1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Quy hoach phong chong lu Song Ve

240 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 240
Dung lượng 11,06 MB
File đính kèm QHTLPCLSONGVE.rar (10 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

mục tiêu, phạm vi quy hoạch và cơ bản thống nhất về các nội dung của quy hoạch phòng chống lũ đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 sông sông Vệ, cụ thể: Về tiêu chuẩn phòng chống lũ: Trên cơ sở Quyết định số 1590QĐTTg ngày 09102009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng Chiến lược Phát triển thủy lợi Việt Nam, thống nhất mức đảm bảo phòng chống lũ cho khu vực dân cư tập trung

Trang 1

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

MỞ ĐẦU

1 KHÁI QUÁT VÙNG NGHIÊN CỨU

Lưu vực sông Vệ nằm giữa và là một trong bốn lưu vực sông chính của tỉnh Quảng Ngãi Sông Vệ có diện tích lưu vực tính đến cửa ra là 1.263 km2, chiếm 24,51% diện tích tự nhiên của tỉnh, bao gồm phần lớn diện tích lãnh thổ của 5 huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành, Minh Long, Tư Nghĩa, Mộ Đức thuộc tỉnh Quảng Ngãi

Cũng như các dòng sông của nhiều tỉnh miền Trung Việt Nam, đặc điểm dòng chảy lũ của sông Vệ có biên độ thay đổi nhiều, cường xuất nước lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng lũ nhọn, nguyên nhân là do lượng mưa trận và cường

độ mưa lớn, tập trung nhiều đợt, tâm mưa nằm ở thượng và trung của lưu vực,

độ dốc lòng sông lớn, nước tập trung nhanh Tổng lượng nước mùa lũ chiếm từ 70÷75% tổng lượng nước cả năm Do những đặc điểm khí tượng thủy văn như vậy cùng với những tác động để duy trì và phát triển cuộc sống của con người trên lưu vực làm cho tình trạng ngập lụt vùng đồng bằng hạ du; xói lở và bồi lấp

bờ, lòng sông, cửa sông diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển dân sinh, kinh tế xã hội của tỉnh

Những năm gần đây tỉnh Quảng Ngãi nói chung và các địa phương trong lưu vực đã có những bước phát triển kinh tế xã hội rất mạnh mẽ, các khu công nghiệp đã và đang xây dựng; các khu đô thị, các khu dân cư tập trung đang hình thành ở nhiều nơi; giao thông đã và đang phát triển hết sức nhanh ở tất cả các cấp… đã và đang tác động mạnh mẽ đến dòng sông và nguồn nước; chính vì vậy dẫn đến nhu cầu phát triển hạ tầng cơ sở thủy lợi nói chung và hạ tầng cơ sở phục vụ phòng chống lũ lụt, bảo vệ bờ sông, lòng sông, luồng lạch đảm bảo cho các ngành kinh tế xã hội phát triển bền vững là vô cùng cấp thiết và quan trọng Phạm vi vùng nghiên cứu tổng thể về quy hoạch phòng chống lũ lụt là toàn lưu vực sông Vệ với mục tiêu đề xuất được định hướng chung và làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu chi tiết quy hoạch phòng chống lũ lụt đoạn từ xã Hành Tín Tây đến Cửa Lở gồm địa bàn hành chính của các huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành, Minh Long, Tư Nghĩa, Mộ Đức, dân số toàn lưu vực là 317.271 người chiếm 25,52% dân số toàn tỉnh Phạm vi nghiên cứu quy hoạch chỉnh trị là hai bờ, bãi

và lòng của dòng chính sông Vệ từ xã Hành Tín Tây đến cửa Lở

Bảng 1 DIỆN TÍCH VÀ ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH VÙNG NGHIÊN CỨU

Trang 2

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Sự cần thiết lập quy hoạch:

- Đặc điểm mưa lũ, sạt lở bờ sông tại Quảng Ngãi nói chung, sông Vệ nói riêng luôn nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế và tổn thương đến đời sống của cộng đồng cư dân dọc 2 bên bờ tả, hữu ngạn sông

- Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tác động đến thiên tai (lũ lụt, sạt lở) ngày một tăng cao về cường độ và quy mô gây hại

- Cần có kế hoạch chủ động phòng chống lũ, công trình chỉnh trị dòng sông khoa học, logic, liên hoàn, hợp lý trên tuyến sông thường gây tổn thương cho cộng đồng

Từ những lý do trên cho thấy việc lập Quy hoạch phòng chống lũ và chỉnh trị sông Vệ đoạn từ xã Hành Tín Tây đến cửa Lở đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 là rất cần thiết cho cả trước mắt và lâu dài

2 NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ LẬP QUY HOẠCH

a Căn cứ pháp lý

+ Luật phòng chống thiên tai số 33/2013/QH13 ngày 01/05/2014

+ Luật Đê điều số 79/2006/QH11 ngày 29/11/2006

+ Luật Xây dựng số 50/2014/QH 13 ngày 18/06/2014

+ Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21/06/2012

+ Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014

+ Luật Thủy lợi số 08/2017/QH14 ngày 19/06/2017 có hiệu lực từ ngày 01/07/2018

+ Căn cứ Chiến lược phát triển thủy lợi Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 1590/QD- TTg ngày 09/10/2009

+ Quyết định số 1588/QĐ-TTg ngày 24/10/2012 của Thủ tướng chính phủ

về việc phê duyệt Quy hoạch thủy lợi khu vực miền Trung giai đoạn 2012-2020

và định hướng đến năm 2050 trong điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng + Quyết định số 2052/QĐ-TTg ngày 10/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

+ Quyết định số 4110/QĐ-BNN-TCTL ngày 19/10/2015 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phê duyệt Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Trà Bồng-Trà Khúc đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030

+ Quyết định số 1742/QĐ-UBND ngày 05/10/2015 của UBND tỉnh Quảng

về việc phê duyệt quy hoạch thủy lợi tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

Trang 3

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

+ Nghị quyết số 19/2015/NQ-HĐND ngày 14/12/2015 của HĐND tỉnh Quảng Ngãi, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2015-2020

+ Quyết định số 980/QĐ-UBND ngày 29/05/2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, phê duyệt Kế hoạch phòng, chống thiên tai đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

+ Quyết định số 23/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, phê duyệt Chương trình phát triển đô thị tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016-

2020, định hướng đến 2025

+ Quyết định số 555/QĐ-UBND ngày 11/08/2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, Phê duyệt Quy hoạch điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển thủy sản tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030

+ Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 22/05/2017 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, Phê duyệt Quy hoạch phát triển Công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi đến năm

2020

+ Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 20/01/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, phê duyệt Quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

+ Báo cáo số 65/BC-PCTTTKCN ngày 05/06/2017 về tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

+ Báo cáo số 28/BC-UBND ngày 25/02/2016 về tình hình thực hiện Quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

+ Báo cáo khung – Kế hoạch quản lý rủi ro thiên tai tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020

+ Quyết định số 142/QĐ-UBND ngày 17/03/2015 của UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

+ Quyết định số 01/2011/QĐ-TTg ngày 4/1/2011 của Thủ tướng Chính phủ, Ban hành quy chế xử lý sạt lở bờ sông, bờ biển

+ Quyết định số 190/QĐ-UBND ngày 14/08/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi, phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, định hướng đến năm 2030

b Tài liệu cơ bản, dân sinh kinh tế:

+ Tài liệu cơ bản: Căn cứ vào hợp đồng đã được ký kết và đề cương kỹ thuật lập dự án kèm theo, đã tiến hành thu thập và đo đạc các tài liệu về: thủy văn, địa hình, địa chất (Bản đồ, bình đồ, trắc ngang, trắc dọc); khí tượng, thủy

Trang 4

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

văn, môi trường; địa chất, thổ nhưỡng và các tài liệu điều tra cơ bản cũng như những nghiên cứu khoa học liên quan đến nguồn nước trên địa bàn;

+ Tài liệu hiện trạng và phương hướng phát triển dân sinh, các ngành kinh

tế xã hội, được thu thập đúng theo đề cương kỹ thuật đã phê duyệt, kể cả các dự

án đang xây dựng, đã phê duyệt chuẩn bị xây dựng và những dự án đang nghiên cứu

c Tiêu chuẩn, quy phạm

- TCVN 8226:2009: Công trình thủy lợi - Các quy định chủ yếu về khảo sát mặt cắt và bình đồ địa hình các tỷ lệ từ 1/200 đến 1/5000

- TCVN 8302:2009: Quy hoạch phát triển thủy lợi Quy định chủ yếu về thiết kế

- TCVN 8419:2010: Công trình thuỷ lợi Thiết kế công trình bảo vệ bờ sông để chống lũ

+ Và các quy trình, quy phạm, tài liệu kỹ thuật có liên quan

3 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU VÀ GIẢI QUYẾT TRONG QUY HOẠCH

Như tên của dự án và mục tiêu của quy hoạch nêu Quy hoạch tập trung vào 2 nội dung chính đó là: Quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch chỉnh trị dòng sông

a Quy hoạch phòng chống lũ

- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá tình trạng mưa, lũ lụt xảy ra hàng năm, phạm vi và mức độ ảnh hưởng, tổn thất về tính mạng và tài sản Xác định yêu cầu phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại lũ lụt

- Điều tra, khảo sát và đánh giá hiện trạng các hệ thống công trình phòng chống lũ hiện có về quy mô, nhiệm vụ, tiêu chuẩn mức đảm bảo chống lũ thiết kế; chất lượng công trình, khả năng chống lũ thực tế, những tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết

- Xác định tiêu chuẩn phòng chống lũ chung của lưu vực và mức chống lũ cho những vùng quan trọng, ngành cụ thể, phân vùng bảo vệ theo Quyết định của Tỉnh

- Xem xét và kế thừa một cách khoa học và phù hợp những phương án và

đề xuất đã được nghiên cứu trong các quy hoạch thủy lợi, các đề tài nghiên cứu

- Nghiên cứu và đưa ra các phương án phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại

do lũ gây ra bằng các biện pháp công trình và phi công trình

- Tính toán thủy lực bằng mô hình MIKE 21 về các phương án phòng chống lũ để xác định vùng ngập, thời gian ngập, mực nước, lưu lượng, hướng

Trang 5

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

dòng chảy lũ và các chỉ tiêu khác theo yêu cầu quy hoạch, làm cơ sở chọn phương án phòng chống lũ

- Đánh giá hiệu quả mang lại và những tác động bất lợi khi thực hiện phương án đề nghị cũng như thực hiện theo các giai đoạn

- Xác định sơ bộ quy mô và nhiệm vụ các biện pháp phòng chống lũ, phân giai đoạn thực hiện kể cả ước toán khối lượng và vốn đầu tư cho các công trình

đề ra như: hồ chứa, vùng chậm lũ, lòng thoát lũ, kênh cách ly lũ, cống thoát lũ,

đề ra hành lang thoát lũ

b Quy hoạch chỉnh trị

- Đánh giá một cách tổng thể độ dốc địa hình thượng lưu, trung lưu, hạ lưu của lưu vực và dòng sông, đưa ra những nhận xét về biến động dòng chảy trong các mùa

- Đánh giá hiện trạng và xu hướng biến đổi lòng sông, bãi, bờ sông, dòng chủ lưu, luồng lạch làm cơ sở cho đề xuất phương án chỉnh trị

- Đánh giá hiện trạng công trình và hệ thống công trình chỉnh trị hiện có về quy mô, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, hoạt động thực tế những ảnh hưởng và tồn tại cần giải quyết

- Kết hợp với quy hoạch phòng chống lũ đưa ra tiêu chuẩn chỉnh trị phù hợp có xét đến ảnh hưởng triều, mặn, gió, bão, biến đổi khí hậu và nước biển dâng

- Xem xét và nghiên cứu kế thừa một cách khoa học hợp lý những phương

án đề xuất đã được nghiên cứu trong các quy hoạch thủy lợi và các ngành; các

đề tài nghiên cứu

- Nghiên cứu và đề xuất các phương án chỉnh trị để phòng chống xói lở, biến đổi lòng, bờ của đoạn sông nghiên cứu

- Dùng mô hình thủy lực để tính toán hiện trạng và phương án chỉnh trị trong sự phối hợp cả phòng chống lũ và chỉnh trị xác định các chỉ tiêu theo yêu cầu quy hoạch làm cơ sở đánh giá và chọn biện pháp công trình

- Đánh giá hiệu quả và tác động bất lợi dối với dòng sông khi thực hiện toàn bộ và từng giai đoạn của phương án quy hoạch đề ra phục vụ trước mắt và lâu dài

- Xác định quy mô, nhiệm vụ, vị trí của các biện pháp công trình, phân giai đoạn thực hiện Ước toán khối lượng và vốn đầu tư, kết cấu điển hình của các công trình như: kè, mỏ hàn, nạo vét, nắn dòng, gia cố cứng và mềm, tôn nền,…

c Đánh giá môi trường chiến lược

Nội dung đánh giá môi trường chiến lược có các vấn đề sau:

- Đánh giá thực trạng môi trường và chất lượng nước một cách tổng quát,

có đề cập đến môi trường liên quan

Trang 6

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

- Dự báo tác động có lợi và bất lợi đến môi trường do thực hiện các phương

án phòng chống lũ và chỉnh trị (nhất là môi trường nước)

- Đề xuất các giải pháp tổng thể giảm thiểu tác động xấu đến môi trường

- Đề xuất các giải pháp quản lý tài nguyên nước và các tài nguyên liên quan

và nâng cao hiệu quả của phòng chống lũ và chỉnh trị

4 ĐƠN VỊ VÀ THỜI GIAN LẬP QUY HOẠCH

Viện Quy hoạch Thủy lợi – Bộ Nông nghiệp và PTNT

Trang 7

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

PHẦN I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN LỰC XÃ HỘI

CHƯƠNG I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Lưu vực sông Vệ nằm giữa và là một trong bốn lưu vực sông chính của tỉnh Quảng Ngãi Sông Vệ có diện tích lưu vực tính đến cửa ra là 1.263 km2, chiếm 24,51% diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi

- Vùng nghiên cứu có vị trí địa lý:

Từ 14032’ đến 15005’ Vĩ độ Bắc

Từ 108036’ đến 108053’ Kinh độ

Đông

- Ranh giới lưu vực:

Phía Bắc giáp lưu vực sông Trà

Phía Đông giáp Biển Đông

Vùng nghiên cứu gồm phần lớn diện tích của 5 huyện (Ba Tơ, Nghĩa Hành, Minh Long, Tư Nghĩa, Mộ Đức Tổng diện tích tự nhiên 1.263 km2 và dân số khoảng 317.271 người chiếm 25,52% dân số toàn tỉnh

1.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH

Vùng nghiên cứu nằm ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ với đặc điểm chung là núi lấn sát biển, địa hình có tính chuyển tiếp từ địa hình đồng bằng ven biển ở phía đông đến địa hình miền núi cao ở phía Tây Cấu tạo địa hình gồm các thành tạo đá biến chất, đá magma xâm nhập, phun trào và các thành tạo trầm tích có tuổi từ tiền Cambri đến Đệ tứ Trên bình diện tự nhiên, địa hình vùng nghiên cứu phân dị theo 2 hướng chính: địa hình hướng kinh tuyến và địa hình hướng vĩ tuyến

1.2.1 Địa hình hướng kinh tuyến

Nằm ở phía Nam của đứt gãy Trà Khúc - Tà Vi, cả vùng miền núi và đồng bằng đều có nét khác biệt so với phía Bắc Trước tiên ở dải đồng bằng ven biển, ngoài tác dụng mài mòn của biển giai đoạn đầu Đệ tứ, quá trình tích tụ vật liệu hạt thô là phổ biến, hiện tượng này liên quan với sự sụt lún dạng bậc tương đối

Trang 8

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

của móng xuống sâu từ 30÷50m dọc các đứt gãy phương Tây Bắc - Đông Nam Các bề mặt đồng bằng tích tụ cũng được kéo dài dạng tuyến theo phương này, chúng có tính phân bậc rõ ràng theo hướng vuông góc với bờ biển Các thành tạo tích tụ cát màu vàng tạo nên bề mặt đồng bằng gò cao 10÷15m ở phía Đông Mộ Đức - Đức Phổ cũng chỉ gặp khu biệt từ phía Nam sông Trà Khúc

Núi ở lưu vực sông Vệ-sông Phước Giang có dạng khối tảng khá đẳng thước Mặc dù vậy, vẫn thấy được hướng chủ đạo của các đường sống núi ở đây

là Tây Bắc - Đông Nam và á kinh tuyến Kiểu địa hình núi khối tảng - dạng vòm trên các đá biến chất tuổi Proterozoi (PR) là khá đặc trưng cho địa hình núi phía Nam Ở ranh giới Tây Nam huyện Sơn Hà cũng tồn tại khối núi trên đá granit Khối núi này có dạng đẳng thước, đỉnh núi khá rộng, là di tích của bề mặt san bằng Miocen trên độ cao 1.200÷1.500 m với vỏ phong hóa laterit dày Sườn bóc mòn dạng phân bậc dốc 20÷30o Ở cực Đông Nam vùng nghiên cứu, núi thấp trên đá granit có sườn đổ lở dốc 20÷30o, song phần đỉnh núi vẫn có dạng bậc rộng với vỏ laterit dày Ở Tây Nam thuộc các huyện Ba Tơ, Sơn Hà còn phát triển một kiểu địa hình gần gũi với phần trọng tâm của địa khối Kon Tum: núi khối tảng, bề mặt đỉnh rộng phát triển trên lớp phủ dung nham bazan Neogen, trên các sườn phân bậc của các khối núi này lại gặp vỏ laterit trên các đá biến chất tuổi PR Về thực chất đây là phần rìa cao nguyên, được nâng lên và phân cắt tạo núi

Các thung lũng, sông suối ở phía Nam đều được mở rộng đáng kể Các thung lũng chính đều có đáy mở rộng, kể cả trung lưu và đôi nơi là thượng lưu Các thung lũng ở khu vực Ba Tơ (sông Vệ, sông Ba Tơ) có dạng chữ U, đáy rộng với bề mặt thềm bậc I cao 6÷8m, nhiều nơi rộng trên 1.000m, tạo nên bề mặt đồng bằng thung lũng khá phẳng, cấu tạo bởi cát - bột xám vàng Các thung lũng sông Rinh, sông Rhe (địa phận huyện Sơn Hà) ngoài bãi bồi và thềm bậc I khá phẳng còn phát triển thêm các thềm cổ hơn, cấu tạo bởi cuội sỏi và đá gốc,

bị phân cắt tạo gò đồi thoải Địa hình đồi thấp và đồi cao dọc thung lũng và trên sườn các khối núi do sự phân cắt các bề mặt san bằng Pliocen và Đệ tứ cũng khá điển hình cho đới phía Nam tỉnh Quảng Ngãi

1.2.2 Địa hình hướng vĩ tuyến

Sự phân dị địa hình theo phương vĩ tuyến chủ yếu được xác lập do sự phân

dị của các cấu trúc tân kiến tạo, của thành phần đá gốc và phần nào của điều kiện khí hậu, thì phân dị theo hướng kinh tuyến của địa hình vùng nghiên cứu lại phản ánh cường độ chuyển động tân kiến tạo và tính phân nhịp của chuyển động, qua đó mối tương tác giữa lục địa và biển đã thể hiện vai trò thành tạo địa hình qua việc hình thành các bậc địa hình Từ Tây sang Đông, có thể quan sát thấy khá rõ nét 9 bậc địa hình chính tương ứng với từng mức cao như: 1.200÷ 1.500m, 900÷1.000m, 400÷600m, 200÷300m, 60÷100m, 20÷30m, 10÷15m, 4÷6m, 2÷3m

Phía Tây của kinh độ 108o45’ hay có thể lấy từ phía Tây của thung lũng sông Vệ ở Minh Long và sông Ba Tơ là sự phổ biến của các núi với đỉnh cao

Trang 9

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

800÷ 1.000m, còn phía Đông là các núi thấp với độ cao 400 ÷600m, ở đây cũng không còn gặp đỉnh nào cao quá 800m Các núi có đỉnh cao 200÷300m nằm ở rìa phía Đông của địa hình núi, giáp đồng bằng và dọc các thung lũng lớn

Bậc địa hình đồng bằng và đồi của sông Vệ có ranh giới khá rõ ràng với địa hình núi, chúng có dạng khá phẳng, ranh giới giữa đồng bằng và núi gần như là một đường thẳng phương Tây Bắc - Đông Nam từ An Mỹ Tây tới đầm An Khê Ranh giới trên rõ ràng được xác lập bởi sự tái tạo của quá trình ngoại sinh trên cấu trúc tân kiến tạo, mà ở đây là các phá hủy đứt gãy Bậc địa hình 60÷100m chủ yếu gặp ở phía Bắc, tại đây có thể thấy chúng phổ biến từ chân núi, ra sát bờ biển, độ cao giảm xuống 40÷50m, các bậc thấp hơn chỉ tồn tại dạng xen giữa các bậc cao Ở phía Nam, bậc 60÷100m hạn chế hơn, song từ chân núi ra bờ biển, các bậc địa hình từ 30m trở xuống phân bố khá đều đặn, quy luật này chỉ bị xáo trộn bởi thung lũng sông thoải ở phần Đông Mộ Đức nguyên là các lạch biển cổ tạo địa hình đồng bằng phía trong các cồn cát

1.3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT

1.3.1 Đặc điểm địa chất

Điều kiện địa chất trong lưu vực khá phức tạp, phần phía Bắc thuộc địa khối Kon Tum bao gồm chủ yếu các thành tạo biến chất cổ và các phức hệ macma xâm nhập có tuổi từ Arke rozoi đến Kainozoi Phần trung tâm phía Tây của vùng là một khối nâng dạng vòm được cấu thành bởi các đá biến chất hệ tầng sông Re, có cấu trúc rất phức tạp gồm hàng loạt các nếp uốn nhỏ Phần phía Nam là các đá biến chất tướng granalit hệ tầng Kanak và phát triển chủ yếu hệ thống đứt gẩy phương ĐB-TN Dọc theo phía Tây chủ yếu là hệ đứt gẫy Ba Tơ- Gia Vực Dọc các đứt gẩy xuất hiện nhiều thể macma xâm nhập nối tiếp với các thành tạo trầm tích Neogen và kỷ đệ tứ

- Nhóm đất cát ven biển: Phân bố tại huyện đồng bằng Mộ Đức, Đức Phổ,

Tư Nghĩa loại đất này thường được trồng hoa màu, nếu chủ động nguồn nước có thể trồng ngô mùa và nuôi trồng thủy sản

- Nhóm đất mặn: Phân bố ở huyện ven biển do phù sa sông lắng đọng trong môi trường nước lợ hoặc bị nhiễm mặn Loại đất này sử dụng hiệu quả nhất là nuôi trồng thủy sản và làm muối

Trang 10

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

- Nhóm đất phù sa: Phân bố ở huyện vùng đồng bằng và ven sông, suối của các huyện miền núi Đặc điểm chung loại đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng nông nghiệp khác nhau, đặc biệt là sản xuất lúa nước

- Nhóm đất Glây: Phân bố ở huyện đồng bằng Mộ Đức, Đức Phổ Đặc điểm loại đất này là chua và ít chua, thích nghi trồng lúa nước nhưng cần chú ý luân canh để cải thiện tính khử của đất

- Nhóm đất xám: Phân bố các huyện vùng đồng bằng đến vùng núi cao ở các huyện Nghĩa Hành, Minh Long, Ba Tơ Đặc điểm loại đất này thành phần dinh dưỡng nghèo đến trung bình Có khả năng khai thác cho sản xuất nông nghiệp nhưng hạn chế

- Đất dốc mòn trơ sỏi đá: Phân bố hầu hết ở các huyện trong lưu vực Loại đất này nghèo dinh dưỡng, tầng đất mỏng phù hợp với các loại cây lâm nghiệp 1.4 ĐẶC ĐIỂM SÔNG VỆ

Bắt nguồn từ rừng núi phía Tây của huyện Ba Tơ có tọa độ 14034’32’’ vĩ

độ Bắc, 108025’15’’ Sông chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc, giữa các huyện Nghĩa Hành, Tư Nghĩa, Mộ Đức đổ ra biển Đông tại cửa Cổ Lũy và cửa Đức Lợi, đoạn giáp biển một phần được nối tiếp và đổ ra tại cửa Đại (Sông Trà Khúc) Sông dài khoảng 90 km, trong đó 2/3 chiều dài chảy trong vùng núi có

độ cao 100÷1.000m Sông có 05 phụ lưu cấp I, 02 phụ lưu cấp II Các phụ lưu không lớn, đáng kể là:

- Sông Liên bắt nguồn từ vùng núi Tây Nam huyện Ba Tơ Sông chảy theo

hướng Tây Nam- Đông Bắc, hợp nước với sông Tô ở thị trấn Ba Tơ

- Sông Tà Nô hay sông Tô chảy từ đồng Bia xã Ba Tô có độ cao trên 200m,

theo hướng Tây- Đông, hợp với sông chính cách huyện lỵ Ba Tơ 18km về phía

hạ lưu

- Sông Nễ chảy từ vùng núi Mum, phần tiếp giáp giữa hai huyện Ba Tơ và

Minh Long theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, hợp lưu tại khoảng làng Teng xã

Ba Thành, dài khoảng 09 km Dòng chính cơ bản chảy theo hướng Tây Nam- Đông Bắc, dọc huyện Nghĩa Hành đến hết xã Hành Thiện thì sông thoát khỏi núi, chảy trên vùng đồng bằng Đến qua đường sắt, sông chảy giữa hai huyện Tư Nghĩa- Mộ Đức Trên sông Vệ xưa kia cũng có rất nhiều guồng xe nước Cuối nguồn, sông Vệ đổ ra cửa Lở và cửa Đại Cổ Lũy

Sông Vệ có một phân lưu đáng kể nhất là sông Thoa Sông Thoa bắt đầu từ thôn Mỹ Hưng (xã Hành Thịnh, huyện Nghĩa Hành) và thôn Phú An (xã Đức Hiệp, huyện Mộ Đức) theo hướng Tây Bắc-Đông Nam đến Sa Bình (xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ) thì nhập với sông Trà Câu rồi đổ ra biển qua cửa Mỹ Á Ngoài ra, còn có các nhánh sông khác như sông Cây Bứa dài 15km, sông Phú Thọ dài 16km, hợp lưu với sông chính gần vùng cửa sông tạo thành hình nan quạt Sông Phú Thọ thực chất là đoạn sông Vệ ở cuối nguồn Nguồn của chúng chủ yếu là nước mưa của vùng tiếp giáp giữa rừng núi và đồng bằng

Trang 11

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Sông Vệ có diện tích lưu vực 1.263 km2, bao gồm các huyện Ba Tơ, Minh Long, Mộ Đức, Nghĩa Hành, Tư Nghĩa Độ cao trung bình lưu vực khoảng 170m, mật độ lưới sông 0,79km/km2

Bảng 1.1 HÌNH THÁI SÔNG SUỐI CHÍNH TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU

ra

Chiều dài sông (km)

Diện tích lưu vực (km 2 )

Độ cao bình quân lưu vực (m)

Độ dốc bình quân lưu vực (%)

Chiều rộng bình quân lưu vực (km)

Hệ

số uốn khúc

Mật độ lưới sông (km/km 2 )

Nguồn: Quyết định số 341/QĐ-BTNMT ngày 23/03/2012, ban hành danh mục sông nội tỉnh; Đặc trưng

hình thái sông ngòi Việt Nam

Hình 1.1 Bản đồ mạng sông ngòi lưu vực sông Vệ

Trang 12

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

1.5 MẠNG LƯỚI TRẠM QUAN TRẮC KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN

1.5.1 Trạm khí tượng và đo mưa

Trong và lân cận vùng nghiên cứu có trạm đo khí tượng Ba Tơ, trạm khí tượng Quảng Ngãi, 3 trạm đo mưa độc lập và trạm thủy văn An Chỉ, trạm đo mực nước Sông Vệ có đo mưa Trạm khí tượng Ba Tơ, Quảng Ngãi được đo đầy

đủ các yếu tố khí tượng (Nhiệt độ, tốc độ gió, độ ẩm, tổng lượng bốc hơi, số giờ nắng)

Bảng 1.2 THỐNG KÊ CÁC TRẠM ĐO KHÍ TƯỢNG, MƯA TRONG VÙNG

trạm

Liệt tài liệu

độ trạm (m) Kinh độ Vĩ Độ

Vì trạm khí tượng Ba Tơ đặt tại thượng lưu chỉ đại diện cho vùng núi cao, vùng hạ du và ven biển chọn trạm khí tượng Quảng Ngãi làm đại diện để tính toán,

Trang 13

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Hình 1.2 Bản đồ mạng lưới trạm khí tượng thủy văn lưu vực sông Vệ

1.5.2 Trạm thủy văn

Lưu vực sông Vệ có 01 trạm thuỷ văn (đo lưu tốc và mực nước) là trạm An Chỉ và 01 trạm đo mực nước trong mùa lũ là trạm thủy văn Sông Vệ

Bảng 1.3 THỐNG KÊ CÁC TRẠM ĐO THUỶ VĂN TRONG VÙNG

TV: trạm Thủy văn (Đo các yếu tố mực nước; Lưu lượng; Độ đục)

1.5.3 Tình hình quan trắc, chất lượng và phương pháp xử lý tài liệu

* Tình hình quan trắc

- Trạm An Chỉ trên sông Vệ: là trạm có đo lưu lượng dòng chảy, cũng

giống như trạm Sơn Giang, ở đây có đo đạc mực nước, lưu lượng dòng chảy, lượng mưa, nhiệt độ nước và nồng độ phù sa Đường quan hệ mực nước- lưu lượng có đồ thị dạng hình vòng Trong những trận lũ lớn, tốc độ dòng chảy cao, với mức tối đa là 3,5m/s và tốc độ trung bình là 2,5m/s Trạm An Chỉ nằm tại vị trí nơi mương thủy lợi chạy cắt ngang sông bằng đường máng xi phông Đây là

vị trí nằm ngay phía thượng lưu của vùng ngập úng diện rộng, nhưng dòng chảy

bị eo thắt tại điểm đặt trạm Ngoài ra việc sửa lại cây cầu gần trạm tháng VIII/1995 có thể cũng ảnh hưởng đến mực nước đo được

Trang 14

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

- Trạm sông Vệ đặt tại Cầu Sông Vệ trên sông Vệ Trạm này chỉ ghi mực nước vào mùa mưa, nằm ngay phía dưới cầu quốc lộ về phía hạ lưu bên bờ Bắc sông Vệ

* Chất lượng tài liệu

Các trạm thuỷ văn chủ yếu được bố trí chủ yếu ở huyện lỵ thị trấn, vùng đồng bằng ven biển còn ở vùng núi và các nơi hẻo lánh chưa có trạm đo do đó cũng chưa nắm bắt được các diễn biến hiện tượng thời tiết và đặc điểm thủy văn dòng chảy một cách chi tiết toàn vùng được

Tóm lại qua phân tích cho thấy ở các trạm đo đạc trong và lân cận vùng nghiên cứu tài liệu từ sau ngày giải phóng Miền Nam liên tục và đáng tin cậy có thể sử dụng để tính toán được

Cao độ tại các trạm thuỷ văn: Từ khi thành lập đến tháng 12/1994 các trạm thuộc tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và miền Duyên hải Nam Trung bộ nói chung đều sử dụng hệ cao độ giả định Từ tháng 1/1995 đã được chuyển về hệ cao độ Quốc gia với hệ số chuyển đổi như sau:

Bảng 1.4 CHUYỂN ĐỔI CAO ĐỘ, CẤP BÁO ĐỘNG VÙNG HẠ LƯU CÁC SÔNG THUỘC

VÙNG NGHIÊN CỨU

Tên trạm

thuỷ văn

Cao độ cũ (m)

Cao độ mới (m)

Hệ số chuyển đổi (m)

- Khí hậu mùa Đông: từ tháng XI đến tháng IV là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc và tín phong Đông Bắc:

+ Gió mùa Đông Bắc mang không khí lạnh (tuy đã biến tính trong quá trình

di chuyển qua các dãy núi Bạch Mã, Hải Vân) làm cho nhiệt độ của vùng nghiên cứu thời kỳ này tương đối lạnh Nhiệt độ thấp nhất tại một số trạm xuống đến 10÷13oC Vào đầu mùa Đông gió mùa Đông Bắc qua biển mang theo hơi ẩm và kết hợp với hoạt động của các nhiễu động thời tiết trên biển Đông như bão, ATNĐ, khi vào đến đất liền gặp dãy Trường sơn đã gây mưa vừa đến mưa to Giữa và cuối mùa Đông cường độ hoạt động của các nhiễu động thời tiết này đã lùi sâu hơn vào phía Nam nên sự hội tụ giưã gió mùa Đông Bắc với hướng gió Đông, Đông Nam đã yếu đi hoặc không tồn tại, do đó trong thời kỳ này trong vùng chỉ có mưa nhỏ hoặc mưa rào nhẹ

+ Tín phong Đông Bắc mà nguồn gốc là không khí lạnh cực đới đã nhiệt đới hoá (ấm và ẩm hơn nhiều so với ban đầu) luân phiên với gió mùa Đông Bắc chi phối thời tiết trong suốt mùa đông

Trang 15

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

- Khí hậu mùa hạ: Từ tháng V đến tháng X là các hoạt động của gió mùa Tây Nam và Đông Nam

+ Gió mùa hướng Tây Nam có nguồn gốc từ Vịnh Thái Lan mang theo hơi

ẩm, khi qua sườn phía Tây của dải Trường Sơn đã để lại lượng mưa đáng kể và tạo thành hiện tượng “phơn” làm cho không khí sườn phía Đông Trường sơn khô và nóng

+ Gió hướng Đông Nam có nguồn gốc từ Đông châu Úc hoặc xích đạo gây nên các nhiễu động biển Đông, mang theo hơi ẩm vào các tỉnh Nam Trung bộ vào các tháng V, VI hàng năm cung cấp lượng mưa vừa làm dịu mát và làm bớt

đi sự khô hạn trong vùng Từ tháng VII đến tháng IX toàn vùng có lượng mưa không đáng kể nên lại là thời kỳ khô hạn

Tóm lại với chế độ gió mùa, điều kiện bức xạ và vị trí địa lý, đặc điểm địa hình đã tạo cho khí hậu của lưu vực có những đặc điểm chủ yếu sau:

- Chế độ gió mùa cùng với dải Trường Sơn đã tạo ra sự tương phản sâu sắc giữa mùa khô và mùa mưa trên toàn vùng nghiên cứu

- Hoạt động của gió mùa, tín phong Đông Bắc và các nhiễu động thời tiết ở biển Đông cùng với địa hình dãy Trường Sơn đã tạo ra mùa mưa phong phú trong các tháng từ tháng IX đến tháng XII

- Do sự xâm nhập sâu về phía Nam của gió mùa Đông Bắc nên Quảng Ngãi tương đối lạnh trong tháng XII, I

- Do hiệu ứng “phơn” của dãy Trường Sơn đối với gió mùa Tây Nam nên ở vùng nghiên cứu xuất hiện một thời kỳ nắng nóng và khô hạn trong suốt các tháng mùa hạ

1.6.1 Nhiệt độ

Do thừa hưởng chế độ bức xạ mặt trời nhiệt đới đã dẫn đến một nền nhiệt

độ cao trong toàn vùng Nhiệt độ có xu hướng tăng dần từ Bắc vào Nam và từ miền núi xuống đồng bằng Nhiệt độ bình quân hàng năm vùng núi: 25,4oC, vùng đồng bằng ven biển: 25,8oC, nhiệt độ bình quân nhiều năm tại Quảng Ngãi 25,8 oC, Ba Tơ 25,4oC

Tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất là tháng VI, VII có thể đạt tới

28oC÷29oC, tháng có nhiệt độ bình quân nhỏ nhất là tháng I đạt 21oC Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất từ 6 ÷7oC

Bảng 1.5 NHIỆT ĐỘ BÌNH QUÂN THÁNG, NĂM TẠI CÁC TRẠM TRONG VÙNG

Đơn vị: 0 C

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tơ 21,4 22,7 24,5 26,7 28,0 28,2 28,0 28,1 26,6 25,2 23,6 21,7 25,4

Quảng Ngãi 21,6 22,6 24,4 26,7 28,4 29,0 28,8 28,6 27,2 25,8 24,2 22,3 25,8

Nhiệt độ tối cao trung bình tháng đạt trên 30oC, có cực đại vào tháng V đạt

từ 37÷38oC Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng đạt từ 15÷24oC, trị số thấp nhất rơi vào tháng I với nhiệt độ đạt từ 15÷16oC

Trang 16

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

1.6.2 Số giờ nắng

Tổng số giờ nắng trên vùng nghiên cứu khoảng 2.000 ÷ 2.200 giờ/năm Tháng có số giờ nắng nhiều nhất là tháng V, ở vùng núi (Ba Tơ) đạt 223,5 giờ/tháng, bình quân 7,2 giờ/ngày, vùng đồng bằng ven biển 258,5 giờ/tháng đạt bình quân 8,3 giờ/ngày

Tháng có số giờ nắng ít nhất là tháng XII, ở vùng núi 68,8 giờ/tháng đạt bình quân 2,2 giờ/ngày Ở đồng bằng ven biển: 90,1 giờ/tháng bình quân đạt: 2,9 giờ/ngày

Bảng 1.6 SỐ GIỜ NẮNG BÌNH QUÂN THÁNG TRUNG BÌNH NHIỀU NĂM TRẠM

(Giờ)

Ba

103,3 151,2 194,1 210,5 223,5 215,0 218,3 200,5 159,3 127,2 93,4 66,8 1963,3 Quảng

Ngãi 121,8 154,4 205,6 229,4 258,5 238,0 242,3 224,7 186,9 153,9 112,7 90,1 2218,3 1.6.3 Chế độ ẩm

Độ ẩm không khí có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ không khí và lượng mưa Biến trình năm của độ ẩm không khí tương tự như biến trình mưa và tỷ lệ nghịch với biến trình của nhiệt độ không khí

Độ ẩm tương đối trung bình năm trong vùng khoảng 84 ÷ 85% Vào các tháng mùa mưa (từ tháng IX tới tháng XII) độ ẩm không khí đạt từ 85% ÷ 90%, vào các tháng mùa khô chỉ còn trên dưới 80% Độ ẩm không khí thấp nhất có thể xuống tới mức 30%, trạm Ba Tơ trị số độ ẩm thấp nhất quan trắc được 30%,

ở Quảng Ngãi trị số này là 25%

1.6.4 Gió

Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có hai mùa gió chính (gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hè) Do địa hình chi phối nên hướng gió không phản ảnh đúng cơ chế của hoàn lưu Tuy nhiên, hướng gió hình thành vẫn biến đổi theo mùa rõ rệt

Hải đảo từ tháng X đến tháng II năm sau là hướng Tây Bắc đến Đông Bắc,

từ tháng III đến tháng IX là hướng Tây Bắc và Đông Nam

Vùng núi từ tháng X đến tháng III năm sau là hướng Bắc đến Đông Bắc, tuy nhiên trong thời kỳ này hướng gió Nam và Tây Nam cũng xuất hiện với tần suất khá cao, từ tháng IV đến tháng IX là hướng Tây Nam

Tốc độ gió: Tốc độ gió trung bình năm tại đồng bằng ven biển khoảng 1,3m/s, tại vùng núi khoảng 1,2m/s Như vậy, tốc độ gió vùng hải đảo cao gấp 3 đến 4 lần ở vùng đồng bằng và vùng núi, điều này cho phép khai thác tài nguyên gió ở vùng hải đảo và ven biển phục vụ cho sản xuất và đời sống khá thuận lợi

Trang 17

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

0 20,0 20,0 22,0 28,0 20,0 40,0 Hướng NNE SW SW SW S NNW SW W SW SW N ENE SW

1.6.5 Bốc hơi

Khả năng bốc hơi trên lưu vực phụ thuộc vào điều kiện mặt đệm và các yếu

tố khí hậu như nhiệt độ không khí, nắng, gió, độ ẩm Theo tài liệu bốc hơi bằng ống piche tại các trạm trong lưu vực vùng nghiên cứu cho thấy lượng bốc hơi ống piche hàng năm khoảng 800÷900 mm, vùng núi bốc hơi khoảng 800 mm/năm Vùng đồng bằng ven biển bốc hơi nhiều hơn, khoảng 900 mm/năm Vào các tháng mùa khô lượng bốc hơi có thể đạt tới 95÷100 mm/tháng Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng VII đạt 100,8 mm/tháng tại Ba Tơ Tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất là tháng XII, chỉ đạt 31,5 mm/tháng tại Ba Tơ;

Bảng 1.8 BỐC HƠI PICHE BÌNH QUÂN THÁNG TRUNG BÌNH NHIỀU NĂM

Đơn vị: (mm)

Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Ba Tơ 39,7 48,8 69,4 81,7 85,8 91,2 97,6 94,2 57,5 41,8 34,3 31,2 773,3 Quảng Ngãi 56,1 59,5 79,1 91,9 106,8 107,7 114,3 100,3 75,2 67,4 54,2 51,0 963,5

1.7 BÃO VÀ CÁC HÌNH THÁI THỜI TIẾT ĐẶC BIỆT

1.7.1 Bão và áp thấp nhiệt đới

Bão và áp thấp nhiệt đới thường phát sinh ở vùng biển Thái Bình Dương hoặc ở biển Đông Bão thường đổ bộ vào bờ biển nước ta từ tháng VII đến tháng

XI, vào các tháng VII, VIII đường đi của bão thường hướng vào đoạn bờ biển Bắc bộ, càng vào phía Nam, bão đổ bộ càng muộn dần

Bão và áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) ảnh hưởng đến tỉnh Quảng Ngãi nói chung và lưu vực sông Vệ nói riêng thường trùng vào mùa mưa (tháng IX đến tháng XII) Các cơn bão đổ bộ vào lưu vực thường gây ra gió mạnh và mưa rất lớn hoặc các cơn bão đổ bộ vào các vùng lân cận cũng thường gây ra mưa lớn ở vùng nghiên cứu Mặt khác địa hình vùng nghiên cứu rất thuận lợi cho việc đón gió bão và mưa bão, do đó cần chú ý công tác phòng chống lũ lụt Hàng năm mưa bão lũ lụt gây những tác hại nghiêm trọng làm thiệt hại người, vật chất và huỷ hoại môi trường, cảnh quan Tại lưu vực sông Vệ, bão thường tập trung vào tháng IX, X và tháng XI Khả năng xuất hiện vào tháng X là lớn nhất, tuy nhiên mùa bão diễn biến khá phức tạp qua các năm: có năm bão ảnh hưởng sớm, có năm muộn, có năm lại không có bão ảnh hưởng

Bão thường gây ra mưa lớn dữ dội, lượng mưa có thể đạt 400 ÷ 500mm ngày hoặc lớn hơn

Trang 18

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Sức gió mạnh nhất của bão: 60% số cơn bão từ cấp 10 trở lên, trung bình

cứ 2 ÷ 3 năm có một cơn bão mạnh cấp 11, 12

1.7.2 Dải hội tụ nhiệt đới

Đây là dạng nhiễu động đặc trưng của gió mùa mùa Hạ, thể hiện sự hội tụ giữa gió tín phong Bắc bán cầu và gió mùa mùa Hạ Khi có dải hội tụ nhiệt đới, không khí hai bên trục hội tụ là không khí nóng ẩm liên tục bốc lên cao, duy trì một vùng mây dày đặc, có bề rộng vài trăm km và gây mưa lớn kèm theo dông trên diện rộng Dạng thời tiết này thưởng ảnh hưởng đến khu vực Trung bộ, tỉnh Quảng Ngãi nói chung và lưu vực sông Vệ nói riêng vào các tháng IX, X và đôi khi vào các tháng V, VI

1.7.3 Không khí lạnh

Không khí lạnh (KKL) ảnh hưởng đến lưu vực vào các tháng X đến tháng XII Trung bình mỗi năm có 1 đến 2 đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến duyên hải Nam Trung Bộ

Qua phân tích các số liệu cho thấy vào các tháng X, XI hoạt động của không khí lạnh và các hình thái thời tiết khác gây mưa chiếm 82% vì trong thời

kỳ này các tỉnh Miền Trung có nền nhiệt độ tương đối cao, độ ẩm lớn, nếu có không khí lạnh về kết hợp với các hình thái thời tiết khác thì sẽ gây ra những trận mưa rất lớn

1.8 CHẾ ĐỘ MƯA

* Biến động của mưa năm theo không gian:

Nhìn chung trong lưu vực lượng mưa có xu hướng giảm dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông Vùng mưa lớn chủ yếu ở vùng núi cao như Ba Tơ, Giá Vực và vùng trung du từ 3.200÷3.800 mm/năm, đồng bằng ven biển lượng mưa chỉ còn 1.600 ÷ 2.500 mm/năm

* Biến động của mưa năm theo thời gian:

Theo thời gian, sự biến động của mưa năm ở vùng nghiên cứu khá lớn Hệ

số biến sai Cv lượng mưa năm đạt từ 0,22 đến 0,32, nguyên nhân là do khu vực này chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và các nhiễu động thời tiết từ biển Đông làm cho lượng mưa hàng năm không ổn định Năm mưa nhiều có thể gấp 3 ÷ 4 lần năm mưa ít, năm 1996, 1998 và năm 1999 là năm mưa nhiều và đều khắp vùng nghiên cứu, năm 1999 đạt 5.094,7 mm tại Giá Vực, 6.520,5 mm tại Ba Tơ, tại Minh Long 6.180,7 mm Nhưng năm 1982 là năm mưa ít nhất với lượng mưa

đo được ở tại Giá Vực 1.299 mm, tại Ba Tơ 1.952,6 mm

Tháng có lượng mưa nhỏ nhất thường là tháng II với lượng mưa chỉ chiếm xấp xỉ 1% ÷ 2% lượng mưa năm

Do địa hình trong vùng nghiên cứu nên xuất hiện các đỉnh mưa phụ vào tháng V và tháng VI, ở thời kỳ này gió mùa mùa Hạ hướng Tây Nam hoặc Đông Nam thổi tới, càng về phía Tây của lưu vực lượng mưa này càng rõ nét hơn với

Trang 19

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

lượng mưa trung bình tháng chiếm khoảng 4 ÷ 7% lượng mưa năm, tuy nhiên giá trị bình quân của tháng V và tháng VI cũng không vượt quá giá trị bình quân các tháng trong năm

Như vậy, qua biến trình mưa trong vùng cho thấy sự chênh lệch giữa tháng mưa nhiều và tháng mưa ít khoảng 400 ÷ 800 mm Tức là tháng mưa nhiều có tổng lượng mưa gấp 1,5 ÷ 20 lần tháng mưa ít Sự phân phối mưa trong năm rất không đồng đều, đó là điều không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

Bảng 1.9 LƯỢNG MƯA TRUNG BÌNH THÁNG VÀ TỶ LỆ SO VỚI LƯỢNG MƯA NĂM

CỦA MỘT SỐ TRẠM TRONG VÀ LÂN CẬN VÙNG NGHIÊN CỨU

Tỷ lệ (%) 4,05 1,5 2,1 2,12 5,22 4,17 3,12 6,26 11 22,9 21,7 16 100

Tỷ lệ (%) 4,4 1,3 1,3 1,9 3,3 2,9 1,8 4,4 14,3 27,1 23,8 13,4 100 Sông Vệ 33,6 6,1 5,1 3,8 18,5 48,3 19,2 46 253 553 469 198 1.654

Tỷ lệ (%) 2,03 0,4 0,3 0,23 1,12 2,92 1,16 2,78 15,3 33,4 28,4 12 100 Bảng 1.10 LƯỢNG MƯA MÙA LŨ, MÙA KIỆT, TỶ LỆ SO VỚI LƯỢNG MƯA NĂM

Trang 20

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Hình 1.3 Bản đồ đẳng trị mưa năm lưu vực sông Vệ

* Mưa thời đoạn ngắn:

Qua tính toán thống kê tài liệu mưa thực đo tại các trạm trong và lân cận vùng nghiên cứu cho thấy thời gian mưa của các trận mưa lớn thường kéo dài từ

3 đến 5 ngày nhưng lượng mưa lớn nhất trong trận chỉ từ 1 đến 3 ngày Lượng mưa lớn nhất thời đoạn 1, 3, 5, 7 ngày liên tục thường tập trung vào tháng X và tháng XI là thời gian thường bị ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới và các đợt không khí lạnh Lượng mưa 1 ngày có thể đạt trên 700 mm ngày Lượng mưa ngày lớn nhất đo được ngày 29/IX/2009 là 533,0 mm tại Mộ Đức Ngày 3/XII/1986 đã gây mưa lớn tại Giá Vực là 723,2 mm, An chỉ 599,7mm ngày 19/XI/1987 Đặc biệt trận mưa lũ tháng XI và tháng XII năm 1999 đã gây mưa rất lớn trên vùng nghiên cứu, lượng mưa 1 ngày max đạt 639,5 mm tại Ba Tơ Lượng mưa 3 ngày max ở đợt mưa này đạt 1.694,8 mm tại Ba Tơ và đặc biệt lượng mưa 5 ngày max của đợt này đạt từ 1.200÷2.000 mm tại các vị trí Ba Tơ, Giá Vực Cường độ mưa lớn là nguyên nhân sinh ra lũ lụt và xói mòn trên lưu vực

Trang 21

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Hình 1.4 Bản đồ đẳng trị mưa năm bình quân thời kỳ 1977-2015

Bảng 1.11 TỶ LỆ % LƯỢNG MƯA SINH LŨ XUẤT HIỆN TRONG CÁC THÁNG MÙA

MƯA TẠI MỘT SỐ TRẠM TRONG VÙNG

Trang 22

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Số đợt mưa có tổng lượng mưa 5 ngày max trong tháng X sinh lũ chiếm 35

÷ 45% số đợt mưa sinh lũ năm

Số đợt mưa có tổng lượng mưa 5 ngày max trong tháng XI sinh lũ chiếm

30 ÷ 47,1% số đợt mưa sinh lũ năm

Số đợt mưa có tổng lượng mưa 5 ngày max trong tháng XII sinh lũ chiếm 5,0 ÷ 15% số đợt mưa sinh lũ năm

Theo số liệu thống kê mưa lớn thường vào tháng X, XI và đầu tháng XII cho thấy, tháng X, XI thường gắn liền với dông và bão Những năm có nhiều bão, dông hoặc có những trận bão lớn đổ bộ trực tiếp vào thì lượng mưa rất lớn gây úng ngập Từ những nhận xét trên thấy rằng: Phần lớn thời gian xảy ra ngập úng trong lưu vực thường do những cơn mưa dông lớn từ tháng X ÷ XII Mức

độ ngập úng nặng nhẹ tuỳ thuộc vào các mối quan hệ giữa lũ trên sông và mưa trong đồng ruộng vùng hạ lưu

1.9 XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.9.1 Biến đổi về mưa

Hình 1.5 Xu thế lượng mưa nhiều năm tại các trạm thuộc lưu vực sông Vệ và lân cận

Trang 23

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Hình 1.6 Biến đổi lượng mưa với kịch bản BĐKH 2016 tỉnh Quảng Ngãi

Về xu thế cho thấy lượng mưa có xu thế tăng trong những năm gần đây Theo kịch bản BĐKH, những năm tới 2035, từ 2046-2065 và từ năm 2080 đến năm 2100 lượng mưa mùa thu có xu hướng tăng, lượng mưa mùa thu tính tới giai đoạn 2046-2065 với kịch bản RCP4.5 có thể tăng tới 39,1% so với lượng mưa thời đoạn 1986-2005

Trang 24

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Bảng 1.12 BIẾN ĐỔI LƯỢNG MƯA 1 NGÀY MAX DO BDKH

Trạm Thời đoạn tính toán X Mộ đức X Ba Tơ X Giá Vực Kịch bản BDKH

2016-2030 197,9 293,5 315,5 2046-2050 226,3 335,6 366,1 Trung bình cơ sở 1986-2005 185,3 274,9 259,7

RCP8.5 2016-2025 206,4 306,2 289,3

2016-2030 219,8 326,1 308,0 2046-2050 250,3 371,3 350,7

An Chỉ

lũ sớm

Trung bình cơ sở 1986-2005 93,3 96,5 84,6

RCP4.5 2016-2025 97,0 100,3 87,9

2016-2030 98,8 102,2 89,5 2046-2050 102,5 106,0 92,9 Trung bình cơ sở 1986-2005 93,3 96,5 117,0 RCP8.5

1.9.2 Biến đổi về nhiệt độ

Hình 1.7 Biến đổi nhiệt độ trung bình năm các trạm thuộc thuộc lưu vực sông Vệ và lân cận

Trang 25

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Hình 1.8 Biến đổi nhiệt độ theo kịch bản BĐKH 2016

Qua phân tích cho thấy nhiệt độ những năm gần đây tại trạm Ba Tơ và Quảng Ngãi đều có xu thế tăng trong những năm gần đây Theo kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất được công bố năm 2016, ứng với kịch bản RCP4.5 nhiệt độ những năm tới sẽ có xu hướng tăng lên Tính tới giai đoạn 2046-2065 nhiệt độ các tháng mùa thu có thể tăng lên tới 1,4% so với thời kỳ 1986-2005, tới năm

2100 nhiệt độ có thể tăng lên tới 1,8%

1.9.3 Biến đổi về độ ẩm

Hình 1.9 Xu thế biến đổi độ ẩm năm các trạm thuộc thuộc lưu vực sông Vệ và lân cận

Độ ẩm có xu thế giảm mạnh tại vùng đồng bằng và ít biến đổi ở vùng núi 1.10 ĐẶC ĐIỂM THUỶ VĂN

1.10.1 Các hình thái thời tiết gây lũ lụt

Các nguyên nhân chính gây ra mưa lũ là do bão, áp thấp nhiệt đới, dải hội

tụ nhiệt đới, không khí lạnh Các hình thái này hoạt động riêng lẻ hoặc phối hợp với nhau và có thể phân ra làm 3 dạng chính như sau:

Bão hoặc áp thấp nhiệt đới hoạt động đơn độc hoặc phối hợp với các hình thái khác (trừ không khí lạnh)

Bão hoặc áp thấp nhiệt đới phối hợp với không khí lạnh

Trang 26

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Không khí lạnh, hội tụ nhiệt đới (HTNĐ)và các hình thái thời tiết khác

Theo thống kê từ năm 1980÷2016 tổng số cơn bão đổ bộ vào bờ biển Việt Nam là 168 cơn, trung bình mỗi năm 4,66 cơn/năm trong đó: số cơn bão đổ bộ

từ Quảng Bình trở vào có 77 cơn, trung bình có 2,14 cơn/năm, chiếm 45,83% tổng số cơn bão đổ bộ vào Việt Nam, đặc biệt trong những năm gần đây tần suất xuất hiện càng nhiều, như năm 2013 số là 9 cơn Bão và ATNĐ ảnh hưởng đến Miền Trung nhiều nhất vào tháng IX, X

Không khí lạnh ảnh hưởng đến Miền Trung nhiều nhất vào tháng X, XI, trung bình mỗi năm có từ 1÷2 đợt KKL

Dạng hình thế KKL kết hợp với hoạt động của giải hội tụ nhiệt đới cũng gây thiên tai mưa, lũ lụt rất nghiêm trọng Trung bình hàng năm có khoảng 2 đợt mưa lớn do tác động của hình thế thời tiết này và thường xảy ra vào tháng X, XI Trong những năm gần đây mưa lớn do dạng hình thời tiết này xảy ra nhiều hơn Mưa to và rất to thường trên 300mm, có nơi trên 1000mm và thường kéo dài trên diện rộng có thể gây lũ lớn trên báo động III và nhiều khi gây lũ lịch sử

Bão hoặc ATNĐ và dải HTNĐ kết hợp với KKL là hình thái nguy hiểm có thể gây mưa và lũ lớn trên diện rộng

Bão đổ bộ liên tiếp trong thời gian ngắn là nguy hiểm nhất

1.10.2 Diễn biến thời tiết qua một số trận mưa lũ điển hình thuộc lưu vực sông Vệ và lân cận

* Trận bão Toan xảy ra ngày 4/11/1964:

Bão xuất hiện từ Thái Bình dương, đổ bộ vào vùng Nam Trung Bộ gây ra gió lớn đạt 35 m/s gây ra mưa lớn và lũ lụt nghiêm trọng trên các lưu vực sông Trà Bồng, Trà Khúc Trên sông Trà Khúc tại Trà Khúc đo được mực nước max

ở Trung Bộ

Mưa lớn, cường độ tập trung trong thời gian ngắn lượng mưa đạt từ 350 ÷

500 mm như ở Sơn Giang đạt 389 mm, tại Quảng Ngãi đạt 206 mm, Ba Tơ 433

mm, Giá Vực 723,3 mm

Do mưa lớn, lũ trên các sông đều lên rất cao Sông Trà Khúc đều xấp xỉ lũ lịch sử 1964 Dưới đây là đặc trưng của đợt lũ này

Bảng 1.13 ĐẶC TRƯNG CỦA ĐỢT LŨ THÁNG 12/1986 XẢY RA Ở MIỀN TRUNG

Trang 27

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

* Đợt lũ lớn trên các sông thuộc Quảng Ngãi - Bình Định tháng XI/1987

* Năm 1996

ATNĐ ngày 3/XI/1996 ảnh hưởng từ Bình Thuận đến đồng bằng Bắc Bộ

và sau đó là cơn bão số 8 ảnh hưởng từ Quảng Trị đến Phú Yên ngày 17/XI đã gây ra mưa to đến rất to trên một diện rộng và xảy ra lũ lớn từ ngày 2 đến ngày 20/XI/1996 có mức độ thiệt hại nghiêm trọng trên toàn vùng duyên hải Miền Trung

Tỉnh Quảng ngãi, lượng mưa ở đồng bằng từ 260 ÷ 600 mm, ở miền núi từ

400 ÷ 850 mm, trong thời gian đó đã xảy ra 2 trận lũ: trận lũ ngày 2 - 3/XI do mưa lớn ở thượng nguồn sông Trà Khúc, tiếp theo là trận mưa lớn từ 14 - 20/XI gây lụt lớn ở hầu hết các khu vực trong tỉnh Mực nước tại các triền sông đều vượt BĐ III từ 1 ÷ 2 m, tại cầu Trà Khúc đạt 7,72 m, vượt BĐ III 1,22m

1-cả đợt đạt 600 ÷ 1.000 mm Hầu hết các sông trong vùng có lũ vượt báo động cấp III từ 0,5 ÷ 1,0 m Tại Cầu Trà Khúc mực nước lũ đạt 7,77m, vượt BĐ III 1,27m

+ Tiếp đó là trận mưa lũ từ ngày 1÷6/XII/1999, do ảnh hưởng của KKL kết hợp với hoạt động của đới gió Đông tương đối mạnh nên hầu hết các tỉnh ven biển từ Thừa Thiên Huế trở vào đã có mưa to, có nơi mưa rất to, lượng mưa phổ biến trên 400 ÷ 600m Tỉnh Quảng Ngãi tại Sơn Giang 1.916 mm, Ba Tơ 1.974

mm, Minh Long 1.803 mm Cường độ mưa ở Quảng Ngãi thuộc loại lớn nhất trong vòng 40 năm trở lại đây Lượng mưa 24 giờ tại Sơn Giang 767 mm, tại Minh Long (643mm) xảy ra vào ngày 4/XII/1999 Do lượng mưa lớn và trải dài trên diện rộng, tập trung trong thời gian ngắn, nhất là đêm mồng 3 đến sáng mồng 4/XII đã gây ra lũ lụt lớn rộng khắp Mực nước đỉnh lũ Sông Trà Khúc tại cầu Trà Khúc 8,36m, vượt báo động cấp III là 1,85m

Trang 28

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

* Năm 2003

Do ảnh hưởng của KKL kết hợp với dải HTND, đêm 14 và 15/X ở Quảng Ngãi có mưa rất to nên mực nước ở các sông trong tỉnh lên nhanh Đến 18 giờ ngày 17/10/2003, mực nước tại An chỉ trên sông Vệ lên 10,02m, sông Trà Khúc tại cầu Trà Khúc mực nước đỉnh lũ là 8,08 m trên báo động III là 1,58m

* Năm 2010

Do ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão nên lưu vực sông Trà Khúc đã xuất hiện lũ lớn, từ ngày 14÷15/11, trên các sông từ nam Quảng Bình đến Bình Định xuất hiện một đợt lũ với biên độ lũ lên từ 1,0 ÷ 3,5m Sông Trà Khúc tại cầu Trà Khúc: 6,36 m (17h/14/11/2010), dưới BĐ3: 0,14m

* Năm 2011

Do ảnh hưởng của hội tụ gió trên cao kết hợp với đới gió đông, nên từ 19h00 ngày 24/XI đến 19h00 ngày 26/XI/2011 khu vực tỉnh Quảng Ngãi có mưa vừa đến mưa to, có nơi mưa rất to như ở An Chỉ 322,0 mm, Minh Long 475,0

mm, Sơn Giang 487,0 mm, Ba Tơ 602,9 mm Đợt mưa này đã gây ra lũ trên các sông trong tỉnh Quảng Ngãi ở mức báo động 2 đến trên báo động 3 (riêng sông

Vệ có lũ đặc biệt lớn) Đỉnh lũ trên các sông được thống kê như sau

Bảng 1.14 TỔNG HỢP ĐẶC TRƯNG LŨ NGÀY 25÷26/XI/2011

TT Sông Trạm

H chân (cm)

Thời gian

XH

H đỉnh (cm)

Thời gian

XH

Biên

độ lũ (cm)

T.gian

lũ lên (giờ)

C.suất

lũ TB (cm/h)

C.suất

lũ lên lớn nhất (cm/h)

H đỉnh lũ

so với mức

BĐ (cm) 1Trà Khúc Sơn Giang 3050 07h/25 3318 02h/26 268 19 14.1 127

Trà Khúc 272 07h/25 538 10h/26 266 27 9.9 42 >BĐ2: 38 2Vệ An Chỉ 544 01h/25 917 05h/26 373 28 13.3 45

Sông Vệ 245 01h/25 561 07h/26 316 30 10.5 25 >BĐ3: 111

* Năm 2013

Bão số 15 giảm cấp nhanh thành ATNĐ khi đi vào đất liền, nhưng hoàn lưu

áp thấp nhiệt đới kết hợp với nhiễu động gió Đông hoạt động trên cao và không khí lạnh tăng cường đã gây mưa rất lớn và lũ lên nhanh tại các sông vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Tại tỉnh Quảng Ngãi, lượng mưa trong 3 ngày từ 15-17/XI, lượng mưa phổ biến 500÷600mm, có những nơi đặc biệt lớn như Minh Long 959 mm, Ba Tơ 953 mm

Tổng lượng mưa đo được của trận mưa lũ do hoàn lưu bão số 15 gây ra so sánh với các trận mưa lũ lớn đã xuất hiện như bảng 1.12

Do mưa lũ lớn, trên các sông tỉnh Quảng Ngãi xuất hiện lũ đặc biệt lớn và

lũ lịch sử

Sông Trà Khúc tại cầu Trà Khúc là 8,76m, trên BĐ 3 là 2,26m, cao hơn đỉnh lũ năm 1999 là 40 cm

Trang 29

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Sông Vệ tại cầu Vệ là 6,03m, trên BĐ 3 là 1,53m, cao hơn đỉnh lũ năm

Đỉnh lũ trên các sông cụ thể như sau:

- Sông Trà Khúc tại Trà Khúc: 5,65m, lúc 23 giờ ngày 01/10, trên mức BĐ2: 0.65m;

- Sông Vệ tại trạm Sông Vệ: 4,52m, lúc 01 giờ ngày 02/11, trên mức BĐ3: 0.02m;

Đợt lũ từ ngày 30/11/2016÷18/12/2016: Tổng lượng mưa phổ biến khoảng (1.300 ÷ 2.100) mm; lượng mưa rất lớn tại các trạm: Minh Long: 2.258 mm; Ba Tơ: 2.167 mm; Sơn Giang: 1.894 mm; Giá Vực: 1.877 mm và An Chỉ: 1.861

Trang 30

(ĐOẠN TỪ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

VIỆN QUY HOẠCH THỦY LỢI

162A-Trần Quang Khải-Hoàn Kiếm-Hà Nội

Bảng 1.15 CÁC TRẬN MƯA LỚN XUẤT HIỆN TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU

TT Trạm Các trận mưa lũ lớn đã xuất hiện Trận mưa lũ 1999 Trận mưa lũ 9/2009 Trận mưa lũ 11/2013

X1max (mm) Ngày

X3max (mm) Ngày

X1max (mm) Ngày

X3max (mm) Ngày

X1max (mm) Ngày

X3max (mm) Ngày

X1max (mm) Ngày

X3max (mm) Ngày

1 Trà Khúc 518 29/IX/2009 672

27-29/IX/2009 275 5/XII 547,1 3-5/XII 518,3 29/IX 672 27-29/IX 183 15/XI 265 15-17/XI

2 Sơn Giang 677 4/XII/1999 1598 3-5/XII/1999 677 4/XII 1598,4 3-5/XII 272,5 29/IX 353 28-30/IX 506 15/XI 663 15-17/XI

3 Sơn Hà 578 3/XII/1986 924 3-5/XII/1999 380 4/XII 924 3-5/XII 404,9 29/IX 477,7 28-30/IX 476 15/XI 530 15-16/XI

4 Giá Vực 723 3/XII/1986 1228 2-4/XII/1986 354 5/XII 801,2 3-5/XII 232 29/IX 335,1 28-30/IX 446 15/XI 685,2 15-17/XI

5 An Chỉ 600 19/XI/1987 771

17-19/XI/1987 237 3/XII 597 3-5/XII 317,2 29/IX 419,1 28-30/IX 439 15/XI 826 15-17/XI

6 Ba Tơ 640 3/XII/1999 1695 3-5/XII/1999 640 3/XII 1694,8 3-5/XII 331,6 29/IX 456,9 28-30/IX 659,8 15/XI 952,6 15-17/XI

7 Minh Long 643 4/XII/1999 1555 3-5/XII/1999 643 4/XII 1554,8 3-5/XII 521 29/IX 628 28-30/IX 582 15/XI 959 15-17/XI

8 Quảng Ngãi 525 8/X/1967 852

9-11/XI/1964 313 5/XII 584,5 3-5/XII 524,8 29/IX 673,3 28-30/IX 193,1 15/XI 302.5 15-17/XI

Bảng 1.16 MỰC NƯỚC LŨ MAX MỘT SỐ TRẬN LŨ LỚN TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU

Sông Trạm Cấp báo động (cm)

Hmax đã quan trắc được đến 2013

Trận lũ do bão tháng XII/1999

Trận lũ do bão tháng X/2003

Trận lũ do bão số 9 năm

2009 gây ra

Trận lũ do bão số 15 gây ra tháng

11/2013 BĐ1 BĐ2 BĐ3 Hmax

(cm)

Thời gian xuất hiện

Hmax (cm)

Thời gian xuất hiện

Hmax (cm)

Thời gian xuất hiện

Hmax (cm)

Thời gian xuất hiện Hmax (cm) P% Ngày Trà Khúc Sơn Giang 4162 19h ngày

15/XI/2013 3818 4/XII/1999 4016 17/X/2003 4056

22h ngày 29/IX 4162 1,55

19h ngày 15/XI Trà Khúc Trà Khúc 350 500 650 876 24h ngày

15/XI/2013 836 4/XII/1999 808 17/X/2003 812

22h ngày 29/IX 876 0,9

24h ngày 15/XI Sông Vệ An Chỉ 1043 24h ngày

15/XI/2013 1036 5/XII/1999 1002 17/X/2003 922

19h ngày 29/IX 1043 0,82

24h ngày 15/XI Sông Vệ Sông Vệ 250 350 450 603 2-3h ngày

16/XI/2013 599 5/XII/1999 537

22h ngày 29/IX 603 4,5

2-3h ngày 16/XI

Trang 31

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

1.10.3 Đặc điểm dòng chảy lũ

a Chế độ lũ

Lũ trên các lưu vực sông tỉnh Quảng Ngãi có sự biến động khá mạnh mẽ, mùa lũ trên lưu vực sông Vệ có tính chất tương đồng với các lưu vực sông khác của tỉnh, mùa lũ kéo dài từ tháng X tới tháng XII Tuy nhiên mùa lũ ở đây cũng không ổn định Nhiều năm lũ xảy ra từ tháng IX và cũng nhiều năm sang tháng I năm sau vẫn có lũ

Trong những thập kỷ gần đây lũ lụt xảy ra ngày một thường xuyên hơn, bất bình thường hơn với những trận lũ lụt rất lớn và gây hậu quả rất nặng nề như lũ lụt những năm 1986, 1996, 1998, 1999, 2003, 2009, 2013, 2016…

Lượng dòng chảy 3 tháng mùa lũ chiếm tới 65 ÷ 75% tổng lượng dòng chảy năm, lượng nước biến đổi của mùa lũ giữa các năm khá lớn, năm nhiều nước lượng nước của mùa lũ có thể gấp 10 lần lượng nước của mùa lũ năm ít nước (năm 1996 có lưu lượng nước 3 tháng mùa lũ 3.401 m3/s trong khi đó tổng lượng nước 3 tháng mùa lũ của năm 1982 chỉ là 355x106 m3)

Bảng 1.17 PHẦN TRĂM XUẤT HIỆN LŨ VÀO CÁC THÁNG TRONG NĂM TẠI CÁC

TRẠM TRONG VÙNG NGHIÊN CỨU

Bảng 1.18 LƯU LƯỢNG LỚN NHẤT VÀ NHỎ NHẤT Ở CÁC VỊ TRÍ TRẠM TRONG VÀ

LÂN CẬN VÙNG NGHIÊN CỨU

(m 3 /s) Năm

Qmin (m 3 /s) Năm

Qmax Qmin

Lũ sớm: Lũ xảy ra vào cuối tháng VIII đến đầu tháng X gọi là lũ sớm Lũ sớm thường có biên độ không lớn, lượng nước trong các sông suối còn ở mức thấp, lũ sớm thường là lũ đơn 1 đỉnh Qua số liệu quan trắc cho thấy lũ sớm lớn nhất đạt 1.310 m3/s tại xảy ra ngày 22/IX/1997 tại Sơn Giang Đây là thời kỳ lũ gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp vì trùng vào thời kỳ thu hoạch vụ Hè Thu

Lũ muộn: Lũ xảy ra vào nửa cuối tháng XII đến nửa đầu tháng I năm sau được coi là lũ muộn Theo số liệu thực đo tại An Chỉ giá trị lũ muộn lớn nhất đo được là 1.200 m3/s (2009) Lũ thời kỳ này ảnh hưởng đến thời kỳ gieo trồng vụ Đông Xuân

Trang 32

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Lũ lớn nhất trong năm thường xảy ra vào tháng XI là tháng có mưa lớn nhất Khả năng lũ lớn nhất hàng năm xảy ra tại trạm Trà Khúc vào tháng X chỉ chiếm 2,9%, xảy ra vào tháng XII chiếm 1,3% còn lại tập trung chủ yếu vào tháng XI chiếm tới 95,8% Theo số liệu thực đo tại An Chỉ giá trị lũ lớn đo được

Từ bảng trên cho thấy lưu lượng trận lũ lớn nhất năm trên sông Trà Khúc

và sông Vệ luôn trùng với trận lũ chính vụ (chiếm 100%), trong khi tại trạm đo mực nước Trà Khúc trên sông Trà Khúc, đỉnh lũ lớn nhất trong năm xuất hiện trong mùa lũ chiếm (96,8%), còn lại xuất hiện vào thời gian lũ sớm (3,2%), nguyên nhân là do mưa lớn kết hợp với ảnh hưởng của mực nước triều dâng cao, gây khó khăn trong việc thoát lũ gây ra lũ lớn trong năm

- Đặc điểm của dòng chảy lũ là biên độ lũ cao, cường suất nước lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng lũ nhọn: Đặc điểm này là do cường độ mưa lớn, tập trung nhiều đợt, tâm mưa nằm ở trung hạ du các lưu vực sông, độ dốc sông lớn, nước tập trung nhanh

- Hạ du các sông chịu ảnh hưởng thủy triều mạnh một số cơn bão mạnh đã làm nước dâng lên ở vùng ven biển rất lớn Nên lũ có cơ hội gặp đỉnh triều thì sẽ gây lũ lớn ở hạ du các sông

Bảng 1.21 ĐẶC TRƯNG LŨ TẠI MỘT SỐ VỊ TRÍ

Biên độ (cm)

Cường suất lũ lên (cm/h)

Thời gian lũ lên (h)

Trang 33

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Biên độ (cm)

Cường suất lũ lên (cm/h)

Thời gian lũ lên (h)

Trang 34

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Bảng 1.23 TẦN SUẤT LƯU LƯỢNG MAX TẠI CÁC TRẠM

Trận lũ lớn nhất nhất năm (và cũng là lũ chính vụ) tại An Chỉ đạt 4.290m3/s ngày 19/XI/1987 ứng với tần suất P = 1,30%;

Lưu lượng đỉnh lũ sớm lớn nhất trong tỉnh cùng xuất hiện ngày 29/IX/2009 tại An Chỉ đạt 1.310m3/s ứng với tần suất 2%; Lưu lượng đỉnh lũ tiểu mãn tại

An Chỉ xuất hiện năm 12/VI/2004 đạt 740m3/s ứng với 0,8%

d Tổng lượng lũ

Do đặc điểm địa hình các sông trong lưu vực nghiên cứu ngắn, dốc, thời gian duy trì các trận lũ thường chỉ 3÷5 ngày Tổng lượng lũ 1 ngày lớn nhất chiếm tới 30÷35% tổng lượng của toàn trận lũ Tại An Chỉ tổng lượng lũ 5 ngày đạt tới 946,1 triệu m3 lũ năm 1999, đạt 551,6 triệu m3 lũ năm 1998

Bảng 1.24 TỔNG LƯỢNG LŨ LỚN NHẤT THỜI ĐOẠN TẠI TRẠM AN CHỈ

Trạm Trị số W 1max

(10 6 m 3 )

Ngày tháng

W 3max (10 6 m 3 )

Ngày tháng

W 5max (10 6 m 3 )

Ngày tháng

An Chỉ

Max 289 19/XI/87 696 3-5/XII/99 946 3-7/XII/99 Min 25,1 29/XI/89 56,9 28-30/XI/89 70,5 3-7/XI/82 Bảng 1.25 ĐẶC TRƯNG TỔNG LƯỢNG 1, 3, 5, 7 NGÀY MAX ỨNG VỚI CÁC TẦN SUẤT

THIẾT KẾ TẠI TRẠM THỦY VĂN AN CHỈ

Trạm Loại

Trung bình

Trang 35

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

H (cm)

Thời gian

P (%)

H (cm) Thời gian P(%)

Do có cùng một chế độ mưa với cùng một hình thế thời tiết, nên trong các đợt mưa lớn hai sông Trà Khúc và sông Vệ đều có lũ, thời gian xuất hiện đỉnh khác nhau không nhiều Khi bên sông Trà Khúc có lũ thì bên sông Vệ cũng có lũ

và ngược lại Tuy nhiên khả năng lũ lớn nhất trong năm gặp nhau là khoảng 80% Khi xem xét lũ lớn nhất năm trên sông Trà Khúc (tại Sơn Giang) và lũ lớn nhất năm sông Vệ (tại An Chỉ) từ năm 1977 đến nay (2015) cho thấy lũ lớn nhất năm xuất hiện cùng thời gian là 28 năm/38 năm

f Đề xuất các trường hợp để tính toán

Trong quy hoạch lần này chúng tôi lựa chọn các trận lũ tương ứng với tần suất 2%, 5%, 10%, 25% với các trường hợp

- Trường hợp hiện trạng: cơ sở hạ tầng như hiện nay

- Trương hợp quy hoạch: Phát triển cơ sở hạ tầng theo quy hoạch, đề xuất các giải pháp phòng chống lũ, chỉnh trị sông…

Với các trường hợp trên chúng tôi tính toán trong điều kiện khí hậu bình thường và điều kiện biến đổi khí hậu theo kịch bản biến đổi khí hậu RCP 4.5 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2016

1.10.4 Dòng chảy bùn cát

Căn cứ vào tài liệu đo đạc bùn cát tại trạm An Chỉ trên sông Vệ cho thấy lượng vận chuyển bùn cát tập trung vào các tháng mùa lũ, lưu lượng chất lơ lửng bình quân tháng có thể đạt tới 169,2kg/s (tháng XI/1998) tại An Chỉ Hàm lượng bùn cát lớn nhất đạt 905 g/m3 vào ngày 20/X/1998 Hàm lượng bùn cát nhỏ nhất rơi vào các tháng mùa khô, đã đo đạc được lượng bùn cát bằng 0 g/m3 vào nhiều ngày tại An Chỉ trong tháng II, III, IV năm 1982, 1989 hàm lượng bùn cát trung bình nhiều năm o tại An Chỉ đạt 113,3 g/m3

Theo Giáo trình “Thủy văn công trình-Trường Đại học Thủy lợi trang 100”

Để tính tổng lượng bùn cát chuyển qua mặt cắt trong ngày, tháng, năm sẽ là:

Gnăm=RnămxTnăm= onămxWnăm.

Trong đó: Gnăm: Tổng lượng bùn cát năm

Trang 36

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Tnăm: Số đo thời gian của năm

Wnăm: Tổng lượng nước đi qua mặt cắt trong năm

Theo Công tác thủy văn trong hệ thống thủy nông (14.TCN-49-86) trang 47 thì phương pháp tính toán lượng chuyển cát trung bình được tính theo công thức:

R0= o x Qo Trong đó: R0: Lượng chuyển cát trung bình nhiều năm; kg/s

Lượng ngậm cát (độ đục) trung bình: kg/m3

Q0: Lưu lượng trung bình nhiều năm m3/s

Thể tích bùn cát trung bình nhiều năm xác định theo công thức:

W =(R0x31,5x103)/

Trong đó: R0: Lượng chuyển cát trung bình nhiều năm; kg/s

Khối lượng thể tích bùn cát (T/m3)  = 0,5÷0,7 T/m3 Chọn  = 0,6

Từ đó tính được thể tích bùn cát trung bình nhiều năm tại An Chỉ là 357x103(m3)

Hệ số xâm thực tại An Chỉ trên sông Vệ là 341,8 tấn/năm

Bảng 1.27 KẾT QUẢ TÍNH TOÁN DÒNG CHẢY BÙN CÁT TẠI CÁC TRẠM

(km 2 )

Qo (m 3 /s)

φo (g/m 3 )

Ro (kg/s)

Tổng lượng bùn cát G (triệu tấn)

Hệ số xâm thực

1.11 CHẾ ĐỘ TRIỀU MẶN VÙNG VEN BIỂN

1.11.1 Chế độ triều, mực nước triều

Bờ biển vùng nghiên cứu trải dài trên từ thành phố Quảng Ngãi đến huyện

Mộ Đức; sông Vệ đổ ra tại cửa Đức Lợi và cửa Cổ Lũy

Tại các cửa sông Cổ Lũy, cửa Đức Lợi số ngày nhật triều tăng dần và nhiều hơn số ngày bán nhật triều trong tháng

Chế độ thủy triều được xác định như sau: Điểm Đức Lợi trên sông Vệ cách cửa Cổ Lũy 3,5km và cách cửa Đức Lợi 0,5km

Các sông ở vùng nghiên cứu đa số có độ dài ngắn, độ dốc lòng sông lớn Ranh giới ảnh hưởng triều của các sông chỉ khoảng 10km tính từ cửa sông

a Thời gian triều lên, triều xuống

Chu kỳ một con triều tại các cửa sông khoảng 24÷25 giờ

Trang 37

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Những ngày nhật triều, thời gian triều lên trung bình từ 14÷15 giờ, dài nhất lên đến 18 giờ, ngắn nhất là 12 giờ Thời gian triều xuống 9÷10 giờ, dài nhất 15 giờ, ngắn nhất 9 giờ

Những ngày bán nhật triều, thời gian triều lên mỗi lần thường 6÷7 giờ Thời gian triều xuống lần thứ nhất 3÷4 giờ, lần thứ hai 6÷7 giờ Thời gian triều xuống ngắn nhất là 2 giờ, dài nhất là 9 giờ

Ứng dụng công cụ tính toán truyền triều về cửa sông Tool Tide Prediction

of Heights trong bộ mô hình MIKE 21 tiến hành tính truyền triều về cửa sông

Vệ với các tham số triều được xác định theo tham số toàn cầu (chi tiết hướng dẫn tính toán xin xem hướng dẫn sử dụng công cụ tính toán)

- Cửa Lở: 108°54'14.72"E-15° 5'33.91"N

Thời gian tính: 1978 - 2016 (39 năm)

Hình 1.10 Điểm tính truyền triều cửa sông Vệ

1.11.2 Diễn biến thủy triều trong mùa lũ và mùa kiệt

Căn cứ vào số liệu mực nước triều thực đo tại trạm Quy Nhơn từ 1976

-2014, vẽ xu thế biến đổi của mực nước biển trung bình, mực nước đỉnh triều cao, mực nước chân triều thấp, xu thế biến đổi của mực nước đỉnh triều cao chân triều thấp trong mùa lũ (tháng X – tháng XII)

Trang 38

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Hình 1.11 Xu thế biến đổi mực nước triều trung bình năm trạm Quy Nhơn

Hình 1.12 Xu thế biến đổi mực nước đỉnh triều cao trong mùa lũ trạm Quy Nhơn

Nhận xét: Trạm triều Quy Nhơn có xu thế biến đổi của mực nước biển trung bình Mực nước chân triều có xu thế giảm còn mực nước đỉnh triều cao trong năm và trong mùa lũ có xu thế tăng

1.11.3 Nước biển dâng do bão

Năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố báo cáo phân vùng bão, xác định nguy cơ bão, nước dâng do bão cho dải ven biển Việt Nam và được cập nhật vào năm 2016 Theo đó, dải ven biển Việt Nam được chia thành các khu vực có đặc trưng nước dâng do bão khác nhau Theo đó khu vưc Đà Nẵng đến Bình Định, nước dâng do bão cao nhất đã xảy ra là 180 cm, trong tương lai có thể lên đến trên 230 cm Nước dâng do bão đặc biệt nguy hiểm khi xuất hiện vào đúng thời kỳ triều cường, mực nước tổng cộng dâng cao, kết hợp với sóng to có thể tràn qua đê

Số liệu về cực trị của thủy triều (biên độ và pha) rất quan trọng trong thiết

kế công trình ven biển cũng như xây dựng bản đồ nguy cơ ngập vùng ven bờ Theo đó vùng nghiên cứu có tính chất nhật triều không đều, biên độ triều cao nhất biến đổi từ 0,90cm tại Đà Nẵng tới 119cm tại Quy Nhơn

Trang 39

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

Nước dâng trong bão kèm sóng lớn là nguyên nhân chính gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đến đê biển và các công trình ven biển, và đặc biệt nguy hiểm nếu xảy ra trong 75 thời kỳ triều cường Nước dâng có xu hướng đạt giá trị cao nhất trong thời kỳ triều dâng nhưng về pha thủy triều và nước dâng do bão lại không có quan hệ rõ rệt Mực nước dâng do bão khi được tách ra từ mực nước tổng cộng trong các mô hình có tính đến thủy triều thường thấp hơn so với mực nước dâng do bão mô phỏng trong điều kiện mực nước trung bình Nước dâng do bão đạt giá trị cao hơn nếu bão đổ bộ vào các thời điểm mực nước triều kiệt và đạt thấp hơn khi bão đổ bộ vào các thời điểm triều cường

Số liệu nước dâng do bão ở vùng nghiên cứu rất hạn chế Các căn cứ tính toán về nước dâng do bão trong quy hoạch đã được phê duyệt theo tiêu chuẩn

14 TCN 130-2002, hướng dẫn tính toán riêng mực nước triều và mực nước dâng

do bão Ở vùng nghiên cứu, với công trình cấp II-IV, nước dâng do bão = 0,80m

Bảng 1.28 CHIỀU CAO NƯỚC DÂNG THIẾT KẾ THEO CẤP ĐÊ

(bảng C-3)

Theo tần suất 20% (bảng C-3)

Để tính toán quá trình triều thiết kế, phải tính cộng thêm nước dâng do bão Như vậy quá trình triều thiết kế là triều 5% cộng với nước dâng do bão 0,8m Tiêu chuẩn TCVN 9901: 2013 đưa ra mực nước tổng hợp với tần suất thiết

kế tại từng vị trí cụ thể phục vụ cho tính toán thiết kế đê biển (tần suất này phụ thuộc vào từng cấp đê biển tương ứng), không tách rời được mực nước dâng do bão và mực nước triều

Bảng 1.29 TẦN SUẤT MỰC NƯỚC TỔNG HỢP TẠI CỬA LỞ

Vị trí

Hp% (cm)

1.11.4 Kịch bản biến đổi khí hậu

- Kịch bản nước biển dâng chỉ xét đến sự thay đổi mực nước biển trung bình do biến đổi khí hậu, mà không xét đến ảnh hưởng của các yếu tố khác gây nên sự dâng cao của mực nước biển như: nước dâng do bão, nước dâng do gió mùa, thủy triều, quá trình nâng/hạ địa chất và các quá trình khác

- Kịch bản nước biển dâng được xây dựng cho các tỉnh ven biển, 7 khu vực ven biển, quần đảo Hoàng Sa, và quần đảo Trường Sa

Trang 40

(ĐOẠN TỪ XÃ HÀNH TÍN TÂY ĐẾN CỬA LỞ) ĐẾN NĂM 2025, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030

- Đóng góp lớn nhất vào mực nước biển dâng ở khu vực biển Việt Nam là thành phần giãn nở nhiệt và động lực, sau đó là thành phần băng tan tại sông băng và núi băng trên lục địa

- Đến năm 2050, mực nước biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam theo kịch bản RCP2.6 là 21 cm (13 cm ÷ 32 cm), theo RCP4.5 là 22 cm (14 cm ÷ 32 cm), theo RCP6.0 là 22 cm (14 cm ÷ 32 cm) và theo RCP8.5 là 21

cm (17 cm ÷ 35 cm)

- Đến năm 2100, mực nước biển dâng trung bình cho toàn dải ven biển Việt Nam theo kịch bản RCP2.6 là 44 cm (27 cm ÷ 66 cm), theo RCP4.5 là 53 cm (32 cm ÷ 76 cm), theo RCP6.0 là 56 cm (37 cm ÷ 81 cm) và theo RCP8.5 là 73

cm (49 cm ÷ 103 cm)

- Kịch bản mực nước biển dâng trung bình ven biển Việt Nam có khả năng cao hơn mực nước biển trung bình toàn cầu Mực nước biển dâng khu vực ven biển các tỉnh phía Nam cao hơn so với khu vực phía Bắc

- Khu vực giữa Biển Đông có mực nước biển dâng cao hơn so với các khu vực khác Đến cuối thế kỷ 21, khu vực quần đảo Hoàng Sa có mực nước biển dâng theo RCP4.5 là 58 cm (36 cm ÷ 80 cm), theo RCP 8.5 là 78 cm (52 cm ÷

107 cm) Khu vực quần đảo Trường Sa có mực nước biển dâng theo RCP4.5 là

57 cm (33 cm ÷ 83 cm), theo RCP8.5 là 77 cm (50 cm ÷ 107 cm)

Ngày đăng: 24/08/2018, 08:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w