơ cấu và hoạt động Họ

bỏ vốn sản xuất chương trình để đổi lấy quảng cáo và kinh doanh thương quyền quảng cáo Trong cuộc hợp tác này, nhà đài vừa giảm được chi phí sản xuất vừa đảm bảo được chương trình phát sóng Ngân sách Nhà nước dành cho các đài chỉ đủ đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong khi nhu cầu thông tin, giải trí của người dân ngày càng cao nên xu thế XHH truyền hình là hướng đi đúng trong giai đoạn hội nhập Nhiều chương trình ra đời (chủ yếu là các chương trình giải trí, văn nghệ) từ sự liên kết này Màn ảnh nhỏ vốn đã thu hút người xem, nay lại càng phong phú hơn Những chương trình thuộc thể

loại trò chơi đầu tiên trên truyền hình: Chuyện nhỏ, Rồng Vàng, Vượt lên

chính mình, Đi tìm ẩn số, Ai là ai, Chiếc nón kì diệu do các công ty truyền

thông thực hiện đã thổi bùng một luồng sinh khí mới cho truyền hình Nối tiếp thành công của những những chương trình này, hàng loạt các chương trình trò chơi truyền hình khác đã ra đời và phủ sóng rộng khắp, trở thành một trong những chương trình ăn khách của nhà đài

Các công ty truyền thông là những đơn vị năng động trong cơ chế thị trường, biết thu hút nguồn nhân lực có trình độ, biết cách đầu tư những trang thiết bị hiện đại Họ biết cách đón đầu xu hướng, thị hiếu nghe nhìn của khán giả, biết khán giả cần gì và muốn gì ở một chương trình truyền hình Thêm vào đó, họ có khả năng thực hiện chương trình ngày càng chuyên nghiệp với

Trang 35

chất lượng và nội dung khá ấn tượng phù hợp để phát sóng tại các đài truyền hình trong cả nước Lĩnh vực hoạt động của các công ty truyền thông bao gồm: xây dựng và sản xuất chương trình truyền hình, sản xuất phim truyền hình, sản xuất phim quảng cáo trên truyền hình (TVC), khai thác, trao đổi phim truyện nước ngoài, cung cấp các sự kiện truyền hình trực tiếp trong nước và quốc tế, tổ chức sự kiện, xây dựng giải pháp thị trường trọn gói thông qua truyền thông, thiết kế và nhận diện thương hiệu…

Những công ty truyền thông đi tiên phong trong XHH sản xuất chương trình truyền hình có thể kế đến: Công ty cổ phần truyền thông Việt Ba, Công

ty BHD (Hãng phim Việt), Công ty Tổ hợp thị trường Hoàng Gia Việt Nam, Công ty cổ phần TV Cộng (TV Plus), Công ty quảng cáo Đất Việt, Công ty TNHH Đầu tư và Quảng cáo Cát Tiên Sa, Công ty Lasta Số lượng kênh truyền hình càng phát triển, số chương trình càng tăng lên thì sự tham gia sản xuất chương trình truyền hình của các công ty càng tăng lên Sự có mặt của các công ty đã làm phong phú và đa dạng các chương trình truyền hình Các công ty ngoài đài tổ chức sản xuất từ nội dung kịch bản chương trình cho đến phần hậu kì hay kết hợp với một bộ phận thuộc đài để thực hiện các khâu trong quá trình sản xuất

Vai trò của HTV trong hoạt động liên kết

Báo chí truyền thông nước ta trước những năm đổi mới thực hiện chức năng tuyên truyền chính trị-tư tưởng là chính Sau khi đổi mới, nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và báo chí truyền thông cũng hoạt động trong cơ chế đó có sự quản lý của Nhà nước

Chủ trương XHH được đưa vào thực hiện ở các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao đã thu được những kết quả đáng mừng Đối với truyền hình, XHH chỉ nên dừng ở khâu sản xuất chương trình truyền hình nhằm đảm bảo

“báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu của đời sống xã hội, là

Trang 36

cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, xã hội nghề nghiệp và là diễn đàn của nhân dân” theo đúng quy định của Luật Báo chí năm 1989 và Luật Báo chí sửa đổi năm 1999

Trong hoạt động liên kết sản xuất chương trình, đối tượng quản lý sản xuất các chương trình do công ty truyền thông hợp tác thực hiện phải là các đài truyền hình XHH đem lại cho đài các chương trình phong phú, đa dạng nhưng nếu không được thẩm định chặt chẽ về định hướng, tư tưởng, nội dung, chất lượng rất có thể sẽ xảy ra những sai sót Vì vậy, đối tượng quản lý sản xuất các chương trình truyền hình đầu tiên chính là các nhà quản lý, lãnh đạo đài Ngày 1/3/2005, trong Hội nghị sơ kết hai năm thực hiện Thông báo kết luận 162 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về công tác lãnh đạo, quản lý báo chí cũng đã nhấn mạnh tăng cường quản lý báo chí trong tình hình hiện nay Trong đó, vấn đề XHH hoạt động truyền hình đã được khẳng định là một chủ trương đúng, phù hợp với xu hướng phát triển của truyền hình Tuy nhiên, các chương trình được thực hiện, sản xuất với các đối tác vẫn phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản của sản phẩm văn hóa có chất lượng nội dung và tính thẩm mỹ cao Công tác biên tập phải được các đài thực hiện nghiêm túc

Vì vậy, để có được những chương trình hấp dẫn, được công chúng đón nhận đối tượng trực tiếp là các nhà sản xuất, các doanh nghiệp sản xuất chương trình cần hợp tác chặt chẽ với các đài truyền hình để có động thái thăm dò nhu cầu công chúng trước khi sản xuất Mặt khác, đài cũng cần khuyến khích các đơn vị tham gia, hợp tác sản xuất các chương trình để thu hút thêm lượng khán giả và tăng sức hấp dẫn của phương tiện truyền thông đang được công chúng yêu mến hàng đầu này

Trang 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Truyền hình những năm gần đây đã phát triển nhanh chóng, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của công chúng hiện đại HTV tuy là một đài địa phương, trực thuộc Ủy ban Nhân dân TPHCM nhưng là đài có hoạt động truyền hình sôi nổi, các chương trình đa dạng, phong phú, đáp ứng được mục tiêu tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng, các mục tiêu kinh tế xã hội của TPHCM, góp phần nâng cao dân trí, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân HTV với hai kênh phát sóng quảng bá là HTV7 và HTV9

là đài có ảnh hưởng khá lớn đến công chúng trong thành phố và các tỉnh lân cận trong khu vực XHH sản xuất chương trình truyền hình trên sóng HTV cũng không nằm ngoài quy luật phát triển của nền kinh tế năng động và hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của truyền hình hiện nay

Chương 1 đã chỉ ra những điều kiện thuận lợi để XHH sản xuất chương trình được thực hiện sớm nhất ở HTV như: TP.HCM là địa phương có kinh tế phát triển đa ngành, đa nghề; có hoạt động báo chí sôi nổi nhất cả nước, đời sống văn hóa tinh thần đa dạng, nhu cầu thưởng thức văn hóa, giải trí của người dân thành phố cao nhất cả nước, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật sôi nổi… Hơn nữa, trong những năm qua, TP.HCM cũng là đơn vị đi đầu trong hoạt động XHH ở nhiều lĩnh vực như: giáo dục, y tế, sân khấu Điều đó cho thấy XHH đã huy động và tận dụng được nhân lực và tài lực của toàn xã hội tham gia Những thành công của những lĩnh vực đó tạo tiền đề cho XHH sản xuất chương trình truyền hình

Những yếu tố tác động đến XHH sản xuất chương trình như: chi phí sản xuất, vấn đề bản quyền truyền hình, quảng cáo, sự liên kết giữa các phương tiện truyền thông cũng đã được đề cập đến Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn đã tập trung làm rõ đối tượng tham gia trực tiếp vào

Trang 38

XHH sản xuất chương trình hiện nay là các công ty truyền thông, đối tượng tham gia quản lý sản xuất là đài truyền hình Các công ty truyền thông là những đơn vị năng động trong cơ chế thị trường, biết thu hút nguồn nhân lực

có trình độ, biết cách đầu tư những trang thiết bị hiện đại Chính vì thế, các công ty truyền thông có khả năng thực hiện chương trình ngày càng chuyên nghiệp với chất lượng và nội dung khá ấn tượng phù hợp để phát sóng tại các đài truyền hình trong cả nước Như vậy, XHH sản xuất chương trình truyền hình đã huy động trí lực và tài lực ngoài xã hội Đài vừa có kinh phí hoạt động và tái đầu tư, nâng cao chất lượng chương trình phát sóng, vừa có nhiều chương trình hay, thiết thực để phục vụ khán giả tốt hơn Trong hoạt động liên kết sản xuất chương trình, Đài truyền hình có vai trò quan trọng trong công tác biên tập, thẩm định, đánh giá nội dung, chất lượng của các chương trình truyền hình do công ty truyền thông sản xuất

Những nghiên cứu tổng kết được từ chương 1 là cơ sở để phân tích sâu hơn thực trạng các chương trình truyền hình được XHH ở khâu sản xuất trên sóng HTV, sự tham gia của các công ty truyền thông: Cát Tiên Sa, Lasta, Hoa Hồng Vàng qua sản phẩm truyền hình từ năm 2008 đến năm 2010

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH CỦA CÁC CÔNG TY TRUYỀN THÔNG TẠI

TP.HCM (TỪ NĂM 2008 ĐẾN 2010)

2.1 Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trên sóng của HTV

2.1.1 Vài nét về sự hình thành và phát triển của HTV

Phát sóng đầu tiên ngày 1-5-1975, ngay sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước HTV có đã 35 năm hình thành và phát triển, trở thành người bạn thân thiết của mọi nhà

Từ là một đài khu vực trực thuộc Ủy ban Phát thanh-Truyền hình Việt Nam, đài được chuyển giao về Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo và quản lý từ năm 1981 đến nay Được sự quan tâm giúp đỡ của Trung Ương, sự lãnh đạo và quản lý chặt chẽ của Thành ủy

và Ủy ban nhân dân, cùng sự cộng tác chân tình của các ban ngành thành phố

và các địa phương, HTV đã từng bước phát triển Đặc biệt là từ thời kì đổi mới (1987) đến nay, HTV đã có những tiến bộ vượt bậc về nội dung chương trình, về kĩ thuật tiên tiến và lực lượng chuyên môn

Hiện nay, HTV có 24 đơn vị trực thuộc, trong đó có Trung tâm Dịch vụ truyền hình, Hãng phim truyền hình (TFS) và Trung tâm truyền hình cáp-HTVC đài đã mạnh dạn đổi mới hệ thống máy móc thiết bị, ứng dụng kĩ thuật tiên tiến, thay đổi quy trình sản xuất chương trình và quy chế phát sóng phù hợp với quy định mới để tiến tới đưa toàn bộ kĩ thuật số vào truyền hình, nâng dần chất lượng kĩ thuật ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới HTV là đơn vị đầu tiên của ngành truyền hình cả nước chuyển từ kĩ thuật phát hình đen trắng sang kĩ thuật phát hình màu, mạnh dạn loại bỏ kĩ thuật Umatic chuyển sang S-VHS, đến nay đã áp dụng kĩ thuật Betacam trong

Trang 40

sản xuất các chương trình của đài, sử dụng kĩ thuật phát hình tự động đầu tiên trong ngành truyền hình Việt Nam

Cơ sở hạ tầng và hệ thống máy móc thiết bị ngày càng tiên tiến, thời lượng phát sóng đã tăng khá nhanh Hiện nay, HTV phát sóng trung bình mỗi ngày 48 giờ trên 2 kênh analog HTV7, HTV9 và 60 giờ trên 4 kênh kĩ thuật

số HTV1 ( kênh thông tin công cộng), HTV2 (kênh thể thao), HTV3 ( kênh thanh thiếu niên), HTV4 (kênh khoa học giáo dục) Trên hệ thống truyền hình cáp HTVC có 118 kênh truyền hình, trong đó có 16 kênh truyền hình do HTV thực hiện và liên kết thực hiện

Tính đến năm 2010, HTV có tổng số cán bộ viên chức, công nhân viên

là 961 người (gồm 559 người trong biên chế và 407 lao động hợp đồng), có

71 cán bộ quản lý Ngay từ những ngày đầu thành lập, HTV đã có một đội ngũ cán bộ có chuyên môn, được đào tạo từ nhiều nguồn và đa dạng Một số được đào tạo từ Liên Xô, Cuba, các nước Đông Âu, một số được đào tạo từ các nước Tây Âu hay Đông Nam Á Ngoài ra có một số cán bộ thông tin được rèn luyện trong hai thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và trên chục năm gần đây, một số cán bộ, công nhân viên trẻ được đào tạo tại chỗ, trong đó

có 2/3 phóng viên, biên tập viên, đạo diễn, cán bộ quản lý có trình độ từ đại học trở lên Có những lớp ngắn hạn do chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy ngay tại đài và cũng có nhiều đoàn cán bộ kĩ thuật, phóng viên sang học tập kinh nghiệm tại các đài khu vực ở Trung Quốc, Úc, Hongkong, Nhật, Pháp

HTV đã xây dựng hơn 40 trạm phát lại từ Mường Tè đến Cà Mau Sóng của đài gần như phủ sóng cả nước Từ 1987 đến nay, trung bình mỗi năm đài sản xuất 180 tác phẩm nghệ thuật sân khấu, 504 chương trình ca nhạc Riêng về phim truyện truyền hình, đài đã có những bước tiến nhanh Ngoài ra, đài còn tổ chức biên soạn và phát hành bản tin HTV từ tháng 5-

Ngày đăng: 31/03/2015, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhật An (2006), Đường vào nghề phát thanh truyền hình, NXB Trẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường vào nghề phát thanh truyền hình
Tác giả: Nhật An
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2006
2. Hoàng Anh (2008), Kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng
Tác giả: Hoàng Anh
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
3. Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2010), Báo chí Việt Nam những dấu ấn đấu tranh cách mạng, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí Việt Nam những dấu ấn đấu tranh cách mạng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
4. Báo cáo hội thảo xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình ngày 02/01/2008 tại Hà Nội, Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (ngày 05/01/2006 tại Nha Trang-Khánh Hòa) và lần thứ 26 (ngày 11/01/2007 tại TP.HCM), TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hội thảo xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình
6. Bộ Thông tin và Truyền thông (2009), Thông tư 19/2009/TT-BTTTT Quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình, 28/05/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 19/2009/TT-BTTTT Quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình
Tác giả: Bộ Thông tin và Truyền thông
Năm: 2009
7. Lê Thanh Bình (2004), Quản lý và phát triển báo chí-xuất bản, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển báo chí-xuất bản
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
8. Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm (2009), Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí và xuất bản, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí và xuất bản
Tác giả: Lê Thanh Bình, Phí Thị Thanh Tâm
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2009
9. Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc, Đức Dũng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Dững (chủ biên) (2006), Tác phẩm báo chí (tập 2), NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (chủ biên)
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
12. Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
13. Vũ Quang Hào (2004), Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2004
14. Vũ Quang Hào (2004), Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
15. Lê Thị Như Hoa (Chủ biên) (1997), Xã hội hóa và sự nghiệp phát triển văn hóa, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa và sự nghiệp phát triển văn hóa
Tác giả: Lê Thị Như Hoa (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 1997
16. Đặng Vũ Cảnh Linh (2009), Toàn cầu hóa – cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của truyền thông Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa – cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của truyền thông Việt Nam
Tác giả: Đặng Vũ Cảnh Linh
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
17. Đỗ Nam Liên (chủ biên) (2005), Văn hóa nghe nhìn và giới trẻ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa nghe nhìn và giới trẻ
Tác giả: Đỗ Nam Liên (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2005
18. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật báo chí (1999), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật báo chí
Tác giả: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật báo chí
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
19. Nhiều tác giả (1994, 1996, 1997, 2001, 2005, 2006, 2007, 2008, 2010), Báo chí: Những vấn đề lí luận và thực tiễn (7 tập), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí: Những vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: NXB Giáo dục
20. Nhiều tác giả (1999), Báo chí-Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí-Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 1999
21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Điện ảnh số 62/2006/QH-11 ban hành ngày 29/6/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Điện ảnh số 62/2006/QH-11
41. Vân Oanh, Khuy?n khích liên k?t s?n xu?t ch??ng trình truy?n hình http://www.thesaigontimes.vn/Home/thoisu/sukien/14067/ , ngày 8/1/2010 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w